1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoàn thiện kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần đông nam á chi nhánh bình định

119 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đề tài này, tác giả đã sử dụng bảng câu hỏi để khảo sát thực trạng hệ thống KSNB đối với nghiệp vụ tín dụng tại 7 NHTM 4 NHTM quốc doanh và 3 NHTM cổ phần trên địa bàn tỉnh Bình Dư

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ công trình nào khác Nội dung của Luận văn do chính tôi thực hiện dựa trên kết quả khảo sát thực tế tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam

Á - chi nhánh Bình Định

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Học viên thực hiện Luận văn

Lâm Thục Trinh

Trang 3

Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả Quý thầy cô đã giảng dạy trong chương trình Cao học kế toán K21 A+B Trường Đại học Quy Nhơn, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích về kế toán làm cơ sở cho tôi thực hiện tốt luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Lê Thị Thanh Mỹ đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các Anh, Chị, các đồng nghiệp đang công tác tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á - chi nhánh Bình Định đã tận tình giúp đỡ trong việc khảo sát thực trạng kiểm soát nội

Học viên thực hiện Luận văn

Lâm Thục Trinh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

MỞ ĐẦU 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 1

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4

7 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6

1.1 TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6

1.1.1 Hệ thống lý luận về kiểm soát nội bộ nói chung 6

1.1.2 Ngân hàng thương mại và sự cần thiết phải kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thương mại 9

1.1.3 Hệ thống lý luận về kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thương mại theo Báo cáo Basel 14

1.2 KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 21

1.2.1 Tín dụng và vai trò của tín dụng trong ngân hàng thương mại 21 1.2.2 KSNB hoạt động tín dụng trong ngân hàng thương mại 23

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30

Trang 5

DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐÔNG NAM Á –

CHI NHÁNH BÌNH ĐỊNH 31

2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐÔNG NAM Á - CHI NHÁNH BÌNH ĐỊNH 31

2.1.1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển 31

2.1.2 Bộ máy quản lý 32

2.1.3 Một số kết quả kinh doanh chủ yếu 33

2.1.4 Đặc điểm hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á -Chi nhánh Bình Định 34

2.2 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG NAM Á CHI NHÁNH BÌNH ĐỊNH 37

2.2.1 Môi trường kiểm soát 38

2.2.2 Đánh giá rủi ro 42

2.2.3 Các hoạt động kiểm soát 47

2.2.4 Thông tin và truyền thông 50

2.2.5 Giám sát 52

2.3 ĐÁNH GIÁ VỀ THỰC TRẠNG KIẾM SOÁT NÔI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG NAM Á CHI NHÁNH BÌNH ĐỊNH 54

2.3.1 Những kết quả đạt được 54

2.3.2 Những hạn chế 55

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 57

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 64

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐÔNG NAM Á – CHI NHÁNH BÌNH ĐỊNH 65

Trang 6

ĐIỂM HOÀN THIỆN 65

3.1.1 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng 65

3.1.2 Quan điểm hoàn thiện 65

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG NAM Á CHI NHÁNH BÌNH ĐỊNH 67

3.2.1 Môi trường kiểm soát 67

3.2.2 Đánh giá rủi ro 73

3.2.3 Hoạt động kiểm soát 77

3.2.4 Thông tin và truyền thông 82

3.2.5 Giám sát 84

3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 85

3.3.1 Về phía cơ quan lập pháp 85

3.3.2 Về phía Ngân hàng Nhà nước 86

3.3.3 Về phía Hội sở 90

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 94

KẾT LUẬN CHUNG 95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC

Trang 7

Từ viết tắt Viết đầy đủ

Trung tâm Thông tin tín dụng

Trang 8

STT Tên bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ Trang

Hình 2.1 Bộ máy quản lý tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á

Bảng 2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2017 - 2019 34

Bảng 2.2

Bảng tổng hợp tăng trưởng tình hình tăng trưởng dư

Nợ tín dụng của SeABank Bình Định theo thời hạn vay

36

Bảng 2.3 Bảng phân loại dư nợ theo từng loại tiền 37

Bảng 2.4 Định mức về các chỉ tiêu đủ điều kiện cấp tín dụng

Bảng 2.5 Phân loại nợ của khách hàng theo kết quả Xếp hạng

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong kinh doanh ngành ngân hàng, lợi nhuận từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng thu nhập Tuy nhiên, hoạt động này luôn tiềm ẩn rủi ro cao, đặc biệt là ở Việt Nam bởi hệ thống thông tin thiếu minh bạch và không đầy đủ, trình độ quản trị rủi ro còn nhiều hạn chế, tính chuyên nghiệp của cán bộ ngân hàng chưa cao,…Thời gian gần đây có rất nhiều vụ

bê bối, lừa đảo xảy ra trong các ngân hàng Điều này không những gây thiệt hại đáng kể cho ngân hàng và cả nền kinh tế mà còn làm mất lòng tin của những người sử dụng dịch vụ ngân hàng Mặt khác, trong thời kỳ huy động vốn và cho vay khó khăn, nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) trong đó có Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) Đông Nam Á - Chi nhánh Bình Định đã nới lỏng chính sách tín dụng dẫn đến rủi ro tăng cao Một trong những biện pháp giảm thiểu rủi ro được xem là có hiệu quả nhất chính là thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) hữu hiệu và hiệu quả Điều này sẽ góp phần quan trọng trong việc hạn chế những rủi ro đồng thời thúc đẩy hoạt động tín dụng phát triển một cách an toàn và lành mạnh Vì các lý do trên nên tôi

quyết định chọn đề tài nghiên cứu “Hoàn thiện kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á - Chi nhánh Bình Định” để

làm luận văn Thạc sĩ

2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

Một số nghiên cứu trước đây về KSNB đối với hoạt động tín dụng trong ngân hàng như:

1 Phí Thị Thu Hiền, 2004, Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối

với nghiệp vụ tín dụng trong các ngân hàng thương mại Việt Nam, Luận văn

thạc sĩ, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

Tác giả đã sử dụng bảng câu hỏi để khảo sát thực trạng hệ thống KSNB

Trang 10

đối với nghiệp vụ tín dụng tại 6 NHTM có quy mô dư nợ tín dụng cao so với toàn ngành, 1 NHTM cổ phần có quy mô trung bình và 1 NHTM cổ phần có quy mô nhỏ Ngoài ra, tác giả còn thảo luận với một số nhà quản lý, kiểm toán viên nội bộ, cán bộ tín dụng và phỏng vấn kiểm toán viên độc lập có kinh nghiệm kiểm toán trong lĩnh vực ngân hàng Trên cơ sở những ưu điểm

và tồn tại của hệ thống KSNB tại các ngân hàng được khảo sát, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hệ thống KSNB tại các NHTM Việt Nam

2 Phan Thụy Thanh Thảo, 2007, Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ

đối với nghiệp vụ tín dụng tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Bình Dương, Luận văn thạc sĩ Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

Trong đề tài này, tác giả đã sử dụng bảng câu hỏi để khảo sát thực trạng

hệ thống KSNB đối với nghiệp vụ tín dụng tại 7 NHTM (4 NHTM quốc doanh và 3 NHTM cổ phần) trên địa bàn tỉnh Bình Dương đồng thời tác giả

đã thảo luận với một số nhà quản lý, kiểm toán viên nội bộ và cán bộ tín dụng tại các ngân hàng này Kết quả khảo sát đã cho thấy các ưu điểm và tồn tại của hệ thống KSNB đối với nghiệp vụ tín dụng từ đó đưa ra kiến nghị để hoàn thiện hệ thống KSNB tại các ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bình Dương

3 Nguyễn Thị Thanh Thảo, 2010, Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ

đối với nghiệp vụ tín dụng tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố

Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

Tác giả đã sử dụng bảng câu hỏi để khảo sát thực trạng 14 NHTM trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh về hệ thống KSNB đối với nghiệp vụ tín dụng Ngoài ra, tác giả còn thảo luận với nhà quản lý, cán bộ tín dụng, kiểm toán viên nội bộ xoay quanh vấn đề rủi ro tín dụng tại các NHTM Đề tài cũng đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB đối với hoạt động tín dụng

Trang 11

4 Trần Bích Châu, 2018, Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt

động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bình Định, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Quy Nhơn

Tác giả đã khảo sát hệ thống KSNB đối với hoạt động tín dụng bao gồm tín dụng doanh nghiệp và tín dụng cá nhân, trên cơ sở báo cáo COSO

Đề tài cũng đã đưa ra các giải pháp xoay quanh việc hoàn thiện các thủ tục kiểm soát đối với hoạt động tín dụng tại chi nhánh Bình Định

Tôi nhận thấy rằng, mặc dù có nhiều nghiên cứu trước đây về hệ thống KSNB đối với hoạt động tín dụng trong ngân hàng nhưng chưa có nghiên cứu nào được thực hiện tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á - Chi nhánh Bình Định Trong khi đó, hoạt động tín dụng tại chi nhánh này có những đặc điểm khác biệt so với các chi nhánh khác Do vậy, đề tài hoàn thiện KSNB hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á - Chi nhánh Bình Định theo tôi là hoàn toàn phù hợp

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu tổng quát của đề tài là hoàn thiện KSNB hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á - Chi nhánh Bình Định Từ mục tiêu

chung, tác giả đề ra các mục tiêu chi tiết sau:

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về KSNB hoạt động tín dụng trong NHTM

- Phân tích, đánh giá thực trạng KSNB hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á - Chi nhánh Bình Định

- Đề xuất các giải pháp và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện KSNB hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á - Chi nhánh Bình Định

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về KSNB hoạt

Trang 12

động tín dụng tại NHTM

- Phạm vị nghiên cứu: Ngân hàng TMCP Đông Nam Á - Chi nhánh Bình Định

- Thời gian nghiên cứu: 2017-2019

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện đề tài nghiên cứu, Luận văn đã sử dụng chủ yếu phương pháp nghiên cứu định tính, cụ thể như sau:

- Phương pháp phân tích tài liệu: Nghiên cứu lý thuyết liên quan đến KSNB hoạt động tín dụng, phân tích các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu Phương pháp này giúp hệ thống hóa cơ sở lý luận về KSNB hoạt động tín dụng

- Phương pháp phỏng vấn: Thảo luận với nhân viên KSNB và nhân viên tín dụng về hoạt động tín dụng và KSNB đối với hoạt động tín dụng

- Phương pháp điều tra khảo sát: Sử dụng bảng câu hỏi khảo sát thực trạng KSNB hoạt động tín dụng tại ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Bình Định

6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài tập trung đánh giá hiệu quả của KSNB đối với hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á - Chi nhánh Bình Định Thông qua việc phân tích, đánh giá ưu, nhược điểm của KSNB trong việc ngăn ngừa rủi

ro tín dụng, tác giả sẽ đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện KSNB đối với hoạt động tín dụng Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa như sau:

Thứ nhất, về mặt lý luận:

Đề tài sẽ góp phần hệ thống hóa lý luận về KSNB, hoạt động tín dụng

và KSNB đối với hoạt động tín dụng theo báo cáo COSO và báo cáo Basel

Thứ hai, về mặt thực tiễn:

Kết quả đề tài giúp các NHTM nói chung và Ngân hàng TMCP Đông

Trang 13

Nam Á nói riêng nhận ra những tồn tại, yếu kém trong KSNB đối với hoạt động tín dụng Các kiến nghị của đề tài có ý nghĩa đối với các NHTM trong việc khắc phục những yếu kém và hoàn thiện KSNB hoạt động tín dụng nhằm giảm thiểu rủi ro đối với hoạt động này tại ngân hàng mình

7 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI

Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng trong ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á - Chi nhánh Bình Định

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á - Chi nhánh Bình Định

Trang 14

1.1.1 Hệ thống lý luận về kiểm soát nội bộ nói chung

1.1.1.1 Khái quát về lịch sử ra đời và phát triển

Khái niệm KSNB bắt đầu xuất hiện vào đầu thế kỷ XX trong các tài liệu về kiểm toán với một ý nghĩa rất đơn giản là các biện pháp nhằm bảo vệ tiền không bị các nhân viên biển thủ Đến năm 1929, thuật ngữ KSNB được

đề cập chính thức trong một công bố của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Federal Reserve Bulletin) Theo đó, KSNB được định nghĩa là một công cụ

để bảo vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động

Công nhận tầm quan trọng của KSNB, nhiều tổ chức đã tham gia nghiên cứu về vấn đề này Trong những năm 1990, các khuôn khổ về KSNB

ra đời như COSO (Mỹ), Turnbull (Anh), CoCo (Canada) xuất hiện Trong đó, báo cáo của COSO được sử dụng rộng rãi nhất (International Federation of Accountants, 2006)

COSO là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận trên báo cáo tài chính, thường gọi là ủy ban Treadway Ủy ban COSO được thành lập vào năm 1985 dưới sự bảo trợ của 5 tổ chức nghề nghiệp (AICPA, AAA, FEI, IMA, IIA), mỗi tổ chức này đã chỉ định một đại diện để lập ra Ủy ban COSO

Đến năm 1992, COSO đã phát hành báo cáo Báo cáo COSO 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới đưa ra khuôn mẫu lý thuyết KSNB một cách đầy

Trang 15

đủ và có hệ thống Đặc điểm nổi bật của báo cáo này là cung cấp một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị, trong đó KSNB không chỉ là một vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính mà được mở rộng ra cho cả phương diện hoạt động và tuân thủ

Sau đó, hàng loạt các nghiên cứu về phát triển KSNB trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã ra đời, chẳng hạn như: Phát triển về phía quản trị (báo cáo COSO 2004), phát triển cho các doanh nghiệp nhỏ (báo cáo COSO 2006), phát triển theo hướng công nghệ thông tin (CoBIT 1996), phát triển theo hướng kiểm toán độc lập và theo hướng kiểm toán nội bộ (SAS 78, SAS 94, ISA 315, ISA 265), phát triển theo hướng chuyên sâu vào lĩnh vực ngân hàng (Báo cáo Basel 1998)

Sau 21 năm kể từ khi Ủy ban COSO ban hành báo cáo COSO 1992, môi trường hoạt động kinh doanh đã có nhiều thay đổi đáng kể, đặc biệt là sự phát triển của công nghệ thông tin Do đó, vào năm 2013, Ủy ban COSO đã cập nhật và cải tiến báo cáo nhằm giúp các tổ chức thiết kế và phát triển hệ thống KSNB phù hợp [11]

1.1.1.2 Định nghĩa về kiểm soát nội bộ

Định nghĩa về KSNB trong báo cáo COSO 2013 không có gì thay đổi

so với báo cáo COSO 1992 và hiện nay định nghĩa KSNB theo báo cáo này được chấp nhận rộng rãi nhất

Báo cáo COSO 2013 định nghĩa: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý, Hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây:

- Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động;

- Sự tin cậy của báo cáo tài chính;

- Sự tuân thủ các luật lệ và quy định”

Trang 16

1.1.1.3 Các bộ phận hợp thành hệ thống kiểm soát nội bộ

Theo báo cáo COSO 1992, hệ thống KSNB bao gồm 5 bộ phận có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, bao gồm: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát (Nội dung chi tiết được trình bày trong Phụ lục 1) [11]

