- Dựa theo nội dung của luật La Mã, thì cội nguồn của các quy phạm pháp luật La Mã chính là nhu cầu của các quan hệ xã hội cần phải có sự điều tiết thống nhất mà được nhà nước ban hành..
Trang 1Tên tiểu luận:
Phân tích các loại nguồn của luật tư La Mã và so sánh với các nguồn được thừa nhận trong BLDS Việt Nam 2015
Phần dẫn nhập……….………….……… 1
Phần nội dung……….………2
I Nguồn của luật tư La Mã ……… 2
1 Khái niệm nguồn của luật tư La Mã…….….………2
2 Các loại nguồn của luật tư La Mã…… …….……… 4
II Nguồn của luật dân sự Việt Nam ……… ……….7
1 Khái niệm nguồn luật dân sự …….……… ……… 7
2 Các loại nguồn của luật dân sự ………… ………8
III So sánh nguồn của luật tư La Mã với các nguồn được thừa nhận trong bộ luật dân sự Việt Nam 2015………10
Phần kết luận……… 12
Tài liệu tham khảo……… 13
Các từ viết tắt
TAND: tòa án nhân dân
BLDS: bộ luật dân sự
TCN: trước công nguyên
SCN: Sau công nguyên
BLTTDS: bộ luật tố tụng dân sự
CHXHCN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Trang 2Nêu và phân tích các loại nguồn của luật tư La Mã và so sánh với các nguồn được thừa nhận trong BLDS Việt Nam 2015.
A Phần dẫn nhập
Khi nghiên cứu về luật La Mã, Ăngghen cho rằng “luật La Mã là hình thức pháp luật hoàn thiện nhất dựa trên cơ sở tư hữu Sự thể hiện pháp lý của những điều kiện sống và những xung đột xã hội trong đó thống trị tư hữu mà những nhà làm luật sau đó không thể bán thêm điều gì hoàn thiện hơn…” Luật la mã ra đời đã thể hiện trình độ lập pháp đạt tới mức hoàn thiện của các luật gia La Mã Luật tư La
Mã tuy hình thành và phát triển cùng với sự ra đời của nhà nước La Mã cổ đại một nhà nước của xã hội chiếm hữu nô lệ nhưng ngày nay hầu hết các chế định của nó vẫn giữ nguyên được giá trị Vì vậy, việc phân tích, tổng hợp, nghiên cứu về nguồn của luật tư La Mã là rất cần thiết để từ đó thấy được những điểm mới, sự kế thừa về nguồn của Bộ luật Dân sự Việt Nam 20 15 so với nguồn của luật tư La Mã.
B Nội dung
I Nguồn của Luật tư La Mã.
1 Khái niệm về nguồn của luật tư La Mã.
Trong thời đương đại, có nhiều quan điểm khác nhau về quá trình xác định nguồn của luật tư pháp La Mã, nhưng tổng hợp của các quan điểm đó đều có giá trị trong việc xác định căn cứ hình thành nội dung các quy phạm pháp luật La Mã.
- Nguồn của Luật La Mã là nguồn gốc nội dung quy phạm.
- Dựa theo nội dung của luật La Mã, thì cội nguồn của các quy phạm pháp luật
La Mã chính là nhu cầu của các quan hệ xã hội cần phải có sự điều tiết thống nhất mà được nhà nước ban hành Những quy phạm pháp luật được quy định như một tất yếu khách quan trong một xã hội tư hữu về tư liệu sản xuất và nô lệ Sự bảo vệ quyền tư hữu cần phải đặt trong một chuẩn mực có tính nguyên tắc được áp dụng cho các quan
hệ trong phạm vi toàn xã hội Quyền lợi và nghĩa vụ luôn luôn thuộc về các chủ thể trong một quan hệ xã hội nhất định hoặc do thỏa thuận, hoặc do những quy ước chung chi phối Vì lẽ đó sự cần thiết phải có những chuẩn mực chung để mọi người trong xã hội phải tuân theo.
