Bài thu hoạch diễn án hồ sơ hành chính số 10. Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Ngợi Người bị kiện: UBND thành phố Hải Dương Luận cứ bảo vệ cho UBND TP Hải Dương ...................................................................
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
KỸ NĂNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SƯ KHI THAM GIA GIẢI QUYẾT
CÁC VỤ, VIỆC HÀNH CHÍNH
HỒ SƠ: LS.HC 10
Học viên : Ngày sinh :
Vai diễn án :
Trang 2MỤC LỤC
I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN
II DỰ KIẾN KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TOÀ
III BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ KHÁCH HÀNG – NGƯỜI KHỞI KIỆN
Trang 3I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN
1 Người khởi kiện
- Bà Nguyễn Thị Ngợi – Sinh năm 1935
Địa chỉ: thôn Thanh Liễu, xã Tân Hưng, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
2 Người bị kiện
- UBND thành phố Hải Dương
Địa chỉ: số 106 đường Trần Hưng Đạo, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
3 Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
(1) Ông Nguyễn Hữu Phong - Sinh năm: 1966
Địa chỉ: thôn Thanh Liễu, xã Tân Hưng, thành phố Hải Dương
(2) Bà Nguyễn Thị Nghiệm - Sinh năm: 1971
Địa chỉ: thôn Thanh Liễu, xã Tân Hưng, thành phố Hải Dương
4 Quyết định hành chính bị kiện:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 734508, tờ bản đố số 03 ngày 30/12/2007 do UBND huyện Gia Lộc cấp cho anh Phong và chị Nghiệm
5 Nội dung vụ án
- Bà Nguyễn Thị Ngợi và ông Nguyễn Hữu Đặt có năm người con: Nguyễn Thị Đón, Nguyễn Hữu Phong, Nguyễn Thị Phú, Nguyễn Thị Thao, Nguyễn Thị Thảo
- Năm 2001: Ông Đặt chết và không để lại di chúc
- Ngày 08/01/2002: UBND xã Tân Hưng gửi thông báo về việc gia đình tự kiểm tra thửa đất đang sử dụng để lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ
Trang 4- Ngày 30/12/2007: UBND huyện Gia Lộc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 734508, tờ bản đồ số 03 cho vợ chồng anh Phong và chị Nghiệm
- Ngày 23/5/2016: Bà Ngợi gửi đơn khởi kiện hành chính vợ chồng anh Phong và chị Nghiệm đến Toà án nhân dân thành phố Hải Dương
- Yêu cầu khởi kiện:
Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 734508, tờ bản đồ số 03
do UBND huyện Gia Lộc cho vợ chồng anh Phong và chị Nghiệm (Sau
đây gọi là “GCNQSDĐ”)
Trang 5II DỰ KIẾN KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TOÀ
- Tư cách tham gia xét hỏi: Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người bị kiện
- Mục đích hỏi: xác định đã hết thời hiệu khởi kiện
+ Bà Ngợi đã biết việc GCNQSDĐ được cấp cho vợ chồng ông Phong từ trước thời điểm khởi kiện ít nhất là hơn 1 năm
+ Bà Ngợi đã đồng ý và không có bất kỳ khiếu nại hay thắc mắc nào về việc cấp GCNQSDĐ cho vợ chồng ông Phong
ST
T
1. Hỏi Người bị kiện
(Đại diện UBND
TP Hải Dương:
Ông Trần Hồ
Đăng)
- Ông cho biết trình tự cấp GCNQSDĐ số AK
734508, tờ bản đồ số 03 cho ông Phong được thực hiện như thế nào?
- (Thực hiện chủ trương và tiến hành trên địa bàn toàn xã, có gửi thông báo tới từng hộ gia đình) Bên cạnh việc gửi giấy thông báo, UBND có
thực hiện phát loa hay hoạt động thông báo khác không?
- Trước khi cấp GCNQSDĐ, UBND xã Tân Hưng có công khai danh sách các trường hợp được cấp GCNQSDĐ không? Công khai ở đâu?
- Ông cho biết ông Phong và bà Nghiệm bắt đầu thực hiện việc nộp thuế sử dụng đất hằng năm từ thời điểm nào? Vì sao lại vào thời điểm đó?