Báo cáo COSO 2013 gồm 3 phần chính: Tóm tắt dành cho người điều hành, khuôn mẫu hệ thống KSNB và công cụ để đánh giá tính hữu hiệu của KSNB Ngoài ra, COSO còn ban hành thêm sổ tay về KSNB về việc lập báo cáo tài chính cho người bên ngoài, trong đó trình bày về phương pháp tiếp cận

và các thí dụ minh họa Trong khuôn mẫu báo cáo COSO 2013, định nghĩa KSNB và năm bộ phận cấu thành theo báo cáo COSO 1992 vẫn được giữ nguyên So với COSO 1992, báo cáo COSO 2013 có một số điểm thay đổi chính sau:

- Thứ nhất, về mục tiêu của KSNB: Báo cáo COSO 2013 vẫn đưa ra ba mục tiêu cơ bản mà hệ thống KSNB cần hướng đến, đó là mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo tài chính và mục tiêu tuân thủ Tuy nhiên, ở mục tiêu báo cáo tài chính, báo cáo COSO 2013 còn nhấn mạnh đến báo cáo tài chính cho người bên ngoài và báo cáo phi tài chính

- Thứ hai, về các nhân tố hợp thành hệ thống KSNB: Báo cáo COSO vẫn đưa ra năm bộ phận của KSNB Tuy nhiên, trong nội dung chi tiết, có một số thay đổi cho phù hợp với thay đổi của môi trường kinh doanh, ngoài ra, nội dung căn bản của năm bộ phận được tổng hợp thành 17 nguyên tắc giúp nhà quản lý

dễ dàng hơn trong việc thiết lập hệ thống KSNB

Các nguyên tắc theo báo cáo COSO 2013 được trình bày chi tiết ở Phụ lục 2

1.1.1.4 Hạn chế tiềm tàng của hệ thống kiểm soát nội bộ

Hệ thống KSNB, dù được thiết kế và vận hành như thế nào thì cũng chỉ

Trang 17

cung cấp một đảm bảo hợp lý trong việc đạt được các mục tiêu của đơn vị (COSO, 2013) Như vậy, hệ thống này chỉ có thể giúp hạn chế tối đa những sai phạm chứ không thể đảm bảo không có bất kỳ sai phạm nào xảy ra vì nó

có những hạn chế tiềm tàng xuất phát từ những nguyên nhân sau đây [11]:

- Những hạn chế xuất phát từ bản thân con người như sự vô ý, bất cẩn, đãng trí, đánh giá sai, hiểu sai chỉ dẫn của cấp trên hoặc các báo cáo của cấp dưới,…

- Khả năng đánh lừa, che giấu của nhân viên thông qua sự thông đồng với nhau hay với các đối tượng bên ngoài đơn vị

- Hoạt động kiểm soát thường chỉ nhằm vào các hoạt động thường xuyên phát sinh mà ít chú ý đến những nghiệp vụ không thường xuyên, do đó những sai phạm trong các nghiệp vụ này thường bị bỏ qua

- Yêu cầu thường xuyên và trên hết đặt ra của người quản lý là chi phí

bỏ ra cho hoạt động kiểm soát phải nhỏ hơn giá trị thiệt hại ước tính do nhầm lẫn hay gian lận gây ra

- Luôn có khả năng là các cá nhân có trách nhiệm kiểm soát đã lạm dụng quyền hạn của mình để phục vụ cho mưu đồ riêng

- Điều kiện hoạt động của đơn vị thay đổi nên dẫn tới những thủ tục kiểm soát cũng không còn phù hợp…

Chính những hạn chế nói trên của KSNB là nguyên nhân khiến cho KSNB không thể đảm bảo tuyệt đối mà chỉ đảm bảo hợp lý trong việc đạt được các mục tiêu của mình

1.1.2 Ngân hàng thương mại và sự cần thiết phải kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thương mại

1.1.2.1 Khái niệm, vai trò và chức năng của ngân hàng thương mại

NHTM là một định chế tài chính trung gian có vị trí quan trọng trong nền kinh tế Cùng với sự phát triển và biến đổi của hệ thống ngân hàng, sự

Trang 18

pha trộn các hoạt động truyền thống của ngân hàng với các loại hình trung gian tài chính, khái niệm về NHTM cũng thay đổi

Tại Hoa Kỳ: “Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, chuyên cung cấp các dịch vụ về tài chính như nhận tiền gửi, chuyển tiền, thanh toán, cho vay, đầu tư, đổi tiền, mua bán ngoại hối và các dịch vụ khác liên quan đến tiền như bảo quản, ủy thác, làm đại lý trong nước

và quốc tế” [13]

Tại Pháp: “Theo đạo luật ngân hàng Pháp năm 1941, ngân hàng thương mại là những doanh nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác hoặc dưới các hình thức khác

và sử dụng số tiền đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và cung cấp các dịch vụ tài chính” [13]

Tại Việt Nam, theo điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010, “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận” [14]

Như vậy, NHTM là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp

luật, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, với các hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi dưới nhiều hình thức khác nhau và sử dụng số tiền này để cung cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán cho các chủ thể trong nền kinh

tế, nhằm mục tiêu lợi nhuận

NHTM có vai trò quan trọng trong nền kinh tế và được thể hiện như

sau [2], [3]:

- Thứ nhất, điều tiết nguồn vốn, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho nền kinh tế: Nhờ hoạt động của NHTM mà nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế được tập hợp lại thành nguồn vốn lớn phục vụ cho đời sống xã hội

và phát triển kinh tế NHTM trở thành kênh chu chuyển vốn quan trọng trong

Trang 19

nền kinh tế, cung ứng vốn cho các chủ thể và góp phần thúc đẩy kinh tế

- Thứ hai, tạo điều kiện thúc đẩy thị trường tài chính phát triển: Hoạt động của NHTM vừa mang tính cạnh tranh vừa có tác động hỗ tương đến các hoạt động khác trong lĩnh vực tài chính như thị trường chứng khoán, bảo hiểm,… Khi NHTM ngày càng phát triển và hoàn thiện thì ngày càng có nhiều dịch vụ hỗ trợ cho các hoạt động trên Ngược lại, sự phát triển đa dạng của các sản phẩm trên thị trường tài chính sẽ tác động trở lại đối với sự phát triển của các NHTM, xuất hiện sự kết hợp và bán chéo sản phẩm của NHTM với các định chế tài chính khác như: công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, công ty tài chính và quỹ đầu tư,…góp phần gia tăng doanh số giao dịch trên thị trường tài chính

- Thứ ba, góp phần thực thi chính sách tiền tệ quốc gia: Ngân hàng trung ương là cơ quan xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ, nhưng để thực thi các chính sách này ngân hàng trung ương phải sử dụng các công cụ như: dự trữ bắt buộc, lãi suất, tái cấp vốn, thị trường mở,…tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của NHTM, thay đổi tăng hoặc giảm khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế, góp phần bình ổn lưu thông tiền tệ của quốc gia, kiểm soát lạm phát

Với vị trí quan trọng đó, NHTM đảm nhiệm những chức năng khác nhau trong nền kinh tế như:

- Chức năng trung gian tín dụng:

Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay: Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời

Trang 20

nhàn rỗi dưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ Hơn nữa ngân hàng còn đảm bảo cho họ sự an toàn về khoản tiền gửi và cung cấp các dịch

vụ thanh toán tiện lợi Đối với người đi vay, họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu vốn kinh doanh tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp, chi tiêu, thanh toán mà không chi phí nhiều về sức lực thời gian cho việc tìm kiếm những nơi cung ứng vốn riêng lẻ Đặc biệt là đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại

- Chức năng tạo tiền:

