Cây cà phê đã tạo ra nguồn lợi hết sức to lớn về kinh tế cho nhân dân Sơn La, giúp nhân dân thoát nghèo và vươn lên làm giàu. Tuy nhiên, việc sơ chế cà phê hiện nay đang ảnh hưởng xấu đến môi trường. Hình thức sơ chế tại các hộ gia đình chủ yếu là phương pháp ướt với quy trình gồm 5 công đoạn: (i) rửa thô, (ii) xát vỏ, (iii) ngâm và rửa lớp nhớt, (iv) để ráo và phơi khô, (v) đóng bao.
Trang 1ẢNH HƯỞNG MÔI TRƯỜNG TỪ VIỆC SƠ CHẾ CÀ PHÊ
Nguy ễn Thùy Trang
Khoa Nông Lâm - Trường Đại học Tây Bắc Email: nguyenthuytrang@utb.edu.vn
Tóm tắt: Cây cà phê đã tạo ra nguồn lợi hết sức to lớn về kinh tế cho nhân dân Sơn La, giúp nhân dân thoát nghèo
và vươn lên làm giàu Tuy nhiên, việc sơ chế cà phê hiện nay đang ảnh hưởng xấu đến môi trường Hình thức sơ chế tại các hộ gia đình chủ yếu là phương pháp ướt với quy trình gồm 5 công đoạn: (i) rửa thô, (ii) xát vỏ, (iii) ngâm và rửa lớp
nh ớt, (iv) để ráo và phơi khô, (v) đóng bao Trong các công đoạn trên, công đoạn ngâm và rửa lớp nhớt tạo ra lượng nước thải lớn nhất Đặc tính của nước thải sơ chế cà phê là có pH thấp, nồng độ BOD 5 , COD cao, TSS lớn và có màu nâu đen, gây mùi khó chịu Các hộ gia đình chưa có biện pháp xử lý triệt để nước thải sơ chế cà phê dẫn tới các tác động như: gây mùi hôi thối, ô nhiễm nước, ảnh hưởng đến cây trồng,… Vì vậy, cần áp dụng đồng thời các giải pháp
khác nhau để khắc phục tình trạng trên
Từ khóa: Nước thải, sơ chế cà phê, ảnh hưởng môi trường, hộ gia đình
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, cây cà phê được trồng phổ biến ở tỉnh Sơn La, toàn tỉnh có khoảng 17.202 ha cà phê, sản lượng 23.506 tấn/năm Riêng tại thành phố Sơn La, diện tích trồng cà phê năm 2019 là 59,72 ha, tổng sản lượng
là 96,703 tấn/năm [1] Trong địa bàn tỉnh Sơn La có rất nhiều xã được coi là vùng trọng điểm cà phê như: xã Chiềng Ban, xã Chiềng Mung (Mai Sơn), xã Hua La, xã Chiềng Đen (TP Sơn La), xã Chiềng Pha, xã Tông Cọ (huyện Thuận Châu), Nhờ cây cà phê mà nhiều hộ gia đình trở nên giàu có, thu lãi hàng năm từ cà phê lên đến hàng trăm triệu đồng Có thể nói, với khả năng mang lại thu nhập cao gấp nhiều lần so với các loại cây trồng khác, cây cà phê
đã tạo ra nguồn lợi hết sức to lớn về kinh tế cho nhân dân Sơn La, giúp nhân dân thoát nghèo và vươn lên làm giàu Tuy nhiên, việc sơ chế cà phê hiện nay đang ảnh hưởng xấu đến môi trường Nước thải sơ chế cà phê thường
có màu nâu đen và nặng mùi Nước thải từ nhiều cơ sở và các hộ gia đình sơ chế cà phê đã xả thải ra suối, làm ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn nước cấp, Vào mùa cà phê, cả vùng sơ chế có mùi khó chịu, nước mặt tại khu vực có màu đen, bốc mùi và không thể sử dụng trong sinh hoạt Nếu cứ để tình trạng trên xảy ra, không chỉ nước mặt, mà nguồn nước ngầm cũng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, môi trường bị ô nhiễm, sức khỏe của người dân giảm sút, năng suất cây trồng bị ảnh hưởng,… Việc đánh giá những tác động môi trường từ hoạt động sơ chế cà phê của các
hộ gia đình là rất cần thiết để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm giảm thiểu tác động
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp kế thừa số liệu