Trang 3- Những phong tục tập quán của người La Mã như một quy ước chung đối với mọi chủ thể khi thiết lập một quan hệ xã hội nhất định Nhưng những quan hệ xã hội chỉ có thể đảm bảo thực hiện ở mức độ cao nhất lại do các đạo luật và hiến pháp chi phối, điều tiết Mọi quyền hạn và nghĩa vụ của những người tham gia vào quan hệ tài sản và nhân thân đều phải phù hợp với những quy định của pháp luật.
- Nguồn của Luật La Mã đã là cơ sở nhận thức về pháp luật La Mã Cội nguồn nhận thức về các quy phạm luật tư pháp La Mã không những dựa vào phong tục, tập quán của người La Mã, mà còn dựa vào nội dung của các bút ký triết học, của các các triết gia, dựa trên văn bia, các hợp đồng La Mã được thể hiện dưới hình thức văn bản, các tác phẩm của các luật gia, các tác phẩm văn học, nghệ thuật những nguồn văn bản trên đã phản ánh trực tiếp và gián tiếp những mối quan hệ của người La Mã trong các giai đoạn phát triển của lịch sử.
Do vậy nguồn của Luật tư pháp La Mã là những tồn tại khách quan đã phản ánh trực tiếp hoặc gián tiếp nội dung hiện thực của các quan hệ xã hội La Mã về tài sản, về nhân thân mà dựa trên đó luật La Mã được xây dựng và được áp dụng trong suốt chiều dài lịch sử tồn tại của Nhà nước La Mã, nhà nước chiếm hữu nô lệ.
- Nguồn của luật La Mã là hình thức biểu hiện nội dung quy phạm Quy phạm của luật được thể hiện dưới một hình thức nhất định như tập quán pháp, các đạo luật,
hệ thống hóa pháp luật…
2 Các loại nguồn của luật tư La Mã.
2.1 Tập quán của người La Mã.
Tập quán của người La Mã được hình thành phù hợp với chế độ thị tộc do tài sản trong xã hội ngày càng được tạo ra nhiều hơn, phong phú hơn Những tập quán được hình thành, chi phối mọi quan hệ xã hội và được coi là những chuẩn mực chung đối với hành vi của mọi người Những tập quán của người La Mã trong quan hệ tài sản, tôn giáo, lễ nghi, quyền mang tên thị tộc, bổn phận các thành viên trong thị tộc, quyền của trưởng tộc, thừa kế tài sản của người chết, nghi thức kết hôn và điều kiện kết hôn đó là cơ sở để xây dựng và phát triển luật thành văn - luật La Mã cổ đại.
2.2 Đạo luật (plebiscite).
Nói về lịch sử phát triển của luật La Mã, ngay trong các chế định của Justinian
đã có sự phân biệt giữa luật thành văn (ius scriptum) và luật không thành văn (ius non
Trang 4scriptum) Luật thành văn là đạo luật và những quy phạm do các cơ quan quyền lực đặt ra và ghi nhận bằng các văn bản cụ thể Đạo luật đã được sử dụng thay thế cho thường luật không thành văn khi thường luật không còn là hình thức phù hợp với sự phát triển của xã hội.
- Vào thời quân chủ (khoảng năm 753-509 TCN) - nhà vua căn cứ vào hoàn cảnh, tình hình của La Mã đã ra các sắc dụ (constitution) hay chiếu chỉ (leges regiae)
để ra một lệnh nào đó có nội dung chỉ dẫn, khuyến dụ có tính chất bắt buộc một tầng lớp hoặc toàn thể công dân La Mã phải tuân theo hoặc thực hiện một việc hoặc trong một quan hệ nhất định Cách sắc dụ thể hiện ở dạng: “ chiếu chỉ cho các thần dân; sắc chỉ cho từng vụ việc; sắc dụ cho các quan lại và sắc lệnh giải quyết các tranh chấp” Những chiếu chỉ của vua có chứa đựng những nguyên tắc xử sự bắt buộc trong quan
hệ tài sản và nhân thân giữa các công dân La Mã, có giá trị là nguồn của luật La Mã.
- Luật XII bảng được công bố vào năm 449 TCN có nội dung điều chỉnh các quan hệ thuộc lĩnh vực tư pháp, được coi là nguồn chính của luật tư pháp La Mã.