Chức năng tạo tiền không giới hạn trong hành động in thêm tiền và phát hành tiền mới của NHNN Bản thân các NHTM trong quá trình thực hiện các chức năng của mình vẫn có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại NHTM Đây chính

là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số

dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội

- Chức năng trung gian thanh toán:

Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài

Trang 21

khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ Việc NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa rất to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế Với chức năng này, các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng,…Các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn Chức năng này mô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tố độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế Đồng thời việc thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng đã giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông, dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt như chi phí in ấn, đếm nhận, bảo quản, mặc khác NHTM sẽ có khoản thu từ phí thanh toán, làm tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng

1.1.2.2 Sự cần thiết kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thương mại

Ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động của nền kinh tế

và được xem là mạch máu của nền kinh tế Vì vậy, việc đảm bảo các ngân hàng hoạt động hiệu quả đồng thời giảm thiểu tối đa những tổn thất trong hoạt động của ngân hàng là nhiệm vụ cần được quan tâm và chú trọng NHTM có những điểm khác biệt so với các đơn vị kinh tế khác và chính những điểm khác biệt này giúp cho nó thể hiện vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế:

- Thứ nhất, NHTM hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính – tiền

tệ Đây là lĩnh vực đặc biệt, nhạy cảm, tác động trực tiếp đến mọi ngành nghề, mọi hoạt động và các chủ thể trong nền kinh tế Do đó, khi lĩnh vực này có những hoạt động xấu hoặc bất thường thì sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế

- Thứ hai, hoạt động kinh doanh của NHTM dựa vào niềm tin và mức

độ tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng Vì vậy, khi lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng giảm sút thì sẽ rất khó khăn trong việc huy

Trang 22

động vốn, quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng không được thiết lập đồng thời các dịch vụ khác của ngân hàng cũng gặp khó khăn

- Thứ ba, hoạt động kinh doanh của NHTM có thể gặp nhiều rủi ro, chẳng hạn như rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, rủi ro hệ thống,…và khi ngân hàng gặp những rủi ro này, nó không chỉ ảnh hưởng đến ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến hoạt động của cả nền kinh tế

- Thứ tư, hoạt động kinh doanh của các NHTM chịu ảnh hưởng dây chuyền với nhau Trong thực tế, hoạt động kinh doanh của ngân hàng mang tính hệ thống nên khi có một ngân hàng mất khả năng thanh toán thì sẽ tạo ra một tác động lan truyền đến các NHTM khác

Xét dưới góc độ hoạt động nghiệp vụ ngân hàng, những đặc điểm của hoạt động ngân hàng ảnh hưởng đến việc thiết kế hệ thống KSNB như: NHTM thường có số lượng lớn các nghiệp vụ và giao dịch cả về số lượng lẫn giá trị đồng thời liên quan đến tiền vì vậy dễ xảy ra gian lận và thất thoát nếu không được kiểm soát chặt chẽ, NHTM có mạng lưới hoạt động rộng lớn và phải tuân thủ chặt chẽ các quy định về pháp lý

Tóm lại, trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa hiện nay, việc đảm bảo NHTM hoạt động an toàn, hiệu quả là điều cần thiết và quan trọng Hệ thống KSNB hữu hiệu sẽ giúp cho các ngân hàng đạt được các mục tiêu đề ra đồng thời giảm thiểu tối đa gian lận, nhầm lẫn và thiệt hại cho ngân hàng Vì vậy, các NHTM cần phải thiết lập và duy trì một hệ thống KSNB hiệu quả để giúp ngân hàng nâng cao năng lực, hạn chế các sự cố và đảm bảo mạch máu trong nền kinh tế được lưu thông

1.1.3 Hệ thống lý luận về kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thương mại theo Báo cáo Basel

1.1.3.1 Khái quát về lịch sử hình thành và phát triển

Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng là một diễn đàn cho sự hợp tác

Trang 23

thường xuyên về các vấn đề liên quan đến giám sát hoạt động ngân hàng Mục tiêu của Ủy ban là hiểu rõ hơn về các vấn đề mấu chốt trong việc giám sát và nâng cao chất lượng giám sát hoạt động ngân hàng trên toàn cầu Sự hình thành, phát triển và hoạt động của Ủy ban này được tóm tắt như sau (Basel Committee, 2013):

Đầu năm 1975, một nhóm các Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) đã thành lập một Ủy ban về các quy định ngân hàng và thực tiễn giám sát tại thành phố Basel, Thụy Sỹ nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập kỷ 80 Sau đó đổi tên thành Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng Kể từ cuộc họp đầu tiên vào tháng 02/1975, các cuộc họp tiếp theo của Ủy ban được tổ chức thường xuyên

ba hoặc bốn lần trong một năm

Thành viên của Ủy ban là Ngân hàng Trung ương hoặc cơ quan giám sát ngân hàng của các quốc gia Hiện nay số lượng thành viên của Ủy ban là

27 thành viên ở những quốc gia như: Argentina, Úc, Bỉ, Brazil, Canada, Trung Quốc, Pháp, Đức, Hồng Kông, Ấn Độ, In-đô-nê-xia, Ý, Nhật, Hàn Quốc, Luxembourg, Mexico, Hà Lan, Nga, Ả Rập Xê Út, Singapore, Nam Phi, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh và Mỹ

Hội đồng thư ký của Ủy ban Basel được đề xuất bởi Ngân hàng Thanh toán Quốc tế tại thành phố Basel, Thụy Sỹ gồm 15 thành viên là những nhà giám sát hoạt động ngân hàng chuyên nghiệp được biệt phái tạm thời từ các tổ chức tín dụng tài chính thành viên Ủy ban Basel và các tiểu ban sẵn sàng đưa

ra những lời tư vấn cho cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng ở tất cả các nước

Ủy ban Basel không có bất kỳ một cơ quan giám sát nào, đồng thời những kết luận của Uỷ ban này không có tính pháp lý và yêu cầu tuân thủ đối với việc giám sát hoạt động ngân hàng Thay vào đó, Ủy ban Basel chỉ xây

Trang 24

dựng và công bố những tiêu chuẩn, hướng dẫn giám sát rộng rãi và giới thiệu các báo cáo thực tiễn tốt nhất trong kỳ vọng rằng các tổ chức riêng lẻ sẽ áp dụng rộng rãi thông qua những sắp xếp chi tiết phù hợp nhất cho hệ thống quốc gia của chính họ Theo cách này, Ủy ban khuyến khích việc áp dụng cách tiếp cận và các tiêu chuẩn chung mà không cố gắng can thiệp vào những

kỹ thuật giám sát của các nước thành viên

Năm 1988, Hiệp ước vốn Basel đầu tiên (Basel I) ra đời và có hiệu lực từ

1992 Mục đích của Basel I là: Củng cố sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng quốc tế; thiết lập một hệ thống ngân hàng quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm giảm cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng quốc tế Đến năm

1996, Basel I được bổ sung thêm rủi ro thị trường tuy vậy hiệp ước vẫn còn khá nhiều điểm hạn chế

Tháng 9/1998, Ủy ban Basel đã phát hành tài liệu “Khuôn mẫu cho hệ thống kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng” Nội dung trong hướng dẫn này không đưa ra những lý luận mới mà là sự vận dụng những lý luận cơ bản của COSO vào các ngân hàng Đến ngày 26/6/2004, bản Hiệp ước quốc tế về vốn Basel mới (Basel II) đã chính thức được ban hành Tháng 1/2007, Basel II có hiệu lực và đến năm 2010 là chấm dứt quá trình chuyển đổi

Với nỗ lực ngăn chặn sự tái diễn của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, ngày 12/9/2010, Hiệp định Basel III với những quy định nghiêm ngặt hơn dành cho các ngân hàng thuộc 27 thành viên đã được Ủy ban Basel ban hành

