1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát chính sách ngôn ngữ của nhà nước phong kiến độc lập việt nam

13 686 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 342,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cấu trúc của luận văn: Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Đặc điểm chính sách ngôn ngữ của Nhà nước phong kiến độc lập Việt Nam

Trang 1

Khảo sát chính sách ngôn ngữ của nhà nước

phong kiến độc lập Việt Nam

Nguyễn Thị Thanh Tâm

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Luận văn ThS ngành: Ngôn ngữ học; Mã số: 60 22 01 Người hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Văn Khang

Năm bảo vệ: 2012

Abstract Tìm hiểu một số vấn đề lí luận về chính sách ngôn ngữ; nội dung cơ bản

của chính sách ngôn ngữ; chính sách ngôn ngữ với kế hoạch hóa ngôn ngữ, lập pháp ngôn ngữ Khảo sát chính sách ngôn ngữ của Nhà nước phong kiến ở giai đoạn độc lập Rút ra một số nhận xét và liên hệ với chính sách ngôn ngữ của Việt Nam hiện

nay

Keywords Ngôn ngữ học; Chính sách ngôn ngữ; Nhà nước phong kiến; Việt Nam

Content

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Vấn đề chính sách ngôn ngữ đã trở nên vô cũng cấp bách đối với nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt đối với những quốc gia sau khi giành được độc lập cần phải lựa chọn một ngôn ngữ giao tiếp chung cho toàn xã hội Vấn đề ngôn ngữ quốc gia, chuẩn hóa ngôn ngữ, chính sách ngôn ngữ với các dân tộc ít người, giải quyết mối quan hệ giữa ngôn ngữ ngoại bang và ngôn ngữ bản địa là thực tế cần giải quyết

Việt Nam do điều kiện lịch sử, điều kiện quốc gia, dân tộc mình, cho nên đây có thể coi là một trong những trường hợp điển hình về chính sách ngôn ngữ Việc tìm hiểu chính sách ngôn ngữ của cha ông ta giúp chúng ta rút ra được những bài học quý báu trong việc xây dựng chính sách ngôn ngữ của Việt Nam trong những giai đoạn sau này

2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở khảo sát bức tranh tổng quát về cảnh huống ngôn ngữ cũng như những chính sách ngôn ngữ của nhà nước phong kiến độc lập Việt Nam để thông qua đó tìm hiểu chính sách ngôn ngữ gắn liền với thể chế nhà nước, với chính trị xã hội Từ đó xây dựng chính sách ngôn ngữ của Nhà nước ta hiện nay

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn và chính sách ngôn ngữ của Nhà nước phong kiến

độc lập thông qua các văn bản thu thập được của quá trình tìm tòi, nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu chủ yếu chỉ giới hạn nghiên cứu và khảo sát giai đoạn Nhà nước phong kiến giành được độc lập

4.Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp sau:

- Khảo sát, thu thập tài liệu

Trang 2

- Phân tích, miêu tả thực trạng giai đoạn nhà nước phong kiến

5 Cấu trúc của luận văn: Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Đặc điểm chính sách ngôn ngữ của Nhà nước phong kiến độc lập Việt Nam

Chương 3: Đánh giá về những quan điểm chính sách ngôn ngữ của Nhà nước phong kiến độc lập và liên hệ với chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước ta hiện nay

NỘI DUNG CHÍNH CỦA LUẬN VĂN Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Khái niệm về chính sách ngôn ngữ

Khái niệm chính sách ngôn ngữ (Language Policy) xuất hiện vào những năm 70 của thế kỷ 20 Chính sách ngôn ngữ thể hiện sự can thiệp của con người vào ngôn ngữ hoặc cảnh huống ngôn ngữ, tác động trước hết đến mặt chức năng của ngôn ngữ và trong một chừng mực nào đó tác động đến mặt kết cấu của ngôn ngữ

Chính sách ngôn ngữ là một bộ phận hay nội dung trong hệ thống chính sách chính trị

- xã hội của một quốc gia Cũng như mọi chính sách, chính sách ngôn ngữ bao gồm hai mặt:

- Mặt lý thuyết là những cơ chế của sự giao tiếp ngôn ngữ, về chức năng, bản chất và quy luật phát triển của ngôn ngữ

- Mặt hành động thực tiễn là những chủ trương của nhà nước và đồng thời là những chương trình, kế hoạch thực hiện những chủ trương ấy nhằm tác động vào sự phát triển của ngôn ngữ

Luận văn này đưa ra một số định nghĩa của các nhà nghiên cứu về chính sách ngôn ngữ Theo cách hiểu của chúng tôi thì chính sách ngôn ngữ là chủ trương chính trị của nhà nước và các biện pháp, kế hoạch thực hiện các chủ trương đó nhằm hướng sự hoạt động của ngôn ngữ và các hình thức tồn tại của ngôn ngữ theo những mục đích nhất định Kế hoạch phát triển ngôn ngữ thường được thực hiện bằng một số biện pháp: xác định và xây dựng ngôn ngữ chuẩn về từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp và chính tả, xây dựng chữ viết cho các dân tộc chưa có chữ viết, giải quyết mối quan hệ giữa ngôn ngữ quốc gia với ngôn ngữ nước ngoài…

1.2 Những nội dung cơ bản của chính sách ngôn ngữ

Chính sách ngôn ngữ gồm những nội dung sau:

Thứ nhất: chính sách ngôn ngữ là một trong những nhân tố của quá trình phát triển ngôn ngữ Nó tác động đến sự phân bố chức năng bao gồm mối quan hệ giữa các ngôn ngữ, giữa các phương ngữ, giữa các hình thức ngôn ngữ nói, viết…

Thứ hai: chính sách ngôn ngữ được xây dựng để giải quyết các vấn đề ngôn ngữ này sinh trong xã hội Cụ thể là có hai dạng: dạng vĩ mô là những vấn đề liên quan đến sự phân

bố các thực thể ngôn ngữ theo phạm vi giao tiếp Dạng vi mô là những vấn đề nảy sinh trong quá trình giao tiếp của các thực thể ngôn ngữ riêng lẻ

