Do vậy, để đến được với cách hiểu duy vật biện chứng về "hình thức chuyển hóa" chúng ta không thể không nghiên cứu lịch sử triết học để th ấy ra sự hình 1 Từ đây trở đi các số trong
Trang 1Khái niệm "Hình thức chuyên hóa" trong lôgic học biện chứng
Hoàng Thị Tâm
Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Luận văn ThS ngành: Triết học; Mã số: 60 22 80 Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn
Năm bảo vệ: 2010
Abstract: Khảo sát quan niệm về “nội dung và hình thức” ở một số nhà triết học
từ Hy Lạp Cổ đại đến Cổ điển Đức Khảo sát bộ “Tư bản” của C Mác và phân tích một số phần của nó để đi đến cách hiểu duy vật biện chứng về khái niệm
"hình thức chuyển hóa"
Keywords: Tư tưởng triết học; Lôgic học biện chứng; Triết học Phương Tây
Content
1 Lý do chọn đề tài
Nhà triết học Hy Lạp cổ đại Hêraclit đã từng nói “không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông” Câu nói ấy ngay từ thuở bình minh c ủa loài người đã chứa đựng mầm mống phôi thai của nguyên lý phát triển trong chủ nghĩa duy vật biện chứng sau này Chính sự vận động, biến đổi liên tục của thực tiễn đã chứng minh “vạn vật không ngừng sinh ra và mất đi giống như ngọn lửa không ngừng bùng cháy rồi lụi tàn” Nguyên lý này
đã trở thành quan điểm quan trọng nhất khi nghiên cứu bất kỳ một hiê ̣n tượng nào của tự nhiên, xã hội và tư duy
Quán triệt quan điểm phát triển trong nghiên cứu sự vật hiện tượng cũng chính là phải hiểu sự vận động, phát triển của một sự vật là một quá trình lịch sử tự nhiên Quá trình ấy không phải là đường thẳng mà là một vòng tròn xoáy ốc, mỗi vòng xoáy là một giai đoạn phát triển của đối tượng và được chia thành những vòng xoáy to nhỏ khác nhau Mỗi vòng xoáy nhỏ được bao bọc bởi những vòng xoáy lớn hơn Mỗi vòng xoáy là một nấc thang phát triển vẫn thường xuyên tái tạo lại kết cấu giản đơn ban đầu của toàn bộ sự vật trên cơ sở cao hơn Tuy nhiên, qua từng giai đoạn phát triển “kết cấu ban đầu” đó
Trang 2ngày càng bị bao phủ bởi những yếu tố khác biệt, dị thường và bản chất thường bị che
mờ bởi những hình thức ngẫu nhiên bề ngoài Chính vì vậy, nhiệm vụ của nhận thức khoa học là phải vạch ra bản chất, cái cốt lõi của đối tượng đã bị che lấp và được ghi lại ở những hình thức khác nhau vốn đã phủ định và vượt bỏ chính mình Thực hiện công việc
đó cũng có nghĩa là người ta phải nhận thức đối tượng vận động từ đơn giản đến phức tạp, từ trừu tượng đến cụ thể, từ nhận thức bản chất cấp một đến bản chất cấp hai… Tất nhiên, quá trình nhận thức không diễn ra ở đâu khác ngoài ở trong thực tiễn, mà chủ yếu nhất là trong quá trình lao động sản xuất vật chất Quá trình đó sẽ giúp chúng ta nhận thức đối tượng qua từng thang bậc vận động, các trạng thái, dạng hình khác nhau đã che giấu bản chất của đối tượng Các dạng hình giả tưởng đó lần đầu tiên trong “Tư bản” được Mác gọi là các “hình thức chuyển hóa”
Khái niệm "Hình thức chuyển hóa" sau Mác đã được một số nhà triết học sử dụng
để nêu đặc trưng cho cấu tạo và phương thức vận hành của các hệ thống phức tạp (trong trường hợp của Mác hệ thống đó là xã hội tư sản) Khái niệm này cho phép nghiên cứu các mối phụ thuộc và hiệu ứng giả tưởng thể hiện trên bề mặt hệ thống hữu cơ với tư cách của cái mà Mác gọi là “… hình thái hiện thực của nó hay đúng hơn là hình thái tồn tại hiện thực của nó” [24, III, 678]1 Hình thức tồn tại như thế là sản phẩm chuyển hóa các quan hệ bên trong của hệ thống phức tạp diễn ra ở một trình độ xác định của nó và che đậy tính chất thực tế cũng như mối liên hệ lẫn nhau trực tiếp của chúng bằng những biểu hiện gián tiếp Các biểu hiện đó, trong khi là sản phẩm và tích tụ sự chuyển hóa hành vi của các mối liên hệ của hệ thống, đồng thời vẫn tồn tại trong hệ thống dưới dạng hiện tượng, “đối tượng” riêng rẽ, hoàn chỉnh về chất cùng với các đối tượng khác