Lộ trình thực hiện Basel III bắt đầu từ tháng 1/2013 và hoàn thành vào cuối năm 2018 [12], [13]

1.1.3.2 Mục tiêu của kiểm soát nội bộ

Theo Báo cáo Basel, KSNB là một quá trình thực hiện bởi Hội đồng quản trị, nhà quản lý cấp cao và tất cả nhân viên Nó không phải chỉ là một thủ tục hay chính sách được thực hiện tại một điểm nhất định mà là những

Trang 25

hoạt động liên tục được thực hiện ở mọi cấp trong ngân hàng Hội đồng quản trị và nhà quản lý cấp cao chịu trách nhiệm cho việc thiết lập nền văn hóa thích hợp để tạo điều kiện cho một quá trình KSNB hiệu quả và giám sát hiệu quả của nó trên cơ sở liên tục, tuy nhiên, mỗi cá nhân trong một tổ chức phải tham gia vào quá trình này Mục tiêu chính của quy trình KSNB có thể bao gồm như sau [12]:

- Thứ nhất, tính hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động: Mục tiêu này liên quan đến tính hữu hiệu và hiệu quả của các ngân hàng trong việc sử dụng tài sản, những nguồn lực khác đồng thời bảo vệ ngân hàng khỏi các tổn thất Nhà quản lý thiết lập các chính sách và thủ tục nhằm đảm bảo tất cả nhân viên trong ngân hàng đang làm việc đạt được những mục tiêu, đó là sự hiệu quả, toàn vẹn

và không vượt quá chi phí cho phép

- Thứ hai, độ tin cậy, đầy đủ và kịp thời của thông tin tài chính và quản lý: Các báo cáo cần phải được lập và trình bày đầy đủ, kịp thời và đáng tin cậy nhằm giúp nhà quản lý ra những quyết định đúng đắn Các báo cáo tài chính, thuyết minh tài chính có liên quan khác cũng được cung cấp một cách trung thực cho cổ đông, người giám sát và các thành phần khác Ngoài ra, những chính sách, chỉ thị của Hội đồng quản trị và nhà quản lý cấp cao cũng được truyền đạt đầy đủ và rõ ràng để tất cả nhân viên ngân hàng thực hiện đúng với trách nhiệm của họ

- Thứ ba, tuân thủ pháp luật và các quy định: Cần phải đảm bảo rằng tất

cả hoạt động của ngân hàng phải phù hợp với pháp luật và các quy định, chính sách của tổ chức Điều này giúp ngân hàng bảo vệ thương hiệu và uy tín của mình đồng thời giúp những chính sách điều tiết nền kinh tế của Nhà nước được thực hiện

1.1.3.3 Các nguyên tắc của kiểm soát nội bộ theo Báo cáo Basel

Theo Báo cáo Basel, có 13 nguyên tắc trong việc thiết kế và đánh giá

Trang 26

hệ thống KSNB trong ngân hàng:

- Sự giám sát của nhà quản lý và môi trường kiểm soát

Nguyên tắc 1: Hội đồng quản trị có trách nhiệm phê duyệt và xem xét định kỳ các chiến lược kinh doanh chung và các chính sách quan trọng của ngân hàng; hiểu rõ những rủi ro trọng yếu của ngân hàng, thiết lập mức độ chấp nhận đối với những rủi ro và đảm bảo rằng nhà quản lý cấp cao phải nắm được các bước cần thiết để xác định, đo lường, giám sát và kiểm soát rủi

ro, phê duyệt cơ cấu tổ chức và đảm bảo nhà quản lý cấp cao đang giám sát hiệu quả hệ thống KSNB Hội đồng quản trị là người cuối cùng chịu trách nhiệm đảm bảo rằng một hệ thống KSNB đầy đủ, hiệu quả được thiết lập và duy trì

Hội đồng quản trị có trách nhiệm phê duyệt và xem xét định kỳ các chiến lược kinh doanh chung và các chính sách quan trọng của ngân hàng; nắm bắt các rủi ro quan trọng đối với ngân hàng, đặt ra các mức độ có thể chấp nhận được đối với các rủi ro này và đảm bảo Ban Tổng Giám đốc tiến hành các bước đi cần thiết để nhận biết, định lượng, theo dõi và kiểm soát các rủi ro này; phê duyệt cơ cấu tổ chức; và đảm bảo Ban Tổng Giám đốc theo dõi tính hiệu quả của hệ thống KSNB Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm cuối cùng về việc thiết lập và duy trì một hệ thống KSNB thích hợp và có hiệu quả

Nguyên tắc 2: Nhà quản lý cấp cao chịu trách nhiệm thực hiện đầy đủ các chiến lược và chính sách đã được phê duyệt bởi Hội đồng quản trị, xây dựng các quy trình để nhận biết, đo lường, giám sát, kiểm soát rủi ro phát sinh trong ngân hàng; duy trì cơ cấu tổ chức mà có sự phân công rõ ràng về trách nhiệm, quyền hạn và các mối quan hệ giữa các bộ phận; đảm bảo các nhiệm

vụ được giao đã được thực hiện một cách hiệu quả; thiết lập các chính sách KSNB thích hợp và giám sát một cách đầy đủ, hiệu quả hệ thống KSNB

Trang 27

Nguyên tắc 3: Hội đồng quản trị và nhà quản lý cấp cao có trách nhiệm nâng cao các tiêu chuẩn đạo đức và tính chính trực, thiết lập môi trường văn hóa trong đó nhấn mạnh và chứng tỏ cho tất cả các nhân viên trong tổ chức hiểu được tầm quan trọng của hệ thống KSNB Tất cả các nhân viên trong ngân hàng cần phải hiểu vai trò của họ trong quá trình KSNB và hoàn toàn tham gia vào quá trình đó

- Nhận biết và đánh giá rủi ro

Nguyên tắc 4: Một hệ thống KSNB hiệu quả phải đảm bảo rằng những rủi ro trọng yếu mà có thể ảnh hưởng đến việc đạt mục tiêu của ngân hàng thì cần phải liên tục được xem xét và đánh giá Sự đánh giá này phải bao gồm tất

cả những rủi ro mà ngân hàng và hiệp hội ngân hàng gặp phải: đó là rủi ro tín dụng, rủi ro quốc gia, rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất, rủi ro tính thanh khoản, rủi ro hoạt động, rủi ro pháp lý và rủi ro danh tiếng KSNB cần phải xem xét lại những rủi ro trước đây không kiểm soát được cũng như mới phát sinh

- Hoạt động kiểm soát và sự phân công, phân nhiệm

Nguyên tắc 5: Các hoạt động kiểm soát sẽ là một phần quan trọng trong các hoạt động hàng ngày của ngân hàng Một hệ thống KSNB hiệu quả đòi hỏi phải thiết lập một cơ cấu kiểm soát thích hợp với các hoạt động kiểm soát được xác định ở mọi cấp độ hoạt động Chúng bao gồm: đánh giá ở cấp độ cao nhất; các hoạt động kiểm soát thích hợp cho các phòng ban hoặc các đơn

vị khác nhau; kiểm soát vật chất; kiểm tra sự tuân thủ với các giới hạn rủi ro cho phép và theo dõi, xử lý sai phạm, có hệ thống phê duyệt và ủy quyền; hệ thống xác minh và đối chiếu

Nguyên tắc 6: Một hệ thống KSNB hiệu quả đòi hỏi có sự phân công hợp lý, các nhiệm vụ giao các nhân viên không được mâu thuẩn với nhau Những lĩnh vực có xung đột về lợi ích phải được xác định, giảm thiểu và được giám sát một cách thận trọng và độc lập

