1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bình luận án DS hợp đồng vô hiệu_Và án hợp đồng vay tài sản

12 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 92,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: a Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; b Chủ thể tham gi

Trang 1

BÌNH LUẬN ÁN VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU

6.3 Căn cứ pháp lý để nghiên cứu và giải quyết 5 6.4 Quan điểm, ý kiến của tác giả bài nghiên cứu 8 6.5 Tài liệu được tham khảo và sử dụng trong bài nghiên cứu 11

BÀI NGHIÊN CỨU

1 Trình bày tóm tắt nội dung vụ án

Nguyên đơn: ông Kim Chang J – bên thuê nhà (gọi tắt là ông Kim)

Bị đơn: ông Hoàng Ngọc B ( gọi tắt là ông B); bà Dương Thị H (gọi tắt là bà H) – bên cho thuê nhà

- Ông Kim thuê ngôi nhà 5 tầng của ông B và bà H giá 50.000.000 đồng/tháng với thời hạn thuê là 4 năm, đã đặt cọc 50.000.000 đồng Sau đó, ông Kim tiếp tục thanh toán 600.000.000 đồng tiền thuê nhà

- Ngày 28-4-2017, hai bên kí hợp đồng thuê nhà nhưng không được công chứng chứng nhận vì bên cho thuê không được công nhận quyền sở hữu nhà

ở trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

- Hợp đồng ngày 28-4 bên cho thuê chỉ ghi ông Kim thuê tầng 1 ngôi nhà với giá 20.000.000 đồng là trái với thỏa thuận Tuy nhiên ông Kim đã đầu tư 8 tỷ đồng để chuẩn bị cho hoạt động kinh doanh

- Sau đó đã có giấy tờ nhà đất hợp pháp nhưng ông Kim không hợp tác để ký hợp đồng mà lại khởi kiện ra Tòa án

Trang 2

- Ngày 6-12-2017, ông Kim đã kí hợp đồng thuê nhà mới với ông B và bà H với thỏa thuận là ông Kim sẽ rút đơn khởi kiện Nhưng ông Kim chưa thực hiện nghĩa vụ

2 Xác định vấn đề pháp lý cần nghiên cứu

Việc ông Kim khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hủy hợp đồng thuê nhà ngày

28-4-2017 và buộc bên cho thuê kí hợp đồng thuê nhà mới với mình theo đúng thỏa thuận là đúng hay sai? Căn cứ pháp lý để chứng minh

3 Xác định căn cứ pháp lý để nghiên cứu và giải quyết

 Điều 117 BLDS 2015: Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội

2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân

sự trong trường hợp luật có quy định

 Điểm a khoản 1 điều 118 Luật Nhà ở 2014: Điều kiện của nhà ở tham gia giao dịch

1 Giao dịch về mua bán, cho thuê mua, tặng cho, đổi, thế chấp, góp vốn bằng nhà ở thì nhà ở phải có đủ điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này;

2 Giao dịch về nhà ở sau đây thì nhà ở không bắt buộc phải có Giấy chứng nhận:

a) Mua bán, thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai;

b) Tổ chức thực hiện tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương;

c) Mua bán, thuê mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; mua bán, thuê mua nhà

ở xã hội, nhà ở để phục vụ tái định cư không thuộc sở hữu nhà nước; bán nhà

ở quy định tại khoản 4 Điều 62 của Luật này;

Trang 3

d) Cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở;

đ) Nhận thừa kế nhà ở;

e) Chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại được xây dựng trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở bao gồm cả trường hợp đã nhận bàn giao nhà ở từ chủ đầu tư nhưng chưa nộp hồ sơ đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đối với nhà ở đó

Các giấy tờ chứng minh điều kiện nhà ở tham gia giao dịch quy định tại khoản này thực hiện theo quy định của Chính phủ

 Khoản 1, 2 điều 119 Luật Nhà ở 2014: Điều kiện của các bên tham gia giao dịch về nhà ở

