Bài thu hoạch diễn án hồ sơ hành chính số 105 thuộc môn Kỹ năng cơ bản của luật sư khi tham gia giải quyết các vụ, việc hành chính. Người khởi kiện: Bà Tào Thị Mão và chị em Người bị kiện: (1) Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa (2) Chủ tịch UBND thành phố Thanh Hóa (3) UBND huyện Hoằng Hóa Luận cứ bảo vệ người khởi kiện: bà Tào Thị Mão
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
MÔN: KỸ NĂNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SƯ KHI THAM GIA GIẢI
QUYẾT CÁC VỤ, VIỆC HÀNH CHÍNH
HỒ SƠ VỤ ÁN: LS.HC 105
Học viên : Ngày sinh :
Hà Nội,
Trang 2MỤC LỤC
III BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ KHÁCH HÀNG – NGƯỜI KHỞI
Trang 3I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN
1 Người khởi kiện
(1) Bà Tào Thị Mão – Sinh năm 1939
Địa chỉ: Thành Khang 2, Phường Tào Xuyên, TP Thanh Hóa
(2) Bà Tào Thị Tỵ - Sinh năm 1941
Địa chỉ: Xóm 4, xã Hoằng Lý, TP Thanh Hóa
(3) Bà Tào Thị Thơm – Sinh năm 1949
Địa chỉ: Tổ 16A, Khu 2A, Nông Trang, Việt Trì, Phú Thọ
(4) Bà Tào Thị Nhịn – Sinh năm 1954
Địa chỉ: Xóm 4, xã Hoằng Lý, TP Thanh Hóa
(5) Ông Tào Minh Dũng – Sinh năm 1957
Địa chỉ: Xóm 6, xã Hoằng Lý, TP Thanh Hóa
2 Người bị kiện
(1) Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa
(2) Chủ tịch UBND thành phố Thanh Hóa
(3) UBND huyện Hoằng Hóa
3 Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
(1) UBND xã Hoằng Lý
(2) Ông Tào Minh Hùng – Sinh năm 1937 và bà Hoàng Thị Sen – Sinh năm 1950
Địa chỉ: Xóm 4, xã Hoằng Lý, TP Thanh Hóa
4 Quyết định hành chính bị kiện:
(1) Quyết định số 619/QĐ-UBND ngày 22/02/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa về việc giải quyết khiếu nại của bà Tào Thị Mão, Tào Thị Tỵ, Tào Thị Thơm
Trang 4(2) Quyết định số 9050/QĐ-UBND ngày 14/10/2015 của Chủ tịch UBND thành phố Thanh Hóa về việc giải quyết khiếu nại của bà Tào Thị Mão (3) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 214324 ngày 31/12/2007 do UBND huyện Hoằng Hóa cấp cho ông Tào Minh Hùng
5 Nội dung vụ án
- Cụ Tào Văn Sung và cụ Nguyễn Thị Mùi có 7 người con: Tào Minh Hùng (1934), Tào Thị Mão (1939), Tào Thị Tỵ (1941), Tào Thị Thơm (1949), Tào Thị Nhịn (1953), Tòa Minh Nhường (sinh năm 1951 mất năm 2014), Tào Minh Dũng (1957)
- Trước năm 1960: cụ Sung và cụ Mùi sinh sống trên thửa đất thổ cư cũ của ông
bà để lại ngoài xóm đê sát quốc lộ 1A gần cầu Tào Xuyên, xã Hoằng Lý, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hóa
- Năm 1959: cụ Sung chết không để lại di chúc
- Năm 1960: theo vận động của chính quyền địa phương, gia đình cụ Mùi chuyển vào trong xóm cạnh đền thờ Lê Phụng Hiểu tại xóm 4, xã Hoằng Lý và ở cho đến nay (hiện nay ông Tào Minh Hùng đang quản lý, sử dụng)
- Năm 1994: cụ Mùi chết không để lại di chúc Sau khi cụ Mùi chết các con không thống nhất chia thừa kế, dể tài sản sử dụng chung, ông Dũng và ông Hùng là con trai chưa có nhà đất ở riêng nên cùng nhau sinh sống trên thửa đất của bố mẹ để lại (thoả thuận chung, không lập thành văn bản) Năm 2001 ông Dũng tách hộ đi