- Vào thời cộng hoà ( năm 510/509 - 44 TCN) tuy tập quán của người La Mã vẫn được áp dụng phổ biến trong xã hội, nhưng các quan chấp chính vẫn công bố những quyết định về việc giải quyết những vụ việc cụ thể Những án lệ mà các quan chấp chính hay quan tòa đã áp dụng khi giải quyết các tranh chấp giữa các công dân
La Mã được thông báo công khai, cũng là nguồn của luật tư La Mã.
2.3 Sắc dụ của các quan chấp chính (edicta)
Sắc dụ của các quan chấp chính có tính chất bắt buộc và hiệu lực của nó kéo dài theo nhiệm chức của quan Trong thực tiễn xét xử, một số quy phạm pháp luật cũ không còn phù hợp đã được điều chỉnh hoặc thay đổi Điều này đã khắc phục được các hạn chế của luật civile nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, giải quyết các vấn đề mới phát sinh trong xã hội mà luật chưa thay đổi kịp điều chỉnh.
Hoạt động sáng tạo lập pháp của các quan tòa đã làm xuất hiện một hệ thống các quy phạm pháp luật mới có tên gọi là ius honorarium (từ honores dùng để chỉ những người có chức sắc) hoặc còn gọi là ius praetorium – luật quan Hoạt động sáng tạo luật pháp của các quan tòa còn dẫn đến sự xuất hiện một loạt những học thuật mới
Trang 5như: legitium – theo luật civile, iustae causae (căn cứ chính xác, hợp đạo), legitimum tempus ( thời hạn luật pháp).1
2.3 Hoạt động của các luật gia La Mã (responsa prudentium).
Các luật gia La Mã trong quá trình hoạt động thực tiễn của mình đã áp dụng những nguyên tắc do luật XII bảng và các quyết định của quan chấp chính quy định Đồng thời, các luật gia còn có vai trò bổ sung, sáng tạo luật trong quá trình nghiên cứu
và áp dụng pháp luật trong hoạt động thực tiễn Theo Xi-xê-ron, hoạt động của các luật ra gồm các hình thức: respondere, cavere, agere và scribere.
Respondere - là hoạt động tư vấn giúp cho các công dân hiểu rõ hơn các điều luật khi họ có những việc liên quan tới luật pháp Cavere - hoạt động giúp công dân ký kết các thỏa thuận để tránh những thiếu sót có thể gây thiệt hại về quyền lợi Scribere
-là hoạt động giúp các công dân lập biên bản hợp đồng và các loại văn bản khác liên quan tới pháp luật Agere - Là hoạt động phụ trách tố tụng của các bên nhưng không với tư cách là luật sư bào chữa2.
Đến thời kỳ Prinxipat (từ năm 27 TCN – 193 SCN), hoạt động sáng tác luật pháp của các luật gia La Mã được công nhận chính thức Các luật gia La Mã có vai trò không nhỏ trong việc sáng tạo ra các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội mới nảy sinh.
2.4 Hệ thống hóa luật La Mã của Hoàng đế Justinian (constitutiones principum).
Vai trò của hoàng đế La Mã Justinian rất lớn trong việc khôi phục đế chế La
Mã và hệ thống pháp luật Hoàng đế Justinian lên ngôi vào năm 527 Từ năm 528 ông thành lập một ủy ban pháp luật nhằm hệ thống các quy phạm luật la mã thành Corpus Juris Civilis ( tập hợp các chế định luật dân sự) Ngoài việc hệ thống, hoàng đế còn cho phép ủy ban được thay đổi nội dung của những những quy phạm cho phù hợp với hoàn cảnh xã hội đương thời Corpus Juris Civilis bao gồm bốn bộ phận cấu thành: Codex Constitutionum ( Bộ luật Justinian), Institutiones (sách giáo khoa luật la mã), Digesta (Tổng luận luật học Justinian ), và Novellae (tập hợp luật mới) Vào năm năm
2 Lê Thu Trang (2017), “ tiếp nhận luật la mã trong việc xây dựng chế định vật quyền ở Việt Nam hiện nay”, luận văn thạc sĩ luật học, khoa luật đại học quốc gia Hà Nội.
1 Lê Thu Trang (2017), “ tiếp nhận luật la mã trong việc xây dựng chế định vật quyền ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ luật học, khoa luật đại học quốc gia Hà Nội.