Kế thừa các số liệu, dữ liệu, thông tin có sẵn liên quan đến nội dung của đề tài nghiên cứu như: các kết quả nghiên cứu đề tài/dự án đã được thực hiện trong và ngoài nước, sách chuyên khảo, các tài liệu khoa học liên quan đến đặc điểm của quả cà phê, sơ chế cà phê, những tác động từ nước thải cà phê trong và ngoài nước
2.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn
Tiến hành phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu phỏng vấn 100 hộ trồng và sơ chế cà phê của 3 xã Chiềng Cọ, Chiềng Đen, Hua La trong thành phố Sơn La
Nội dung phiếu phỏng vấn được tập trung về các hình thức và quy trình sơ chế cà phê hiện nay tại địa phương, các phương thức người dân xử lý nước thải sau sơ chế và những tác động môi trường hiện nay do nước thải cà phê gây nên
2.3 Phương pháp khảo sát điều tra thực địa
Việc điều tra, khảo sát khu vực nghiên cứu sẽ là cơ sở quan trọng để đánh giá ban đầu mức độ ảnh hưởng của quá trình sơ chế cà phê tới môi trường Quá trình điều tra được thực hiện bằng sự quan sát mô tả định tính Mục đích của điều tra, khảo sát này nhằm thu thập, bổ sung thông tin, và kiểm tra lại những thông tin đã thu thập được
Trang 2Quá trình điều tra và khảo sát ngoài hiện trường nhằm tìm hiểu quy trình sơ chế và nguồn thải trong quá trình
sơ chế cà phê, từ đó xác định được thời gian và vị trí lấy mẫu nghiên cứu
2.4 Phương pháp lấy mẫu và phân tích
Lấy mẫu nước thải: Nước thải sử dụng trong nghiên cứu là nước thải sau khi sơ chế cà phê, được lấy trực
tiếp tại nơi sơ chế của các hộ gia đình sơ chế cà phê tại thành phố Sơn La Nước thải được lấy ngay khi bắt đầu
xả thải sau sơ chế, lấy trong thời gian sơ chế nhiều nhất trong năm Thể tích nước cần để tiến hành thí nghiệm khoảng 40 lít
Phân tích mẫu: Sau khi nước thải cà phê được đưa về phòng thí nghiệm sẽ được phân tích một số chỉ tiêu
nhằm nhận định đặc tính của nước thải cà phê Các chỉ tiêu được chọn gồm có: pH, BOD5, COD, TSS Phương pháp phân tích các chỉ tiêu như sau:
Chỉ tiêu pH được xác định bằng máy đo pH cầm tay AD 110 (do Rumani sản xuất, có thang đo pH là -2 - 16,
độ phân giải 0,01, độ chính xác ± 0,02)
Chỉ tiêu COD được xác định bằng máy đo HI83099: Thiết bị đo COD và máy quang để bàn đa chỉ tiêu (do Rumani sản xuất, với thang đo từ 0 - 15.000 mg/L, độ phân giải 10 mg/L, độ chính xác ± 3 % kết quả)
Chỉ tiêu BOD5 được xác định bằng phương pháp pha loãng mẫu theo TCVN 6001-1:2008 (ISO 5815-1:2003)
Chỉ tiêu TSS được xác định bằng cách lọc qua cái lọc sợi thủy tinh theo TCVN 6625:2000 (ISO 11923:1997)
3 K ẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Hi ện trạng sơ chế cà phê của các hộ gia đình tại thành phố Sơn La
3.1.1 Quy trình sơ chế cà phê
Quả cà phê sau thu hoạch có thể được người dân chở bán cho doanh nghiệp sơ chế hoặc bán cho người thu mua, một số hộ gia đình có điều kiện tự mua máy để sơ chế Hình thức sơ chế tại các hộ gia đình chủ yếu là phương pháp ướt, do phương pháp này không phải đầu tư nhiều, người dân tận dụng được một số điều kiện thiên nhiên cho quá trình sơ chế
Trong 100 hộ được phỏng vấn, có 68 hộ vừa trồng vừa có sơ chế cà phê còn 32 hộ còn lại chỉ trồng cà phê Qua khảo sát cho thấy quy trình sơ chế cà phê tại các hộ gia đình ở thành phố Sơn La như sau:
Hình 1 Quy trình sơ chế cà phê quy mô hộ gia đình