ở nơi khác
- Năm 1996: Nhà nước tổng kiểm kê lại quỹ đất để cấp GCN QSDĐ, bản đồ đo vẽ vào sổ mục kê lúc đó ghi tên người sử dụng là ông Tào Văn Hùng tại thửa 842
Tờ bản đồ số 5 diện tích 186 m2 (các anh chị em khác trong gia đình không ai được biết)
- Năm 2006: ông Hùng có đơn gửi UBND xã Hoằng Lý đề nghị được cấp GCN QSDĐ
Trang 5- Ngày 31/12/2007: UBND xã Hoằng Lý lập hồ sơ dựa trên sổ mục kê và UBND huyện Hoằng Hoá đã cấp GCN QSDĐ số AL 214324 cho ông Hùng và bà Sen với diện tích được ghi nhận là 232,5 m2
- Ngày 12/2/2015 (âm lịch): ông Dùng làm đơn xin xã cho phép dỡ nhà xây dựng lại
- Ngày 16/6/2015: bà Mão cùng các anh chị em còn lại làm đơn đề nghị Chủ tịch UBND xã Hoằng Lý can thiệp và tổ chức hoà giải, yêu cầu ông Hùng để lại một phần diện tích khu đất phía sau nhà (60 – 70 m2) để xây nhà thờ vì đây là đất của bố mẹ các ông bà để lại chưa chia, chưa để thừa kế cho ai
- Ngày 10/7/2015: UBND xã Hoằng Lý ban hành thông báo số 09/TB-UBND về kết quả hoà giải tranh chấp đất đai
- Ngày 12/7/2015: bà Mão cùng các anh em khác gửi đơn khiếu nại tới Chủ tịch UBND xã Hoằng Lý và nhận được Công văn số 25/UBND-ĐCXD bà Mão cùng các anh em khác không đồng ý với Công văn trên nên đã tiếp tục khiếu nại lần 2 tới UBND xã Hoằng Lý
- Ngày 26/8/2015: bà Mão cùng các anh em khác nhận được công văn số 28/UBND-ĐCXD của UBND xã Hoằng Lý tuy nhiên người khiếu nại vẫn không đồng tình với nội dung của Công văn này và làm đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND thành phố Thanh Hoá
- Ngày 14/10/2015: chủ tịch UBND thành phố Thanh Hoá giải quyết khiếu nại thông qua Quyết định số 9050/QĐ-UBND với nội dung “Giữ nguyên GCNQSDĐ do UBND huyến Hoằng Hoá đã cấp cho anh Hùng và chị Sen ngày 31/12/2007” Không đồng ý với quyết định này người khiếu nại tiếp tục gửi khiếu nại đến Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoà
- Ngày 22/2/2016, chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai số 619/QĐ-UBND
- Ngày 10/5/2015: bà Mão cùng 4 anh chị em khác trong gia định đã gửi đơn khởi kiện đến TAND tỉnh Thanh Hoá với 3 yêu cầu huỷ:
Trang 6(i) Quyết định GQKN số 619/QĐ-UBND ngày 22/02/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá về giải quyết khiếu nại của bà Mão, bà Tỵ, bà Thơm
(ii)Quyết định GQKN số 9050/QĐ-UBND ngày 14/10/2015 của Chủ tịch UBND thành phố Thanh Hoá về việc giải quyết khiếu nại của Tào Thị Mão
Hoá cấp cho ông Tào Minh Hùng
II KẾ HOẠCH HỎI
Với vai trò là luật sư của Người khởi kiện, Luật sư đưa ra bảng kế hoạch hỏi như sau:
- Xác định
nguồn gốc đất:
do cụ Mùi và cụ
Sung để lại và
là di sản thừa
kế chung của
các con của hai
cụ
- Xác định đối
tượng có quyền
sử dụng đất: các
con của cụ Mùi
và cụ Sung
(không phải
một mình ông
Hùng)
Người khởi kiện – Bà Tào Thị Mão
- Trước năm 1960, gia đình bà ( bao gồm cả bố mẹ cùng các anh chị em của bà) sinh sống ở đâu?