Trang 6534, công việc hệ thống luật La Mã đã hoàn thành và được gọi là bộ luật của hoàng đế Justinian gồm 12 quyển được phân chia theo nội dung của các quy phạm thuộc lĩnh vực tư pháp, hành chính…
Tóm lại, hệ thống luật dưới thời hoàng đế Justinian được gọi là luật La Mã cổ đại, trong đó có các quy phạm về tư pháp La Mã.
2.5 Ý kiến viện nguyên lão ( senatus consulta).
Viện nguyên lão có 3 trách nhiệm chính: nắm quyền hành pháp, có vai trò như một hội đồng cố vấn cho nhà vua; là cơ quan lập pháp Trong thời kỳ quân chủ, nhiệm
vụ quan trọng nhất của Viện là bầu ra vị vua mới Nếu nhà vua tự động được nhân dân lựa chọn, những người đó đã thực sự thay thế vai trò Viện nguyên lão Thời gian giữa
chấp thuận, ông chính thức được nhân dân bầu, và được tuyên bố bởi Viện Duy nhất
người dân Ngoài ra một nhiệm vụ quan trọng khác của Viện nguyên lão là làm một hội đồng cố vấn cho nhà vua Nhà vua có thể bác bỏ những đề nghị của Viện, nhưng
uy tín ngày càng tăng của Viện nguyên lão khiến nhà vua càng trở nên khó khăn trong việc bác bỏ các quyết nghị Về cơ bản Viện cũng có thể soạn thảo ra luật mới, mặc dù thật không đúng lắm khi xem những quyết nghị của Viện là "pháp luật" theo nghĩa hiện đại Chỉ có nhà vua mới có thể ra được luật mới, mặc dù ông cũng tham gia vào
II Nguồn của luật dân sự Việt Nam.
1 Khái niệm.
Khi nói đến nguồn của pháp luật điều đó cũng có nghĩa là muốn nói đến hình thức bên ngoài của pháp luật hay nói một cách khác là các hình thức ghi nhận và ban
hành các quy phạm pháp luật Nguồn của luật còn được hiểu theo nghĩa rộng là tổng
hợp các cách thức biện pháp ấp để điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của một ngành luật Việc điều chỉnh các quan hệ xã hội này bằng cách nào, theo
phương thức nào cũng như hình thức của sự ghi nhận và ban hành các quy phạm pháp
3 https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Viện_nguyên_lão_La_Mã.
Trang 7luật - một phần phụ thuộc vào truyền thống văn hóa, pháp lý cũng như khả năng xây dựng pháp luật ở từng nước.
Nguồn của luật dân sự ở nước ta được hiểu là các văn bản quy phạm pháp luật dân sự do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự luật định nhằm điều chỉnh các quan hệ dân sự giữa các chủ thể trong một khoảng thời gian và không gian nhất định Nhưng không phải mọi văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ban hành đều là nguồn của luật dân sự, mặc dù điều chỉnh quan hệ tài sản hoặc quan
hệ nhân thân thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự Ví dụ một bản án dân sự của tòa án giải quyết tranh chấp quyền sở hữu, một quyết định phân nhà cho công nhân viên chức nhà nước,
Theo khoa học pháp lý và pháp luật thực định, một văn bản được xem là nguồn của luật dân sự phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Văn bản phải chứa đựng các quy tắc xử sự để điều chỉnh các quan hệ tài sản
và quan hệ nhân thân.
- Văn bản phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Ví dụ theo hiến pháp 2013 và luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 3/6/2008 thì Quốc hội
là cơ quan duy nhất có quyền ban hành luật, còn ủy ban thường vụ quốc hội chỉ có quyền ban hành pháp lệnh.
- Văn bản đó phải được ban hành theo đúng hình thức, trình tự, thủ tục luật định.
- Văn bản đó được nhà nước đảm bảo thi hành bằng các biện pháp thích hợp và quan trọng nhất là cưỡng chế, buộc thi hành và áp dụng chế tài đối với người có hành
vi vi phạm pháp luật.
