Việc pháp luật ghi nhận các quyền của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm có ý nghĩa vô cùng quan trọng đó là thể hiện tính bình đẳng, công khai minh bạch trong các hoạt động tố tụng, là cơ sở,
Trang 1MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Tóm tắt vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài 3
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Phạm vi giới hạn đề tài 6
6 Đối tượng nghiên cứu 7
7 Kết cấu luận văn 7
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN CỦA BỊ ĐƠN TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM 8
1.1 Khái niệm về quyền của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm 8
1.1.1 Khái niệm về bị đơn trong tố tụng dân sự 8
1.1.2 Khái niệm về quyền của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm 12
1.2 Phân loại quyền của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm 15
1.3 Đặc điểm và ý nghĩa về quyền của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm 18
1.3.1 Đặc điểm về quyền của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm 18
1.3.2 Ý nghĩa của quy định quyền bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm 21
1.4 Cơ sở lý luận và thực tiễn của quy định về quyền của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm 24
1.4.1 Cơ sở lý luận của quy định về quyền của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm 24
1.4.2 Cơ sở thực tiễn của quy định về quyền của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm 26
1.5 Quy định của pháp luật việt nam về quyền của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm giai đoạn từ năm 1945 đến nay 28
1.5.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989 28
1.5.2 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004 30
1.5.3 Giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2015 31
1.5.4 Giai đoạn từ năm 2015 đến nay 33
Trang 2KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35 CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ QUYỀN CỦA BỊ ĐƠN TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM THỰC TIỄN ÁP DỤNG
VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 36
2.1 Nội dung của pháp luật việt nam hiện hành về những quyền chung của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật 36 2.1.1 Quyền thỏa thuận với các đương sự khác về nội dung giải quyết vụ án của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm 36 2.1.2 Quyền yêu cầu thay đổi những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng; quyền đề nghị đưa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm 40 2.1.3 Quyền tham gia hòa giải; quyền tham gia phiên tòa, đề nghị hoãn phiên tòa; quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm 42 2.1.4 Quyền đề nghị tòa án tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án; quyền đề nghị tòa án
áp dụng thời hiệu của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm 53 2.1.5 Quyền đề nghị tòa án áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời của
bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm 54 2.1.6 Quyền giao nộp chứng cứ, đề nghị tòa án thu thập chứng cứ của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm 54 2.1.7 Quyền đưa ra câu hỏi, đề xuất những vấn đề cần hỏi trong vụ án; quyền tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm của bị đơn 55 2.2 Nội dung của pháp luật việt nam hiện hành về quyền đặc thù của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm thực tiễn áp dung và kiến nghị hoàn thiện pháp luật 60 2.2.1 Quyền giữ nguyên, thay đổi, bổ sung, rút lại yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa sơ thẩm 60 2.2.2 Quyền chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ đối với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm 63
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 65 KẾT LUẬN CHUNG 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 3DANH MỤC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
BLDS: Bộ luật Dân sự
BLTTDS: Bộ luật tố tụng Dân sự
HĐXX: Hội đồng xét xử
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
Trang 4
TÓM TẮT
Đề tài “Quyền của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm” được thực hiện gồm 03 phần:
Phần mở đầu, Phần nội dung và Phần kết luận Ở phần nội dung, luận văn cấu trúc gồm 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về quyền của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm Chương 2: Nội dung của pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền của bị đơn tại
phiên tòa sơ thẩm Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Nội dung chương 1: Những vấn đề chung về quyền của bị đơn tại phiên tòa sơ
thẩm Nội dung chương 1, tác giả tập trung làm rõ các khái niệm về bị đơn trong tố tụng dân sự và quyền của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quy định về quyền của bị đơn đồng thời cũng tìm hiểu về lịch sử hình thành