Như vậy, không phải ngay từ đầu đã có quan niệm về “hình thức chuyển hóa” một cách nguyên hình với tất cả sự phong phú và đa dạng của nó Quan niệm này cùng với các quan niệm về nội dung và hình thức như những phạm trù triết học cũng có một quá trình sinh thành, vận động và phát triển qua nhiều giai đoạn, nhiều thay đổi ở các thời kỳ lịch sử khác nhau Do vậy, để đến được với cách hiểu duy vật biện chứng về "hình thức chuyển hóa" chúng ta không thể không nghiên cứu lịch sử triết học để th ấy ra sự hình
1
Từ đây trở đi các số trong dấu ngoặc vuông biểu thị: số thứ nhất là số thứ tự của tài liệu trích dẫn trong danh mục tài liệu tham khảo, số thứ hai (La Mã - nếu có) là tập (phần) của tài liệu, số thứ ba là trang của đoạn trích dẫn Ví dụ
như trên là: C Mác và Ăngghen: Toàn tập, tập 26, phần III, trang 678
Trang 3thành, vận động và phát triển của quan niệm về "hình thức chuyển hóa" từ dạng mầm mống phôi thai cho đến khi phát triển chín muồi thành một khái niệm hoàn chỉnh Quá trình khảo cứu bắt đầu từ trong lịch sử triết học Hy Lạp Cổ đại, qua thời kỳ Cận đại, tiếp tục ở các nhà triết học cổ điển Đức và đỉnh cao là ở triết học Mác Tất nhiên, ở những thời kỳ đầu quan niệm về "hình thức chuyển hóa" chưa được định hình một cách rõ ràng,
nó mới lấp ló ở dạng những tư tưởng sơ khai về mối quan hệ giữa “nội dung” và “hình thức” của tư duy Đến Mác với cách nhìn duy vật biện chứng thì quan niệm về "hình thức chuyển hóa" của các hiện tượng kinh tế tư bản chủ nghĩa mớ i phát tri ển đầy đủ và được thể hiện rõ rệt nhất trong khi phân tích nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa này
Nói rộng ra, nhiệm vụ nghiên cứu và vượt bỏ những di sản của lịch sử triết học để đạt đến cách hiểu duy vật biện chứng về "hình thức chuyển hóa" sẽ có ý nghĩa lớn trong việc hiểu sự hình thành, vận động và phát triển hệ thống các khái niệm, phạm trù - bộ máy công cụ của nhận thức khoa học nói chung Đặc biệt, hiểu biết đó còn giúp nghiên cứu tốt hơn sự vận động của thực tiễn Sự biến đổi của thực tiễn xã hội với việc xuất hiện
vô vàn các sự kiện, hiện tượng mà chúng ta khó phân biệt được thật, giả từ đầu, không thể hiểu ngay được b ản chất thật sự của nó đằng sau những vỏ bọc bên ngoài ngụy trang kín đáo đã và đang làm đau đầu mỗi ch ủ thể nhận thức Vì vậy, việc nghiên cứu những
"hình thức chuyển hóa" của sự vật, hiện tượng không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn, nó giúp chúng ta tìm ra bản chất của đối tượng trong vô vàn biến thiên của thực tiễn, từ đó có cái nhìn đúng đắn cũng như phương pháp hành động có hiệu quả
để cải tạo thực tiễn đó
Vai trò và ý nghĩa của khái niệm đã nêu trong nhận thức và thực tiễn lớn là vậy nhưng hiểu biết của chúng ta về nó còn quá mỏng, thậm chí chúng tôi chưa tìm thấy khái niệm này trong các sách giáo khoa triết học ở Việt Nam, bản thân thuật ngữ được lấy nguyên xi từ trong “Tư bản” của Mác, không rõ có được các nhà nghiên cứu và công
chúng triết học nước ta chấp nhận hay không Vì lý do đó tôi chọn vấn đề “khái niệm
hình thức chuyển hóa trong lôgic học biện chứng” làm đề tài nghiên cứu trong luận văn
cao học của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Trang 4Nhìn chung đây là một vấn đề hầu như chưa được bàn đến nhiều trong sách báo, tạp chí, các bài nghiên cứu của các học giả, mà thường khi bàn đến các vấn đề của chủ nghĩa duy vật biện chứng họ mới chủ yếu nói đến cặp phạm trù “nội dung” và “hình thức”, còn khái niệm “hình thức chuyển hóa” chưa có tài liệu nào bàn đến một cách đầy