1 Bên bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại, tặng cho, đổi, để thừa kế, thế chấp, góp vốn, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở phải có điều kiện sau đây:

a) Là chủ sở hữu nhà ở hoặc người được chủ sở hữu cho phép, ủy quyền để thực hiện giao dịch về nhà ở theo quy định của Luật này và pháp luật về dân sự; trường hợp chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải

là người đã mua nhà ở của chủ đầu tư hoặc người đã nhận chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở;

b) Nếu là cá nhân thì phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự để thực hiện giao dịch về nhà ở theo quy định của pháp luật dân sự; nếu là tổ chức thì phải

có tư cách pháp nhân, trừ trường hợp tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương

2 Bên mua, thuê, thuê mua nhà ở, bên nhận chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại, nhận đổi, nhận tặng cho, nhận thừa kế, nhận góp vốn, nhận thế chấp, mượn, ở nhờ, được ủy quyền quản lý nhà ở là cá nhân thì phải

có điều kiện sau đây:

a) Nếu là cá nhân trong nước thì phải có đủ năng lực hành vi dân sự để thực hiện các giao dịch về nhà ở theo quy định của pháp luật dân sự và không bắt buộc phải có đăng ký thường trú tại nơi có nhà ở được giao dịch;

b) Nếu là cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì phải

có đủ năng lực hành vi dân sự để thực hiện giao dịch về nhà ở theo quy định

Trang 4

của pháp luật Việt Nam, phải thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của Luật này và không bắt buộc phải có đăng ký tạm trú hoặc đăng ký thường trú tại nơi có nhà ở được giao dịch

 Khoản 2 điều 122 Luật Nhà ở 2014: Công chứng, chứng thực hợp đồng và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng về nhà ở

2 Đối với trường hợp tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương; mua bán, cho thuê mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; mua bán, cho thuê mua nhà

ở xã hội, nhà ở phục vụ tái định cư; góp vốn bằng nhà ở mà có một bên là tổ chức; cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở thì không bắt buộc phải công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp các bên có nhu cầu

Đối với các giao dịch quy định tại khoản này thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là do các bên thỏa thuận; trường hợp các bên không có thỏa thuận thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm ký kết hợp đồng

4 Trình bày quan điểm, ý kiến của tác giả bài nghiên cứu

Thuật ngữ “hợp đồng” là một khái niệm có nguồn gốc lâu đời, là một chế định quan trọng của pháp luật dân sự Khi các cá nhân, tổ chức thiết lập các mối quan hệ

xã hội để đáp ứng nhu cầu, lợi ích vật chất của mình thì họ kí kết hợp đồng dân sự Theo điều 385 BLDS 2015 quy định “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Tuy nhiên, không phải sự thỏa thuận nào cũng là hợp đồng và không phải hợp đồng nào được giao kết cũng sẽ có hiệu lực Bản án được tóm tắt ở trên là một minh họa cụ thể về sự vô hiệu của hợp đồng Phần bình luận gồm có các phần như sau để làm rõ vấn đề pháp

lí đã đặt ra để nghiên cứu

a Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

Ngày 28/4/2017, ông Kim và bên cho thuê đã kí hợp đồng thuê nhà nguyên căn 5 tầng với giá 50.000.000 đồng/tháng với thời hạn là 4 năm mặc dù chưa được công chứng xác nhận chứng thực do bên cho thuê chưa có đầy đủ giấy tờ hợp pháp theo quy định của pháp luật Mặc khác, ông Kim cho rằng bên cho thuê đã lợi dụng sự hạn chế về ngôn ngữ của mình mà thiết lập nội dung hợp đồng không đúng với thỏa thuận, cụ thể là: bên cho thuê cho ông Kim thuê tầng 1 của ngôi nhà với giá