Thứ ba: từ góc độ xã hội học, chính sách ngôn ngữ là một phần chính sách đối nội của một quốc gia nào đó Chính sách ngôn ngữ phải phù hợp với cảnh huống ngôn ngữ tức là làm cho ngôn ngữ trở thành một biểu tượng của sự thống nhất công đồng về mặt chính trị, văn

hóa xã hội và dân tộc

1.3.Chính sách ngôn ngữ với kế hoạch hóa ngôn ngữ và lập pháp ngôn ngữ

1.3.1 Chính sách ngôn ngữ với kế hoạch hóa ngôn ngữ

KHHNN (còn gọi là quy hoạch ngôn ngữ hay hoạch định ngôn ngữ: language Planning) là các công việc quản lý ngôn ngữ hay nói một cách cụ thể hơn, đây là phản ứng điều tiết có chủ động, có tổ chức, có kế hoạch đối với hoạt động của ngôn ngữ KHHNN bao gồm ba nội dung lớn: Kế hoạch hóa địa vị ngôn ngữ, kế hoạch hóa bản thể ngôn ngữ và kế

Trang 3

hoạch hóa uy tín ngôn ngữ với hàng loạt các vấn đề như lựa chọn ngôn ngữ, chuẩn hóa ngôn ngữ, cải cách, chế tác chữ viết…

Kế hoạch là một bộ phận của chính sách và điều đó có nghĩa là chính sách ngôn ngữ

và kế hoạch hóa ngôn ngữ có mối quan hệ vô cùng chặt chẽ Kế hoạch hóa ngôn ngữ chính là

sự tác động của con người vào ngôn ngữ nhưng không phải là tùy tiện mà có tổ chức mà nhà nước thường là cơ quan cao nhất đề ra các kế hoạch về ngôn ngữ

1.3.2 Chính sách ngôn ngữ với lập pháp ngôn ngữ

Lập pháp về ngôn ngữ được hiểu là định ra pháp luật về ngôn ngữ Đó là những quy định trong hiến pháp về ngôn ngữ, các pháp lệnh, bộ luật và có rất nhiều điều khoản quy định khác mang tính cưỡng chế về quyền lợi, nghĩa vụ và mục tiêu thực hiện Nhờ có lập pháp về ngôn ngữ mà chính sách ngôn ngữ mới được thực thi và tiến hành thành công được

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CHÍNH SÁCH NGÔN NGỮ CỦA NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN ĐỘC LẬP VIỆT NAM

2.1 Vài nét về đặc điểm của nhà nước phong kiến độc lập

2.1.1 Những đặc điểm chung

Lịch sử Việt Nam là lịch sử của quá trình dựng nước và giữa nước Năm 905 Khúc Thừa Dụ xây dựng chính quyền tự chủ của người Việt nhân khi Nhà Đường suy yếu, đặt nền móng cho Việt Nam giành độc lập Năm 939 sau khi đánh thắng quân Nam Hán, Ngô Quyền lên làm vua nhưng ông chỉ làm vua được 5 năm thì mất, triều đình rơi vào lục đục, đất nước loạn lạc, chia ra làm nhiều vùng cát cứ, lịch sử gọi là loạn 12 sứ quân

Năm 968, sau khi dẹp xong 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, đặt Quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư

Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và con là Đinh Liễn bị giết, Đinh Toàn mới 6 tuổi lên ngôi Nhưng vì lợi ích dân tộc, Thái hậu Dương Vân Nga đã quyết định truyền ngôi vua cho

Lê Hoàn (980-1005)

Năm 1005 Lê Hoàn mất, Lý Công Uẩn được triều thần tôn lên giữ ngôi Hoàng đế Từ đây nước Đại Việt bước vào kỷ nguyên độc lập thực sự và xây dựng một Nhà nước phong kiến Trung ương tập quyền

2.1.2 Đôi nét về đặc điểm của nhà nước phong kiến Nhà Lý (1010-1225)

Nhà Lý rời Hoa Lư về Thăng Long năm 1010 Năm 1054 đổi tiên nước là Đại Việt Nhà Lý xây dựng một Nhà nước tập quyền, thống nhất từ trung ương đến địa phương, chia đất nước thành 24 lộ, thực hiện chính sách “Ngụ binh ư nông”.Thời kỳ này đề cao Nho giáo, xây dựng Văn Miếu (1070) và Quốc Tử Giám (1076)

Năm 1224 Lý Huệ Tông bị ép đi tu và phải nhường ngôi cho con gái là công chúa Chiêu Thánh, lúc đó mới 7 tuổi, lấy hiệu là Lý Chiêu Hoàng

Thái sư Trần Thủ Độ đã bày kế cho cháu mình là Trần Cảnh, lúc đó mới 8 tuổi, kết nghĩa vợ chồng với Lý Chiêu Hoàng Ngày 21, tháng Mười Một, năm ĐInh Dậu (tức ngày

11, tháng Mười Hai, năm 1225) Lý Chiêu Hoàng đã cởi áo Hoàng bào trao cho Trần Cảnh

ngày 11, tháng Mười Hai, năm 1225 triều Lý chuyển quyền cho triều Trần

2.1.3 Đôi nét về đặc điểm của nhà nước phong kiến Nhà Trần (1225-1440)

Nhà Trần vẫn duy trì nhà nước Trung ương tập quyền thống nhất, phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, lấy đạo Phật làm quốc giáo, coi trọng việc giữ gìn toàn vẹn giang sơn

Công lao lớn nhất là ba lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông: lần thứ nhất vào năm 1258 của Trần Thái Tông, Trần Thủ Độ và Trần Quốc Tuấn; lần thứ 2 vào năm

1285 dưới sự chỉ huy của Trần Thánh Tông và Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn; lần thứ

3 vào năm 1288 cũng dưới sự chỉ huy của Quốc công tiết chế Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn

Ngày 15, tháng Mười Hai, năm 1394, Thái Thượng Hoàng Trần Nghệ Tông mất, Hồ Quý Lý làm Phụ chính Thái sư, thâu tóm toàn bộ quyền bính để dần dần cướp ngôi vua

Trang 4

Năm 1400 Hồ Quý Lý lên ngôi, rời đô về Thanh Hóa, xây dựng Tây Đô, đặt tên nước

là Đại Ngu

2.1.4 Đôi nét về đặc điểm của nhà nước phong kiến Nhà Hồ (1400-1407)

Mặc dù thời gian cầm quyền ngắn nhưng Hồ Quý Lý đã có những cải cách táo bạo: đưa ra chế độ hạn điền, hạn nô; cho ra sách Minh Đạo gồm 14 thiên để phê phán tư tưởng Tống – Nho; phát hành tiền giấy; đổi mới chế độ thuế khóa, sa thải tăng lữ để hạn chế phong kiên quý tộc…

Mọi cải cách của Hồ Quý Ly là toàn diện và tiến bộ nhưng ông đã tiêu diệt Nhà Trần một cách tàn bạo nên người đời oán hận, thêm vào đó Nhà Minh luôn rình rập thôn tính Đại Ngu nên những cách của Hồ Quý Ly không thực hiện được

Tháng Sáu, năm 1406, Nhà Minh sang xâm lược, cha con Hồ Quý Lý chạy vào Thanh Hóa, rồi Hà Tĩnh, đến ngày 17, tháng Sáu, năm 1407 bị quân Minh bắt đem về Trung Quốc

2.1.5 Đôi nét về đặc điểm của nhà nước phong kiến Thời Lê Sơ (1428-1527)

Trước sự đô hộ tàn bạo của quân Minh, Lê Lợi – một hào kiệt ở Thanh Hóa, đã cùng các hào kiệt cùng chí hướng như Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn…tập hợp nghĩa quân, chính thức phất cờ khởi nghĩa Lam Sơn ngày 7, tháng Hai, năm 1418 Sau 10 năm trường kỳ kháng chiến, đất nước được giải phóng vào năm 1428

Dưới thời Lê Sơ, đất nước đã có những nét son trong lịch sử Việt Nam, đặc biệt là vào thời vua Lê Thánh Tông Nhà vua chăm lo cho đất nước, mở khoa thi chọn người hiền tài, đề cao Nho giáo, khuyến khích nông nghiệp, phát triển ngành nghề, mở mang giao lưu buôn bán…Ông cho lập hội Tào Đàn gồm 28 tiến sĩ giỏi văn thơ thời đó, gọi là “Tao Đàn nhị thập bát tú”, minh oan cho danh nhân văn hóa lỗi lạc Nguyễn Trãi bị “tru di tam tộc” về vụ “Lệ Chi viên”

Đến thời Lê Chiêu Thống, Nhà Lê đi vào suy vọng Đất nước rơi vào loạn lạc trên hai thế kỷ

2.1.6 Đôi nét về đặc điểm của nhà nước phong kiến Nhà Mạc (1527-1592)

Tháng Sáu, năm 1527, Mạc Đăng Dung, An Hưng Vương của Nhà Lê, thấy Lê Cung Hoàng ươn hèn, đã đem quân về kinh đô (Đông Đô) ép vua nhường ngôi, lập nên Nhà Mạc

Năm 1592, Nhà Mạc đi vào suy tàn và bị quân Lê – Trịnh tấn công, quan quân Nhà Mạc chạy chốn lên Cao Bằng, năm 1677 bị tiêu diệt hoàn toàn

Sau Nhà Mạc, tới thời Lê Trung Hưng, lịch sử gọi là Trịnh Nguyễn phân tranh, kéo dài từ năm 1533 đến 1788

Đàng Ngoài, họ Trịnh nắm quyền được 243 năm, qua 12 đời Chúa Ở Đàng Trong, Chúa Nguyễn trị vì từ 1558 đến 1777, có 9 đời Chúa

2.1.7 Đôi nét về đặc điểm của nhà nước phong kiến Nhà Tây Sơn (1778-1802)

Anh em nhà Tây Sơn gồm có Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ Trước tình hình đất nước bị chia cắt, loạn lạc, anh em Tây Sơn đã tập hợp, tổ chức lực lượng, lãnh đạo nông dân trong vùng khởi nghĩa năm 1771

Năm 1778 diệt xong chúa Nguyễn, Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng đế, lập nên triều đại Tây Sơn, đóng đô ở Quy Nhơn (Bình Định)

Năm 1786 Nguyễn Huệ đem quân ra đánh quân Trịnh ở Thuận Hóa Ngày 25 tháng Sáu, năm 1786 tiến quân vào cố đô Thăng Long với khẩu hiệu “phò Lê diệt Trịnh”

Vua Lê Hiển Tông gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ Sauk hi vua mất, Nguyễn Huệ đưa Ngọc Hân về Nam, giao quyền cho con cháu Nhà Lê Nhưng rồi nội bộ Nhà

Lê lục đục, Nguyễn Huệ đem quân ra dẹp loạn., ông tổ chức lại bộ máy cai trị ở Bắc Hà Đất nước chấm dứt cảnh Trịnh-Nguyễn phân tranh

Năm 1787, từ Bắc Hà trở về, Nguyễn Nhạc chia vùng đất phía Nam làm 3: từ đèo HảI Vân trở ra thuộc Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ, Đất Gia Định thuộc Đông Định Vương Nguyễn Lữ, Nguyễn Nhạc chiếm giữ miền Trung Năm 1793 Nguyễn Nhạc qua đời

Trang 5

Phía Bắc, năm 1788 Lê Chiêu Thống bỏ chạy ra nước ngoài, cuối năm đưa đường cho quân xâm lược Mãn Thanh vào chiếm Thăng Long

Ngày 25, tháng Giêng, năm Mậu Thân( ngày 22, tháng Mười Hai, năm 1788) Nguyễn Huệ đưa quân ra Bắc Hà và lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu là Quang Trung