và phát triển của các quyền của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm giai đoạn từ 1945 đến nay Việc pháp luật ghi nhận các quyền của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm có ý nghĩa vô cùng quan trọng đó là thể hiện tính bình đẳng, công khai minh bạch trong các hoạt động tố tụng, là cơ sở, tiền đề quan trọng để bị đơn chủ động thực hiện bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại phiên tòa sơ thẩm đồng thời việc ghi nhận đó là những khuôn khổ pháp lý quan trọng để các chủ thể tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng và các
cơ quan liên quan tuân thủ pháp luật, tôn trọng các quyền của bị đơn
Nội dung chương 2: Nội dung của pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền của
bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm, thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Nội dung chương 2 tác giả đã tập trung phân tích những quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2015 về các quyền của bị đơn, trong đó chủ yếu tập trung sâu vào các quyền của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm Qua đó tác giả phân tích những hạn chế, bất cập của BLTTDS năm 2015 đồng thời đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật tại các Điều 96, 200, 227, 246 về các quyền của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm như quyền quyền phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, thỏa thuận với các đương sự khác; quyền tham gia tranh luận; quyền tham gia phiên tòa của bị đơn, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp cho bị đơn để bảo vệ tốt hơn các quyền của bị đơn khi tham gia tố tụng, đặc biệt là tại phiên tòa sơ thẩm
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nhà nước giữ vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị ở nước ta, Nhà nước là
sự tập trung của quyền lực nhân dân Hiến pháp năm 2013 khẳng định “ Nhà nước
cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” Nhà nước pháp quyền là nhà nước có hệ thống
pháp luật hoàn chỉnh, pháp luật giữ vai trò tối thượng Trong xu thế phát triển chung của xã hội đòi hỏi bộ máy nhà nước phải ngày càng hoàn thiện, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả để đạt được mục tiêu đó chúng ta không thể phủ nhận vai trò của pháp luật Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến
năm 2020 xác định rõ mục tiêu “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ,
thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” Để thực thi quyền làm chủ của nhân dân, các quyền và lợi ích hợp
pháp của nhân dân được bảo vệ, giữ vững trật tự kỷ cương, nhiệm vụ quan trọng mà Nhà nước phải thực hiện là hoàn thiện hệ thống pháp luật nước ta nói chung cũng như pháp luật tố tụng dân sự nói riêng Thể chế hóa chủ trương của Đảng trong thời gian qua Nhà nước đã ban hành Hiến pháp năm 2013 và rất nhiều Bộ luật, Luật quan trọng khác để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong đó có Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015
Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 thay thế Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 đã được hoàn thiện một cách cơ bản, trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 Trong đó phải kể đến những quy định về quyền, nghĩa vụ của các đương sự nói chung
và bị đơn nói riêng tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 là đầy đủ, rõ ràng hơn so với quy định tại các Điều 58, 60 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 sửa
Trang 6đổi, bổ sung năm 2011 Qua đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự thực tốt và đầy đủ các quyền của mình, bảo vệ một cách tốt nhất các quyền lợi hợp pháp của họ, đồng thời cũng là khuôn mẫu để những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng thực thi công vụ đảm bảo tính dân chủ, công bằng Tuy nhiên, qua nghiên cứu các quy định hiện hành nhận thấy cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế nhất định như một
số quy định còn thiếu hoặc chưa rõ ràng có nhiều cách hiểu khác nhau về quy định
những quyền của bị đơn Chính vì lẽ đó vấn nghiên cứu và hòan thiện những quy định
pháp luật tố tụng dân sự về quyền của bị đơn là rất cần thiết
Theo thống kê hàng năm của Tòa án nhân dân Tối cao tình hình thụ lý giải quyết các tranh chấp dân sự là rất lớn và xu hướng tăng hàng năm Nhìn nhận dưới góc
độ xã hội chúng ta có thể thấy đó là thể hiện sự văn minh, phù phợp với sự phát triển của xã hội, các quan hệ dân sự, kinh doanh thương mại… ngày càng được minh bạch hóa thông qua các phán quyết của tòa án Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận thấy sự tồn tại mặt trái của nó là sự tốn kém các nguồn lực xã hội Trong quá trình giải quyết tại tòa án còn tồn tại nhiều bản án bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan, nhiều vụ án tranh chấp kéo dài chưa được giải quyết xong, gây thiệt hại lớn trong nhân dân Một số nguyên nhân tồn tại chủ yếu đó là quy định pháp luật chưa rõ ràng, những người tham gia tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan nhà nước, tổ chức cá nhân khác còn vi phạm các quyền của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020 khẳng định: “Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự, dân sự phù hợp với nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, đảm bảo tính đồng bộ, dân chủ công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người’’ Vì vậy, vấn đề hoàn pháp luật tố tụng dân sự là vấn đề mang tính cấp