Trang 5

20.000.000 đồng/tháng Vì những lí do trên, ông Kim đã khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hủy hợp đồng đã kí vào ngày 28/4/2017 và buộc bên cho thuê phải kí hợp đồng mới theo đúng như thỏa thuận giữa 2 bên Từ các tình tiết của vụ án, có thể xác định quan hệ pháp luật đang tranh chấp trong vụ án là tranh chấp hợp đồng thuê nhà, cụ thể hơn là hợp đồng vô hiệu Trong BLDS 2005, nhà làm Luật có quy định

cụ thể về hợp đồng thuê nhà từ hình thức của hợp đồng thuê nhà cho đến quyền và nghĩa vụ của các bên,… khi hợp đồng có hiệu lực Tuy nhiên, thời điểm phát sinh mâu thuẫn của cả 2 bên là khi BLDS 2005 đã hết hiệu lực Do đó chúng ta sử dụng các quy định của BLDS 2015 và Luật Nhà ở 2014 để giải quyết vụ án

b Về tính hợp pháp của hợp đồng

Hợp đồng là một giao dịch dân sự làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Theo đó, chỉ khi hợp đồng có hiệu lực thì các bên mới phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận để đáp ứng nhu cầu và mục đích

đã đặt ra Ông Kim yêu cầu Tòa án tuyên bố hủy hợp đồng mà mình đã kí với bên cho thuê nhà vì ông nghĩ rằng hợp đồng đó đã có hiệu lực nhưng nội dung lại không đúng với thỏa thuận Để xét về tính có hiệu lực của hợp đồng thì hợp đồng phải thỏa mãn đầy đủ các yếu tố sau theo quy định của pháp luật

 Chủ thể: Khi giao kết hợp đồng các chủ thể phải có năng lực pháp luật dân

sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp, phải tham gia giao dịch dân hoàn toàn

tự nguyện theo điểm a,b khoản 1 điều 117 BLDS 2015 Khi người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà kí kết hợp đồng thì hợp đồng vô hiệu trừ trường hợp Luật định theo điều 125 BLDS 2015 Theo đó, ông Kim và bên cho thuê nhà là ông B và bà H đều là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đều tự nguyện tham gia giao kết hợp đồng mà không có sự ép buộc từ bên ngoài khách quan Tuy nhiên, vì đây là hợp đồng thuê nhà nên chủ thể phải thỏa mãn điều 119 Luật Nhà ở

2014 “Điều kiện của các bên tham gia giao dịch về nhà ở”, cụ thể như sau:

- Bên cho thuê nhà: ông B và bà H thỏa mãn điều kiện là chủ sở hữu ngôi nhà

Trang 6

- Bên thuê nhà: ông Kim là cá nhân người nước ngoài thỏa mãn điều kiện có đủ năng lực hành vi dân sự để thực hiện giao dịch dân sự về nhà ở, thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam, không bắt buộc đăng kí tạm trú hoặc đăng kí thường trú tại noi có nhà ở được giao dịch

 Nội dung và mục đích: Hợp đồng dân sự thể hiện ý chí của các bên chủ thể,

họ được tự do giao kết hợp đồng để thỏa mãn nhu cầu của mình mà không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các cá nhân, tổ chức khác Nghĩa là nội dung và mục đích của hợp đồng không được vi phạm những điều mà pháp luật cấm cũng như trái đạo đức xã hội được quy định tại điểm c khoản 1 điều

117 BLDS 2015 Theo đó, ông Kim xác lập hợp đồng thuê nhà với bên cho thuê nhằm mục đích kinh doanh nhà hàng, khách sạn Mặc dù hợp đồng chưa được công chứng chứng nhận nhưng ông Kim đã đầu tư hơn 8 tỷ đồng để mua sắm, lắp đặt trang thiết bị để phục vụ cho nhu cầu kinh doanh nhà hàng, khách sạn của mình Tuy nhiên ông Kim có cho rằng bên cho thuê lợi dụng

sự hạn chế về ngôn ngữ của mình nên đã ghi nội dung hợp đồng là chỉ cho thuê tầng 1 của ngôi nhà với giá 20.000.000 đồng/tháng, nhưng ông Kim không có bằng chứng chứng minh điều này