Năm 1789 đại quân Quang Trung đã đánh tan 29 vạn quân Thanh với trận Ngọc Hồi -Đống Đa lừng danh

Tháng Bảy, năm 1792 vua Quang Trung băng hà, con là Quang Toản lên ngôi, còn ít tuổi, nội bộ lục đục, không chống lại được sức tấn công của Nguyễn ánh Sự nghiệp Nhà Tây Sơn tồn tại được 24 năm

2.1.8 Đôi nét về đặc điểm của nhà nước phong kiến Nhà Nguyễn (1802-1945)

Năm 1802, Nguyễn ánh diệt xong nhà Tây Sơn, lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là Gia Long, đóng đô ở Phú Xuân (Huế) Năm đó Gia Long đổi tên nước là Việt Nam

Năm 1804 Nhà Thanh phái Tề Bồ Sâm sang phong vương cho Gia Long và ưng thuận đặt tên nước là Việt Nam

Gia Long xây dựng bộ Quốc Triều hình luật, năm 1815 bộ luật được ban hành với 22 quyển

Năm 1821 có dung Quốc Tử Giám mở lại thi Hội và thi Đình

Vào những năm 50 của thế kỷ Xĩ các thế lực Phương Tây muốn bành trướng tìm thuộc địa Việt Nam là đối tượng để chúng dòm ngó Trước tình hình đó, nhiều chí sĩ dâng sớ xin nhà vua cảI cách mọi mặt chính trị, quân sự,ngoại giao… nhưng Nhà Nguyễn xây dung chính sách “bế quan tỏa cảng”

Sau hòa ước Quý Mùi (1883) và Hiệp ước Pa - tơ - nốt (1884) các triều đại phong kiến Việt Nam chấm dứt, đất nước rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp

2.2 Cảnh huống ngôn ngữ ở Việt Nam thời kì nhà nước phong kiến độc lập

2.2.1 Khái niệm về cảnh huống ngôn ngữ:

Cảnh huống ngôn ngữ chính là các chức năng và các hình thức tồn tại của ngôn ngữ

có liên quan chặt chẽ với các điều kiện xã hội, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước

Cảnh huống ngôn ngữ gắn bó trực tiếp và mật thiết với chính sách ngôn ngữ Chính sách ngôn ngữ chỉ đạt được hiệu quả khi tính đến tất cả các nhân tố của cảnh huống ngôn ngữ, bởi vi cảnh huống ngôn ngữ là một trong những nhân tố quan trọng nhất trong quá trình hoạch định chính sách ngôn ngữ Vì vậy, nếu xác định được cảnh huống ngôn ngữ chuẩn xác thì mới có được chính sách ngôn ngữ toàn diện, hợp lý và đúng đắn

2.2.2 Cảnh huống ngôn ngữ thời kỳ phong kiến độc lập

Là một đất nước trải qua những đêm dài nô lệ, sau khi giành được độc lập cũng muốn củng cố, xây dựng những giá trị mới làm cho đất nước trụ vững trong tiến trình tự chủ Giai đoạn này ngôn ngữ được chia làm 2 ngôn ngữ chính:

-Chữ Nôm: Có nhiều ý kiến khác nhau về sự ra đời của chữ Nôm nhưng đến thế kỷ 13 được coi là cái mốc phát triển của nền văn hóa Việt và cũng là cái mốc phát triển riêng của chữ Nôm Từ đây chữ Nôm được xem như là một thứ chữ riêng phổ biến của người Việt bản địa Có rất nhiều tác phẩm thơ viết bằng chữ Nôm ra đời Đáng chú ý nhất là dưới triều Hồ,

đã có lúc chữ Nôm được lấy làm văn tự chính thức trong các văn bản của triều đình Từ TK

XV trở đi, với nền độc lập tự chủ vững chắc, chữ Nôm đã có bước phát triển mới.Nhiều tác phẩm có giá trị đã ra đời: Quốc Âm thi tập của Nguyễn Trãi, Hồng Đức quốc âm thi tập của

Lê Thánh Tông và Hội Tao Đàn….thơ Nôm truyện Kiều của Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm,

Hồ Xuân Hương… Cũng giống như Hồ Quý Ly, Vua Quang Trung cũng có những bước cải tiến trong việc phát triển văn hóa dân tộc: đưa chữ Nôm vào trường học, dịch truyện từ chữ Hán ra chữ Nôm, sử dụng chữ Nôm trong các văn bản hành chính

-Chữ Hán: Từ TK VIII, việc đọc chữ Hán bắt đầu theo cách đọc âm Hán đời Đường, đến TK XI khi nhà Lý dời đô về Thăng Long, dựng Văn Miếu, lập Quốc Tử Giám và bắt đầu

Trang 6

mở khoa thi đầu tiên để tuyển người tài thì việc học sách thánh hiền bằng chữ Hán trở thành công việc thường xuyên của các sĩ tử

Hệ thống âm Hán Việt được hoàn thiện về cơ bản vào nửa cuối thế kỷ XI , nhưng khi Nhà Minh xâm lược nước ta nhận thấy cách đọc chữ Hán của người Việt khác xa với họ, họ

đã bắt hàng trăm sĩ tử về Trường An học lại chữ Hán theo cách nhà Minh, nhưng khi nhà Minh bị quét sạch thì chủ trương này cũng bị phá sản

Và từ đó trở đi việc dùng âm Hán Việt giúp chúng ta dễ dàng khai thông sức mạnh văn hóa, văn học truyền thống ở Việt Nam

2.3 Một số nội dung về chính sách ngôn ngữ của Nhà nước phong kiến độc lập 2.3.1 Đặt vấn đề

Trong một đất nước, một quốc gia có ba chỉ số quan trọng đó là: Quốc ca, quốc kì và ngôn ngữ Ngôn ngữ là một trong những biểu tượng của sự thống nhất độc lập của một đất nước, là phương tiện để gắn kết tình cảm, tinh thần giữa các thành viên và cả quốc gia