- Từ thời điểm cấp GCNQSDĐ cho ông Phong
Trang 6và bà Nghiệm vào 30/12/2007 đến trước 15/01/2016, có bất kỳ khiếu nại nào liên quan đến việc cấp GCNQSDĐ này không?
2. Hỏi người khởi
kiện
(Bà Nguyễn Thị
Ngợi)
- Bà cho biết từ thời điểm năm 2001 đến nay bà
sinh sống ở đâu? (trên thửa đất nhà ông Phong hoặc tương đương)
- Bà có biết việc UBND xã Tân Hưng triển khai thực hiện chủ trương cấp GCNSDĐ cho các hộ trên địa bàn vào năm 2002 không?
- Khi đoàn đến đo đất vào năm 2002, đoàn đo đất có nói lý do thực hiện việc đo đất hay nói gì khác với bà không?
- Bà có thắc mắc, hỏi lý do hay nói điều gì với đoàn đo đất không?
- Tại sao thấy đoàn đến đo đất đo đất tại gia đình bà, bà không biết lý do mà lại không có thắc mắc gì?
- Tại sao bà biết là thực hiện việc đo đất để cấp GCNQSDĐ nhưng khi bà chưa được nhận GCNQSDĐ thời gian sau đó bà lại không có thắc mắc gì?
quyền và nghĩa vụ
liên quan (Ông Nguyễn Hữu
Phong)
- Năm 2002, việc triển khai thực hiện cấp GCNQSDĐ trên địa bàn xã được thực hiện chỉ cho gia đình ông hay trên địa bàn toàn xã? Tại sao ông biết điều này?
- Năm 2002, khi đoàn cán bộ đến đo đạc đất
Trang 7gồm những ai? (ông Huân, ông Thiều, ông Thiết)
- Khi đoàn cán bộ đến đo đạc đất, bà Ngợi có thoả thuận hay nói gì với cán bộ không?
- Ông bắt đầu đóng thuế sử dụng đất hằng năm từ thời điểm nào? Tại sao lại bắt đầu từ thời điểm đó?
- Từ khi ông được cấp GCNQSDĐ vào năm
2007 đến trước năm 2016, gia đình ông có bất kỳ mâu thuẫn hay xung đột gì về việc ông được cấp GCNQSDĐ không?
III LUẬN CỨ BẢO VỆ KHÁCH HÀNG (NGƯỜI BỊ KIỆN)
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ A&F
ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HÀ
NỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày tháng năm 20
BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ
Kính thưa Hội đồng xét xử thành phố Hải Dương,
Thưa vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương,
Thưa các vị luật sư đồng nghiệp và tất cả quý vị có mặt tại phiên toà hôm
nay!
Tôi tên là , thuộc Văn phòng Luật sư A&F, là Luật sư thuộc Đoàn Luật sư
Trang 8Thành phố Hà Nội Tôi tham gia phiên toà hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích cho người bị kiện là UBND thành phố Hải Dương trong vụ án hành chính “khiếu kiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”
I Luận cứ bảo vệ
Kính thưa HĐXX, qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, các chứng cứ đã được thẩm định tại phiên tòa, căn cứ theo nội dung phần xét hỏi công khai tại phiên toà ngày hôm nay tôi xin được khẳng định rằng thời hiệu khởi kiện của vụ
án đã hết tại thời điểm bà Ngợi gửi đơn khởi kiện lên Toà án nhân dân thành phố Hải Dương Điều này được chứng minh bởi những căn cứ sau đây:
Thứ nhất, về việc triển khai thực hiện chủ trương cấp GCNQSDĐ cho các hộ dân trên địa bàn xã Tân Hưng, vào ngày 08/01/2002, UBND xã Tân Hưng đã gửi thông báo tới các hộ gia đình, trong đó có hộ gia đình ông Phong Đến tháng 10/2002, tiếp tục với chủ trương trên, cán bộ đo đạc địa chính xã đã xuống kiểm tra hiện trạng đất của hộ gia đình ông Phong Tại những thời điểm nêu trên, bà Ngợi vẫn luôn sinh sống cùng nhà với gia đình ông Phong trên địa bàn xã Tân Hưng Bên cạnh đó, ông Đỗ Đình Huân – cán bộ địa chính xã là người trực tiếp