1 Các loại nguồn của luật dân sự Việt Nam.
Mỗi một văn bản quy phạm pháp luật tương ứng với một mức độ điều chỉnh nhất định, hiệu lực pháp lý cao hay thấp nhất định, với mức độ khái quát hay cụ thể khác nhau, trên cơ sở đó, có thể phân loại các văn bản quy phạm pháp luật theo hai tiêu chí, đó là mức độ điều chỉnh và mức độ hiệu lực pháp lý của văn bản quy phạm pháp luật, trên cơ sở các tiêu chí đó, nguồn của luật dân sự Việt Nam bao gồm:
2.1 Hiến pháp.
Trang 8Hiến pháp là đạo luật cơ bản của nhà nước do Quốc hội cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam ban hành, trong đó các quy định về chế
độ chính trị, chế độ kinh tế và các quyền cơ bản của công dân có vị trí quan trọng có liên quan đến Luật Dân sự Đối với luật dân sự, các quy định về quyền con người quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (chương 2), các quy định về kinh tế văn hóa
xã hội giáo dục khoa học công nghệ và môi trường ( chương 3) của hiến pháp 2013 có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng mà BLDS đã cụ thể hóa.
2.2 BLDS và các bộ luật, đạo luật khác Có liên quan đến dân sự như bộ luật
hàng hải, luật hàng không, luật thương mại, luật đất đai, luật hôn nhân gia đình, luật doanh nghiệp nhà nước, luật công ty,, do Quốc hội ban hành cũng điều chỉnh các quan hệ dân sự, được coi là nguồn quan trọng nhất của pháp luật Dân sự, trong đó BLDS giữ vị trí trung tâm trong các nguồn của luật dân sự Các nghị quyết của Quốc hội liên quan đến việc thi hành BLDS cũng được coi là nguồn của luật dân sự.
2.3 Pháp lệnh và nghị quyết của ủy ban thường vụ quốc hội.
Trước khi BLDS được ban hành, pháp lệnh là nguồn đặc biệt quan trọng của luật dân sự Việt Nam: pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp 1989, pháp lệnh thừa kế 1990, pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991, pháp lệnh nhà ở 1991 Hiện nay, có một số pháp lệnh là nguồn quan trọng của luật dân sự như pháp lệnh về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong nước được nhà nước giao đất, cho thuê đất 1994…
2.4 Nghị định của chính phủ.
Đây là nguồn phong phú, quan trọng của luật dân sự, thể hiện hầu hết các lĩnh vực mà luật dân sự điều chỉnh Có thể kể ra một số nghị định điều chỉnh trực tiếp quan
hệ dân sự như nghị định số 100/CP ngày 18 tháng 12 năm 1993 về kinh doanh bảo hiểm, nghị định số 63/CP ngày 24 tháng 10 1996 quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp, nghị định số 76/CP hướng dẫn thi hành một số quy định về quyền tác giả trong BLDS ngày 29 tháng 11 năm 1996 4
2.5 Quyết định, chỉ thị của thủ tướng Chính phủ vụ cũng là một trong những nguồn quan trọng của luật dân sự.
4 Bùi Thị Thanh Hằng, giáo trình luật dân sự Việt Nam (2002), khoa luật đại học quốc gia Hà Nội, Nxb đại học quốc gia Hà Nội.
Trang 92.6 Quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang
bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc chính phủ để cụ thể hóa luật pháp lệnh nghị định trong
phạm vi lĩnh vực bộ bộ ngành quản lý là bộ phận quan trọng đối với pháp luật dân sự Ngoài ra, các cơ quan này và các cơ quan có thẩm quyền khác có thể ban hành các văn bản liên tịch như thông tư liên tịch.
2.7 Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC, quyết định chỉ thị thông
tư của viện trưởng VKSNDTC hướng dẫn thi hành, áp dụng luật dân sự cũng là
nguồn của luật dân sự Nguồn này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác xét xử.