Do tài liệu hạn chế nên luận văn này tập trung vào chính sách đối với chữ Hán, chữ Nôm, chữ quốc ngữ

2.3.2 Chính sách đối với chữ Hán

Một nhà nước với các thiết chế làm việc của nó cần phải có những phương tiện phục

vụ cho việc thông tin hành chính, mà trước hết là ngôn ngữ và chữ viết Một cách tự nhiên,

chữ Hán và ngôn ngữ viết vẫn được sử dụng “Ngay cả việc vay mượn chữ Hán rồi đây sẽ là

một yếu tố mới để xây dựng học thuật nước nhà Chữ Hán sẽ là thứ chuyển ngữ cần thiết để người Việt Nam, sau khi giành lại được quyền tự chủ, có thể học và hiểu sâu hơn đạo Phật, đạo Khổng, đạo Lão và để xây dựng nền văn hóa mới” [18 tr 33]

Năm thế kỷ, từ thời tự chủ, chữ Hán đóng vai trò văn tự chính thức, văn tự nhà nước

và có ưu thế trong sáng tác Độc lập, chủ quyền sẽ là tiền đề, là cái mở đầu cho rất nhiều vấn

đề xã hội, trong đó có các vấn đề về ngôn ngữ, văn tự

Từ khi xuất hiện, chữ Hán đóng một vai trò quan trọng trong việc gìn giữ nền độc lập nước nhà Nhà nước phong kiến đã sử dụng chữ Hán nước là một công cụ để củng cố và gìn giữ nền độc lập non trẻ của mình với những chức năng:

- Chức năng làm công văn hành chính với những áng hùng văn như: “Thiên đô chiếu” của Lý Thái Tổ, “Lâm chung di chiếu” của Lý Nhân Tông, “Phạt Tống lộ bố văn” của Lý Thường Kiệt”

- Chức năng trong hoạt động ngoại giao: Chữ Hán được coi là vũ khí tuyệt vời, mang lại nhiều thắng lợi, điều đó chứng tỏ vai trò to lớn của chữ Hán trong hoạt động ngoại giao và không chỉ xảy ra ở thời kỳ đầu độc lập mà trái lại nó luôn thể hiện thường xuyên trong suốt tiến trình dựng nước và giữ nước Những thắng lợi cả về đối nội và đối ngoại đã mang lại vị thế mới cho các triều đại và đất nước

- Vai trò của chữ Hán trong việc viết sử: chữ Hán không chỉ được dùng để đọc kinh Phật, học sách Nho, viết chiếu từ quân lệnh và dần dần bước vào vị trớ đỉnh cao: viết sử, với những bước khởi đầu là những trang bia đá, rồi dần dần xuất hiện những bộ sử có tính chất chính thống như: Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu biên soạn, Đại Việt sử ký tục biên do Phan Phu Tiên biên soạn, Đại Việt sử ký toàn thư do Ngô Sỹ Liên biên soạn

- Vai trò của chữ Hán trong giáo dục, học thuật, sinh hoạt tôn giáo, sáng tác văn học (thơ, phú, ký ) Văn học Việt Nam của năm thế kỷ (X-XV) của buổi đầu độc lập chủ yếu được viết bằng chữ Hán

Như vậy, chữ Hán đã đóng vai trò cần yếu của mình trong việc xây dựng nhà nước tự chủ, thống nhất Sau này tùy theo sự phát triển của đất nước cũng có những biến đổi tương ứng, song về cơ bản những chức năng xã hội đó trong những giai đoạn tiếp theo chỉ là sự phát triển tự nhiên trên nền tảng những chức năng xã hội của chữ Hán ở Việt Nam đã được hình thành và đặt nền móng ngay trong 5 thế kỷ đầu tiên của quá trình tự chủ

2.3.3 Chính sách đối với chữ Nôm

Trang 7

Hiện nay có rất nhiều ý kiến khác nhau về sự ra đời của chữ Nôm, quá trình này có thể tạm chia làm hai giai đoạn:

- Giai đoạn đầu, tạm gọi là giai đoạn “đồng hóa chữ Hán”, tức là dùng chữ Hán để phiên âm các từ Việt thường là tên người, tên đất, tên vật xuất hiện lẻ tẻ trong văn bản Hán

- Giai đoạn sau: ở giai đoạn này, bên cạnh việc tiếp tục dùng chữ Hán để phiên âm từ tiếng Việt, đã xuất hiện những chữ Nôm tự tạo theo một số nguyên tắc nhất định Loại chữ Nôm tự tạo này, sau phát triển theo hướng ghi âm, nhằm ghi chép ngày một sát hơn, đúng hơn với tiếng Việt Từ thời Lý thế kỷ XI đến thời Trần thế kỷ XIV thì hệ thống chữ Nôm mới thực sự hoàn chỉnh Đến thế kỷ XVIII-XIX chữ Nôm đã có những bước phát triển mới Các tác phẩm như hịch Tây Sơn, khoa thi hương dưới thời Quang Trung (1789) đã có bài thi làm bằng chữ Nôm Truyện Kiều của Nguyễn Du là những minh chứng cho sự phát triển của chữ Nôm

Như vậy có thể thấy chữ Hán và chữ Nôm có những khác nhau cơ bản về lịch sử ra đời, mục đích sử dụng và mỗi chữ có bản sắc văn hóa riêng

Chữ Nôm ra đời đánh dấu bước phát triển của nền văn hóa dân tộc, ý thức tự cường

và khẳng định vai trò địa vị tiếng Việt Với dân tộc Việt, chữ Nôm ra đời không phải để phủ định chữ Hán mà để bổ khuyết vào những mảng còn thiếu của ngôn ngữ đời sống

Khi hệ thống văn tự Nôm được hình thành và việc sáng tác thơ bằng chữ Nôm trở thành phong trào thì đã có sự phân công giữa chữ Hán và chữ Nôm về mặt chức năng: chữ Hán được dùng trong hành chính, giáo dục, trong giao tiếp triều chính còn chữ Nôm thì được dùng trong giao tiếp, văn chương bình dân