Trang 28

- Thông tin và truyền thông

Nguyên tắc 7: Một hệ thống KSNB hiệu quả đòi hỏi phải có đầy đủ và tổng hợp toàn bộ tình hình tài chính, hoạt động của ngân hàng và sự tuân thủ các quy định pháp lý của ngân hàng, cũng như thông tin thị trường bên ngoài

về các sự kiện và những điều kiện có liên quan đến việc đưa ra các quyết định Thông tin phải đáng tin cậy, kịp thời, có thể sử dụng và được trình bày nhất quán

Nguyên tắc 8: Một hệ thống KSNB hiệu quả đòi hỏi rằng phải có những hệ thống thông tin đáng tin cậy đối với tất cả các hoạt động trong ngân hàng Hệ thống này phải lưu trữ và sử dụng dữ liệu điện tử, được bảo mật, giám sát một cách độc lập và phải được kiểm tra đột xuất

Nguyên tắc 9: Hệ thống KSNB hiệu quả đòi hỏi phải có các kênh thông tin hiệu quả để đảm bảo rằng tất cả các nhân viên hiểu một cách đầy đủ và tuân theo các chính sách và thủ tục mà có liên quan đến nhiệm vụ và trách nhiệm của họ; và các kênh thông tin liên quan khác cũng đạt được mục tiêu như vậy

- Giám sát và sửa chữa những sai sót

Nguyên tắc 10: Hiệu quả tổng thể KSNB của ngân hàng cần phải được theo dõi liên tục Giám sát những rủi ro trọng yếu chính là một phần trong các hoạt động hàng ngày của ngân hàng cũng như các đánh giá định kỳ của bộ phận kinh doanh và kiểm toán nội bộ

Nguyên tắc 11: Cần phải có kiểm toán nội bộ hiệu quả và toàn diện, được thực hiện bởi những nhân viên có năng lực, đào tạo thích hợp để có thể làm việc độc lập Chức năng của kiểm toán nội bộ như một phần của giám sát

hệ thống KSNB: đó là báo cáo trực tiếp cho Hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát và nhà quản lý cấp cao

Nguyên tắc 12: Sự yếu kém của hệ thống KSNB, cho dù được xác định

Trang 29

bởi bộ phận kinh doanh, kiểm toán nội bộ hay nhân viên kiểm soát khác, thì cũng phải được báo cáo một cách kịp thời cho cấp quản lý thích hợp và ghi nhận ngay lập tức Sai sót trọng yếu của hệ thống KSNB được báo cáo cho nhà quản lý cấp cao và Hội đồng quản trị

- Đánh giá hệ thống KSNB thông qua cơ quan thanh tra ngân hàng

Nguyên tắc 13: Cán bộ thanh tra ngân hàng nên yêu cầu rằng tất cả các ngân hàng, bất kể quy mô như thế nào, cũng đều phải có hệ thống KSNB hiệu quả phù hợp với tính chất, sự phức tạp và rủi ro vốn có của ngân hàng để đáp ứng với những thay đổi, điều kiện của ngân hàng Trong trường hợp mà người thanh tra xác định rằng hệ thống KSNB của ngân hàng không đầy đủ hoặc không hiệu quả đối với rủi ro cụ thể của ngân hàng (chẳng hạn như không đảm bảo các nguyên tắc đã đưa ra), họ cần phải có hành động xử lý thích hợp [12]

1.2 KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.2.1 Tín dụng và vai trò của tín dụng trong ngân hàng thương mại

1.2.1.1 Khái niệm và vai trò của tín dụng

Tín dụng xuất phát từ gốc chữ La tinh credittum – tức là tin tưởng, tín nhiệm Tín dụng được diễn giải theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam là quan hệ vay mượn Nhìn một cách tổng quát: Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ chủ thể sở hữu sang chủ thể sử dụng, trên cơ sở phải có sự hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn ban đầu

Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định Cũng như quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung [5]:

Trang 30

- Thứ nhất, có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng

- Thứ hai, sự chuyển nhượng này mang tính tạm thời hay có thời hạn

- Thứ ba, sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí

Hoạt động tín dụng có vai trò quan trọng đối với NHTM:

- Thứ nhất: Nó là hoạt động mang lại nguồn thu chủ yếu cho các NHTM Tiền lãi và phí tạo ra từ các khoản cho vay chiếm hầu hết các nguồn thu của ngân hàng, (khoảng 70% trong tổng thu nhập của ngân hàng)

- Thứ hai: Bên cạnh việc thanh khoản và đầu tư, hoạt động tín dụng là hoạt động sử dụng vốn chủ yếu của các NHTM Mặc dù ngày nay, các NHTM đang có xu hướng đa dạng hóa danh mục các dịch vụ cung cấp, nhưng hoạt động tín dụng vẫn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của NHTM

- Thứ 3: Hoạt động tín dụng còn là cơ sở để các NHTM thu hút và phát triển khách hàng Một trong những lý do đó là ngày càng có nhiều khách hàng muốn đi vay để thực hiện mục đích kinh doanh hoặc trang trải cho việc chi tiêu Từ việc cho vay, các NHTM sẽ có thể bán kèm và bán chéo các sản phẩm khác như: dịch vụ gửi tiền, thanh toán, dịch vụ bảo hiểm, ngân quỹ…

- Thứ 4: Hoạt động tín dụng làm cho các NHTM trở thành một trong những trung gian tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế

- Bao thanh toán;

- Thấu chi tài khoản tiền gửi thanh toán;

Trang 31

- Cho thuê tài chính

Nội dung của các loại hình tín dụng này được thể hiện ở Phụ lục 3

1.2.2 KSNB hoạt động tín dụng trong ngân hàng thương mại

1.2.2.1 Mục tiêu của kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng

Việc thiết lập KSNB đối với hoạt động tín dụng trong NHTM nhằm đạt được các mục tiêu sau:

- Tính hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động tín dụng: Mục tiêu này liên quan đến việc thực hiện theo quy định cho vay của ngân hàng làm sao mang lại hiệu quả, toàn vẹn và không vượt quá chi phí cho phép, bảo vệ ngân hàng khỏi các tổn thất

- Độ tin cậy, đầy đủ và kịp thời của thông tin liên quan đến hoạt động tín dụng: Các báo cáo liên quan đến hoạt động tín dụng cần phải được lập và trình bày đầy đủ, kịp thời và đáng tin cậy nhằm giúp nhà quản lý, cổ đông, cơ quan quản lý nhà nước đưa ra những quyết định đúng đắn

- Tuân thủ pháp luật và các quy định: Cần phải đảm bảo rằng hoạt động tín dụng của NHTM phải phù hợp với pháp luật và các quy định, chính sách của tổ chức Điều này giúp NHTM hạn chế nợ xấu, bảo vệ thương hiệu và uy tín của mình đồng thời giúp những chính sách điều tiết nền kinh tế của Nhà nước được thực hiện

Trang 32

mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn, là loại rủi ro liên quan đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng

Tuy nhiên cần lưu ý rằng trong hoạt động ngân hàng, thực hiện nghiệp

vụ cho vay thì đó mới chỉ là một giao dịch chưa hoàn thành Giao dịch tín dụng chỉ được xem là hoàn thành khi nào ngân hàng thu hồi về được khoản cho vay cả gốc và lãi Tuy nhiên khi thực hiện giao dịch tín dụng ngân hàng không biết chắc được giao dịch đó có hoàn thành hay không Do đó rủi ro tín dụng thể hiện ở khả năng hay xác suất hoàn thành giao dịch tín dụng đó