- Nguồn gốc thửa đất này từ đâu?
- Gia đình bà di chuyển chỗ ở đến địa chỉ tại xóm 4, xã Hoằng Lý từ thời điểm nào? Vì sao lại chuyển?
- Những ai di chuyển vào sinh sống tại thửa đất này? Thửa đất này là của ai?
(sau khi bà Mùi đề cập đến vị trí thửa đất chuyển đến)
- Khi mẹ bà là cụ Mùi mất có để lại di chúc không?
- Khi đó di sản mẹ bà để lại bao gồm những gì?
- Sau khi cụ Mùi mất, bà và các anh em trong gia đình có thoả thuận gì liên quan việc chia thừa kế, việc quản lý và sử
Trang 7dụng thửa đất đã nhắc ở trên không? Người khởi kiện
– ông Tào Minh Dũng
- Năm 1996, ông có đang sinh sống tại thửa đất 842 Tờ bản đồ số 5 có địa chỉ tại xóm 4, xã Hoằng Lý không?
- Năm 1996, anh có biết đến việc Nhà nước thực hiện kiểm kê lại quỹ đất để cấp GCN QSDĐ và bản đồ đo vẽ, sổ mục kê lúc đó khi tên người sử dụng là ông Tào Văn Hùng đối với thửa đất 842 không?
Hỏi người bị kiện – Chủ tịch UBND huyện Hoằng Hoá
- Căn cứ để UBND huyện Hoằng Hoá cấp GCN QSDĐ cho gia đình ông Hùng
bà Sen đối với thửa đất số 842 là gì?
- UBND dựa vào đâu để xác minh rằng
bà Mùi và các con của bà Mùi (trừ ông Hùng) không có quyền sử dụng liên quan đến thửa đất số 842 trong khi trước năm 1960 chính quyền xã vận động gia đình bà Mùi (có thể thông qua ông Hùng) chuyển vào trong làng sinh sống
và cả gia đình bà Mùi đều sinh sống ở đây cho đến sau năm 1980?
Hỏi người có quyền và nghĩa
vụ liên quan – Ông Tào Minh Hùng
- Trước năm 1960, gia đình ông (bao gồm cả bố mẹ và anh chị em của ông) sinh sống ở đâu?
- Vì sao gia đình ông lại chuyển đến vị trí tại thửa đất số 842 hiện nay sinh sống?
- Chính quyền vận động ông hay gia
Trang 8đình ông chuyển vào vị trí thửa đất số 842?
- Ông có chứng cứ gì chứng minh chính quyền xã cấp cho ông mà không phải hộ gia đình hay mẹ ông thửa đất số 842 khi ông chuyển đi không?
- Vào thời điểm gia đình ông chuyển đến thửa đất số 842 sinh sống có những ai cùng ở đó?
- Thành phần gia đình sống tại thời điểm
đó có gì thay đổi không?
- Sống đến khi nào thì mọi người chuyển đi?
- Sau khi mẹ ông là bà Mùi chết, ông và các anh chị em của ông có thoả thuận gì
về việc chia thừa kế không?
- Năm 1996, có những ai đang sinh sống
và sử dụng thửa đất số 842?
- Năm 1996, khi Nhà nước thực hiện kiểm kê lại quỹ đất để cấp GCN QSDĐ
và bản đồ đo vẽ, sổ mục kê lúc đó khi tên người sử dụng là ông Tào Văn Hùng đối với thửa đất 842, ông có biết điều này không?
Hỏi người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – đại diện
- Tại thời điểm kê năm 1996, theo hồ sơ quản lý hộ tịch thì có những ai sinh sống trên mảnh đất Cụ Mùi để lại?
Trang 9Hoằng Lý
III LUẬN CỨ BẢO VỆ KHÁCH HÀNG (NGƯỜI KHỞI KIỆN)
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ A&F
ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 19 tháng 6 năm 2021
BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ
Kính thưa Hội đồng xét xử tỉnh Thanh Hoá, Thưa vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá, Thưa các vị luật sư đồng nghiệp và tất cả quý vị có mặt tại phiên toà hôm nay!