Chữ Nôm qua các thế kỷ là một điều đáng tự hòa về sức sống mạnh mẽ của dân tộc, một biểu hiện cụ thể và phong phú về sự diễn tiến nhịp nhàng, vững chắc của Việt Nam ta từ ngàn xưa cho đến ngày nay, mở ra một triển vọng mới cho sự phát triển ngôn ngữ và tiếng nói dân tộc

Nếu nhìn lịch sử thành những giai đoạn lớn thì có thể khẳng định rằng chữ Nôm là thành tựu văn hóa của nhà nước phong kiến đang khẳng định độc lập, là sản phẩm tất yếu của

sự tiếp xúc với nền văn hóa Hán

Đến thế kỷ XVII với việc truyền bá đạo Thiên Chúa vào Việt Nam, các giáo sĩ Phương Tây đã chế tạo ra hệ thống ký tự ghi tiếng Việt dựa trên chữ cái La tinh Như vậy, thời gian này tồn tại ba loại chữ: chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ Trong đó chữ Hán vẫn chiếm ưu thế nhưng bên cạnh đó có khá nhiều tài liệu văn học, triết học, lịch sử, luật học,

y khoa, tôn giáo được viết bằng chữ Nôm

2.4 Tiểu kết

Trong chiều dài của lịch sử, chữ Hán đã thâm nhập vào hoạt động, văn hóa tinh thần của người Việt nhờ vào một hoàn cảnh đặc biệt là sự truyền bá đạo Phật, việc tiếp thu đạo phật nên việc học chữ Hán là cần thiết Đến thế kỷ X việc học tập chữ Hán trở thành nhu cầu chính thống và rộng rãi, không chỉ dùng chữ Hán trong quản lý hành chính mà còn trong cả thi cử Từ đó chữ Hán trở thành chữ viết trong gần 1000 năm, kể từ năm 1075 sau khi vua Lý Nhân Tông cho mở khoa thi Nho học đầu tiên, cho đến năm 1919 là năm mở khoa thi cuối cùng ở Huế

Chữ Nôm là một sáng tạo rất có ý nghĩa của cha ông ta Sự xuất hiện của chữ Nôm là một sự kiện đánh dấu sự tiến triển của văn hóa dân tộc, biểu hiện lớn mạnh về ý thức tinh thần quốc gia dân tộc Trải qua những thăng trầm của lịch sử, chữ Nôm ngày càng phát triển nhưng nó chỉ được lưu hành trong dân gian, chưa được điển chế để trở thành chữ viết chính thức của quốc gia, ngoại trừ sự nỗ lực của Hồ Quý Ly, vua Quang Trung và vua Tự Đức

Chữ Nôm là sản phẩm trí tuệ của người Việt trong hoàn cảnh lịch sử cuối thời Bắc thuộc, đầu thời tự chủ Sự ra đời của chữ Nôm phản ánh ý thức tự lực, tự cường dân tộc, là phương tiện truyền tải những giá trị văn hóa của cha ông ta

Trang 8

Chương 3: liên hệ với chính sách ngôn ngư của đảng và nhà nước ta hiện nay 3.1 Nhìn lại chính sách ngôn ngữ của Nhà nước phong kiến độc lập

Ngôn ngữ là tài sản, là biểu tượng của quốc gia đồng thời là biểu trưng của nền độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ

Sau khi giành được giải phóng thoát khỏi ách thống trị ngoại xâm, giai cấp phong kiến Việt Nam bèn xây dựng một nhà nước Đại Việt Muốn củng cố vị trí độc lập của mình đối với giai cấp phong kiến Phương Bắc thì nhà nước Đại Việt chỉ còn cách dựa vào sức mạnh đoàn kết dân tộc Chính sách của nhà nước phong kiến vì vậy phát huy những giá trị tinh thần dân tộc

Nền Hán học là biểu hiện của ý thức hệ chính thống, là nội dung việc giáo dục thi cử,

là tiêu chuẩn lựa chọn người cho bộ máy chính quyền Chữ Hán là văn tự chính thức của nhà nước, được sử dụng trong các văn bản hành chính, trong học tập và sáng tác văn học

Không một lời tuyên bố nào cả nhưng nhiều tầng lớp, nhiều thế hệ trong xã hội đã ra sức bảo vệ ngôn gữ cảu mình đó là Tiếng Việt, chống lại những người đã kinh rẻ nó mà tôn thờ tiếng nước ngoài Và không có một cơ quan nào, tổ chức nào đề ra chủ tương chung nhưng họ luôn có những việc làm, những hành động bổ sung cho nhau đẻ làm giàu cho ngôn ngữ của mình Chính sách ngôn ngữ của nhà nước phong kiến là không có thái độ ỷ lại mà luôn tạo ra từ mới bằng cách dịch từ Hán, mượn nội dung ý nghĩa, không mượn vỏ âm thanh

Có thể dùng từ Hán nhập tịch từ lâu và đã quen thuộc với người Việt Bên cạnh đó mạnh dạn dùng tiếng Việt, bám sát ngôn ngữ nói kể cả những từ cửa miệng, không phân biệt từ thanh,

từ thô, từ nào nói đúng ý mình là từ hay

Có thể thấy chính sách ngôn ngữ của nhà nước phong kiến độc lập luôn luôn trong thế vận động, nỗ lực và khát khao đến đích của sự ổn định và hoàn thiện

3.2 Liên hệ với chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước ta hiện nay

Sau Cách mạng tháng Tám thành công, tiếng Việt trở thành ngôn ngữ quốc gia, ngôn ngữ chính thức của Việt Nam, được sử dụng trong tất cả các lĩnh vực: từ công văn hành chính đến giáo dục, văn hóa, khoa học…

Ngôn ngữ quốc gia được hiểu là ngôn ngữ được chính thức thừa nhận trong đời sống quốc gia Nó có tính hiến định và pháp lệnh, được xác định là một trong 3 chỉ tố: quốc kỳ, quốc ca