1.2.2.3 Kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng

Tín dụng được xem là một hoạt động quan trọng và đem lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng đồng thời cũng chứa nhiều rủi ro nhất Để quản lý rủi

ro tín dụng, ngoài việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ để kiểm soát

và ngăn ngừa những yếu tố bên ngoài nhằm đảm bảo chất lượng tín dụng thì việc xây dựng KSNB hữu hiệu và hiệu quả đối với hoạt động tín dụng sẽ có tác dụng rất lớn trong việc ngăn ngừa và giảm thiểu các nguyên nhân chủ quan gây ra rủi ro tín dụng Khi thiết lập KSNB đối với hoạt động tín dụng cần phải đạt những yêu cầu sau:

- KSNB phải tồn tại sự kiểm tra lại việc thẩm định của nhân viên tín dụng để tránh tình trạng phân tích tín dụng dựa trên những thông tin không xác thực và không đầy đủ

- KSNB phải được thiết kế thông qua quy trình tín dụng với các thủ tục kiểm soát chặt chẽ sao cho đảm bảo sự an toàn về pháp lý cho ngân hàng, xét duyệt cho vay và giải ngân đúng đắn nhằm giảm thiểu các sai sót đồng thời có thể ngăn chặn những hành vi gian lận của khách hàng

- KSNB phải đảm bảo về khả năng phát hiện và ngăn chặn kịp thời các sai phạm của người thực hiện nghiệp vụ

- KSNB phải đặt ra những quy định chặt chẽ, có hiệu quả về các hoạt

Trang 33

động giám sát đối với hoạt động tín dụng và tạo lập hệ thống thông tin và truyền thông hiệu quả trong ngân hàng Đây là biện pháp để hạn chế các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng do quản lý, giám sát khoản vay yếu kém

- KSNB cũng bao gồm việc tái đánh giá định kỳ về các rủi ro tín dụng, những sai sót nhằm có biện pháp khắc phục, giảm thiểu rủi ro

Như vậy, để hoạt động tín dụng có hiệu quả đồng thời ngăn ngừa và kiểm soát được rủi ro tín dụng, NHTM phải thực hiện các biện pháp sau:

a Thiết lập quy trình tín dụng chặt chẽ

Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả công việc của ngân hàng từ khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn của một khách hàng cho đến khi quyết định cho vay, giải ngân, thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng Đối với các ngân hàng, khi thiết kế quy trình tín dụng phải đảm bảo một số các nguyên tắc cơ bản như nguyên tắc phân công, phân nhiệm; nguyên tắc bất kiêm nhiệm và nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn

Việc thiết lập quy trình tín dụng chặt chẽ và hợp lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các NHTM Nó giúp cho ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu rủi ro tín dụng Đồng thời là cơ sở cho việc phân định quyền, trách nhiệm cho các bộ phận trong hoạt động tín dụng, làm cơ sở để thiết lập các hồ sơ, thủ tục vay vốn Mặc khác, quy trình tín dụng là cơ sở để ngân hàng kiểm soát quá trình cấp tín dụng và điều chỉnh chính sách tín dụng của ngân hàng, giúp nhà quản lý có thể phát hiện những sai sót, rủi ro để từ đó

có những điều chỉnh kịp thời

Nhìn chung quy trình tín dụng có thể chia thành ba giai đoạn chính bao gồm: thứ nhất, tiếp nhận hồ sơ và quyết định tín dụng; thứ hai, giải ngân và giám sát tín dụng; thứ ba, thanh lý hợp đồng tín dụng Quy trình tín dụng tại NHTM có thể tóm tắt qua sơ đồ quy trình tín dụng (Phụ lục 4)

b Thiết lập các thủ tục kiểm soát đối với hoạt động tín dụng

Trang 34

Khi thiết lập các thủ tục kiểm soát đối với hoạt động tín dụng, cần tuân thủ các nguyên tắc sau đây:

- Thứ nhất, chu trình xét duyệt tín dụng, giám sát tín dụng được thực hiện đầy đủ, kịp thời có hiệu quả, ngăn ngừa kịp thời những thiếu sót trong hệ thống xử lý

- Thứ hai, các dữ liệu cần thiết được thu thập, chuyển giao và xử lý một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời giúp cho việc ra quyết định tín dụng có chất lượng cao

- Thứ ba, rủi ro tín dụng được quản lý chặt chẽ nhằm ngăn ngừa thất thoát tài sản và có dự phòng rủi ro hợp lý

- Thứ tư, tài liệu, hồ sơ và các tài sản có liên quan đến nghiệp vụ tín dụng được đảm bảo an toàn

Từ những nguyên tắc trên, các thủ tục kiểm soát đối với hoạt động tín dụng được mô tả như sau [1], [4], [13]:

- Giai đoạn tiếp nhận hồ sơ và quyết định tín dụng: Trong giai đoạn này cần kiểm soát tốt các vấn đề sau:

+ Kiểm soát thông tin khách hàng, thông tin về tài sản đảm bảo tránh tình trạng thiết lập các hồ sơ giả nhằm lừa đảo, chiếm đoạt vốn của ngân hàng

+ Kiểm soát việc thực hiện tiêu chuẩn cho vay nhằm đảm bảo rằng việc

đề xuất cho vay tuân theo đúng tiêu chuẩn và các điều kiện cấp tín dụng

+ Kiểm tra khoản vay của khách hàng đưa ra có đúng với khoản vay

mà họ muốn vay hay không vì có nhiều trường hợp cán bộ tín dụng vay thêm vào khoản vay có thật của khách hàng

+ Kiểm soát việc phân tích đầy đủ thông tin tín dụng về khả năng hiện tại và tiềm tàng của khách hàng trong việc sử dụng vốn, khả năng hoàn trả và thu hồi vốn vay cả gốc và lãi Kiểm soát tốt việc này có thể giúp ngân hàng

Trang 35

tìm kiếm những tình huống có thể dẫn đến rủi ro và dự kiến các biện pháp phòng ngừa, hạn chế thiệt hại có thể xảy ra

+ Kiểm soát kết quả thẩm định về thông tin khách hàng, mục đích sử dụng vốn vay và tài sản đảm bảo Cần đảm bảo rằng việc định giá tài sản đã được tiến hành trên cơ sở các căn cứ định giá do ngân hàng đề ra, đồng thời tài sản đảm bảo đủ tiêu chuẩn nhận thế chấp, cầm cố và bảo lãnh

+ Kiểm soát tính chính xác của hồ sơ tín dụng trước khi trình lên cấp có thẩm quyền xét duyệt nhằm đảm bảo các thông tin trong hồ sơ không có sai sót nào

+ Kiểm soát thực hiện quyền phán quyết tín dụng nhằm đảm bảo việc xét cấp tín dụng là đúng thẩm quyền và nằm trong hạn mức xét duyệt được phê chuẩn bởi cấp điều hành cao nhất của ngân hàng

+ Kiểm soát việc thực hiện thủ tục pháp lý đối với tài sản đảm bảo và hợp đồng tín dụng nhằm đảm bảo các thủ tục đã được thực hiện đúng pháp luật và không có sơ hở để có thể gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng

- Giai đoạn giải ngân và giám sát tín dụng: Các vấn đề cần lưu ý khi kiểm soát đối với giai đoạn này:

+ Kiểm tra, giám sát chặt chẽ quá trình giải ngân bao gồm: điều kiện giải ngân, đối tượng, số tiền và tiến độ giải ngân nhằm đảm bảo đúng với các thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đồng thời phải phù hợp với tình hình sử dụng vốn hoặc phương án, dự án đầu tư

+ Cần lưu ý thực hiện nguyên tắc bất kiêm nhiệm giữa người phê duyệt tín dụng với người theo dõi hợp đồng tín dụng trên sổ sách và người chuyển tiền cho khách hàng nhằm đảm bảo hợp đồng tín dụng được thực hiện đúng như đã ký kết

