Trên đất Thăng Long-Hà Nội xưa, không chỉ có Văn Miếu - Quốc Tử Giám được xây dựng để thờ Khổng Tử, các bậc Tiên thánh, Tiên nho, mà hầu như làng nào, xã nào cũng lập văn chỉ thờ Khổng T
Trang 1Khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học phục vụ du lịch tại Hà Nội cũ - thực trạng
và giải pháp Đường Ngọc Hà
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Du lịch
Chuyên ngành: Du lịch học; Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn: GS.TS Lê Chí Quế
Năm bảo vệ: 2012
Abstract Hệ thống các giá trị của di sản văn hóa Nho học, đặc biệt là các di tích Nho
học nói chung và trên địa bàn Hà Nội cũ nói riêng Đánh giá tình hình khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học trên địa bàn Hà Nội cũ giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2010 Rút ra một số kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học trên địa bàn Hà Nội cũ
Keywords Du lịch; Giá trị di sản; Di văn văn hóa; Hà Nội
Content
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thăng Long - Hà Nội, mảnh đất địa linh nhân kiệt, từ lâu đã được biết đến như một địa chỉ du lịch nổi tiếng trong và ngoài nước Trải qua một nghìn năm phát triển,
Hà Nội lưu giữ trong mình những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng đặc sắc Những công trình kiến trúc cổ, khu phố cổ, khu phố Pháp, làng cổ, những công trình kiến trúc văn hóa; tín ngưỡng cùng với lối sống, phong tục tập quán, nghề truyền thống là những di sản vô giá của dân tộc
Với tiềm năng du lịch đặc sắc đó, với các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đã trở thành một biểu tượng của văn hóa Việt Nam, Hà Nội đã và đang là điểm đến hấp dẫn du khách Nhiều tổ chức, tạp chí, sách báo chuyên ngành đã đánh giá Hà Nội là một trong những thành phố đáng đến nhất trong khu vực Tạp chí Lữ hành và giải trí (Travel
& Leisure) - một tạp chí du lịch lữ hành hàng đầu thế giới - 5 năm liên tiếp đã bầu chọn
Hà Nội là một trong 10 thành phố hấp dẫn nhất châu Á
Nho giáo và nền giáo dục Nho học được du nhập vào Việt Nam trong thời Bắc thuộc và có ảnh hưởng nhiều mặt tới đời sống của người dân Việt Nam thời phong kiến, góp phần xây dựng nên nền văn hóa Việt Nam Sự du nhập của Nho giáo và Nho học đã
để lại một loại hình di sản văn hóa Nho học là một phần quan trọng trong kho tàng các
di sản văn hóa Việt Nam
Trang 2Trên đất Thăng Long-Hà Nội xưa, không chỉ có Văn Miếu - Quốc Tử Giám được xây dựng để thờ Khổng Tử, các bậc Tiên thánh, Tiên nho, mà hầu như làng nào, xã nào cũng lập văn chỉ thờ Khổng Tử và các bậc khoa hoạn của địa phương, bên cạnh đó còn
có rất nhiều các nhà thờ các dòng họ khoa bảng, các vị tiến sĩ
Có thể nói trong số các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đang là tiềm năng du lịch đặc sắc, làm nên tên tuổi của thủ đô Hà Nội, có sự đóng góp không nhỏ của các giá trị di sản văn hóa Nho học
Trong những năm qua, việc khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học để phục
vụ du lịch đã được ngành du lịch Hà Nội thực hiện và đạt được một số kết quả nhất định Tuy nhiên, hoạt động du lịch mới chỉ được phát huy ở một vài di tích Nho học của
Hà Nội, doanh thu từ du lịch cũng vô cùng khiêm tốn so với tổng thu nhập từ du lịch của toàn thành phố
Nhằm đẩy mạnh khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học, tương xứng với tiềm năng và lợi thế của du lịch Hà Nội; qua khảo sát thực trạng và nghiên cứu thực tế hoạt động du lịch tại các di tích Nho học trên địa bàn Hà Nội cũ, tác giả đã chọn đề tài
"Khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học phục vụ du lịch tại Hà Nội cũ - Thực
trạng và giải pháp" làm đề tài nghiên cứu cho luận văn cao học của mình
Hy vọng đề tài sẽ có những đóng góp nhỏ bé cho sự phát triển du lịch của thủ đô
Hà Nội nói chung và ở các di tích Nho học nói riêng
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay, có nhiều cuốn sách, tài liệu nghiên cứu về Nho giáo và Nho học được xuất bản Tuy nhiên các công trình đã công bố chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu sự
ra đời, hình thành, phát triển cũng như ảnh hưởng của Nho giáo, Nho học vào Việt Nam
như: Nho học và Nho học ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Nguyễn Tài Thu; Nho giáo của Trần Trọng Kim; và một số khóa luận tốt nghiệp đại học, luận
văn thạc sỹ và luận án tiến sỹ cùng nhiều bài báo và tạp chí
Bên cạnh những tài liệu trên, còn có một số cuốn sách, đề tài nghiên cứu, các hội thảo khoa học đã được tổ chức nghiên cứu về các di tích Nho học, giới thiệu về các di
tích này như: luận văn thạc sỹ Văn Miếu - Quốc Tử Giám và hệ thống văn miếu, văn từ,
văn chỉ của Đỗ Hương Thảo năm 2000; hội thảo Văn Miếu - Quốc Tử Giám và hệ thống
di tích Nho học ở Việt Nam của Trung tâm Hoạt động VHKH Văn Miếu - Quốc Tử
Giám tổ chức năm 2009; Hội nghị các đơn vị quản lý di tích Nho học ở Việt Nam của Trung tâm Hoạt động VHKH Văn Miếu - Quốc Tử Giám tổ chức năm 2010; sách Văn
Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long Hà Nội của tác giả Nguyễn Quang Lộc, Phạm Thúy
Hằng,
Như vậy từ trước tới giờ chưa có một đề tài nghiên cứu nào tập trung nghiên cứu