Xác lập vị thế ngôn ngữ quốc gia của tiếng Việt, Đảng và Nhà nước ta đồng thời chỉ

ra phương hướng phát triển của tiếng Việt, đó là dân chủ hóa và quần chúng hóa

Tiếng Việt được sử dụng trong mọi lĩnh vực và được pháp luật bảo vệ (được quy định trong Hiến pháp năm 1946, điều 18; Sắc lệnh 19; sắc lệnh 20 của Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 08/9/1945) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Tiếng nói là thứ của cảo vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc.Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp…” Trước lời căn dặn đó, đã có nhiều cuộc vận động nhằm phát triển tiếng Việt Đầu tiên là cuộc vận động cải tiến chữ quốc ngữ, tiếp theo là cuộc vận động giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Thứ ba là cuộc vận động chuẩn hóa tiếng Việt Tất cả đều được thông qua các Quy định Nghị định, Quyết nghị của Đảng và Nhà nước mà cơ quan đại diện là Bộ giáo dục và Đào tạo

Trong việc bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt, Đảng và Nhà nước cũng có những văn bản uốn nắn trong việc sử dụng tiếng Việt như Nghị định số 194-CP ngày 31/12/1994 về hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam, Nghị định số 87-CP ngày 12/12/1995 về quy định lưu hành, kinh doanh phim, băng đĩa hình, hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa nơi công cộng

Xác định được ngôn ngữ quốc gia và giải quyết được mối quan hệ ngôn ngữ quốc gia với ngôn ngữ các dân tộc là một nhiệm vụ trong tâm trong chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước ta Trong việc bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hóa tộc người, Đảng và Nhà

Trang 9

nước đã tích cực tổ chức các hội nghị, hội thảo về ngôn ngữ các dân tộc, khởi thảo các đề án phát triển ngôn ngữ dân tộc bản địa

Đối với các ngôn ngữ dân tộc thiểu số, Đảng và Nhà nước chủ trương tôn trọng tiếng

mẹ đẻ của các dân tộc, bảo đảm sự phát triển tự do và bình đẳng của tất cả các ngôn ngữ dân tộc ở Việt Nam Quyền sử dụng tiếng mẹ đẻ là một quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay

Để bảo tồn ngôn ngữ và văn hóa dân tộc, Đảng và Nhà nước đã có những Quy định rõ ràng thông qua các Nghị quyết, cương lĩnh Tiếng dân tộc có cơ hội tồn tại song song với tiếng Việt Đời sống của tiếng dân tộc được bảo đảm và đóng góp của tiếng dân tộc đối với

sự phát triển tiếng Việt được Đảng và Nhà nước coi trọng và giữ gìn Là một phần trong nền văn hóa quốc gia nên ngôn ngữ, văn học, chữ viết của các dân tộc cần được nghiên cứu, bảo tồn và phát triển

Việc sử dụng tiếng dân tộc được quy định trong Hiến pháp năm 1946 điều 15 “ ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình” Điều 66 “ Quốc dân thiểu số có quyền dùng tiếng nói của mình trước tòa án”.Và tất cả những điều này ngày càng được củng cố trong các Hiến pháp năm 1960, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992

Trong giáo dục, tiếng dân tộc luôn được tiến hành một cách chính thức trong các trường phổ thông, bối dưỡng nâng cao chất lượng giáo viên, luôn có sự hợp tác giữa các nhà ngôn ngữ với các sở Giáo dục, sở Văn hóa

Ngôn ngữ dân tộc là biểu hiện của bản sắc văn hóa dân tộc Duy trì và bảo vệ ngôn ngữu các dân tộc là duy trì và bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc Đã có rất nhiều những Quyết nghị, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về để ra chủ trương, đường lối, biện pháp đối với chữ viết và tiếng nói dân tộc Trần Trí Dõi trong bài viết “ Tình hình một số ngôn ngữ dân tộc nguy cấp ở Việt Nam và những luận cứ chính sách đối với các ngôn ngữ ấy” có viết

“Việc thúc đẩy nền kinh tế xã hội của các dân tộc và nhóm tộc người có ngôn ngữ bị suy giảm là một nhu cầu bức bách Muốn cho tộc người Arem chẳng hạn không suy giảm dân số với tỷ lệ 1% năm, đó là vấn đề sản xuất, đó là vấn đề y tế mà cả cộng đồng phải giải quyết Cũng vậy, muốn những người Ơ đu có điều kiện duy trì tiếng mẹ đẻ của mình, cộng đồng nhỏ

bé của họ hiện nay phải được phát triển, phát triển tới mức họ có nhu cầu dùng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp hàng ngày Phải nâng cao chất lượng tiếng mẹ đẻ của họ trong giao tiếp cộng đồng Cách tốt nhất để làm được điều này là duy trì tiếng mẹ đẻ trong hoạt động văn hóa của

cả dân tộc Chính văn hóa truyền thống hay bản sắc văn hóa của các dân tộc là cái nền tốt nhất để lưu giữ ngôn ngữ của họ Vì thể để đảm bảo ngôn ngữ của các dân tộc có nguy cơ bị suy thoái không bị mai một, một công việc tốt nhất là khơi dậy và làm sống lại hoạt động văn hóa tuyền thống của chính họ”

Chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với ngôn ngữ dân tộc là đúng đắn., đáp ứng được vấn đề dân tộc và ngôn ngữ ở Việt Nam trong công cuộ giảI phóng dân tộc và xây dựng Tổ Quốc

3.3 Tiểu kết

Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước thì chính sách ngôn ngữ là một bộ phận trong tổng thể chính sách về vấn đề dân tộc Đây là sự vận động có tính kế thừa và sáng tạo những

tư tưởng của chủ nghĩa Mác- Lênin Theo đó chính sách ngôn ngữ được xây dựng trên nguyên tắc cơ bản là tôn trọng và đảm bảo quyền bình đẳng giữa các dân tộc