Quả cà phê sau khi được thu hái hoặc thu mua được tập trung lại và tiến hành rửa thô để loại bỏ đất đá, bụi bẩn, cành cây nhỏ, quả chưa chín và quả khô Quả cà phê chín được cho vào các thùng bằng nhựa có dòng nước chảy qua liên tục để rửa sạch rồi để ráo nước Tiếp đó, cà phê sẽ được chuyển vào máy xát để xát vỏ, loại bỏ vỏ quả, thịt quả và một phần lớp nhớt Công đoạn này chủ yếu làm cho vỏ quả, thịt quả kèm theo chất nhớt và hạt cà phê được tách ra khỏi hạt Vỏ cà phê sau công đoạn này thường được đổ ra ngoài môi trường và để tự phân hủy, một số hộ ủ làm phân Sau khi xát vỏ xong, lớp nhớt và một phần thịt quả vẫn dính vào hạt làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng của cà phê nên phải ngâm nước cho lên men tự nhiên để tách hết phần thịt quả và lớp nhớt ra khỏi hạt Người dân tự xây bể để ngâm, dung tích tùy thuộc vào khả năng sơ chế của từng hộ
Đối với hầu hết các loại cà phê quá trình loại bỏ lớp nhớt tốn từ 24 - 36 giờ, tùy thuộc vào độ dày, nhiệt độ của lớp nhớt Sau quá trình lên men, chất nhớt bám quanh hạt cà phê bị mất kết cấu nhớt và dễ dàng được nước tẩy sạch bởi, đó chính là công đoạn rửa sạch Hạt cà phê được rửa sạch bằng nước sạch, có độ ẩm khoảng 57 -
60 % và được chuyển đến công đoạn để ráo và phơi khô Quá trình làm khô là phơi hạt cà phê trên các sân phơi trong trời nắng ráo hoặc là dùng máy sấy Nếu phơi nắng, phải mất từ 8 - 10 ngày tùy thuộc vào nhiệt độ và độ
ẩm môi trường xung quanh Cà phê được sấy bởi máy sấy khô nhanh hơn, tuy nhiên, quá trình này phải được kiểm soát cẩn thận để đạt được yêu cầu và kinh tế mà không có bất kỳ thiệt hại nào đối với chất lượng cà phê Quá trình làm khô kết thúc khi mức độ ẩm cà phê giảm còn là 12,5 % Sau khi khô, cà phê thóc sẽ được đóng bao và đem bán cho các doanh nghiệp
Đóng bao
Để ráo và phơi khô
Ngâm và rửa lớp nhớt
Xát
vỏ Rửa thô
Cà phê
thu hái
Trang 33.1.2 Nguồn nước sử dụng cho sơ chế cà phê
Từ quy trình sơ chế ta thấy rằng, nhu cầu sử dụng nước rất lớn, nhất là tại bước rửa thô và ngâm, rửa lớp nhớt Lượng nước mỗi hộ gia đình sử dụng là khác nhau tùy thuộc vào nguồn nước cung cấp, dung tích bể chứa và lượng sơ chế
Bảng 1 Nguồn nước sử dụng cho sơ chế cà phê
(Nguồn: Tác giả thống kê từ phiếu điều tra)
Nguồn nước người dân sử dụng cho quá trình sơ chế gồm: nước giếng đào, nước mó tự chảy, nước suối, nước máy Trong đó, đa số các hộ là dùng nước mó tự chảy để sơ chế cà phê (chiếm 72,1 % tổng số hộ sơ chế), sau đó
là nước giếng (chiếm 13,2 %) Nguồn nước người dân sử dụng chủ yếu có ưu điểm là nước thiên nhiên, không phải mất chi phí nhiều cho nguồn nước này nhưng nhược điểm là phụ thuộc vào mùa và không kiểm soát được chất lượng nước đầu vào
Do dùng nguồn nước tự chảy là chủ yếu nên rất khó khăn trong việc xác định chính xác lượng sử dụng cho mỗi lần sơ chế, do đó ta dựa vào dung tích bể ngâm để xác định lượng nước sử dụng Theo kết quả khảo sát, nhu cầu nước cho sơ chế cà phê trung bình là 0,56 m3/tấn quả tươi
3.2 Hi ện trạng nước thải sơ chế cà phê
3.2.1 Nguồn phát sinh nước thải sơ chế cà phê
Dựa vào quy trình sơ chế, ta xác định được các nguồn tạo ra nước thải trong quá trình sơ chế cà phê như sau:
- Rửa thô: Đây là giai đoạn loại bỏ chất bẩn khỏi quả cà phê nên nước thải sinh ra có thành phần chủ yếu là