về di sản văn hóa Nho học của Việt Nam Cũng chưa có một công trình nghiên cứu nào
đề cập đến việc khai thác các giá trị di sản này để phục vụ du lịch Như vậy, việc nhận diện các giá trị của di sản văn hóa Nho học, đánh giá thực trạng nhằm đưa ra một số giải pháp đẩy mạnh hiệu quả khai thác phục vụ du lịch có ý nghĩa quan trọng và thiết thực trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa Nho học mà du lịch được coi là
Trang 3một trong những ngành mũi nhọn, tiên phong Mặt khác, điều này cũng giúp cho sự phát triển đa dạng và đặc sắc sản phẩm du lịch của Hà Nội, góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch thủ đô và du lịch Việt Nam
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục tiêu
Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học phục vụ du lịch tại Hà Nội cũ
*Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nắm bắt, hệ thống các giá trị của di sản văn hóa Nho học, đặc biệt là các di tích Nho học nói chung và trên địa bàn Hà Nội cũ nói riêng
- Đánh giá tình hình khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học trên địa bàn Hà Nội cũ giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2010
- Rút ra một số kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học trên địa bàn Hà Nội cũ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Thực trạng khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học, cụ thể tại các di tích Nho học trên địa bàn Hà Nội cũ
- Các giải pháp để đẩy mạnh khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học phục vụ
du lịch
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài
-Về không gian: Các di sản văn hóa Nho học trên địa bàn Hà Nội cũ (Hà Nội khi chưa mở rộng địa giới)
- Về thời gian: Hoạt động khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học phục vụ
du lịch trên địa bàn Hà Nội cũ từ năm 2000 đến năm 2010
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp luận: Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử làm nền tảng trong quá trình phân tích và kết luận các vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát điền dã: Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu, tác giả thường xuyên đến khảo sát thực tế tại các di tích Nho học trên địa bàn Hà Nội cũ: quan sát, chụp ảnh, thu thập tài liệu các di sản văn hóa Nho học, thực trạng hoạt động du lịch tại các di tích này
- Phương pháp thu thập thông tin và tổng hợp phân tích số liệu: Đề tài đã kế thừa, tổng hợp và phân tích tài liệu, số liệu, kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, các chuyên gia có liên quan đến nội dung của đề tài, các cơ quan hữu quan như: Tổng cục
du lịch; Sở Văn hóa, thể thao và du lịch Hà Nội; BQL Di tích và danh thắng Hà Nội; Trung tâm Hoạt động VHKH Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Internet,
- Phương pháp xử lý thông tin: Đề tài sử dụng phương pháp thống kê để xử lý thông tin, đưa ra các nhận xét, đánh giá và kết luận
Trang 46 Nội dung nghiên cứu của đề tài
Với mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đã được xác định như trên, Đề tài có những nội dung nghiên cứu chính như sau:
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động du lịch của thủ đô Hà Nội giai đoạn 2000 -
Chương 1: Cơ sở lý luận về di sản văn hóa Nho học và du lịch Văn hóa
Chương 2: Thực trạng khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học phục vụ du lịch tại
Hà Nội cũ
Chương 3: Giải pháp để đẩy mạnh khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học phục vụ
du lịch tại Hà Nội cũ
8 Những điểm mới và đóng góp của đề tài
- Đưa ra bức tranh tổng quát về các giá trị di sản văn hóa Nho học Việt Nam nói chung và tại Hà Nội cũ nói riêng
- Nghiên cứu thực tế và đánh giá một cách có hệ thống thực trạng khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học phục vụ du lịch tại Hà Nội cũ giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2010
- Dựa trên căn cứ thực tiễn và các căn cứ khoa học để đưa ra đồng bộ các giải pháp nhằm đẩy mạnh khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học phục vụ du lịch tại Hà Nội cũ
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI SẢN VĂN HÓA NHO HỌC VÀ DU LỊCH VĂN HÓA
1.1 Di sản văn hóa Nho học
1.1.1 Một số khái niệm về di sản văn hóa
- Khái niệm di sản văn hóa của UNESCO
Trên bình diện quốc tế, năm 1989, UNESCO đã định nghĩa di sản văn hóa như
sau: Di sản văn hóa là tập hợp các biểu hiện vật thể- hoặc biểu tượng di sản quá khứ
truyền lại cho mỗi nền văn hóa, và do đó là của toàn thể nhân loại Là một phần của việc khẳng định cũng như làm giàu thêm bản sắc văn hóa, một dạng di sản của nhân loại, di sản văn hóa mang lại những đặc điểm riêng cho mỗi địa danh cụ thể, và vì thế nên là nơi cất giữ kinh nghiệm của con người Việc bảo tồn và giới thiệu những di sản văn hóa này là cốt lõi của mọi chính sách văn hóa
[17, tr.143]
- Khái niệm di sản văn hóa ở Việt Nam
Năm 2001, lần đầu tiên ở nước ta "Luật di sản văn hóa " được Quốc hội phê
chuẩn Điều 1 của "Luật di sản văn hóa " đã xác định di sản văn hóa: " bao gồm di sản
Trang 5văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ".[12, tr.54]
1.1.2 Một số khái niệm về di sản văn hóa Nho học
- Nho giáo "hệ thống các nguyên tắc đạo đức, chính trị do Khổng Tử sáng lập
nhằm duy trì trật tự xã hội phong kiến".[19, tr.321]
- Nho học chỉ việc giáo dục, học tập, thi cử theo nho giáo
[19, tr.322]
Nho giáo và Nho học được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, vào khoảng đầu Công nguyên Nền giáo dục Nho học đã để lại một di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể
Từ trước tới nay chưa có một tài liệu sách vở nào đưa ra một định nghĩa cụ thể về
di sản văn hóa nho học Tuy nhiên qua nội dung trên chúng ta có thể tạm hiểu như sau:
di sản văn hóa nho học là một bộ phận của di sản văn hóa Việt Nam, cụ thể là hệ thống các thể chế văn Miếu, Văn Từ, Văn Chỉ, trường Quốc Tử Giám và các trường học khác
ở địa phương, nhà thờ các nhà khoa bảng, cùng những hiện vật như: bia đá, bảng vàng, sắc phong, thần phả, gia phả, ; những hiện vật của các vị khoa bảng như: sách vở, nhà cửa, phương tiện học hành (bút, nghiên, gánh sách ) và cả truyền thống tốt đẹp của dân tộc như: truyền thống tôn sư trọng đạo, hiếu học hiếu nghĩa, tôn trọng nhân tài
Như vậy có thể khẳng định di sản văn hóa là một bộ phận của di sản văn hóa Việt Nam Nó vừa là di sản văn hóa vật thể như các di tích Văn Miếu, Văn Từ, Văn Chỉ hay hệ thống các trường học như Quốc Tử Giám và các trường học ở địa phương, nhà thờ các vị đại khoa, những tài liệu hán nôm Vừa là di sản văn hóa phi vật thể là các truyền thống hiếu học, đề cao việc học
- Văn Miếu
Văn Miếu là nơi thờ Khổng Tử, người sáng lập ra học thuyết Nho giáo Theo Từ
điển Từ Nguyên của Trung Quốc: "Văn Miếu là miếu Khổng Tử Năm thứ 27 niên hiệu
Khai Nguyên thời Đường phong Khổng Tử là Văn Tuyên Vương, gọi miếu Khổng Tử là Văn Tuyên Vương miếu Từ thời Nguyên, Minh về sau phổ biến gọi là Văn Miếu"[21,
tr.737]
- Quốc Tử Giám
Theo Từ điển Từ và ngữ Việt Nam định nghĩa, Quốc Tử Giám là : "Trường đại
học do triều đình lập ra ở kinh đô để đào tạo nhân tài"
[19, tr.546]
Trường Quốc Tử Giám được xây dựng phía sau Văn Miếu Thăng Long vào năm 1076 Ban đầu đây là nơi dành riêng cho hoàng tử và con em của các quan lại đến học Về sau, trường được mở rộng cho tất cả con em tuấn tú của các tầng lớp bình dân khác theo học Quốc tử Giám được coi là trường đại học đầu tiên của Việt Nam Ngày này cùng với Văn Miếu gọi chung là cụm di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám
- Văn Từ, Văn Chỉ
Trang 6Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ định nghĩa, Văn chỉ là : "nền và bệ xây
để thờ Khổng Tử ở các làng xã thời trước"[19, tr1062] Từ điển Văn hóa cổ truyền Việt
Nam có nói cụ thể hơn: "Văn từ, Văn chỉ là nơi thờ Khổng Tử và những bậc khoa hoạn
trong làng Bệ gạch xây lộ thiên là Văn chỉ, có mái che là Văn từ" [20, tr.683]
Trên thực tế, đối với người dân, việc phân biệt Văn từ, Văn chỉ không hoàn toàn như vậy Có những nơi người dân vẫn gọi là Văn chỉ mặc dù chúng không phải là bệ thờ
lộ thiên Vì vậy việc phân biệt này chỉ mang tính chất tương đối
1.1.3 Phân loại di sản văn hóa Nho học
Đối chiếu với định nghĩa di sản văn hóa quy định tại Điều 1 Luật di sản văn hóa dẫn ra ở phần trên ta thấy, di sản văn hóa Nho giáo Việt Nam cũng được cấu thành từ hai bộ phận: di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể
• Nói tới văn hóa, trước hết là nói đến con người với tư cách là chủ thể sáng tạo
văn hóa, đồng thời cũng là sản phẩm hay “là siêu phẩm” của văn hóa Với cách tiếp cận
như thế, ta thấy Nho giáo, Nhoc học Việt Nam đã góp phần đào luyện và để lại cho chúng ta giá trị văn hóa quý giá là tư tưởng nhân văn và tấm gương đạo đức sáng ngời của các vị anh hùng dân tộc và danh nhân văn hóa kiệt xuất Họ là những nhà bác học, nhà nho yêu nước, các vị quan thanh liêm gắn bó với đời sống của nhân dân lao động, hết lòng phụng sự, bảo vệ sự phồn vinh và ổn định của các triều đại phong kiến Việt Nam
• Di sản Hán Nôm là tài sản văn hóa quý giá chứa đựng lượng thông tin đa dạng liên quan đến tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội Việt Nam thời phong kiến như: văn học, sử học, giáo dục, địa lý…
- Trước hết, phải kể tới kho tàng đồ sộ các trước tác do các bậc đại khoa, các nhà bác học gắn với Nho học đã dày công nghiên cứu, biên soạn và truyền lại cho đời sau
- Văn khắc Hán Nôm là hiện tượng văn hóa nảy sinh trong đời sống xã hội, là nét đặc thù đồng thời cũng là hình thức thông tin chủ yếu thời cổ trung đại, trong đó tiêu biểu nhất phải kể tới hệ thống văn bia Có thể coi đây là loại di sản phản ánh tinh hoa trí tuệ Việt
- Thần phả, sắc phong - loại văn bản pháp quy mà Nhà nước phong kiến phong tặng chức tước cho quý tộc, quan chức các vương triều cùng các vị thần linh (nhân vật lịch sử, nhân vật huyền thoại, vật linh…) được thờ trong các thiết chế tôn giáo tín ngưỡng như: đình, đền, miếu, văn miếu, văn chỉ…
- Câu đối, đại tự (loại để thờ, phúng, mừng, tặng trong các dịp lễ tết, câu đối tự thuật, tức cảnh) là loại hình di sản được tạo tác nhằm biểu thị ý chí, quan điểm, tình cảm của tác giả (thường là các bậc danh nho văn hay chữ tốt) trước một hiện tượng, sự việc trong đời sống xã hội
• Di sản văn hóa vật thể gắn với Nho học Việt Nam là hệ thống thiết chế văn hóa đặc thù gắn với Nho học (Văn Miếu, Văn chỉ, Từ chỉ, Nhà thờ dòng họ của các bậc đại khoa, danh nho, đặc biệt là đền thờ các danh nhân văn hóa tiêu biểu của đất nước)
Thứ hai, truyền thống “Hiếu học” với tinh thần tôn sư trọng đạo “nhất tự vi sư,
bán tự vi sư” (một chữ là thày, nửa chữ cũng là thày) hay tinh thần “học không chán,
Trang 7dạy không mỏi” - một nét đẹp trong văn hóa Nho học Việt Nam được khẳng định và
khích lệ trong đời sống xã hội bằng các hoạt động được tổ chức định kỳ tại các thiết chế văn hóa Nho học phân bổ rộng khắp ở nhiều địa phương trong cả nước Theo thống kê đến thời Nguyễn cả nước ta có 28 Văn miếu được xây dựng ở kinh đô và các tỉnh thành, dinh trấn Hầu hết các thiết chế đó đều có chức năng kép vừa tôn vinh Nho học vừa là nơi đào tạo nhân tài cho đất nước
Thứ ba, thiết chế văn hóa Nho học được tạo dựng theo đúng thức kiến trúc truyền thống và quan niệm phong thủy phương Đông của Việt Nam đã làm nên một hợp thể thiên nhiên- kiến trúc - điêu khắc - hội họa, mang giá trị tiêu biểu về mặt kiến trúc nghệ thuật
1.2 Du lịch văn hóa
1.2.1 Tài nguyên du lịch
Luật Du lịch Việt Nam (năm 2005) đã quy định: "Tài nguyên du lịch là cảnh
quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch,
là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch"
[12, tr.32]
Tài nguyên du lịch được chia thành tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác hoặc chưa được khai thác Cũng tại luật Du lịch Việt
Nam (năm 2005) đã quy định rõ hơn về tài nguyên du lịch nhân văn: "Tài nguyên du
lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng , khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người
và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể sử dụng vào mục đích du lịch"[12,
tr.33]
1.2.2 Du lịch văn hóa
Du lịch văn hoá là loại hình du lịch mà ở đó con người hưởng thụ những sản phẩm văn hoá của nhân loại, của một quốc gia, một vùng dân cư
Mục đích chính của du lịch văn hoá là thúc đẩy và nâng cao hiểu biết văn hoá cho
cá nhân Loại hình du lịch này thoả mãn lòng ham hiểu biết và ham thích nâng cao văn hoá thông qua các chuyến du lịch đến những nơi lạ để tìm hiểu và nghiên cứu lịch sử , kết cấu kinh tế, thể chế xã hội, phong tục tập quán, tín ngưỡng của cư dân vùng du lịch
Có thể nói, du lịch văn hoá là hoạt động du lịch diễn ra trong môi trường nhân văn hoặc hoạt động du lịch đó tập trung khai thác tài nguyên du lịch nhân văn tại các điểm
du lịch, vùng du lịch
1.3 Di sản văn hóa nho học là một trong những thành tố quan trọng tạo nên loại hình du lịch văn hóa
Theo Luật Du lịch di sản văn hóa Nho học là một phận quan trọng trong kho tàng
di sản văn hóa Việt Nam, bởi thế nó chính là tài nguyên du lịch, cụ thể hơn đó là tài nguyên du lịch nhân văn với những giá trị tâm linh, nghệ thuật - kiến trúc, lịch sử rất lớn và đồ sộ như sau:
Trang 81.3.1 Giá trị lịch sử
Giá trị trước tiên của các di tích Nho học như Văn Miếu - Quốc Tử Giám và hệ thống các Văn Miếu, Văn Từ, Văn Chỉ là giá trị lịch sử Để xây dựng quốc gia tự chủ, độc lập và hưng thịnh cần phải có một hệ thống triết học làm nền tảng, một thể chế tổ chức xã hội vững mạnh và một nền giáo dục để đào tạo nhân tài cho đất nước Để đáp ứng nhu cầu đó, nhà Lý đã chọn Nho giáo, một học thuyết chính trị, đạo đức ra đời trước đó gần 2000 năm đã góp phần to lớn tạo lập nên nước Trung Hoa trật tự kỷ cương với nền văn hóa rực rỡ và đã được du nhập vào nước ta từ lâu
Còn hệ thống các Văn Từ, Văn Chỉ được xây dựng sau đó Theo nội dung văn bia của Văn từ phủ Yên Khánh, Ninh Bình thì Văn từ, Văn chỉ đầu tiên của nước ta xuất hiện từ thời Trần còn đại đa số được dựng dưới thời Lê và Nguyễn
Như chúng ta đều biết truyền thống hiếu học, trọng nhân tài của nước ta được biểu hiện rất cụ thể qua hệ thống Văn Miếu - Quốc Tử Giám và các Văn từ, Văn chỉ từ trung ương xuống tận các làng xã Việc xây dựng Văn Miếu ở cấp trung ương do nhà nước đảm nhận, ở các cấp hành chính thấp hơn do nhiều người đóng góp để xây dựng
Có làng Văn chỉ rất đơn giản, chỉ là một bệ thờ các bậc tiên hiền nhưng cũng nói lên đó
là làng có học Đó là điều hãnh diện của mỗi người dân Việt Nam
Quá trình hình thành và phát triển của Văn Miếu - Quốc Tử Giám cũng như hệ thống các Văn từ, Văn chỉ ở Thăng Long - Hà Nội nói riêng và trên toàn quốc nói chung qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, ở mối thời đều có những nét riêng nhưng tựu chung lại thì những nét riêng đó đã tổng hòa thành cái chung, có giá văn hóa lịch sử to lớn của nước ta
1.3.2 Giá trị nghệ thuật kiến trúc
Về quy mô kiến trúc thì Văn từ lớn hơn Văn chỉ Văn từ được chia làm hai loại
đó là: Loại thứ nhất giống một công trình kiến trúc thờ tự và loại thứ hai chỉ là bệ thờ lộ thiên ngoài trời (có mái che đơn giản hoặc không có mái che) Các công trình kiến trúc này thường có từ 1 đến 3 tòa nhà, mỗi tòa thường có 5 gian
Đối với Văn chỉ lại có quy mô kiến trúc xây dựng nhỏ hơn nhưng đa dạng hơn so với văn từ, qui mô xây dựng nhỏ dần từ cấp phủ, huyện cho đến cấp thôn làng