Lấy tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho hành động, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra những đường lối chính sách phù hợp với điều kiện và tình hình thực tế đất nước, trong từng thời kỳ cách mạng cụ thể Trong điều kiện là Đảng cầm quyền, Đảng đã cụ thể hóa chính sách ngôn ngữ trong các nghị quyết, chỉ thị của Chính phủ, trong các quyết định, thông tư hướng dẫn thực hiện của Bộ giáo dục và đào tạo

Trang 10

Tất cả các điều đó đều được luật pháp hóa trong Hiến pháp nhà nước cũng như trong các luật

cơ bản khác như Luật giáo dục, luật phổ cập giáo dục tiểu học

Cùng với việc xác định vai trò của tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ phổ thông dùng chung cho các dân tộc, trong tất cả các lĩnh vực, Đảng và Nhà nước ta còn coi việc đảm bảo quyền sử dụng và duy trì tiếng mẹ đẻ của các dân tộc là bất khả xâm phạm Với chủ trương vừa dạy tiếng Việt vừa dạy tiếng mẹ đẻ đối với các dân tộc thiểu số đã thể hiện được tư tưởng mang tính toàn dân, hiện đại và phù hợp với sự phát triển của đất nước Việc dạy tiếng mẹ đẻ cho các dân tộc là một tất yếu trong quá trình giáo dục ngôn ngữ bởi đó là một trong những chủ trương, chính sách bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc, nhằm đảm bảo các dân tộc được sử dụng và phát triển tiếng mẹ đẻ của mình, đồng thời phổ cập tiếng Việt để xóa đi các bước ngăn cản về trình độ, văn hóa, phù hợp với xu hướng phát triển chung và thực hiện nhiệm vụ đoàn kết thống nhất dân tộc trên tất cả các phương diện

Trên nguyên tắc tự nguyện và tôn trọng sự phát triển bình đẳng, tự do của tất cả các ngôn ngữ, khuyết khích các dân tộc thiểu số học tiếng Việt, đưa tiếng Việt làm ngôn ngữ giao tiếp chung giữa các dân tộc, ngôn ngữ quốc gia, ngôn ngữ chính thức, thực sự là phương tiện

để đoàn kết, thống nhất các dân tộc trong cả nước

KẾT LUẬN

1 Chính sách ngôn ngữ là một vấn đề của ngôn ngữ - xã hội, thuộc lĩnh vực nghiên cứu của ngôn ngữ học xã hội Chính sách ngôn ngữ là một vấn đề nhạy cảm, mang ý nghĩa chính trị sâu sắc Đối với quốc gia đa dân tộc, đa văn hóa, đa ngôn ngữ thì việc xây dựng chính sách ngôn ngữ là một trong những vấn đề hàng đầu trong sự phát triển đất nước Bên cạnh thuật ngữ chính sách ngôn ngữ, người ta còn nói nhiều về khái niệm kế hoạch hóa ngôn ngữ, lập pháp ngôn ngữ, hai khái niệm này luôn có quan hệ mật thiết, không thể tách rời với chính sách ngôn ngữ

2 Ngày nay, ai cũng biết tiếng Việt là một ngôn ngữ đẹp, giàu hình ảnh, giàu âm thanh và nhạc điệu Tiếng Việt phong phú về mặt từ vựng và phong phú cách diễn đạt, đủ sức thể hiện những khái niệm, những tình cảm, cảm xúc tinh vi và phức tạp nhất Tiếng Việt đang dần dần củng cố được vị trí xứng đáng của mình trên trường quốc tế Nhưng không phải từ khi mới sinh ra tiếng Việt đã như vậy Cha ông chúng ta đã phải không ngừng đấu tranh chống sự áp đặt của ngôn ngữ ngoại bang để bảo tồn bản sắc riêng của mình, cái bản sắc đã được hình thành từ thời dựng nước và luôn luôn được bảo vệ giữ gìn Đó đó là một cuộc chiến đấu trường kỳ và dai dẳng Tiếng Việt đã biết tiếp thu và làm phong phú thêm bằng cách thu nạp những yếu tố ngoại nhập phù hợp với cơ chế của mình để làm giàu có thêm cho hoạt động ngôn ngữ của nó Từ một thứ tiếng nói sơ khai buổi ban đầu, tiếng Việt đã phát triển quan nhiều chặng đường, hình thành cho mình những quy luật nội tại để cuối cùng trở thành tiếng Việt ngày nay

Quá khứ luôn theo đuổi và ăn sâu vào tâm tư chúng ta, luôn can dự vào sự nghiệp của chúng ta hôm nay, và sẽ còn hiện diện trong xã hội ngày mai Tìm hiểu quá khứ không chỉ vì quá khứ mà còn vì hiện tại và tương lai

3 Lịch sử phát triển của dân tộc ta là lịch sử của mối quan hệ biện chứng giữa tính liên tục và tính đứt đoạn Tính liên tục thể hiện ở chỗ các giai đoạn đều nối tiếp nhau, cái sau vừa phủ định vừa kế thừa cái trước Tính đứt đoạn thể hiện ở chỗ sự phát triển được phân chia thành những giai đoạn lịch sử khác nhau Truyền thống được gắn liền với hiện đại, nghĩa

là truyền thống phải chứng minh lý do tồn tại ở chỗ nó thích hợp với hiện đại, góp phần thúc đẩy sự phát triển của hiện đại Ngược lại hiện đại không bao giờ cắt đứt với truyền thống Hiện đại là sự nói tiếp của truyền thống trong thời kỳ mới, là điều kiện và cơ sở để bảo tồn và đổi mới truyền thống

Trong tiến trình phát triển của dân tộc, cha ông ta luôn luôn đề cao việc bảo vệ ngôn ngữ dân tộc đó là tiếng Việt đồng thời tiếp thu tiếng Hán để làm cho ngôn ngữ dân tộc ngày

Ngày đăng: 17/01/2014, 14:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w