Đối với Thông tư của TANDTC, nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành, áp dụng các quy phạm pháp luật dân sự, cho đến nay vẫn còn quan điểm khác nhau về việc có coi đó là nguồn của luật dân sự hay không? Về phương diện này trước hết cần khẳng định rằng án lệ và thực tiễn xét xử của tòa án ở nước ta không được coi là nguồn của luật, vì TAND là cơ quan xét xử của nước CHXHCN Việt Nam theo như quy định của hiến pháp Do vậy TANDTC không có chức năng lập pháp Tuy nhiên trên lĩnh vực luật dân sự cho phép áp dụng nguyên tắc tương tự cũng như các phương pháp hóa học để giải thích, hướng dẫn thi hành luật, thì các nghị quyết do TANDTC ban hành nhằm cụ thể hóa, hướng dẫn chi tiết việc áp dụng các quy phạm pháp luật dân sự Có quy phạm pháp luật dân sự cũng có thể coi
là một loại nguồn của luật dân sự theo nghĩa rộng.5
III So sánh nguồn của luật tư La Mã với nguồn được thừa nhận trong
BLDS Việt Nam 2015.
1 Điểm giống: Trên cơ sở tiếp thu nguồn của luật tư La Mã, thì BLDS Việt Nam 2015
tiếp tục thừa nhận một số nguồn sau giống với luật tư La Mã như:
1.1 Các đạo luật:
Giống như luật tư La Mã, các đạo luật cũng là nguồn của BLDS Việt Nam
2015 Nếu như các đạo luật của luật la mã thường là các chiều chị sắc dục để ra lệnh một lần nào đó có nội dung chỉ dẫn khuyến dụ có tính chất bắt buộc một tuần lớp học toàn thể công dân la mã phải tuân theo hoặc thực hiện thì các đạo luật của bộ luật dân
5 Bùi Thị Thanh Hằng, giáo trình luật dân sự Việt Nam (2002), khoa luật đại học quốc gia Hà Nội, Nxb đại học quốc gia Hà Nội.
Trang 10sự Việt Nam lại chủ yếu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung của nhà nước được đảm bảo thực hiện.Bên cạnh việc phải tuân theo hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam 2013 thì không được trái với các nghị định, thông tư của chính phủ, thủ trưởng, bộ trưởng và các cơ quan ngang bộ cũng như không được trái với các bộ luật, đạo luật khác liên quan đến dân sự.
1.2 Tập quán.
Cũng giống như nguồn của luật tư La Mã thì tập quán ở Việt Nam cũng là một trong những nguồn quan trọng của BLDS 2015 được hình thành dựa trên đặc điểm vùng miền, dân tộc, tôn giáo,… Để có thể áp dụng được tập quán vào giải quyết các quan hệ đòi hỏi tập quán đó phải là tập quán được hình thành và được lặp đi lặp lại nhiều lần trong thời gian dài và được thừa nhận Đồng thời tập quán đó không được trái với các nguyên tắc cơ bản quy định trong BLDS.6 Theo khoản 2 điều 5 BLDS
2015, trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định thì có thể
áp dụng tập quán những tập quán áp dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại điều 3 của bộ luật này Tức là các nhà làm luật căn
cứ vào các quan hệ phát sinh trên thực tế để ban hành BLDS và các VBPL khác nhằm điều chỉnh các quan hệ đó Tuy nhiên đời sống xã hội rất đa dạng, ngày càng phát triển không ngừng, đồng thời quá trình ban hành, sửa đổi, bổ sung một văn bản thường diễn
ra trong thời gian dài Điều này đồng nghĩa với việc có những quan hệ mới hình thành
mà BLDS chưa kịp sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện Do đó, quy định về áp dụng tập quán
và quy định áp dụng tương tự pháp luật (điều 6) để giải quyết các quan hệ dân sự là hoàn toàn phù hợp và cần thiết.
I.3 Án lệ, lẽ công bằng.
Nếu như 1 trong số nguồn của luật tư La Mã là hoạt động của các luật gia, là sắc lệnh của quan chấp chính; thì trong BLDS 2015 lại đề cập tới án lệ theo hướng án
lệ được tòa án nghiên cứu áp dụng trong giải quyết vụ việc dân sự khi đã được Hội đồng thẩm phán TANDTC lựa chọn và được Chánh án TANDTC công bố khoản 3 điều 45 Như vậy, án lệ đã trở thành nguồn chính thức của pháp luật dân sự tất nhiên
6 TS.Nguyễn Minh Tuấn,” bình luận khoa học bộ luật dân sự nước CHXHCN Việt Nam 2015”; (2016) Nxb tư pháp.