chất rắn lơ lửng, cành cây nhỏ, các thành phần ô nhiễm khác không cao Nước thải trong giai đoạn này không đáng kể
- Xát vỏ: Trong giai đoạn này, nước thải sinh ra ít, nhưng có thành phần rất đậm đặc, có độ đục và lượng cặn
cao Nồng độ ô nhiễm của nước thải cao là do nước thải có chứa xác vỏ cà phê bị xay nát, các hạt cà phê xanh còn sót lại, hạt cà phê bị nát trong quá trình xát Nước thải trong quá trình này có màu nâu vàng, đục, ban đầu có mùi quả cà phê tươi nhưng để lâu, gây mùi khó chịu do có sự phân hủy Ngoài ra, quá trình này còn thải ra lượng vỏ rất lớn
- Ngâm trong nước và rửa lớp nhớt: Đây là giai đoạn phát sinh lượng nước thải lớn nhất của quá trình sơ chế
Nước thải phát sinh từ giai đoạn này có thành phần hữu cơ cao và có độ nhớt Nước thải trong giai đoạn này có màu nâu đen, rất đục do nhiều cặn lơ lửng Vì là nước sau quá trình lên men nên nước thải có mùi hôi thối rất khó chịu Phần lớp nhớt được tách ra khó phân hủy, tạo thành một lớp váng trên bề mặt nước thải
- Bên cạnh đó còn có nước thải vệ sinh: Phát sinh từ công đoạn vệ sinh các thiết bị sơ chế
Như vậy, trong quy trình sơ chế cà phê quy mô hộ gia đình, có 3 công đoạn tạo ra nước thải là rửa thô, xát vỏ, ngâm trong nước và rửa lớp nhớt Trong đó, lượng nước thải lớn nhất trong quá trình sơ chế là từ công đoạn ngâm trong nước và rửa lớp nhớt Nước thải sơ chế cà phê có màu nâu đen, có độ đục cao, hàm lượng cặn lơ lửng nhiều
và có mùi hôi thối khó chịu
3.2.2 Đặc tính của nước thải sơ chế cà phê
Trong quy trình sơ chế ướt cần một lượng nước lớn để thực hiện các công đoạn như rửa, phân loại quả, ngâm nước để lên men, rửa nhớt,… Theo kết quả điều tra 68 hộ, trung bình mỗi hộ gia đình sơ chế khoảng 35,4 tấn cà phê tươi, nhu cầu nước để sơ chế mỗi tấn cà phê là 0,56 m3 Do đó, trong mỗi mùa sơ chế, lượng nước sử dụng là rất nhiều, đồng nghĩa với đó là lượng nước thải ra cũng lớn
Kết quả phân tích mẫu nước thải sơ chế cà phê được trình bày tại Bảng 2
Trang 4Bảng 2 Kết quả phân tích nước thải sơ chế cà phê tại hộ gia đình ở thành phố Sơn La
(Ngu ồn: Tác giả phân tích mẫu nước thải)
Từ Bảng 2 ta thấy, nước thải sơ chế cà phê là có pH thấp, nồng độ BOD5, COD cao, TSS lớn Nước thải sơ chế cà phê có chứa caffein, chất béo, peptic, đường và nhiều phân tử phức tạp khác nhau (chủ yếu là lignins, tannins, axit humic) khó phân hủy [3], [4] Trong quá trình lên men, đường bị phân hủy thành rượu và khí CO2 Sau đó rượu được biến thành axit axetic và làm cho pH của nước thải thấp (chỉ đạt 4,3 - 4,5) Lớp vỏ nhớt thường khó bị phân hủy, tạo thành một lớp váng trên bề mặt và lơ lửng trong nước thải, kết hợp với các phần còn lại của
vỏ quả dẫn đến nước thải có chứa nhiều chất lơ lửng Thành phần chất hữu cơ có trong nước thải nhiều nên chỉ số BOD, COD rất cao (chỉ số BOD5 vượt gấp gần 168 lần và COD vượt gấp 124 lần so với QCVN 40:2011/BTNMT (Cột A)) Trong đó, giá trị của chỉ số COD cao gấp nhiều lần so với BOD5, điều này chứng tỏ, nước thải sơ chế cà phê chứa nhiều chất hữu cơ khó phân hủy, những thành phần này còn làm cho nước thải có màu nâu đen và tạo ra mùi khó chịu
3.2.3 Các hình thức xả thải nước thải sơ chế cà phê