đủ chi tiết Trong “Bút ký triết học” [14] V.I Lênin đã đưa ra 16 yếu tố của phép biện
chứng trong đó có đề cập đến cặp phạm trù “nội dung” và “hình thức” Còn trong giáo trình Triết học Mác - Lênin giảng d ạy trong các trường đại học, cao đẳng chỉ phân tích phạm trù nội dung và hình thức như là một nội dung quan trọng của chủ nghĩa duy vật biện chứng Trong các tài liệu lôgic học biện chứng cũng chưa thấy có phần riêng bàn về khái niệm “hình thức chuyển hóa”
Tuy chưa có tài liệu chuyên biệt nào viết về khái niệm "hình thức chuyển hóa", nhưng thông qua các công trình nghiên cứu triết ho ̣c và lôgic ho ̣c bi ện chứng thì vấn đề này cũng được các học giả bàn đến ít nhiều và có hé mở những gợi ý quý giá để học viên bước đầu mạnh dạn tìm hiểu nghiên cứu vấn đề
Trước hết, việc nghiên cứu sự hình thành và phát triển của khái niệm "hình thức chuyển hóa" không thể không dựa vào các sách viết về lịch sử triết học từ cổ đại đến trước Mác Đây chính là kho tàng tri thức quý giá trong sự phát triển của nhận thức nhân loại Trong đó mặc dù khái niệm "hình thức chuyển hóa" chưa được định hình chặt chẽ nhưng ít nhiều nó đã tồn tại dưới dạng tư tưởng mầm mống phôi thai thông qua những cách hiểu biện chứng ngây thơ của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại, hay cái nhìn duy vật siêu hình, máy móc thời cận đại về thế giớ i các sự vâ ̣t , hiê ̣n tươ ̣ng và đă ̣c bi ệt là trong triết học duy tâm cổ điển Đức Các tài liệu lịch sử triết học được học viên dùng làm cơ sở
để khảo sát là: Lịch sử triết học do Nguyễn Hữu Vui chủ biên [42]; Lịch sử triết học của Bùi Thanh Quất và Vũ Tình chủ biên [27], Lịch sử triết học cổ đại Hy – La do Nguyễn Quang Thông và Tống Chung biên soạn [30, 31]; hay cuốn Đại cương lịch sử triết học
phương Tây do Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh và Nguyễn Anh Tuấn biên soạn [8] Ngoài
ra, để có một cái nhìn tổng thể về phép biện chứng trong triết học phương Tây trước Mác,
thì bộ sách Lịch sử phép biện chứng, gồm 6 tập của Viện Triết học Liên Xô trước đây
biên soạn cũng là một tài liệu rất hữu ích [36 - 39]
Trong bộ Lịch sử phép biện chứng nêu trên đáng chú ý đối với người nghiên cứu
“Tư bản” là tập 4 với tiêu đề Lịch sử phép biện chứng Mác xít từ khi xuất hiện chủ nghĩa
Trang 5Mác đến giai đoạn Lênin do nhà xuất bản Tiến bộ Matxcơva ấn hành năm 1988 được in
thành một quyển riêng Trong tài liệu này các tác giả đã phân tích chi tiết phương pháp
của Mác trong “Tư bản” Đi theo hướng này còn có một số bút ký trong cuốn Lôgic học
biện chứng của E.V.Ilencov [11] khi phân tích về sự hình thành đối tượng lôgic học (chữ
L viết hoa) đã đề cập đến những quan niệm khác nhau của các nhà triết học trong lịch sử
về tư duy, nội dung và hình thức của nó, qua đó cung cấp những gợi mở đầu tiên cho học viên giải quyết vấn đề này Những bút ký của E.V Ilencov viết về lôgic của bộ “Tư bản”
và một số khái niệm chủ yếu như “cái trừu tượng”, “cái cụ thể”, “cái lôgic”, “cái lịch sử”,
“cái phổ biến”, “mâu thuẫn”… thực chất là sự phân tích chuỗi chuyển hóa của các khái niệm trong “Tư bản” của Mác, từ việc phân tích khái niệm kh ởi điểm ban đầu là “hàng hóa” cho đến những khái niệm kế tiếp làm nên một hệ thống các khái niệm cơ bản phản ánh sự vận động của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Mặc dù chưa đưa ra khái niệm "hình thức chuyển hóa" nhưng E.V.Ilencov đã chỉ ra được nguyên tắc cơ bản được dùng trong