 Hình thức: hợp đồng thuê nhà giữa ông Kim và bên cho thuê được kí vào ngày 28/4/2017 khi BLDS 2015 và Luật Nhà ở 2014 đã có hiệu lực Theo khoản 2 điều 117 BLDS 2015 quy định “hình thức là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định” Cụ thể như sau: hợp đồng giữa ông Kim và bên cho thuê thuộc trường hợp “cho thuê nhà ở” nên không bắt buộc phải công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp các bên có yêu cầu theo khoản 2 điều 122 Luật Nhà ở 2014 Vậy, nếu như cả 2 bên đều không có nhu cầu công chứng hợp đồng thì ông Kim sẽ không biết được rằng ngôi nhà mình muốn thuê chưa được công nhận có quyền sở hữu nhà ở trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tuy nhiên, do phát sinh nhu cầu công chứng nên hợp đồng thuê nhà giữa 2 bên chưa có hiệu lực do vi phạm về điều kiện của nhà ở khi tham gia giao dịch vì nhà ở không có giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật theo điểm a khoản 1 điều 118 Luật Nhà ở 2014 Do đó, hợp đồng được kí vào ngày 28/4/2017 không có hiệu lực

Trang 7

vì nhà ở không đủ điều kiện để tham gia giao dịch theo quy định của pháp luật

c Về giải quyết yêu cầu của nguyên đơn

Có thể thấy rằng, dù hợp đồng được kí vào ngày 28/4/2017 giữa ông Kim và bên cho thuê không có hiệu lực do nhà ở không đủ điều kiện tham gia giao dịch là lỗi của bên cho thuê nhà Tuy nhiên, ông B và bà H đã khắc phục, hoàn tất đầy đủ giấy

tờ về nhà đất theo quy định của pháp luật nhằm kí kết hợp đồng thuê nhà mới hoàn chỉnh và hợp pháp về mặt pháp luật với ông Kim Vào ngày 6/12/2017, cả 2 bên đã

kí kết hợp đồng thuê nhà mới tại văn phòng công chứng dù trước đó ông Kim có không hợp tác Theo thỏa thuận giữa 2 bên, khi hợp đồng thuê nhà mới được xác lập và có hiệu lực thì ông Kim sẽ rút đơn khởi kiện tại Tòa án Do đó, việc ông Kim kiện ông B và bà H là không đủ căn cứ vì thực chất hợp đồng đã kí giữa cả 2 bên không có hiệu lực nên không cần tuyên bố vô hiệu và cả 2 bên đã kí hợp đồng mới

có hiệu lực nên ông Kim yêu cầu kí hợp đồng mới là vô lí Vì vậy, Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc hủy hợp đồng thuê nhà đã kí vào ngày 28/4/2017 và yêu cầu kí lại hợp đồng mới giữa ông Kim và bên cho thuê là hoàn toàn phù hợp với những quy định của pháp luật

5 Nêu rõ những tài liệu tham kháo được sử dụng trong bài nghiên cứu

- Link bản án: https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta111531t1cvn/chi-tiet-ban-an

- Bộ Luật Dân Sự 2015

- Trường Đại học Luật Hà Nội (2018) Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập II,

NXB Công an Nhân dân, Hà Nội

- http://luatnhadat.net/tranh-chap-nha-dat/Vu-viec-nha-dat/Tranh-chap-hop-dong-thue-nha-ban-an-25/

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Bài nghiên cứu này được hoàn thành vào ngày 15 /10/2018

BÀI NGHIÊN CỨU

Trang 8

I Nội dung vụ án:

Nguyên đơn: Ông Lê Tùng C, sinh năm 1964

Bị đơn: Anh Trương Thành H, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Chị Phạm Thị Diễm T, sinh năm 1977 (vắng mặt)

Theo đơn kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Tùng

C trình bày:

Anh Trương Thành H và vợ là chị Phạm Thị Diễm T có 2 lần đến mượn ông

Lê Tùng C tổng số tiền là 10 triệu đồng (8 triệu đồng vào ngày 06/01/2017

và 2 triệu đồng vào ngày 13/01/2017).Vợ chồng anh H và chị T có làm giấy mượn nợ và hứa 1 tháng sẽ trả số tiền là 10 triệu đồng cho ông C Nhưng đến nay anh H và chị T vẫn lẩn trốn không chịu trả nợ Mặc cho ông C đã nhiều lần đến nhà anh H và chị T, nhưng anh chị vẫn lẩn trốn không gặp ông C để giải quyết Nên ông C đã khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết Ngoài ra không còn yêu cầu nào khác