Trong quá trình sơ chế cà phê, người dân có nhiều cách khác nhau để thải nước thải vào môi trường xung quanh Bảng 3 trình bày kết quả thống kê các hình thức xả thải nước thải sơ chế cà phê qua điều tra 68 hộ sơ chế
Bảng 3 Các hình thức xả thải nước thải sơ chế cà phê của các hộ gia đình
(Nguồn: Tác giả thống kê từ phiếu điều tra)
Từ kết quả Bảng 3 cho thấy: Tỷ lệ hộ đào bể để chứa nước thải chiếm 61,8 %, tỷ lệ hộ để nước thải chảy ra cống rãnh chung là 30,8 %, tỷ lệ hộ để nước thải tự chảy tràn trên mặt đất là 2,9 % và tỷ lệ hộ dẫn nước thải vào vườn cây là 4,4 % Như vậy, phần lớn các hộ gia đình đã có biện pháp đào bể để chứa nước thải Thực tế, các bể chứa nước thải đều có dung tích nhỏ, kiến thiết sơ sài, không được xây kiên cố bằng gạch, đá và xi măng mà chỉ là các hố đào có bờ đất nên từ bể chứa nước thải sẽ tự ngấm vào đất, về lâu dài sẽ gây ô nhiễm môi trường đất và ảnh hưởng đến nguồn nước ngầm Khi lượng quả được sơ chế nhiều, những bể này không đủ dung tích để chứa dẫn đến tình trạng nước thải chảy tràn trên mặt đất Ở một số khu vực có nhiều hộ sơ chế tập trung hoặc không có diện tích để đào bể chứa, nước thải được đổ vào cống rãnh chung của khu vực rồi đổ ra suối hoặc kênh mương Do đó,
có 30,8 % số hộ cho nước thải đổ thẳng ra ngoài rãnh thoát nước chung mà không hề qua một biện pháp xử lý nào Thực tế, cống rãnh được đào qua loa, không có sự bê tông hóa, nhiều chỗ còn chưa được hoàn thiện nên gây ra sự
ứ đọng nước thải Còn lại một số hộ không có điều kiện, để nước thải cà phê chảy tràn ra mặt đất hoặc chảy trực tiếp vào vườn cây
3.2.4 Ảnh hưởng của nước thải sơ chế cà phê tới môi trường
Nước thải của quá trình sơ chế cà phê chảy tràn trên mặt đất là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến môi trường xung quanh Ngay chính những hộ dân sống trong khu vực sơ chế cũng thấy rõ được những tác động tiêu cực của nước thải sơ chế cà phê tới môi trường mà họ sinh sống Trong số 100 hộ điều tra, có 91 hộ cho rằng quá trình sơ chế cà phê có ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường chiếm 91 %, còn lại 9 hộ cho rằng quá trình sơ chế cà phê không
Trang 5ảnh hưởng đến môi trường chiếm 9 % Như vậy, có thể thấy rằng đa số các hộ gia đình đã nhận thấy ảnh hưởng của nước thải sau sơ chế đến môi trường
Theo điều tra 100 hộ gia đình ở 3 xã Chiềng Cọ, Chiềng Đen và Hua La, có 61% hộ sơ chế cà phê nhận thấy quá trình sơ chế cà phê gây ra mùi hôi thối, có 20 % hộ nhận thấy quá trình sơ chế cà phê làm nguồn nước bị ô nhiễm, 10 % hộ nhận thấy quá trình sơ chế cà phê làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây trồng khu vực xung quanh nơi sơ chế cà phê và 9 % không biết quá trình sơ chế cà phê có ảnh hưởng gì đến môi trường Như vậy, việc xuất hiện mùi hôi thối là biểu hiện mà hầu hết các hộ gia đình đều nhận thấy Mùi hôi thối này là do sự phân hủy của nước thải và vỏ cà phê
Bảng 4 Nhận thức của người dân về ảnh hưởng của nước thải sơ chế cà phê
(Nguồn: Tác giả thống kê từ phiếu điều tra)
Vào mùa sơ chế, cả một vùng rộng lớn bị bao phủ bởi mùi hôi thối suốt ngày đêm Bản chất nước thải cà phê
có màu nâu đen chứa nhiều chất hữu cơ khó phân hủy nên không thể tái sử dụng được Nguồn tiếp nhận nước thải