Tôi tên là , thuộc Văn phòng Luật sư A&F, là Luật sư thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội Tôi tham gia phiên toà hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích cho người khởi kiện gồm: (i) Bà Tào Thị Mão; (ii) Bà Tào Thị Tỵ; (iii) Bà Tào Thị Thơm; (iv) Bà Tào Thị Nhịn; (v) Ông Tào Minh Dũng trong vụ án hành chính khởi kiện “Quyết định hành chính về quản lý đất đai”
I Luận cứ bảo vệ
Kính thưa HĐXX, qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, các chứng cứ đã được thẩm định tại phiên tòa, căn cứ theo nội dung tại phần xét hỏi công khai tại phiên toà ngày hôm nay tôi xin được trình bày ý kiến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện như sau:
1 Đối với yêu cầu huỷ GCN QSDĐ số AL 214324 ngày 31/12/2007 do UBND huyện Hoằng Hoá cấp cho ông Tào Minh Hùng
Yêu cầu này của người khởi kiện là có căn cứ do việc cấp GCN QSDĐ số AL
214324 ngày 31/12/2007 UBND huyện Hoằng Hoá cấp cho ông Tào Minh Hùng đã xác định không đúng nguồn gốc của đất Điều này được chứng minh bởi những căn
Trang 10cứ sau đây:
Thứ nhất, căn cứ theo lời khai của người khởi kiện tại Đơn khởi kiện (Bút lục
2), lời khai của người có quyền và nghĩa vụ liên quan – ông Tào Minh Hùng (Bút lục 70) và lời khai tại phiên toà ngày hôm nay đều khẳng định rằng: trước năm
1960, cụ Tào Văn Sung và cụ Nguỹen Thị Mùi sinh sống trên thửa đất thổ cư cũ của ông bà để lại ngoài xóm đê sát quốc lộ 1A gần cầu Tào Xuyên, xã Hoằng Lý, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hóa Năm 1959, cụ Sung chết Năm 1960, theo sự vận động của chính quyền địa phương, gia đình cụ nguyễn Thị Mùi từ ngoài đê chuyển vào trong xóm thuộc xóm 4, xã Hoằng Lý giáp đình thờ làng (nay là đình thờ ông Lê Phụng Hiểu) để ở Như vậy, nguồn gốc thửa đất mà UBND huyện Hoằng Hoá đã cấp GCN QSDĐ số AL 214324 cho ông Hùng và bà Sen có nguồn gốc của cụ Nguyễn Thị Mùi là mẹ đẻ của người khởi kiện và ông Hùng Theo đó cụ Mùi cùng các con đã sử dụng từ năm 1960 sau khi được chính quyền địa phương vận động gia đình bà chuyển từ ngoài đê vào trong làng (là thửa đất nêu trên)
Đến năm 1994 khi cụ Mùi chết, không để lại di chúc, thì di sản thừa kế của cụ Mùi (bao gồm thửa đất nêu trên và tài sản trên đất) phải được chia đều cho các con của cụ theo quy định của pháp luật Các con của cụ Mùi cũng không có bất cứ thoả thuận nào đồng ý chuyển lại quyền thừa kế này cho ông Hùng Bên cạnh đó sau khi
cụ Mùi chết, các anh chị em quyết định để cho ông Hùng và ông Dũng ở trên đất do
cả hai chưa có đất ở, điều này được chứng minh trên thực tế theo lời khai của các người khởi kiện và người có quyền và nghĩa vụ liên quan về việc ông Dũng sinh sống trên thửa đất này đến năm 2001 mới chuyển ra ở riêng
Thứ hai, theo kết luận giám định số 1280/KLGĐ-PC54 ngày 28/5/2017 của
Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa (Bút lục 55) đã kết luận rõ: Chữ