bách và cần thiết
Xuất phát từ các lý do đó, tác giả lựa chọn đề tài “Quyền của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm” làm luận văn Thạc sĩ cho mình
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Mục tiêu chung:
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là tìm hiểu, đánh giá những quy định của pháp luật tố tụng dân sự về các quyền của đương sự trong đó trọng tâm là các quyền
Trang 7của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm Qua đó tìm hiểu những quy định về các quyền của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm còn bất cập, quy định chưa rõ ràng của pháp luật tố tụng dân
sự hiện hành và đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện quy định pháp luật cho phù hợp để pháp luật đi vào cuộc sống
- Mục tiêu cụ thể:
Từ những mục tiêu chung đã nêu, luận văn đề ra những mục tiêu cụ thể đó là: + Nghiên cứu những vấn đề lý luận về các quyền, ý nghĩa của quy định về quyền của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm
+ Nghiên cứu những quy định của pháp luật tố tụng dân sự về quyền của bị đơn trong mối liên hệ với các quyền của đương sự có sự đối chiếu các quy định về quyền của bị đơn qua các giai đoạn để tìm ra điểm tiến bộ, hạn chế, bất cập của quy định pháp luật
+ Tìm hiểu các thông tin qua thực tiễn áp dụng pháp luật bảo vệ các quyền của
bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm thông qua hoạt động xét xử của Tòa án bằng những bản án
cụ thể, các báo cáo để tìm ra những bất cập, hạn chế, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật tố tụng dân sự về quyền của bị đơn tại phiên tòa
sơ thẩm
3 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Qua tìm hiểu của tác giả nhận thấy, liên quan đến đề tài “Quyền của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm” đã được nhiều tác giả khác quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, có
những công trình nghiên cứu trên cơ sở quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm
2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011, có công trình nghiên cứu Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 nhưng vẫn còn mang tính chung chung chưa được toàn diện, có thể liệt kê một số công trình như:
- Nguyễn Triều Dương (2011), “Đương sự trong tố tụng dân sự - một số vấn đề
lý luận và thực tiễn”, Luận án Tiến sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội Trong đề tài này
tác giả tập trung làm rõ tư cách đương sự, năng lực chủ thể của đương sự, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xác định địa vị pháp lý, những quyền, nghĩa vụ của đương sự Tuy nhiên, đề tài này nghiên cứu Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004, do vậy tính ứng dụng hiện nay là không cao
- Hoàng Thị Huyền Trang (2012) “Đương sự theo quy định Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2004”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 8Trong đề tài này tác giả cũng tập trung phân tích khái quát về tư cách đương sự, năng lực chủ thể của đương sự, các quyền và nghĩa vụ đương sự nói chung, kiến nghị hoàn thiện pháp luật một số quyền, nghĩa vụ của đương sự Tuy nhiên, đề tài này cũng nghiên cứu Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004, do vậy tính ứng dụng hiện nay cũng không cao
- Hoàng Thị Tuyết (2015), “Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự hiện
hành”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Trong đề tài
này tác giả cũng tập trung nghiên cứu sâu một số khía cạnh về các điều kiện năng lực,
tư cách của đương sự, đồng thời cũng kiến nghị hoàn thiện một số quy định chung về đương sự, quyền, nghĩa vụ của đương sự Tuy nhiên, đề tài này cũng nghiên cứu Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011, do vậy tính ứng dụng của
đề tài này cũng không cao trong giai đoạn hiện nay
- Trần Thị Diệu Linh (2017), “Quyền của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan trong tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng tại Tòa án”, Luận văn Thạc sĩ luật
học, Đại học Luật Hà Nội Trong đề tài này, tác giả tập trung làm rõ các khái niệm quyền tố tụng của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phân tích thực trạng của quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, đề xuất kiến nghị hoàn thiện những quy định pháp luật về quyền của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Tuy nhiên, do đề tài này nghiên cứu rộng bao gồm hai chủ thể là bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và cũng chưa nghiên cứu sâu những quyền đặc thù của bị đơn;
đề tài triển khai khi Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 mới được áp dụng trong thực tiễn thời gian ngắn nên cũng còn nhiều bất cập lớn mà tác giả chưa đề cập đến, vì vậy vấn đề quyền của bị đơn trong tố tụng dân sự cũng chưa được nghiên cứu thật sự chuyên sâu và toàn diện
Ngoài những luận án, luận văn nêu trên thì những nội dung liên quan đến quyền của đương sự, bị đơn trong tố tụng dân sự còn được nhiều tác giả đề cập đến được công bố trên các tạp chí khoa học như:
- Bùi Thị Huyền (2016), “Điểm mới của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và
những nội dung cần hướng dẫn”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 8/2016
- Đặng Thanh Hoa (2017), “Bàn về phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai
chứng cứ và hòa giải ”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 10/2017
- Trần Quang Minh (2017), “Quyền phản tố của bị đơn và quyền yêu cầu độc
Trang 9lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 8/2018
- Phạm Thị Thu Hà (2018), “Những khó khăn, vướng mắc khi thực hiện những
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về chứng minh, chứng cứ một số đề xuất, kiến nghị”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 8/2018
- Nguyễn Thị Hương (2018), “Một số vấn đề về chứng cứ, chứng minh trong Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015 và thực tiễn áp dụng”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số
11/2018
- Cao Xuân Long (2018), “Một số bất cập trong việc xem xét việc đương sự
thay đổi, bổ sung yêu cầu tại phiên tòa sơ thẩm và giải pháp khắc phục”, Tạp chí Tòa
án nhân dân, số 11/2018
- Phạm Thị Thúy (2017), “Yêu cầu phản tố bù trừ với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”, Tạp chí Tòa
án nhân dân, số 23/2017
- Vũ Thanh Tuấn (2018), “Bàn về một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9/2018
- Nguyễn Thái Trường (2018), “Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật
về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp tại tòa án”,
Tạp chí Tòa án nhân dân, số 18/2018 Các công trình nghiên cứu này các tác giả Đặng Thanh Hoa, Bùi Thị Huyền phân tích đánh giá những nội dung bất cập về thủ tục thực hiện tại phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, những quền của đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét, những quyền của đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm Các tác giải Vũ Thanh Tuấn, Cao Xuân Long, Phạm Thị Thu
Hà, Nguyễn Thị Hương phân tích đánh giá những bất cập của quy định pháp luật về quyền thu thập chứng cứ, chứng minh, xác định phạm vi khởi kiện trong giai đoạn chuẩn bị xét trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm Các tác giả Phạm Thị Thúy, Nguyễn Thái Trường, Trần Quang Minh tập trung phân tích các các quyền yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của bị đơn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm Vậy các tài liệu này các tác giả chưa nghiên cứu về những quyền của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm
Nhìn chung tất cả những công trình nghiên cứu trên đã tập trung nghiên cứu với nội dung rất rộng, hầu hết là nghiên cứu Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011, có những công trình nghiên cứu Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015,
Trang 10tuy nhiên cũng chưa tập trung vào các quyền mang tính đặc thù của bị đơn, chưa đưa
ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật một cách cụ thể, chưa mang tính chuyên sâu
toàn diện Vì vậy, tác giả tiếp tục nghiên cứu đề tài “Quyền của bị đơn tại phiên tòa
sơ thẩm” là cần thiết Tác giả đi sâu phân tích những cơ sở quy định những quyền tố
tụng của bị đơn, phân tích những tiến bộ trong chế định quyền của bị đơn trong tố tụng dân sự trong lịch sự phát triển, đồng thời phân tích sâu hơn những bất cấp trong quy định của luật về quyền tố tụng của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn những quy định trong luật hiện hành
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng những phương pháp nghiên cứu như sau:
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử sử dụng để nghiên cứu, tìm hiểu những quy định về quyền tố tụng của bị đơn qua các giai đoạn lịch sử ở nước ta
- Phương pháp phân tích, tổng hợp sử dụng trong nghiên cứu các vấn đề liên quan đến quy định của pháp luật tố tụng dân sự về các quyền của bị đơn, khái quát những vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp thống kê được sử dụng trong nghiên cứu qua hoạt động thực tiễn tại Tòa án thông qua các báo cáo, một số bản án cụ thể trong việc áp dụng Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 Trên cơ sở đó, tác giả đánh giá những quy định phù hợp và không phù hợp với lý luận, thực tiễn, đồng thời đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả pháp luật trong thực tiễn
5 PHẠM VI GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Quyền của bị đơn trong tố tụng dân sự là một trong những nội dung có nhiều phức tạp, phạm vi tương đối rộng, vì vậy trong luận văn này tác giả chỉ mong muốn làm rõ được những vấn đề sau đây:
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền, những cơ sở của quy định quyền của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm; nghiên cứu những quy định về quyền của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm qua các giai đoạn lịch sử và quy định hiện hành Phạm vi không gian được nghiên cứu trong phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Luận văn nghiên cứu những bất cập, hạn chế trong quy định Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 từ khi có hiệu lực pháp luật cho đến nay, những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng quy định đó trong thực tiễn, nghiên cứu tìm hiểu thông qua một số vụ