Văn chỉ hàng huyện thường được xây dựng tương đối lớn, thường là 2 dãy nhà từ
3 đến 5 gian, có thể có hoặc không 2 dãy nhà tả vu, hữu vu Như văn chỉ huyện Từ liêm,
Hà nội gồm: Bái đường 5 gian, hậu cung 3 gian, hai nhà tả vu, hữu vu dung làm nơi phục vụ ăn uống mỗi khi tế lễ, xây tường bao xung quanh
Văn chỉ hàng xã thường có cấu trúc 2 tòa liền nhau, mỗi tòa 3 gian, đơn sơ, diện tích nhỏ như văn chỉ xã Nguyệt áng, văn chỉ xã Nhật tảo, Từ liêm,…
Văn chỉ, thôn làng càng đơn giản, thường là một bệ thờ có mái che hoặc lộ thiên
Còn kiến trúc ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội lại mang đặc trưng riêng: Quần thể kiến trúc này bao gồm: hồ Văn, khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám và vườn Giám mà kiến trúc chủ thể là Văn Miếu nơi thờ Khổng Tử và Quốc Tử Giám, trường học cao cấp đầu tiên của Việt Nam
Trang 9Cổng Văn Miếu được xây hai tầng, ba cửa Cửa giữa to cao, tầng trên đề ba chữ Văn Miếu môn Bên trái mặt trước cổng Văn Miếu đắp nổi cảnh "Long ngư tụ hội", cá rồng ẩn hiện trong mây, ví như cảnh thanh vân đắc lộ của các nho sinh thành đạt Bên phải là cảnh "Mãnh hổ hạ sơn" núi rừng mây nước nổi bật lên dáng dấp một con hổ hùng dũng xuống núi, ví như các bậc thức giả khí thế bước vào đời
Nói đến kiến trúc của Văn Miếu - Quốc Tử Giám không thể không nhắc đến gác Khuê Văn là một lầu vuông 8 mái được xây dựng vào năm 1805 đời vua Nguyễn Gia Long Gác được xây trên một nền vuông cao lát gạch Bát Tràng, kiểu dáng kiến trúc khá độc đáo: Tầng dưới là 4 trụ gạch, 4 bề trống không, tầng trên là kiến trúc gỗ 2 tầng mái lợp ngói ống, trang trí 4 góc bằng đất nung Bốn mặt gác trổ 4 cửa sổ tròn xung quanh có những thanh gỗ con tiện toả ra bốn phía tượng trưng cho các tia của sao Khuê toả sáng
Hiện nay khu di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội còn lưu giữ được 82 tấm bia Tiến sĩ, không những được đánh giá là những pho sử quí về nền giáo dục Nho học Việt Nam mà còn là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc đặc sắc mang đậm phong cách điêu khắc đặc trưng của từng thời kỳ lịch sử Đó là hiện thân của cái đẹp, sự cao quý, nét tài hoa khéo léo của cha ông chúng ta trong nghệ thuật chạm khắc đá cổ xưa
Điện Đại Thành và nhà Đại Bái hiện tại đều mang phong cách kiến trúc đời hậu
Lê, đầu Nguyễn, kẻ bảy đơn giản không chạm trổ cầu kỳ, chồng đấu theo kiểu đấu đỡ cột chồng, những đầu đao mái cong, ngói lợp theo kiểu vẩy rồng, kiến trúc giản dị thanh nhã mà uy nghiêm cổ kính
Khu Thái Học gồm các công trình kiến trúc chính là Tiền đường, Hậu đường,
Tả vu, Hữu vu, nhà chuông, nhà trống được mô phỏng theo kiến trúc truyền thống trên nền đất xưa của Quốc Tử Giám
Về đại thể, các công trình kiến trúc của Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội gần giống với một số Khổng Miếu ở phía Nam Trung Quốc: đều được làm bằng gỗ lợp ngói, dùng "thước tầm" làm thiết kế với tỷ lệ nhất định và có đặc điểm chung của kiến trúc Nho giáo
1.3.3 Giá trị tâm linh
Di tích Nho học là nơi tôn vinh đạo học và là một hình thức khuyến học, duy trì thuần phong mỹ tục của Việt Nam Trong suy nghĩ của mỗi người dân Việt Nam, tầng lớp tri thức đứng trên cùng trong quan niệm về thứ bậc xã hội: sĩ, nông, công, thương
mà khoa cử là con đường chân chính để có thể trở thành kẻ sĩ Hệ thống các Văn từ, Văn chỉ là một phương tiện có ích về mặt tâm lý Đứa trẻ khi cắp sách tới trường, hay đến học nhà thầy đều được cha mẹ dẫn đến làm lễ trước Văn chỉ để mong con cái mình học giỏi Các vị tân khoa sau khi đỗ đạt cũng về Văn chỉ để lễ tạ, đó còn là nơi giáo dục, nhắc nhở động viên khuyến khích tinh thần học tập của mỗi người Vì vậy không chỉ có những làng có truyền thống khoa bảng mới cho xây dựng Văn chỉ mà cả những làng nghề thủ công truyền thống, làng làm nông nghiệp thuần túy cũng cho xây dựng Văn chỉ Bởi họ luôn có mong muốn rằng việc thờ cúng những người khai sinh ra việc học, những người có học tất sẽ có ảnh hưởng lớn đến sự học của con cháu trong làng Nét
Trang 10đặc biệt của các Văn từ, Văn chỉ trong các làng xã là ở chỗ không nhất thiết phải có người thi đỗ, có thể thờ vọng tiến sĩ của làng khác với mong muốn trong làng có người
sẽ thi đỗ
1.3.4 Các giá trị khác
Ngoài những giá trị nêu trên, hệ thống Văn Miếu - Quốc Tử Giám và các Văn từ, Văn chỉ ở Thăng Long - Hà Nội còn là nơi bảo tồn, lưu giữ các hiện vật văn hóa quý báu của cha ông Hầu như tại các di tích này đều bảo lưu được khá nhiều hoành phi, câu đối với nội dung phần lớn để tôn vinh đạo học, khuyến học, khuyến tài và ca ngợi Đức Khổng Tử Các bức hoành phi, câu đối ấy có giá trị ở nhiều mặt: từ nội dung có tính triết lý nhân sinh đến hình thức nghệ thuật viết thư pháp chữ Hán, kỹ thuật sơn son thếp vàng, chạm khắc của người nghệ nhân dân gian Việt Nam, Bên cạnh đó còn lưu giữ hệ thống các bia đá ghi tên các bậc khoa bảng của Thăng Long - Hà Nội và của đất nước, được coi như các pho sử liệu bằng đá quý Đơn cử như 82 bia Tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội năm 2011 đã được UNESCO công nhận là "Ký ức di sản văn hóa thế giới"
Trong kho tàng di sản văn hóa Việt Nam, di sản văn hóa Nho học vừa mang những sắc thái chung của di sản văn hóa Việt, lại vừa có những nét riêng độc đáo Các
di sản văn hóa Nho học là bộ phận đặc biệt trong cơ cấu tài nguyên du lịch Các di sản
đó cả về mặt nội dung lẫn hình thức đều có khả năng tạo nên sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với khách du lịch trong và ngoài nước Bởi thế di sản văn hóa Nho học là một trong những thành tố quan trọng tạo nên loại hình du lịch văn hóa
1.4 Giới thiệu một số di tích Nho học tiêu biểu của Hà Nội cũ
Trên đất Thăng Long Hà Nội xưa, không chỉ có Văn Miếu - Quốc Tử Giám được xây dựng để thờ Khổng Tử, các bậc Tiên thánh, Tiên nho, mà hầu như làng nào, xã nào cũng lập văn chỉ thờ Khổng Tử và các bậc khoa hoạn của địa phương, bên cạnh đó còn
có rất nhiều các nhà thờ các dòng họ khoa bảng, các vị tiến sĩ
1.4.1 Di tích lịch sử văn hóa Văn Miếu - Quốc Tử Giám
Năm 1070, vua Lý Thánh Tông đã cho dựng Văn Miếu để thờ Khổng Tử, các bậc Tiên thánh, Tiên nho Sáu năm sau đó, tức là năm 1076, vua Lý Nhân Tông là con trai trưởng của vua Lý Thánh Tông với nguyên phi Ỷ Lan đã cho dựng trường Quốc
Tử Giám phía đằng sau Văn Miếu Trải qua hơn 700 năm lịch sử, nơi đây là trung tâm đào tạo nhân tài lớn nhất cho đất nước, được gọi là trường đại học cao cấp đầu tiên của Việt Nam
Di tích lịch sử văn hóa Văn Miếu - Quốc Tử Giám hiện thuộc phường Văn Miếu, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội Quần thể di tích trải rộng trên một diện tích
là hơn 54000 m2 gồm có khu nội tự và khu ngoại tự
Khu Quốc Tử Giám xưa kia có nhà giảng đường, thư viện, khu tam xá cho học sinh ở, kho để đồ tế khí và kho chứa bản gỗ khắc in sách Triều Nguyễn xây dựng Quốc Tử Giám Huế, khu này trở thành học phủ của phủ Hoài Đức (sau thuộc Hà Nội)
và xây đền Khải Thánh để thờ cha mẹ của Khổng Tử Toàn bộ khu này đã bị đốt phá năm 1946
Trang 11Năm 2010, để tôn vinh nền văn hóa dân tộc, nhà nước ta đã cho xây dựng công trình Thái Học trên nền cũ của trường Quốc Tử Giám xưa Quy mô kiến trúc khu Thái Học rất bề thế, trang nghiêm và hài hoà với kiến trúc cảnh quan của khu Văn Miếu phía trước
Quy mô và bố cục của Văn Miếu Hà Nội hiện nay là Văn Miếu lớn nhất trong cả nước, được bảo tồn tương đối hoàn chỉnh đã thu hút đông đảo khách tham quan trong nước và nước ngoài, trở thành điểm du lịch quan trọng của Thủ đô và cả nước
1.4.2 Cụm di tích Nho học làng Đông Ngạc
Xã Đông Ngạc thuộc huyện Từ Liêm thành phố Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội
12 km về phía tây bắc Hiện nay tại Đông Ngạc còn lưu giữ được một hệ thống đình chùa, đền miếu, văn chỉ, nhà thờ các dòng họ Hầu hết các di tích này in đậm dấu ấn của các danh nhân và các dòng họ khoa bảng, những người làm quan trong làng, đến truyền thống hiếu học và khoa bảng của làng
Mỗi năm đến ngày hội làng, ngày 10 tháng 2 âm lịch, dân làng tổ chức lễ hội rất trọng thể và có rước kiệu thánh từ đình về văn chỉ để tế, sau đó lại rước về đình
Nhà thờ họ Phan
Nhà thờ họ Phan tọa lạc trên khu đất rộng, ngoài phần kiến trúc, di tích còn có khuôn viên cây xanh, một ao nước trong ở phía trước tạo cảnh quan và sự tĩnh mịch cho kiến trúc thờ cúng
Nhà thờ họ Phan là một trong những nhà thờ cổ ở nước ta hiện nay được xây dựng từ thế kỷ 16, có quy mô kiến trúc tương đối lớn gồm hai nếp nhà ngang tạo thành, rộng 3 gian 2 dĩ xây kiểu tường hồi bít đốc tay ngai Nghệ thuật trang trí tập trung ở hai
bộ vì hồi Bằng các thủ pháp chạm nổi, long kênh các nghệ nhân xưa đã thể hiện thành công các đề tài hoa cúc, biểu tượng của sức mạnh mặt trời Rồi những vân mây, đuôi đao mác to mập, thẳng tắp về phía sau Mang phong cách nghệ thuật thế kỉ 17 Các nét chạm được thể hiện uyển chuyển, tinh tế và giàu chất nghệ thuật
Là từ đường của một dòng họ đại khoa, di tích gắn bó mật thiết với các vị khoa bảng trong lịch sử giáo dục truyền thống của dân tộc như danh nhân Phan Phu Tiên, tiến
sĩ Phan Trọng Phiên, nhà yêu nước Phan Văn Trường Với nhiều người đỗ tiến sĩ, cử nhân, tú tài dòng họ Phan đã có những đóng góp lớn trong việc giáo dục, đào tạo nhân tài cho đất nước Sự thành đạt của dòng họ cũng đã góp phần tạo nên tiếng thơm, truyền thống hiếu học của vùng quê Đông Ngạc nổi tiếng, làng văn hiến đã được lưu truyền từ xưa đến nay
Trang 121.4.3 Cụm di tích Nho học làng Bát Tràng
Xã Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội, cách trung tâm thủ đô 15
km về phía đông nam Người dân Bát Tràng không chỉ tự hào về một làng gốm nổi tiếng ngay từ thế kỉ 15 đã chế ra được men lam và đầu thế kỉ 17 chế ra men rạn mà còn
tự hào về một làng văn có nhiều người đỗ đạt cao Cùng với truyền thống khoa bảng, làng cổ Bát Tràng còn lưu giữ được một hệ thống các di tích Nho học gồm văn từ, đền thờ tiến sĩ, cho đến ngày nay
Văn từ Bát Tràng
Văn từ Bát Tràng là một di tích có niên đại xây dựng sớm, vào khoảng thế kỷ 15
Văn từ Bát Tràng thờ Khổng Tử, các học trò ưu tú của Khổng Tử và đặc biệt là các danh nhân khoa bảng của làng, trong đó nổi bật nhất là Trạng nguyên Giáp Hải
Văn từ Bát Tràng được xây dựng trên một khu đất giữa làng Bát Tràng, phía sau đình làng Bát Tràng Di tích bao gồm các hạng mục kiến trúc như: Nghi môn và kiến trúc chính là tiền đường và hậu cung kết cấu kiểu chữ “Nhị”