+ Kiểm soát quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng nhằm đảm bảo việc sử dụng vốn đúng với mục đích mà khách hàng đã cam kết

Trang 36

+ Kiểm soát quá trình kiểm tra, cập nhật thường xuyên tình hình tài chính của khách hàng và tài sản đảm bảo nhằm mục đích đảm bảo khả năng thu nợ cả gốc và lãi, đồng thời có những biện pháp xử lý kịp thời nếu có những dấu hiệu bất thường về tình hình tài chính và tài sản đảm bảo của khách hàng

+ Kiểm soát quá trình tuân thủ cam kết trả lãi của khách hàng nhằm đảm bảo việc theo dõi tình hình trả nợ của khách hàng được diễn ra thường xuyên

+ Kiểm soát quá trình thu hồi nợ gốc và lãi nhằm đảm bảo nợ gốc và lãi

được thu hồi đúng hạn, đồng thời đối với những trường hợp khách hàng không trả đúng hạn như cam kết thì cần có những báo cáo kịp thời cho cấp trên để xử lý

+ Kiểm soát việc tập hợp báo cáo về vốn và lãi vay quá hạn nhằm đảm bảo các báo cáo này được cung cấp kịp thời cho những người có thẩm quyền

để có biện pháp xử lý thích hợp Đây là yếu tố thuộc thông tin và truyền thông trong hệ thống KSNB Để đạt được điều này, ngân hàng phải có hệ thống thông tin kế toán hiệu quả, kịp thời và hệ thống kiểm soát trong môi trường xử lý thông tin máy tính hữu hiệu

+ Kiểm soát quá trình thu hồi nợ xấu và đánh giá khả năng thu hồi các khoản nợ xấu này để có quyết định trích lập dự phòng phù hợp, đồng thời đảm bảo các khoản trích lập này là xác thực và hợp lý

- Ngoài ra, cần có những quy định chặt chẽ và giám sát đối với việc

Trang 37

phát mãi tài sản khi khách hàng không có khả năng trả nợ nhằm tránh tình trạng nhân viên thu được các khoản hối lộ hay chênh lệch trong việc này

c Thiết kế hệ thống quản lý rủi ro tín dụng

Quản lý rủi ro tín dụng là quá trình các ngân hàng tác động đến hệ thống tín dụng thông qua bộ máy và công cụ quản lý để phòng ngừa, cảnh báo, đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế đến mức tối đa việc không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay hoặc thu gốc và lãi không đúng hạn

Để hạn chế rủi ro tín dụng, đòi hỏi ngân hàng phải xây dựng hệ thống quản lý rủi ro tín dụng Hệ thống này phải phù hợp với thông lệ quốc tế, trong

đó quan trọng nhất là xây dựng bộ phận quản lý rủi ro ở Hội sở chính và ở các chi nhánh Hệ thống quản lý rủi ro có thể bao gồm: Uỷ ban quản lý rủi ro trực thuộc Hội đồng quản lý; Ban quản lý rủi ro thuộc cơ quan điều hành ở Trung ương và Phòng quản lý rủi ro tại các chi nhánh Trong đó, bộ phận quản lý rủi

ro phải hoạt động theo nguyên tắc không tham gia vào quá trình tạo ra rủi ro

Trang 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong xu thế cạnh tranh và hội nhập quốc tế như hiện nay, NHTM ngày càng khẳng định vai trò quan trọng là kênh chu chuyển vốn và cung cấp các dịch vụ tài chính – ngân hàng cho nền kinh tế, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển Hoạt động tín dụng đóng vai trò quan trọng và là nền tảng thúc đẩy các hoạt động khác của ngân hàng phát triển, tuy nhiên, hoạt động này luôn tiềm

ẩn rủi ro cao Do đó, để hạn chế và ngăn ngừa rủi ro tín dụng, ngoài những biện pháp kỹ thuật đối với nghiệp vụ này, các ngân hàng cần nâng cao hiệu quả hệ thống KSNB

Nội dung chương 1 đã đưa ra cơ sở lý luận về KSNB nói chung, trong

hệ thống NHTM, và khái quát KSNB đối với hoạt động tín dụng Đồng thời, chương 1 cũng đã nêu được những rủi ro tín dụng trong ngân hàng để từ đó thấy được tầm quan trọng của KSNB đối với NHTM Trên cơ sở lý luận nêu trên, chương kế tiếp sẽ đi vào chi tiết thực trạng về KSNB hoạt động tín dụng,

và từ đó đánh giá ưu, nhược điểm của KSNB đối với hoạt động này tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á - Chi nhánh Bình Định

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

ĐÔNG NAM Á - CHI NHÁNH BÌNH ĐỊNH

2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐÔNG NAM Á - CHI NHÁNH BÌNH ĐỊNH

2.1.1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển

Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank) có trụ sở chính tại 25 Trần Hưng Đạo, Quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội SeABank được biết đến là ngân hàng nằm trong nhóm dẫn đầu các NHTM cổ phần lớn nhất Việt Nam

về quy mô vốn điều lệ, mạng lưới hoạt động, mức độ nhận biết thương hiệu

Tại Bình Định, SeABank được thành lập theo Quyết định số 1078/2010/QĐ-HĐQT ngày 25/10/2010 của Hội đồng Quản trị NHTM Cổ phần Đông Nam Á, chính thức đi vào hoạt động ngày 06/05/2011 Trụ sở chính đặt tại số 04-06-08 Ỷ Lan, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định Tính đến thời điểm thành lập đây là chi nhánh thứ 28 và là điểm giao dịch thứ 129

Trang 40

của ngân hàng TMCP Đông Nam Á trên toàn quốc Hiện tại SeABank đã có

01 Phòng giao dịch đặt tại Thị trấn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định

Từ một chi nhánh có quy mô hoạt động nhỏ, qua hơn 09 năm xây dựng

và phát triển với bao thử thách, khó khăn, đến nay SeABank Bình Định đã phần nào tự khẳng định được mình trở thành một trong các chi nhánh NHTM lớn hoạt động trên địa bàn Một số kết quả đã đạt được của SeABank chi nhánh Bình Định trong năm qua như sau:

- Tổng tài sản của chi nhánh đến nay đã đạt gần 900 tỷ đồng, huy động vốn 650 tỷ đồng, doanh số thanh toán quốc tế 10 triệu USD, tổng lợi nhuận năm 2019 đạt gần 10 tỷ đồng

- Chi nhánh Bình Định được đánh giá là một trong những đơn vị hàng đầu thuộc hệ thống SeABank, được tặng danh hiệu “Tập thể lao động tiên tiến Bên cạnh đó chi nhánh còn quan tâm đến hoạt động xã hội, từ thiện…

Trong năm 2020, SeABank Bình Định dự kiến sẽ mở thêm 01 phòng giao dịch tại thị trấn Tam Quan Phấn đấu nâng tổng tài sản đạt mức 1.000 tỷ đông, huy động vốn 800 tỷ đồng, dư nợ cho vay 600 tỷ đồng, thanh toán quốc

tế 20 triệu USD, lợi nhuận đạt 15 tỷ đồng…[15]

2.1.2 Bộ máy quản lý

Hiện tại hệ thống SeABank đang áp dụng cơ cấu tổ chức của chi nhánh theo 03 mô hình, tùy thuộc vào quy mô hoạt động của từng chi nhánh mà áp dụng theo mô hình đó

SeABank Bình Định được Hội đồng Quản trị của ngân hàng cho áp dụng theo mô hình chi nhánh 3, tổ chức theo cơ cấu quản lý dọc từ trên xuống dưới với Ban giám đốc chi nhánh gồm 01 giám đốc & 01 phó giám đốc được thể hiện qua hình 2.1 sau đây:

Ngày đăng: 28/10/2021, 21:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w