cà phê thường là suối hoặc kênh dẫn nước, khi vào mùa sơ chế, suối hay kênh dẫn nước xung quanh khu vực sơ chế chuyển sang một màu nâu đen và bốc mùi khó chịu Vỏ và nhớt của quả cà phê có thành phần độc hại nên làm cây cối không hấp thụ được ngược lại còn có thể làm chết cây
Với lượng nước thải chứa nhiều độc tố được thải ra thường xuyên trong các đợt sơ chế cà phê kéo dài từ tháng
10 năm trước đến tháng 01 năm sau, việc áp dụng biện pháp xử lý nước thải của quá trình sơ chế cà phê là hết sức cần thiết
3.4 Đề xuất một số giải pháp khắc phục những tác động môi trường của hoạt động sơ chế cà phê tại hộ gia đình
3.4.1 Giải pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân
Việc nâng cao nhận thức cho người dân về bảo vệ môi trường sẽ làm cho họ thấy được tầm quan trọng của việc giữ gìn môi trường sạch đẹp từ đó thay đổi thái độ, hành vi là một biện pháp tối ưu, lâu dài Trong quá trình điều tra phỏng vấn, phần lớn các hộ gia đình được phỏng vấn đều thấy rõ được những tác động tiêu cực của nước thải cũng như biết được xử lý nước thải là rất quan trọng, nhưng do điều kiện kinh tế cũng như thiếu kiến thức nên nhiều hộ vẫn đang xả trực tiếp nước thải ra môi trường Do đó, thường xuyên tổ chức công tác tuyên truyền, giáo dục về ý thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường cho những hộ gia đình có sơ chế cà phê để các hộ tự nguyện áp dụng các giải pháp xử lý cũng như tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường
Hình thức tuyên truyền đa dạng như: tổ chức những lớp tập huấn ngắn hạn kết hợp với tham quan các mô hình
xử lý nước thải, đẩy mạnh các hoạt động và đa dạng hóa các hình thức kỷ niệm ngày Môi trường Thế giới 5/6 hàng năm, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về kiến thức môi trường về bảo vệ môi trường,…
3.4.2 Giải pháp chính sách quản lý
Công tác quản lý môi trường cần được lồng ghép và thực hiện liên tục trong suốt thời gian hoạt động của mùa
sơ chế cà phê Các cơ quan quản lý môi trường địa phương cần thường xuyên thực hiện việc thanh tra, kiểm tra, quan trắc và giám sát môi trường; đồng thời xây dựng phương án phòng chống sự cố và tai biến môi trường nhằm đảm bảo không xảy ra tình trạng gây ô nhiễm môi trường Bên cạnh đó, cần xử lý thật nghiêm minh những hộ không tuân thủ quy định, cố tình xả thải nước thải không qua xử lý ra ngoài môi trường
Các cơ quan quản lý cũng cần tổ chức hướng dẫn cho các hộ dân các phương pháp xử lý nước thải cà phê phù hợp Qua khảo sát thực tế thấy rằng có khá nhiều hộ dân biết rõ sự quan trọng của việc xử lý nước thải, tuy nhiên
họ lại không biết nên xử lý như thế nào cho hiệu quả dẫn tới nước thải vẫn không đủ điều kiện cho xả thải Cần có các chính sách hỗ trợ người dân trong việc lựa chọn và lắp đặt các hệ thống xử lý nước thải do chi phí để xây dựng và vận hành một hệ thống xử lý không phải là nhỏ so với điều kiện kinh tế hiện nay của các hộ gia đình
Trang 63.4.3 Giải pháp về công nghệ
Như đã phân tích ở trên, nước thải sơ chế cà phê có đặc tính có pH thấp, nồng độ BOD5, COD cao, TSS lớn và
có màu nâu đen, gây mùi khó chịu, trong đó hàm lượng chất hữu cơ khó phân hủy nhiều do đó phải áp dụng các công nghệ xử lý nước thải trước khi thải ra ngoài môi trường Việc sơ chế cà phê diễn ra tại các hộ gia đình nên tiêu chí lựa chọn công nghệ xử lý phải đảm bảo các ý sau:
- Nước thải sau khi xử lý đạt yêu cầu về Tiêu chuẩn, Quy chuẩn Môi trường Việt Nam hiện hành
- Công nghệ xử lý dễ vận hành, dễ chuyển giao, phù hợp với trình độ người dân
- Vốn đầu tư và chi phí vận hành thấp, phù hợp với điều kiện sản xuất tại các hộ gia đình
- Ưu tiên lựa chọn các công nghệ có khả năng tận thu, tái sử dụng chất thải
Hiện nay, công nghệ xử lý nước thải sơ chế cà phê chủ yếu được xây dựng để áp dụng cho quy mô xưởng lớn, còn quy mô nhỏ như hộ gia đình, vẫn chưa thực sự có công nghệ phù hợp với địa phương Vì vậy, đây là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu trong thời gian tới
4 K ẾT LUẬN
Việc sơ chế cà phê đem lại lợi ích kinh tế cho người dân nhưng lại gây ra nhiều vấn đề môi trường Hình thức
sơ chế cà phê chủ yếu là phương pháp ướt, phương pháp này dễ áp dụng, không phải đầu tư nhiều, nhưng lại tạo
ra nước thải lớn
Nước thải sau sơ chế cà phê có đặc tính pH thấp, nồng độ BOD5, COD cao, TSS lớn và có màu nâu đen, gây mùi khó chịu Phần lớn người dân chỉ lưu trữ nước thải một cách thô sơ và chưa áp dụng các biện pháp xử lý nước thải triệt để nên gây nên nhiều tác động xấu đến môi trường và con người trong mùa sơ chế cà phê Để khắc phục vấn đề này, cần áp dụng đồng thời các giải pháp khác nhau như giải pháp tuyên truyền, thay đổi nhận thức, giải pháp chính sách và giải pháp công nghệ
TÀI LI ỆU THAM KHẢO
[1] Cục Thống kê tỉnh Sơn La (2019), Niên giám thống kê tỉnh Sơn La 2018, Nhà xuất bản Thống kê
[2] GS.TS Nguyễn Thị Hiền, ThS Nguyễn Văn Tặng (2010), Công nghệ sản xuất chè, cà phê và ca cao Nhà
xuất bản Lao động Hà Nội
[3] Masahiro Tokumura et al., (2006), UV light assisted decolorization of dark brown colored coffee effluent by
photo-Fenton reaction, Water Research, 40, (20) 3775-3784
[4] Zayas et al., (2007), Chemical oxygen demand reduction in coffee wastewater throungh chemical
flocculation and advanced oxidation processes, Journal ofEnvironmental Sciences, 19, (3) 300-305
ENVIRONMENTAL EFFECTS FROM COFFEE PROCESSING BY HOUSEHOLDS
IN SON LA CITY AND SOLUTIONS
Nguyen Thuy Trang
Faculty of Agriculture and Forestry – Tay Bac University
Email: nguyenthuytrang@utb.edu.vn
Abstract: The coffee tree has created a tremendous economic benefit for the people of Son La, helping people escape
from poverty and get rich However, the current preliminary processing of coffee is adversely affecting the environment The primary method of preliminary processing in households is the wet method with a 5-stage process: rough washing, peeling, soaking and washing the viscous layer, drying and bagging The above stages, the process of soaking and washing the viscous layer creates the largest amount of wastewater The characteristics of coffee preliminary processing wastewater are low in pH, high in BOD 5 , COD, TSS concentration and dark brown in color, causing unpleasant odors Households have not had measures to thoroughly treat coffee preliminary processing wastewater, leading to negative impacts such as: causing stench, water pollution, affecting crops, Therefore, it is necessary to simultaneously apply different solutions to solve the above situation
Keywords: Wastewater coffee preliminary processing, environmental effects, household