Hiện nay, di vật tại di tích không còn nhiều, các di vật chủ yếu có niên đại muộn như : Lư hương bằng đá có niên đại khoảng thế kỷ 19, màu xám đen, vành miệng tạo gờ
trang trí hoa văn chữ triện; Bia công đức, chiêng, trống thờ bằng gỗ và da, cùng nhiều các tư liệu hán nôm hoành phi câu đối
Nhà thờ họ Vũ
Nhà thờ họ Vũ là nơi thờ cúng tổ tiên và tưởng niệm các nhân vật của dòng họ
Vũ ở Bát Tràng Đó là Quốc công Vũ Ngang người đã kiên trung, hết lòng vì nghĩa phò
tá Thái Tổ Cao Hoàng đế và tiến sĩ Vũ Văn Tuấn - quan tuần phủ Hưng Hóa sau thăng Thị độc Viện Hàn Lâm phụng nghị đại phu
Kiến trúc nhà thờ gồm một tòa nhà 3 gian 2 dĩ, xây kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, mái lợp ngói ta Toàn bộ kết cấu gỗ ở đây là loại gỗ trai, chắc, có màu sẫm
Hiện di tích còn giữ được một số hiện vật như: 2 đạo sắc phong, 1 cuốn gia phả của dòng họ, ngai thờ, án thư và 4 đôi câu đối
Bên cạnh hệ thống các di tích Nho học, cũng như mọi làng quê Việt Nam xưa, làng Bát Tràng có cả một quần thể cơ sở phụng tự như: đình Bát Tràng, hào chỉ, chùa Kim Trúc, miếu Hương hiền thờ những người hiền, Văn từ, các nhà thờ họ Bát Tràng nằm trên một vùng đất cổ với làng nghề truyền thống nổi tiếng, các di tích đình - đền cổ kính… Với ý nghĩa tự có của hai chữ “Văn từ”, “văn chỉ”, sự hiện diện của Văn từ Bát Tràng và hệ thống di tích Nho học nơi đây càng làm tăng lên giá trị của một làng cổ ven
đô Đó là một trong những điểm thu hút khách du lịch muốn tham quan, tìm hiểu rõ về làng cổ Bát Tràng
1.4.4 Cụm di tích Nho học làng Thượng Cát
Xã Thượng Cát thuộc huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô khoảng 20km về phía tây bắc Thượng Cát là một làng Việt cổ có nhiều dòng họ lớn, cũng là làng có truyền thống khoa bảng với nhiều người đỗ đạt dưới thời phong kiến Ngày nay, hệ thống đình, chùa, đền, miếu, nhà thờ các dòng họ, của làng còn được bảo lưu tương đối nguyên vẹn
Trang 13 Đền Thái Cực
Đền Thái Cực là một di tích tôn giáo tín ngưỡng, nơi thờ tam giáo Nho, Phật, Lão Lịch sử tạo dựng và nội dung thờ phụng tại di tích cho ta hiểu rõ thêm về lịch sử dân tộc và những biến động đổi thay của các tôn giáo: Nho giáo, Phật giáo và Lão giáo
Giá trị điêu khắc được thể hiện rõ qua hệ thống tượng thờ tại di tích Các pho tượng được tạo tác ở các thời kỳ lịch sử khách nhau nên mang phong cách và cách thể hiện trang trí cũng khác nhau Các pho tượng được tạo tác công phu, tinh xảo, nét chạm chau chuốt thể hiện tính chân dung và mang tính nghệ thuật cao của thế kỉ 18-19
Các tư liệu Hán Nôm trên chuông đồng, hoành phi, câu đối là nguồn tư liệu quí góp phần tìm hiểu về lịch sử phong tục tập quán của địa phương
Nhà thờ họ Trần
Nhà thờ họ Trần được xây dựng khá sớm để phụng thờ tổ tiên của một dòng họ Tuy khối kiến trúc có qui mô nhỏ, song về cơ bản vẫn bảo tồn được những nét kiến trúc tôn giáo cổ truyền Giá trị nghệ thuật được thể hiện qua khối di vật văn hóa, đặc biệt là
bộ sắc phong thần có niên đại trải dài từ thời Lê đến thời Nguyễn Những di vật này là nguồn tư liệu quí giá để xác định giá trị của di tích, đồng thời góp phần tìm hiểu nghiên cứu phong tục, tập quán của nhân dân địa phương
Nhà thờ họ Nguyễn
Nhà thờ họ Nguyễn được xây dựng khá sớm cùng với sự tạo dựng và phát triển của xóm làng Di tích là nơi thờ cúng tổ tiên của dòng họ Nguyễn - nổi danh của vùng bởi truyền thống hiếu học Dòng họ có hai vị đỗ đại khoa giữ chức Tả thị lang Dù giữ chức vị cao nhưng những người con ưu tú của dòng tộc luôn nêu cao đức sáng vì dân vì nước, tận tụy với công việc và luôn giữ lễ trung trực liêm chính
Di tích hiện nay còn bảo lưu được khối kiến trúc vật chất có kiểu thức, bố cục kểu chữ Đinh tương tự như kiến trúc Đình, Đền, Chùa Tuy từng nếp nhà có sự thay đổi nhưng về cơ bản vẫn bảo tồn được những nét cổ truyền thống
Nhà thờ họ Đàm
Nhà thờ họ Đàm được xây dựng từ thời Lê, trên một khu đất cao rộng giữa khu vực cư trú của làng Kiến trúc di tích còn bảo lưu được những nét kiến trúc tôn giáo tôn giáo cổ truyền như: kiểu nhà tường hồi bít đốc, cột trụ lồng đèn, với kết cấu kiểu vì kèo, chồng giường, đặc biệt là kiểu nhà có mái hiên rộng bán mái - một kiểu kiến trúc khá đặc biệt thường gặp ở kiến trúc nhà thờ họ
Cùng với những di tích Nho học kể trên, làng Thượng Cát ngày nay còn lưu giữ nhiều di tích khác như: nhà thờ dòng họ Đinh, họ Vũ, đình Thượng Cát, chùa Kỳ Vũ hay còn gọi là chùa Cổ Giác, đền Đông Ba Những di tích này cho thấy rõ bề dày lịch sử của vùng quê Thượng Cát, một làng quê có nguồn gốc lịch sử lâu đời
1.4.5 Cụm di tích Nho học làng Tả Thanh Oai
Làng Tả Thanh Oai nằm ở ven bờ sông Nhuệ thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô 15km Là một làng cổ ven kinh thành Thăng Long xưa, Tả Thanh Oai là làng có truyền thống văn học, khoa bảng nổi tiếng
Nhà thờ và lăng mộ danh nhân văn hóa Ngô Thì Nhậm
Trang 14Ngô Thì Nhậm là một danh nhân văn hóa ở thế kỷ 18 của nước ta Là một nhà thơ, nhà văn, nhà ngoại giao, chính trị, nhà sử học uyên bác tài năng, ông đã để lại cho đời sau nhiều tác phẩm nổi tiếng và quý giá Cụm di tích bao gồm: nhà thờ và lăng
mộ danh nhân Ngô Thì Nhậm Nhà thờ là một ngôi nhà ba gian xây dựng đơn giản Cách đó không xa là khu lăng mộ cụ Ngô Thì Nhậm
Nhà thờ họ Ngô Vi
Nhà thờ họ Ngô Vi là di tích tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của dòng họ, thể hiện đạo lý "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc trong việc trân trọng và gìn giữ đối với những giá trị di sản truyền thống của dân tộc Nhà thờ họ Ngô Vi là một di tích có quy mô kiến trúc trang nhã, được dựng trên một thế đất đẹp ngay sát đường làng Các hạng mục kiến trúc hiện nay của di tích tuy mới được trùng tu trong những năm gần đây, song vẫn bảo lưu được những nét đặc trưng của kiến trúc cổ truyền với các vì kèo quá giang, trang trí trên kiến trúc đơn giản nhưng khỏe khoắn, vững chắc
Ngày nay, làng Tả Thanh Oai còn lưu giữ được nhiều nhà thờ dòng họ khoa bảng, nhà thờ danh nhân khác thể hiện sự tôn vinh đối với đạo học như: nhà thờ họ Đào Đức, nhà thờ họ Phạm Văn, nhà thờ họ Phan, nhà thò họ Ngô Chi Ất, nhà thờ họ Nguyễn Duy,
1.4.6 Cụm di tích Nho học làng Vân Điềm
Vân Điềm là một làng cổ, trước thể kỷ 19 là xã của tổng Hà Lỗ, huyện Đông Ngàn, tên nôm là Kẻ Đóm Trước cách mạng tháng 8/1945, Vân Hà thuộc tổng Hà Lỗ, huyên Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (huyện Từ Sơn trước thuộc phủ từ Sơn) Năm 1961, nhập
về huyện Đông Anh- Hà Nội và giữ nguyên tên gọi đến nay Trong suốt quá trình lịch
sử, Vân Điềm gắn bó mật thiết với Đông Ngàn - vùng đất có nền văn hóa Nho học phát đạt thuộc loại nhất nhì đất nước
Nhà thờ họ Nguyễn Lân
Nhà thờ họ Nguyễn Lân là một công trình kiến trúc tín ngưỡng, nơi tưởng niệm, thờ cúng tổ tiên nên nội dung thờ cúng gắn liền với sự sinh tồn và phát triển của dòng
họ Nguyễn Lân, xã Vân Hà Những người đỗ đạt cao trong dòng họ khi ra làm quan đều
có những đóng góp cho dân làng, cho đất nước
Nhà thờ được tọa lạc trên thửa đất rộng độc lập, thoáng mát, mở hướng Nam, chứng tỏ từ xưa các bậc tổ tiên của dòng họ tìm vị thế đắc địa nơi giao hòa giữa trời đất
và con người Kết cấu mặt bằng kiến trúc di tích thể hiện rõ trật tự lớp lang và đạo lý đó
là đi qua cổng đến sân lên hè rồi
Tuy mặt bằng không lớn nhưng kiến trúc nhà thờ vẫn bảo lưu được những nét đẹp cổ truyền của lối kiến trúc cổ Việt Nam Các đơn nguyên kiến trúc được bố cụ hài hòa, tạo cho nhà thờ một vẻ đẹp bình dị ăn nhập với cảnh quan xung quanh Đó là sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người; sự dung nạp và hòa đồng giữa gia đình và xã hội, giữa họ tộc với xóm làng, giữa con người với cộng đồng
Nhà thờ họ Đồng
Nhà thờ là nơi thờ và tưởng niệm các cụ tổ của dòng họ Đồng đặc biệt có tiến sĩ Đồng Nhân Phái, mô ̣t người con của dòng ho ̣, mô ̣t nhân vâ ̣t li ̣ch sử có tiếng đã có nhiều
Trang 15công lao đóng góp cho triều Hâ ̣u Lê , người được dân làng mến mô ̣ vì đức vì tài Ông từng giữ những chức quan cao của triều đình
Nhà thờ họ Đồng là mô ̣t công trình kiến trúc tín ngưỡng d ạng nhà thờ họ Di tích tồn ta ̣i gắn liền với sự sinh tồn và phát triển của dòng ho ̣ Giá trị của di tích được thể hiê ̣n trên nhiều lĩnh vực Ngôi từ đường với kết cấu kiến trú c không có nhiều trang trí những đều là các mảng cha ̣m khắc được những nghê ̣ nhân miêu tả sống đô ̣ng , đe ̣p mắt
có giá trị mỹ thuật
Cũng như nhiều làng khoa bảng trên đất Thăng Long- Hà Nội, ở Vân Điềm cho đến nay ngoài các nhà thờ các dòng họ khoa bảng, danh nhân, còn lưu giữ được một hệ thống đình, chùa, Văn chỉ
Chương 2 : THỰC TRẠNG VIỆC KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA NHO HỌC PHỤC VỤ DU LỊCH TẠI HÀ NỘI CŨ
2.1 Hoạt động du lịch tại Hà Nội
2.1.1 Hà Nội- trung tâm du lịch của cả nước
Hà Nội, nơi khởi đầu của quốc lộ 1 thiên lí Bắc-Nam Hà Nội đi quốc Lộ 1 qua cầu Long Biên hay Chương Dương và mới đây là cầu Thanh Trì, cầu Vĩnh Tuy lên phía Bắc để nối tiếp với quốc lộ số 4 tỏa đi các ngả Quốc lộ 5 từ Hà Nội đưa ta về hướng đông; đến với Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh Từ Hà Nội đi phía tây đã có đại lộ Thăng Long qua Xuân Mai, Hòa Bình, rồi từ đó đi tiếp để lên Sơn La, Điện Biên, Từ
Hà Nội đi phía Nam theo quốc lộ 1 đi Ninh Bình, Thanh Hóa vào Miền Trung
Hà Nội có sông Hồng chảy qua một đoạn dài gần 100km Con đường nước này
sẽ giúp chúng ta đi khắp đồng bằng và trung du Bắc Bộ Từ nhà ga Hà Nội, tàu hỏa xuyên Việt đưa du khách đến thành phố Hồ Chí Minh và có các nhánh đường sắt đi Lào Cai, đi Thái Nguyên, Lạng Sơn, đi Uông Bí, Quán Triều,
Sân bay quốc tế Nội Bài cách trung tâm Hà Nội không xa, đã được hiện đại hóa Các hãng hàng không Việt Nam như: hãng hàng không quốc gia Việt Nam Vietnam Airline, hãng hàng không Jestar, hãng hàng không Air Mekong, hãng hàng không Vasco, đưa du khách đi khắp miền đất nước và tới khắp năm châu Cũng từ sân bay quốc tế Nội Bài, khách du lịch quốc tế đến Hà Nội ngày càng nhiều
2.1.2 Hoạt động kinh doanh du lịch tại Hà Nội
Tại khu vực nội thành, các sản phẩm du lịch tiêu biểu được tổ chức ở thủ đô Hà Nội là:
- Du lịch thăm quan di tích văn hóa, lịch sử, nghiên cứu văn hóa dân tộc, tham quan phố
cổ, các điểm danh thắng của thủ đô;