ký dạng chữ viết “Hùng”, chữ viết họ tên “Tào Minh Hùng” tại các mục “Ký tên, Chủ họ sd đất, Người viết đơn” trên các tài liệu cần giám giám định (tài liệu có trong hồ sơ cấp GCN QSDĐ bao gồm: phiếu lấy ý kiến khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất ngày 05/10/2007; Biên bản kiểm tra hiện trạng thửa đất ngày 11/10/2007 và Đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30/10/2007
Trang 11không phải chữ ký và chữ viết của ông Tào Minh Hùng Như vậy, các tài liệu trên
mà ông Hùng đã hoàn thiện hồ sơ và cung cấp cho UBND các cấp là giả mạo, không đúng quy định của pháp luật
Như vậy, việc cấp GCN QSDĐ số AL 214324 ngày 31/12/2007 của UBND huyện Hoằng Hoá đã xác định không đúng về nguồn gốc đất, theo đó UBND huyện Hoằng Hoá cấp GCN QSDĐ cho ông Hùng và bà Sen mà chưa được sự đồng ý của các anh chị em trong gia đình ông Hùng là các đồng thừa kế di sản của cụ Mùi là không đúng quy định của pháp luật Quyết định này đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp và chính đáng của người khởi kiện Do đó, căn cứ theo điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai 2013, GCN QSDĐ số AL 214324 ngày 31/12/2007 của UBND huyện Hoằng Hoá cấp cho ông Hùng và bà Sen sẽ bị huỷ bỏ và bị Nhà nước thu hồi
2 Đối với yêu cầu huỷ Quyết định giải quyết khiếu nại số 619/QĐ-UBND ngày 22/02/2016 và Quyết định số 9050/QĐ-UBND ngày 14/10/2015 của Chủ tịch UBND Thanh Hoá
Xuất phát từ việc GCN QSDĐ số AL 214324 ngày 31/12/2007 của UBND huyện Hoằng Hoá cấp cho ông Hùng và bà Sen không đúng, dẫn tới việc giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND thành phố Thanh Hoá tại hai quyết định: Quyết định
số 619/QĐ-UBND và Quyết định số 9050/QĐ-UBND cũng không có căn cứ
Vì vậy việc huỷ hai Quyết định giải quyết khiếu nại nêu trên là hoàn toàn có căn
cứ và phù hợp với quy định của pháp luật
II Kiến nghị
Kính thưa HĐXX, từ những lập luận và phân tích nêu trên, tôi xin được khẳng định một lần nữa toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện đã đưa ra liên quan đến việc huỷ bỏ 03 quyết định hành chính là hoàn toàn có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật, cụ thể:
(i) Huỷ Quyết định GQKN số 619/QĐ-UBND ngày 22/02/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá về giải quyết khiếu nại của bà Mão, bà Tỵ, bà Thơm
Trang 12(ii)Huỷ Quyết định GQKN số 9050/QĐ-UBND ngày 14/10/2015 của Chủ tịch UBND thành phố Thanh Hoá về việc giải quyết khiếu nại của Tào Thị Mão
Hoằng Hoá cấp cho ông Tào Minh Hùng
Vì vậy kính mong HĐXX xem xét và chấp thuận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện nêu trên
Cuối cùng, tôi tin với sự công minh, sáng suốt của mình, HĐXX sẽ ban hành một bản án hợp tình, hợp lý, phù hợp với quy định của pháp luật
Thay người khởi kiện và nhân danh cá nhân tôi, tôi xin chân thành cảm ơn!
VĂN PHÒNG LUẬT A&F
LUẬT SƯ
(Đã ký)
Trang 13IV NHẬN XÉT DIỄN ÁN
1 Thư ký phiên toà
-
2 Thẩm phán
-
3 Hội thẩm nhân dân
-
4 Kiểm sát viên
-
5 Người bảo vệ quyền và lợi ích cho người khởi kiện
-
6 Người bảo vệ quyền và lợi ích của người bị kiện
-
7 Người bảo vệ quyền và lợi ích của người có quyền và nghĩa vụ liên quan
-
8 Các vai khác (người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan, người đại diện hợp pháp của đương sự, người làm chứng)
-