Link bản án: https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta156587t1cvn/chi-tiet-ban-an

II Quyết định của tòa án:

Tòa án tuyên xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tùng C, buộc anh Trương Thành H và vợ là chị Phạm Thị Diễm T có trách nhiệm trả cho ông Lê Tùng C số tiền nợ gốc là 10.000.000 (mười triệu đồng)

III Vấn đề pháp lý cần nghiên cứu:

- Hợp đồng vay tài sản giữa ông Lê Tùng C và vợ chồng anh Trương Thành H, chị Phạm Thị Diễm T

- Quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng vay tài sản giữa ông C và anh H, chị T

- Căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa ông C và anh H, chị T

IV Căn cứ pháp lý:

- Điều 463 BLDS 2015 quy định cụ thể về hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định

- Khoản 1 Điều 275 BLDS 2015 Căn cứ phát sinh nghĩa vụ là hợp đồng.

Trang 9

- Theo quy định tại Điều 401 Bộ luật dân sự năm 2015 về Hiệu lực của hợp đồng như sau:

“1 Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác

2 Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa

vụ đối với nhau theo cam kết Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật.”

- Điều 464 BLDS 2015 Quyền sở hữu đối với tài sản vay

Bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó

- Khoản 1 Điều 465 BLDS 2015 Nghĩa vụ của bên cho vay

1 Giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng chất lượng, số lượng vào thời điểm

và địa điểm đã thoả thuận

2 Bồi thường thiệt hại cho bên vay, nếu bên cho vay biết tài sản không bảo đảm chất lượng mà không báo cho bên vay biết, trừ trường hợp bên vay biết

mà vẫn nhận tài sản đó

3 Không được yêu cầu bên vay trả lại tài sản trước thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Điều 470 của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan quy định khác

- Khoản 1, Khoản 4 Điều 466 BLDS 2015 Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1 Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác

2 Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng

ý

3 Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác

4 Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc luật có quy định khác

Trang 10

5 Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác

V Quan điểm cá nhân:

Theo quan điểm cá nhân, tôi đồng ý với quyết định của tòa án Và để làm rõ cho quan điểm của tôi, tôi sẽ đi làm rõ những vấn đề sau: Hợp đồng vay tài sản là gì ? Khi một hợp đồng được thiết lập thì quyền và nghĩa vụ giữa các bên như thế nào? Căn cứ nào làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đó?

1 Hợp đồng vay tài sản:

Ngày nay, để giải quyết những khó khăn kinh tế tạm thời , cần vốn để sản xuất, kinh doanh, thì chúng ta phải vay tiền, vàng của người khác; thì hợp đồng vay tài sản là phương tiện pháp lý để thỏa mãn nhu cầu đó

Căn cứ Điều 463 BLDS 2015 , khái niệm về hợp đồng Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định Trong vụ án trên, hợp đồng giữa ông C và vợ chồng anh H chị T là hợp đồng vay tài sản với hình thức bằng văn bản (tờ giấy mượn nợ) do hai bên tự lập

2 Căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong hợp đồng:

Căn cứ khoản 1 Điều 275 BLDS 2015 căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ, khi một hợp đồng được thiết lập giữa các chủ thể nó sẽ làm phát sinh nghĩa vụ giữa các bên tham gia hợp đồng đó Đồng thời kết hợp theo căn cứ Điều 401 BLDS 2015 về hiệu lực của hợp đồng thì hợp đồng vay tài sản giữa ông C và

vợ chồng anh H, chị T có hiệu lực tời thời điểm giao kết Khi vợ chồng anh

H, chị T đến mượn tiền ông C và được ông C chấp nhận, thêm vào đó là cả

ba người đã làm giấy nợ với nhau Bởi vậy, hợp đồng vay tài sản trên là có hiệu lực Mà theo Khoản 2 Điều 401 BLDS 2015, từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam

Ngày đăng: 29/10/2021, 08:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w