xuống đo đất tại các hộ gia đình vào thời điểm đó cũng đã khai rằng: “Khi đo
đất vào năm 2002, gia đình bà Ngợi, anh Phong thoả thuận, bà Ngợi đã già, anh Phong là con trai nên đứng tên để đăng ký” (Bút lục số 37) Tại Biên bản
lấy lời khai (Bút lục 28) anh Phong cũng đã khai nhận nội dung như trên Đối với bà Ngợi, bà khai rằng không nhớ năm tiến hành đo đạc đất, không nhớ những gì đã trao đổi với cán bộ địa chính xã nhưng lại khẳng định rằng khi đó
bà không có ý chí để ông Phong đứng tên trên GCNQSDĐ Như vậy, không thể không loại trừ trường hợp nội dung về ý chí mà bà Ngợi đã khai là không chính xác, và không thể lấy đó làm căn cứ chứng minh tại toà
Như vậy, có thể khẳng định bà Ngợi biết được việc thực hiện chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2002 và gia đình bà đã đăng ký
Trang 9Thứ hai, sau khi tổng hợp danh sách hộ gia đình đăng ký cấp GCNQSDĐ, UBND xã đã công bố công khai các trường hợp được cấp tại trụ sở UBND theo đúng quy định của pháp luật để những người có liên quan nắm được thông tin
và đưa ra ý kiến phản đối (nếu có), trong đó có gia đình ông Phong Đồng thời,
do việc cấp là trên địa bàn toàn xã, nên sau khi có GCNQSDĐ vào năm 2007, UBND xã cũng đã thông báo công khai và yêu cầu các hộ gia đình đến nhận GCNQSDĐ được cấp Như vậy, hoàn toàn có đầy đủ căn cứ để bà Ngợi phải biết được GCNQSDĐ được cấp đứng tên ông Phong
Thứ ba, ông Phong bắt đầu đóng thuế sử dụng đất hằng năm từ năm 2002, theo đó ông Phong có đưa ra lý do là vì bà Ngợi (mẹ ông) đã đồng ý việc để ông đứng tên trên GCNQSDĐ nên UBND xã gọi ông ra đóng thuế (biên bản lời khai của ông Phong - bút lục số 25 và Biên bản bàn giao chứng cứ có kèm theo giấy chứng nhận ông Phong đã nộp thuế từ năm 2002 - bút lục 44); từ đó cho đến nay, hằng năm khoản thuế này vẫn do gia đình ông Phong nộp đầy đủ Như vậy, việc người nộp thuế sử dụng đất hằng năm thay đổi từ bà Ngợi sang ông Phong thay đổi vào năm 2002 có thể khẳng định rằng tại thời điểm 2002 bà Ngợi đã có
ý chí đồng ý để ông Phong đứng tên GCNQSDĐ được cấp sau đó và được UBND xã tiếp nhận Trong suốt khoảng thời gian từ 2002 đến nay bà không hề
có ý kiến gì về việc gia đình ông Phong đều đặn nộp thuế sử dụng đất hằng năm, hay nói cách khác là ý kiến gì về ý chí mình đã thể hiện tại thời điểm làm thủ tục cấp GCNQSDĐ là cho ông Phong đứng tên trên GCNQSDĐ đó
Từ những căn cứ nêu trên, tôi xin khẳng định rằng, UBND xã đã thực hiện
và đồng thời có đầy đủ căn cứ xác đáng để chứng minh rằng bà Ngợi phải biết được việc GCNQSDĐ được cấp vào năm 2007 đứng tên ông Phong, tính đến thời điểm bà Ngợi gửi đơn khởi kiện là 9 năm (2016) Bên cạnh đó, từ khi cấp GCNQSDĐ đến trước năm 2016 bà cũng không có bất kỳ khiếu nại nào liên quan đến việc cấp GCNQSDĐ này (Bút lục 43)
Vì vậy, căn cứ theo điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm
Trang 102015, vụ án này đã hết thời hiệu khởi kiện Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, kính đề nghị HĐXX ra quyết định đình chỉ
vụ án
II Kiến nghị
Cuối cùng, tôi tin với sự công minh, sáng suốt của mình, HĐXX sẽ ban hành một bản án hợp tình, hợp lý, phù hợp với quy định của pháp luật
Tôi xin chân thành cảm ơn!
VĂN PHÒNG LUẬT A&F
LUẬT SƯ
(Đã ký)
Trang 11NHẬN XÉT DIỄN ÁN