“Tư bản” là “nguyên tắc tương thích giữa tư duy và hiện thực, điều đó buộc phải phân tích tư duy không phải m ột cách tự nó, tức là tách rời hiện thực mà trong quá trình chuyển hóa nó vào tư tưởng” [11, 406] Và nguyên tắc tương thích giữa tư duy và hiện thực đó đạt được thông qua quá trình phát triển mâu thuẫn biện chứng của các khái niệm, các phạm trù Như vậy ít nhiều E.V Ilencov đã hướng đến lý giải sự chuyển hóa của các khái niệm trong “Tư bản” với tư cách là sự phản ánh lại những thay đổi của các hiện tượng khách quan được các khái niệm đó tái tạo lại trong tư duy, mặc dù chính ông cũng chưa ở đâu gọi đích danh nó là "hình thức chuyển hóa"
Ngoài ra còn có những cuốn sách nghiên cứu về “Tư bản” của các học giả trong và ngoài nước đã được dịch sang tiếng Việt ít nhiều cũng được học viên tham khảo để hiểu
thêm những phân tích của Mác về nền kinh tế tư bản chủ nghĩa như cuốn Những vấn đề
về phép biện chứng trong bộ Tư bản của Rôdentan [29]… Tuy nhiên, ở đây cũng chưa
thấy nói gì về "hình thức chuyển hóa" Riêng về các tác phẩm kinh điển triết học, học viên cũng chưa có điều kiện đọc hết những gì đã dịch sang tiếng Việt mà chỉ mới bước đầu tìm hiểu một số tác phẩm của các nhà triết học Cổ điển Đức qua bản dịch của Bùi
Văn Nam Sơn như: Phê phán lý tính thuần túy của Kant [12] và Khoa học lôgic (Tiểu
lôgic) của Hêghen [10], thì cũng chưa thấy ai trong số họ sử dụng thuật ngữ như trong
Trang 6tiêu đề của luận văn này Nhưng chúng vẫn thực sự là những nguồn tư liệu quan trọng giúp học viên nghiên cứu vấn đề đã nêu trong lịch sử triết học
Thực sự, thuật ngữ này được Mác sử dụng đầu tiên khi nghiên cứu giá trị và giá cả sức lao động Mác viết: “Bây giờ, trước hết chúng ta hãy xem giá trị và giá cả sức lao
động đã biểu hiện ra như thế nào dưới hình thức chuyển hóa của nó là tiền công” [21,
760] Trong toàn bộ “Tư bản” Mác đã dành thời gian để phân tích các yếu tố của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, từ đó rút ra mối liên hệ và sự móc nối giữa các khái niệm và phạm trù cơ bản phản ánh nền sản xuất đó như: hàng hóa, giá trị, giá cả sức lao động, giá trị thặng dư, lợi nhuận, tiền công… Hay như ở phần phân tích về tiền công, Mác đã khẳng định tiền công là hình thức chuyển hoá của giá trị và giá cả sức lao động, hay “tiền công tính theo sản phẩm là "hình thức chuyển hóa" của tiền công tính theo thời gian” [21, 780] Mác đã khá nhiều lần dùng cụm từ "hình thức chuyển hóa" nhưng chưa đưa ra một khái niệm chính xác nào về hiện tượng mà nó dùng để gọi tên Trên cơ sở những phân tích, luận chứng của Mác học viên đã mạnh dạn lựa chọn một trong những kết luận của Mác làm cơ sở cho hướng nghiên cứu và cũng là để gợi mở cho giải quyết vấn đề xác định nội hàm của khái niệm "hình thức chuyển hóa" Đó là kết luận của Mác sau khi Người phân tích giá cả và giá trị sức lao động: “Người ta có thể hiểu được tầm quan trọng quyết định của sự chuyển hóa của giá cả và giá cả sức lao động thành hình thức tiền
công, tức là thành giá trị và giá cả của bản thân sức lao động Trên hình thức biểu hiện ấy
- hình thức che giấu mối quan hệ thật sự và trình bày cái trực tiếp đối lập với mối quan
hệ ấy - đã xây dựng lên tất cả mọi khái niệm pháp quyền của người công nhân cũng như nhà tư bản, tất cả mọi sự thần bí hóa phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tất cả mọi
ảo tưởng về tự do của nó…(học viên in nghiêng)” [21, 762]
Như vậy, đến Mác và cụ thể là trong bộ “Tư bản” thì khái niệm “hình thức chuyển hóa” đã có cơ hội đươ ̣c hiện nguyên hình thông qua rất nhiều phân tích kinh tế Do đó, để đạt đến cách hiểu duy vật biện chứng và làm rõ khái niệm "hình thức chuyển hóa" học viên đã chọn hướng nghiên cứu cụ thể là khảo cứu trực tiếp cách hiểu của Mác trong bộ
“Tư bản” về nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng Tất cả những tài liệu dẫn ra trên đây đều là những gợi mở và trở thành nền tảng kiến thức quan trọng để học viên bước đầu thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu sẽ nêu ra dưới đây
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 7- Mục đích: Phân tích các tiền đề lý luận của sự hình thành khái niệm "hình thức
chuyển hóa" và cách hiểu duy vật biện chứng về khái niệm này
- Nhiệm vụ của luận văn:
+ Khảo sát quan niệm về “nội dung và hình thức” ở một số nhà triết học từ Hy Lạp
Cổ đại đến Cổ điển Đức
+ Khảo sát bộ “Tư bản” của C Mác và phân tích một số phần của nó để đi đến cách hiểu duy vật biện chứng về khái niệm "hình thức chuyển hóa"
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên các nguyên lý, quy luật của chủ nghĩa duy vật
biện chứng về phát triển, thực tiễn, và quan điểm biện chứng duy vật về mâu thuẫn, bản chất, cái phổ biến…
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp thống nhất logic - lịch
sử, phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể, phương pháp phân tích và tổng hợp
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cách hiểu duy vật biện chứng về "hình thức chuyển hóa”
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Khảo sát một số quan điểm về “nội dung và hình thức” trong triết học phương Tây trước Mác
+ Nghiên cứu trực tiếp bộ “Tư bản” để đi đến cách hiểu duy vật biện chứng về khái niệm "hình thức chuyển hóa"
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn bước đầu nêu ra nội dung khái niê ̣m "hình thức chuyển hóa" và cách hiểu duy vật biện chứng về "hình thức chuyển hóa", ý nghĩa của nó trong việc nghiên cứu một số vấn đề của thực tiễn
7 Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ quá trình hình thành và phát triển quan điểm về "hình thức chuyển hóa" và làm rõ khái niệm "hình thức chuyển hóa"
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học ngành triết học, chuyên ngành lôgic học và lịch sử triết học
8 Kết cấu của luận văn
Trang 8- Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết
References
1 Nguyễn Trọng Chuẩn (1995), Triết học Tây Âu thế kỷ XVII - XVIII, R.Đềcactơ Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội
2 Nguyễn Trọng Chuẩn (chủ biên), Đỗ Minh Hợp (1999), Vấn đề tư duy trong triết học
Hêghen Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
3 Phạm Văn Chung (2006), Triết học Mác về lịch sử Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
4 Nguyễn Văn Dũng (1996), Arixtôt với học thuyết phạm trù Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội
5 Trần Thái Đỉnh (2005), Triết học Đềcactơ Nxb Văn học, Hà Nội
6 Trần Thái Đỉnh (2005), Triết học Kant Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội
7 Jostein Garder (2006), Thế giới của Sôphia Nxb Tri thức Hà Nội
8 Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh, Nguyễn Anh Tuấn (2006), Đại cương lịch sử triết học
phương Tây Nxb Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí Minh
9 Tô Duy Hợp (1985), C Mác, Ph Ăngghen, V.I Lênin bàn về lôgic học biện chứng
Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội
10 G.W.F.Hêghen (2008), Bách khoa thư các khoa học triết học I, Khoa học lôgic Bùi
Văn Nam Sơn dịch và chú giải Nxb Tri thức
11 E.V Ilencov (2003), Lôgic học biện chứng Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội
12 Imanuel Kant (2004), Phê phán lý tính thuần túy Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải
Nxb Văn học, Hà Nội
13 Khoa Triết học (2007), Giới thiệu kinh điển Triết học Mác - Lênin Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội
14 V I Lênin (1981), Toàn tập, tập 29 Nxb Tiến bộ, Matxcova
15 Đặng Thai Mai (Biên dịch, 1956), Lịch sử triết học phương Tây Nxb Sự thật, Hà
Nội
16 C Mác và Ph Ănghen (2002), Toàn tập, tập 1 Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
17 C Mác và Ph Ănghen (2002), Toàn tập, tập 3 Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
18 C Mác và Ph Ănghen (2002), Toàn tập, tập 13 Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
19 C Mác và Ph Ănghen (2002), Toàn tập, tập 20 Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Trang 920 C Mác và Ph Ănghen (2002), Toàn tập, tập 21 Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
21 C Mác và Ph Ănghen (2002), Toàn tập, tập 23 Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
22 C Mác và Ph Ănghen (2002), Toàn tập, tập 24 Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
23 C Mác và Ph Ănghen (2002), Toàn tập, tập 25 Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
24 C Mác và Ph Ănghen (2002), Toàn tập, tập 26 Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
25 C Mác và Ph Ănghen (2002), Toàn tập, tập 42 Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
26 C Mác và Ph Ănghen (2002), Toàn tập, tập 46 Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
27 Bùi Thanh Quất, Vũ Tình (1999), Lịch sử triết học Nxb Chính trị quốc gia
28 M M Rôdentan (1962), Nguyên lý lôgic học biện chứng Nxb Sự thật, Hà Nội
29 M.M Rôdentan (1962), Những vấn đề về phép biện chứng trong bộ Tư bản Nxb sự
thật, Hà Nội
30 Nguyễn Quang Thông, Tống Văn Chung (1990), Lịch sử triết học cổ đại Hy - La, tập
1 Tủ sách trường Đại học Tổng hợp Hà Nội
31 Nguyễn Quang Thông, Tống Văn Chung (1990), Lịch sử triết học cổ đại Hy - La, tập
2 Tủ sách trường Đại học Tổng hợp Hà Nội
32 Nguyễn Gia Thơ (1995), Bàn về ranh giới giữa lôgic học hình thức và lôgic học biện
chứng Tạp chí Triết học, số 1
33 Nguyễn Anh Tuấn (2005), V I Lênin bàn về lôgic học Hêghen Tạp chí Khoa học xã
hội, số 6 (82)
34 Nguyễn Anh Tuấn (2005), Lôgic học siêu nghiệm của I Cantơ Tạp chí Triết học, số
5 (168)
35 Vũ Văn Viên (1995), Về triết học Arixtôt Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
36 Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, Viện Triết học (1998), Lịch sử phép biện chứng,
phép biện chứng cổ đại, tập 1 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
37 Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, Viện Triết học(1998), Lịch sử phép biện chứng, phép
biện chứng thế kỷ XIV - XVIII, tập 2 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
38 Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, Viện Triết học (1998), Lịch sử phép biện chứng,
phép biện chứng cổ điển Đức, tập 3 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
39 Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, Viện Triết học (1998), Lịch sử phép biện chứng,
phép biện chứng Mác xít, tập 4 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Trang 1040 Phạm Thái Việt (1995), Sự hình thành mối tương quan giữa lôgic và lịch sử trong lịch
sử triết học Tạp chí Triết học, số 4 tháng 12
41 Phạm Thái Việt, Phạm trù thực tiễn trong triết học cổ điển Đức Báo cáo tại hội
thảo khoa học: Triết học cổ điển Đức, nhận thức luận và đạo đức học, tháng 12/2004
42 Nguyễn Hữu Vui (2004), Lịch sử triết học Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội