1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại viện sốt rét ký sinh trùng côn trùng quy nhơn

124 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Hệ thống kiểm soát nội bộ là một công cụ quản lý hữu hiệu và hiệu quả các nguồn lực kinh tế của đơn vị mình như: con người; tài sản; vốn; … góp phần hạn chế tố

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

NGUYỄN THÀNH TRUNG

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH HỮU HIỆU CỦA

HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI VIỆN SỐT RÉT-KÝ

SINH TRÙNG-CÔN TRÙNG QUY NHƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Bình Định – năm 2020

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, dưới sự hướng dẫn

của TS Phạm Ngọc Toàn Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là

trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, khảo sát, đánh giá được thu thập từ các nguồn khác nhau và chú dẫn trong phần tài liệu tham khảo Nếu phát hiện có bất

kỳ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết

quả luận văn của mình

Tác giả luận văn

Nguyễn Thành Trung

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn TS Phạm Ngọc

Toàn đã nhiệt tình hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn

Tác giả xin bày tỏ sự cảm ơn tới quý Thầy cô ở Phòng sau đại học, thuộc Đại học Quy Nhơn; Khoa Kinh tế & Kế toán trường Đại học Quy Nhơn đã quan tâm, giúp đỡ tác giải trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn

Tác giả xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác và hỗ trợ của cán bộ Viên Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn trong quá trình thu thập tài liệu, và tiến hành phỏng vấn

Trong quá trình học tập, nghiên cứu viết luận văn, chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự thông cảm và ý kiến đóng góp của quý thầy cô

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Các nghiên cứu trước có liên quan 1

3 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 8

7 Kết cấu của luận văn 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 9

1.1 Tổng quan về hệ thống KSNB 9

1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của kiểm soát nội bộ trong khu vực công 9

1.1.2 Khái niệm về hệ thống KSNB 10

1.1.3 Các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB 12

1.1.4 Lợi ích của hệ thống KSNB 22

1.1.5 Các hạn chế vốn có của hệ thống KSNB 23

1.2 Tính hữu hiệu của hệ thống KSNB 23

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của HTKSNB 25

1.3.1 Môi trường kiểm soát 25

1.3.2 Đánh giá rủi ro 25

1.3.3 Hoạt động kiểm soát 26

1.3.4 Thông tin và truyền thông 26

1.3.5 Giám sát 27

1.3.6 Công nghệ thông tin 27

1.4 Các lý thuyết nền 27

Trang 5

1.4.1 Lý thuyết đại diện 27

1.4.2 Lý thuyết hành vi tổ chức 28

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 31

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.1 Thiết kế nghiên cứu 32

2.2 Nghiên cứu định tính 33

2.3 Nghiên cứu định lượng 35

2.3.1 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 35

2.3.2 Xây dựng thang đo và thiết kế bảng câu hỏi nghiên cứu 37

2.4 Mẫu nghiên cứu 41

2.5 Các kỹ thuật phân tích 41

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 45

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46

3.1 Giới thiệu tổng quan về Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn 46

3.1.1 Quá trình thành lập Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn 46

3.1.2 Đặc điểm hoạt động của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn 48

3.2 Kết quả thống kê mẫu nghiên cứu 49

3.3 Đánh giá thang đo 51

3.3.1 Đánh giá độ tin cậy của thang đo của các biến độc lập 51

3.3.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo của biến phụ thuộc 54

3.4 Đánh giá giá trị thang đo 55

3.5 Phân tích hồi quy đa biến 59

3.5.1 Mô hình hồi quy tổng thể 59

3.5.2 Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình 60

3.5.3 Kiểm định trọng số hồi quy 60

3.5.4 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 61

3.5.5 Kiểm định hiện tượng tự tương quan của phần dư 61

3.5.6 Kiểm định về phân phối chuẩn của phần dư 62

3.5.7 Kiểm định giải định phương sai của sai số (phần dư) không đổi 63

3.5.8 Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 64

Trang 6

3.6 Bàn luận kết quả nghiên cứu 65

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 68

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69

4.1 Kết luận 69

4.2 Kiến nghị 70

4.2.1 Môi trường kiểm soát 70

4.2.2 Đánh giá rủi ro 71

4.2.3 Giám sát 71

4.2.4 Công nghệ thông tin 72

4.2.5 Hoạt động kiểm soát 72

4.2.6 Thông tin và truyền thông 73

4.3 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài 74

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 75

KẾT LUẬN 76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CĐCS: Chế độ chính sách

CNTT: Công nghệ thông tin

ĐGRR: Đánh giá rủi ro

HTKSNB: Hệ thống kiểm soát nội bộ

KSNB: Kiểm soát nội bộ

KST-CT: Ký sinh trùng-Côn trùng

MTKS: Môi trường kiểm soát

NSNN: Ngân sách Nhà Nước

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Tổng hợp đề xuất các nhân tố tác động đến tính hữu hiệu của hệ

thống KSNB tại Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn 35

Bảng 2.2: Thang đo các biến trong mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn 38

Bảng 3.1: Kết quả thống kê phiếu khảo sát hợp lệ 50

Bảng 3.2: Đặc điểm mẫu nghiên cứu 50

Bảng 3.3: Kết quả phân tích Crobach’s Alpha cho thang đo biến độc lập 51

Bảng 3.4 Kết quả phân tích Crobach’s Alpha cho thang đo biến phụ thuộc 54

Bảng 3.5: Kiểm định KMO và Bartlett cho thang đo các biến độc lập 55

Bảng 3.6:Bảng phương sai trích cho thang đo biến độc lập 56

Bảng 3.7: Ma trận nhân tố xoay 57

Bảng 3.8:Kiểm định KMO và Bartlett cho thang đo biến phụ thuộc 58

Bảng 3.9: Bảng phương sai trích cho thang đo biến phụ thuộc 58

Bảng 3.10: Ma trận nhân tố biến phụ thuộc 59

Bảng 3.11: Bảng tóm tắt mô hình hồi quy 60

Bảng 3.12: Phân tích ANOVA 60

Bảng 3.13: Bảng trọng số hồi quy 61

Trang 9

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2.1: Thiết kế nghiên cứu 32

Hình 2.2: Mô hình nghiên cứu 36

Hình 3.1: Đồ thị Histogram của phần dƣ đã chuẩn hóa 62

Hình 3.2: Đồ thị P-P Plot của phần dƣ đã chuẩn hóa 63

Hình 3.3: Đồ thị phân tán giữa giá trị dự đoán và phần dƣ từ hồi quy 64

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hệ thống kiểm soát nội bộ là một công cụ quản lý hữu hiệu và hiệu quả các nguồn lực kinh tế của đơn vị mình như: con người; tài sản; vốn; … góp phần hạn chế tối đa những rủi ro phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh và làm tăng mức độ tin cậy của báo cáo tài chính đảm bảo được các mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất

Tuy nhiên một thực trạng khá phổ biến hiện nay là phương pháp quản lý của nhiều đơn vị nói chung và Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn nói riêng còn lỏng lẻo các đơn vị có hệ thống phân quyền cho cấp dưới mà thiếu kiểm tra đầy đủ, do vậy

mà hiệu quả quản lý không cao, các mục tiêu của đơn vị đặt ra cũng không được đảm bảo thực hiện, các rủi ro, gian lận trong đơn vị còn xảy ra mà thiếu hệ thống kiểm soát chặt chẽ Hệ thống kiểm soát nội bộ được coi như là một công cụ hữu hiệu cho các nhà quản lý điều hành nhằm đạt được các mục tiêu đề ra thông qua việc kiểm soát, ngăn chặn và phát hiện các hành vi thiếu trung thực và gian lận trong nội bộ đơn vị Một HTKSNB vững mạnh sẽ giúp đơn vị giải quyết được những vấn đề đó Do đó, việc xây dựng hoàn thiện HTKSNB phù hợp với các đơn

vị là một yêu cầu thiết yếu, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý đồng thời giúp đơn

vị đạt được các mục tiêu như mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo và mục tiêu tuân thủ

Nhìn nhận thấy tầm quan trọng và bức thiết của vấn đề này, tác giả quyết định

chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại

Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn” để thực hiện nghiên cứu

2 Các nghiên cứu trước có liên quan

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

- Cao Thị Thanh Tâm (2014), “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các

cơ sở khám chữa bệnh công lập trên địa bàn tỉnh Tiền Giang” Trong nghiên cứu

này, tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về hệ thống KSNB theo INTOSAI dành

Trang 11

cho các đơn vị thuộc khu vực công lập Và trên cơ sở lý thuyết đó, tác giả đã tiến hành tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng về hệ thống KSNB của các đơn vị y

tế trực thuộc ngành y tế tỉnh Tiền Giang dựa trên 5 thành phần cấu thành của hệ thống KSNB theo INTOSAI Tác giả đã tiến hành khảo sát 16 đơn vị trục thuộc sở

y tế tỉnh Tiền Giang bằng bảng câu hỏi khảo sát Dựa trên số liệu thu thập đuợc, tác giả cũng sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh, tổng hợp để phân tích, đánh giá các mặt được và chưa được của hệ thống KSNB ở các cơ sở khám chữa bệnh công lập trên địa bàn tỉnh Tiền Giang cũng như là nguyên nhân yếu kém của hệ thống KSNB ở các đơn vị này Tác giả cũng đã đưa ra các giải pháp

để hoàn thiện hệ thống KSNB cho các đơn vị này trên cơ sở 5 thành phần cấu thành nên hệ thông KSNB giải pháp khác đối với các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan

- Nguyễn Thị Thủy (2016), “ ư ng ức độ ảnh hưởng các thành tố đến

tính hữu hiệu của hệ thống kiểm s t nội ộ tại các đơn vị chế iến thủy sản tỉnh Khánh Hòa”, luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh

Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết: có 5 nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của

hệ thống KSNB các đơn vị chế biến thủy sản Khánh Hòa bao gồm: Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin và truyền thông, Giám sát Các nhân tố đều ảnh hưởng thuận chiều đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB, trong 5 nhân tố này thì nhân tố có sự ảnh hưởng mạnh nhất đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB là Đánh giá rủi ro (β = 0.438), tiếp đến là nhân tố Môi trường kiểm soát (β = 0.418), Hoạt động kiểm soát (β =0.246), Giám sát (β = 0.176), và cuối cùng là thông tin và truyền thông (β = 0.12) Từ đó, tác giả đề xuất, đơn vị cần chú trọng hơn đến các nhân tố nào mà tác động mạnh đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB, đó là nhân tố Đánh giá rủi ro, môi trường kiểm soát, hoạt động kiểm soát, giám sát và cuối cùng thông tin và truyền thông để nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các đơn vị chế biến thủy sản tỉnh Khánh Hòa

- Triệu Phương Hồng (2016), “Đo lường mức độ ảnh hưởng của các thành

tố đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các công ty xây dựng

Trang 12

trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học

Kinh tế TP Hồ Chí Minh Thông qua phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, tác giả đã chỉ ra rằng mô hình và các thang đo được sử dụng trong nghiên cứu là có ý nghĩa Kết quả cho thấy 6 nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ của các công ty xây dựng trên địa bàn TP HCM Mỗi nhân

tố có mức độ tác động đến sự hiệu quả khác nhau và được sắp xếp theo trật tự từ cao xuống thấp như sau: hoạt động đánh giá rủi ro, công nghệ thông tin, nhân tố hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, hoạt động giám sát và môi trường kiểm soát Từ đó, tác giả đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các công ty xây dựng trên địa bàn TP.HCM

- Phạm Huyền Trang (2017), “Những nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu

của hệ thống kiểm soát nội bộ tại Kho bạc Nhà nước trên địa bàn Thành Phố

Hồ Chí Minh”, luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh

Nghiên cứu góp phần hệ thống hoá các cơ sở lý luận liên quan đến những nội dung

về hệ thống kiểm soát nội bộ Nghiên cứu đã xác định 5 nhân tố và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ các KBNN trên địa bàn TPHCM, đó là: đánh giá rủi ro, môi trường kiểm soát, thông tin và truyền thông, hoạt động kiểm soát, giám sát, trong đó, nhân tố thông tin và truyền thông có ảnh hưởng lớn nhất Từ đó, tác giả xây dựng giải pháp cụ thể và các kiến nghị để nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại Kho bạc Nhà nước trên địa bàn TP.HCM

- Nguyễn Ngọc Tuyền (2017) “Các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu

của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các bệnh viện trực thuộc Sở Y tế TP.HCM”

Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ; thực hiện kiểm định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến tính hữu hiệu của hệ thống này Kết quả nghiên cứu cho thấy cả 5 yếu tố của hệ thống KSNB có tác động đến tính hữu hiệu quả hệ thống kiểm soát nội bộ gồm: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, thông tin truyền thông, hoạt động kiểm soát, giám

Trang 13

sát Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường tính hữu hiệu của

hệ thống KSNB

- Trần Thị Như Quỳnh (2018), “Đánh giá sự tác động của các yếu tố cấu

thành đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các bệnh viện công lập tỉnh Phú Yên”, luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí

Minh Trước hết, nghiên cứu góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về hệ thống KSNB theo hướng dẫn của INTOSAI 2013, trình bày một số các nghiên cứu trong

và ngoài nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu, từ đó đề xuất mô hình các yếu tố cấu thành đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các bệnh viện công lập tỉnh Phú Yên Tiếp đó, bằng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng, đề tài xác định được trong hệ thống kiểm soát nội bộ tại các bệnh viện công lập tỉnh Phú Yên có tồn tại đủ 5 yếu tố của hệ thống là Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin & truyền thông và Giám sát Kết quả phân tích mô hình hồi quy đa biến cho thấy 5 yếu tố cấu thành đều có ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các bệnh viện công lập tỉnh Phú Yên (cụ thể là có tác động dương) Mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB lần lượt từ cao đến thấp là: tác động mạnh nhất là yếu tố Đánh giá rủi ro (β=0.51), tác động mạnh thứ hai là Thông tin và truyền thông (β=0.435), tác động mạnh thứ ba là Giám sát (β=0.347), tác động mạnh thứ tư là Môi trường kiểm soát (β=0.336) và tác động yếu nhất là Hoạt động kiểm soát (β=0.330) Từ kết quả nghiên cứu, đề xuất định hướng một số kiến nghị

để hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các bệnh viện công lập tỉnh Phú Yên

2.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài

- Amudo, A & Inanga, E.L (2009), Evaluation of Internal Control Systems: A Case Study from Uganda Interational Research Journal of Fiance and Econmics – Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ: trường hợp nghiên cứu tại Uganda Tạp chí nghiên cứu quốc tế về Kinh tế Tài Chính Nghiên cứu này tiến hành nghiên cứu các nước thành viên khu vực (RMCs) của Tổ chức Ngân Hàng Phát Triển Châu Phi (AFDB) tập trung vào Uganda ở Đông Phi Kết quả của nghiên cứu cho thấy ngoài

Trang 14

5 thành phần của hệ thống KSNB, nhân tố công nghệ thông tin cũng có ảnh hưởng đáng kể đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB

- Annukka Jokipii (2010), Determinants and consequences of internal control

in firms: A contingency theory based analysis – Các yếu tố và tầm quan trọng của kiểm soát nột bộ trong các tổ chức : Lý thuyết ngẫu nhiên trên cơ sở sự phân tích Kết quả nghiên cứu cho thấy để đo lường tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội

bộ, phải dựa trên việc đạt được các mục tiêu của nó, bao gồm sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động, thông tin đáng tin cậy, tuân thủ pháp luật và các quy định, đồng thời, sự hiện diện đầy đủ và thực hiện đúng chức năng của năm thành phần liên quan đến từng loại mục tiêu của tổ chức sẽ đảm bảo cho sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ

- Philip Ayagre (2014), The effectiveness of Internal Control Systems of banks: The case of Ghanaian banks – Sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng: Trường hợp tại các ngân hàng Ghana Nghiên cứu này tiến hành nghiên cứu ở các ngân hàng tại quốc gia Ghana Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, dữ liệu đượng thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát dựa trên thang đo likert 5 điểm Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự kiểm soát vững chắc tồn tại trong thành phần môi trường kiểm soát và hoạt động giám sát trong hệ thống kiểm soát nội bộ ở các ngân hàng tại Ghana

- Babatunde S.A & Dandago K.I (2014) về “Internal Control System Deficiency and Capital Project Mis -management in the Nigerian Public Sector” Nghiên cứu này nhằm phân tích tác động của sự thiếu hụt HTKSNB đối với việc quản lý dự án vốn trong khu vực công của Nigeria Tác giả kiểm định mẫu nghiên cứu gồm 228 dự án vốn thuộc khu vực công và cho thấy sự thiếu hụt HTKSNB có tác động tiêu cực đến hiệu quả quản lý dự án vốn thuộc khu vực công Nigeria Tác giả khuyến cáo, tuân thủ nghiêm ngặt HTKSNB để bảo đảm lợi ích của cộng đồng

- Joseph O.N & Albert O & Byaruhanga P.J (2015) đã tập trung vào tìm hiểu

sự ảnh hưởng của hệ thống kiểm soát nội bộ trong việc nhận diện và ngăn chặn gian lận tại Kakamega, xác định rằng 5 thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ (Môi

Trang 15

trường kiểm soát, Quản lý rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin và truyền thông, Giám sát) có tác động đến các chỉ số của việc nhận diện và ngăn chặn gian lận (khả năng giải trình của quỹ, sự sự hữu hiệu và hiệu suất của hoạt động, tính kinh tế trong dự án thực hiện)

- Adebiyi Ifeoluwa Mary (2017), với “Impact of Effective Internal Control in the Management of Mother and Child Hospital Akure, Ondo State” Mục đích của công trình nghiên cứu này là kiểm tra tác động của KSNB hữu hiệu trong việc quản

lý tại bệnh viện mẹ và trẻ em, Oke-Aro, Akure, bang Ondo Kết quả cho thấy, một HTKSNB được thiết lập ở bệnh viện mẹ và trẻ em, OkeAro, Akure, Ondo State và

có tác động đáng kể đến việc quản lý, tăng trưởng và tồn tại của bệnh viện

- Mahmoud Ibrahim (2018), với đề tài “Internal Control and Public Sector Revenue Generation in Nigeria: an Empirical Analysis” Các kết quả đã cho thấy rằng, các thành phần của môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông có tác động tích cực đến việc tạo nguồn thu khu vực công tăng lên Người lãnh đạo nên thành lập bộ phận KSNB trong các tổ chức Nên thiết kế các biện pháp KSNB để đảm bảo tính hữu hiệu và hiệu quả, độ tin cậy của báo cáo tài chính cũng như tuân thủ các quy định và pháp luật Điều này sẽ cải thiện việc tạo doanh thu, sẽ đảm bảo tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững của Nigeria

3 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu chung: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của

hệ thống kiểm soát nội bộ Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn hiện nay

- Mục tiêu cụ thể: Luận văn được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu cụ

thể sau:

+ Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn

Trang 16

+ Đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn

3.2 Câu hỏi nghiên cứu

Tương ứng với các mục tiêu nghiên cứu cụ thể, đề tài có hai câu hỏi nghiên cứu cần giải quyết đó là:

- Những nhân tố nào sẽ ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn?

- Mức độ tác động của các nhân tố đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn như thế nào?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, kết hợp

cả hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để thực hiện nghiên cứu Cụ thể:

+ Nghiên cứu định tính: Bằng việc thực hiện các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp nghiên cứu tài liệu, tổng hợp, phân tích, so sánh, lấy ý kiến chuyên gia, thống kê mô tả để tổng quát hóa cơ sở lý thuyết về hệ thống kiểm soát nội bộ và tổng quan các nghiên cứu trước, xác định sơ bộ các nhân tố ảnh hưởng

Trang 17

đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn hiện nay

+ Nghiên cứu định lượng: Phương pháp định lượng bao gồm việc xây dựng bảng câu hỏi khảo sát các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn, sau đó kiểm định mô hình, kiểm định thang đo, đo lường mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại Viện Sốt rét- KST-CT Quy Nhơn Trên cơ sở

đó đề xuất các kiến nghị phù hợp để hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu góp phần hệ thống cơ sở lý thuyết liên quan

đến hệ thống KSNB, tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các đơn vị

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu một mặt giải quyết được mục tiêu

xác định nhân tố tác động đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại Viện Sốt KST-CT Quy Nhơn, mặc khác đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn Nghiên cứu cũng đóng góp những ý nghĩa thực tiễn thiết thực giúp các nhà quản lý tại đơn vị nâng cao hiệu quả quản lý đồng thời hỗ trợ đơn vị đạt được các mục tiêu đã đặt ra

rét-7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm các chương như sau:

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Trang 18

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KSNB

1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của kiểm soát nội bộ trong khu vực công

Trong lĩnh vực công, kiểm soát nội bộ rất được xem trọng, là một đối tượng được quan tâm đặc biệt của kiểm toán viên nhà nước và các đơn vị thuộc khu vực công trong việc tổ chức quản lý tại đơn vị

Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) ra đời vào năm

1953 Với vai trò là hiệp hội nghề nghiệp của các cơ quan kiểm toán tối cao, INTOSAI đã góp phần quan trọng trong việc giúp các thành viên hoàn thành nhiệm

vụ của mình Ngoài ra, INTOSAI còn là diễn đàn về kiểm toán viên nhà nước trên toàn thế giới, trao đổi những vấn đề cùng quan tâm và cập nhật những tiến bộ mới nhất của các chuẩn mực kiểm toán và các quy định về nghề nghiệp cũng như thông

lệ tốt nhất

Năm 1992, bản hướng dẫn về chuẩn mực kiểm soát nội bộ của INTOSAI đã hình thành một tài liệu đề cập đến việc nâng cấp các chuẩn mực kiểm soát nội bộ,

hỗ trợ cho việc thực hiện và đánh giá kiểm soát nội bộ

Năm 2001, bản hướng dẫn của INTOSAI 1992 đã cập nhật thêm về các chuẩn mực kiểm soát nội bộ để phù hợp với tất cả đối tượng và phù hợp với sự phát triển gần đây trong kiểm soát nội bộ, và công bố năm 2004 Tài liệu này đã tích hợp các lý luận chung về kiểm soát nội bộ của báo cáo COSO Năm 2013, INTOSAI tiếp tục được cập nhật và công bố áp dụng vào năm 2014

Bên cạnh việc cải thiện định nghĩa kiểm soát nội bộ và xây dựng một sự hiểu biết thông thường về kiểm soát nội bộ, tài liệu của INTOSAI trình bày những vấn

đề đặc thù của khu vực công

Năm 1996, Kiểm toán Nhà nước Việt Nam là thành viên chính thức của tổ chức INTOSAI Đến năm 1997, Việt Nam tham gia tổ chức các cơ quan kiểm toán tối cao Châu Á (ASOSAI) ASOSAI thành lập năm 1979, hiện nay có 45 thành

Trang 19

viên Từ tháng 10/2009, Việt Nam là thành viên Ban điều hành tổ chức này nhiệm

kỳ 2009-2012

1.1.2 Khái niệm về hệ thống KSNB

- Theo định nghĩa do COSO đưa ra năm 1992: “Kiểm soát nội bộ là một

quá trình do nhà quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện mục tiêu: Báo cáo tài chính đáng tin cậy, các luật lệ và quy định được tuân thủ, hoạt động hữu hiệu

và hiệu quả”

- Nội dung của hệ thống KSNB: Thực chất là các hoạt động, biện pháp, kế

hoạch, quan điểm, nội dung chính sách và nổ lực của mọi thành viên trong tổ chức đảm bảo cho tổ chức đó hoạt động hiệu quả và đạt được những mục tiêu đặt ra một cách hợp lý

- Mục tiêu: Có 4 mục tiêu chính được xác định rõ ràng và phân chia đều cho

2 dạng của hệ thống KSNB:

+ Bảo vệ tài sản của tổ chức

+ Đảm bảo thông tin kế toán chính xác và tin cậy

+ Thúc đẩy hiệu quả hoạt động kinh doanh

+ Khuyến khích sự gắn bó của nhân viên đối với các chính sách của công ty

Theo hướng dẫn của INTOSAI (1992): “Kiểm soát nội bộ là cơ cấu của

một tổ chức, bao gồm nhận thức, phương pháp, quy trình và các biện pháp của người lãnh đạo nhằm bảo đảm sự hợp lý để đạt được các mục tiêu của tổ chức”

Theo hướng dẫn INTOSAI (2004): “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị

chi phối bởi nhà quản lý và các nhân viên trong đơn vị, nó được thiết lập để đối phó với các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu chung của tổ chức” Theo đó có 5 đặc điểm quan trọng cần làm rõ, đó là:

- KSNB là một quá trình KSNB không phải là từng hoạt động riêng rẽ mà là một chuỗi các hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận trong đơn vị và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất Quá trình này là phương tiện giúp đơn

vị đạt được mục tiêu của mình

Trang 20

- KSNB chịu sự chi phối bởi con người KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người Vì vậy, muốn hệ thống KSNB thực sự hữu hiệu và hiệu quả, tạo thành sức mạnh tổng hợp thì từng thành viên trong tổ chức phải hiểu được trách nhiệm, quyền hạn của mình và hướng các hoạt động của họ đến mục tiêu chung của

tổ chức

- KSNB được thiết lập để đối phó rủi ro Hoạt động của tổ chức luôn phải đối mặt với nhiều rủi ro tiềm ẩn KSNB có thể giúp tổ chức nhận diện, chủ động phòng ngừa và đối phó với những rủi ro này, qua đó tối đa hóa khả năng đạt được mục tiêu

- KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý Trong tổ chức luôn có những rủi

ro tiềm tàng và trong bản thân của hệ thống KSNB cũng tồn tại những hạn chế tiềm tàng Đó là sự phức tạp trong hoạt động của đơn vị, sự thông đồng của các cá nhân hay lạm quyền của nhà quản lý Do đó, KSNB chỉ có thể cung cấp một sự đảm bảo hợp lý trong việc đạt được mục tiêu của đơn vị chứ không thể đảm bảo tuyệt đối

- Các mục tiêu của KSNB Hoạt động của tổ chức luôn hướng về mục tiêu đề

ra Ở khu vực công, mục tiêu thường liên quan đến các dịch vụ công cộng và lợi ích cộng đồng, bao gồm:

+ Mục tiêu hoạt động: Nhằm đạt được sự hữu hiệu và hiệu quả trong hoạt động của đơn vị, các hoạt động của đơn vị được thực hiện một cách có kỷ cương, có đạo đức, có tính kinh tế, hiệu quả và thích hợp, thực hiện đúng trách nhiệm

+ Mục tiêu về báo cáo: Báo cáo cung cấp các thông tin tài chính và phi tài chính kịp thời, phù hợp cho các đối tượng sử dụng

+ Mục tiêu tuân thủ: Tuân thủ công ước quốc tế, pháp luật của quốc gia và các quy định có liên quan

+ Mục tiêu về quản lý nguồn lực: Mục tiêu này là phần chi tiết hóa về hoạt động của đơn vị, nhưng do đặc thù của khu vực công nên INTOSAI muốn nhấn mạnh thêm tầm quan trọng của việc sử dụng hợp lý nguồn ngân sách, tránh lạm dụng, lãng phí nguồn lực quốc gia

Trang 21

Theo hướng dẫn của INTOSAI (2013): “Kiểm soát nội bộ cũng giống như

hướng dẫn của INTOSAI năm 2004 tuy nhiên về mục tiêu của báo cáo INTOSAI có thay đổi theo hướng dẫn về quản trị rủi ro, KSNB và biện pháp để giảm thiểu gian lận, từ đó giúp cải thiện hiệu quả hoạt động cũng như tăng cường giám sát của tổ chức”

1.1.3 Các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB

Theo INTOSAI (2013) thì hệ thống kiểm soát nội bộ được cấu thành từ các bộ phận: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát Cụ thể như sau:

1.1.3.1 Môi trư ng kiểm soát

Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một đơn vị nó chi phối ý thức kiểm soát của mọi thành viên trong đơn vị và là nền tảng đối với các bộ phận khác của kiểm soát nội bộ Các nhân tố chính thuộc về môi trường kiểm soát là:

Tính chính trực và giá trị đạo đức:

Sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ truớc tiên phụ thuộc vào tính chính trực và việc tôn trọng các giá trị đạo đức của những nguời liên quan đến các quá trình kiểm soát Để đáp ứng yêu cầu này, các nhà quản lý cao cấp phải xây dựng những chuẩn mực về đạo đức trong đơn vị và cư xử đúng đắn để có thể ngăn cản không cho các thành viên có các hành vi thiếu đạo đức hoặc phạm pháp Muốn vậy, những nhà quản lý cần phải làm gương cho cấp dưới về việc tuân thủ các chuẩn mực và cần phải phổ biến những quy định đến mọi thành viên bằng các thể thức thích hợp

Một cách khác để nâng cao tính chính trực và sự tôn trọng các giá trị đạo đức

là phải loại trừ hoặc giảm thiểu những sức ép hay điều kiện có thể dẫn đến nhân viên có những hành vi thiếu trung thực

Đảm bảo về năng lực:

Là đảm bảo cho nhân viên có được những kỹ năng và hiểu biết cần thiết để thực hiện được nhiệm vụ của mình, nếu không chắc chắn họ sẽ thực hiện nhiệm vụ được giao không hữu hiệu và hiệu quả Do đó, nhà quản lý chỉ nên tuyển dụng các

Trang 22

nhân viên có trình độ đào tạo và kinh nghiệm phù hợp với nhiệm vụ được giao, và phải giám sát và huấn luyện họ đầy đủ và thường xuyên

Hội đồng Quản trị và Uỷ ban Kiểm toán:

Nhiều nước trên thế giới yêu cầu các công ty cổ phần có niêm yết ở thị trường Chứng khoán phải thành lập Ủy ban Kiểm toán Đây là Uỷ ban gồm một số thành viên trong và ngoài Hội đồng Quản trị nhưng không tham gia vào việc điều hành đơn vị Ủy ban Kiểm toán có thể có những đóng góp quan trọng cho việc thực hiện các mục tiêu của đơn vị, thông qua việc giám sát sự tuân thủ pháp luật, giám sát việc lập báo cáo tài chính, giữ sự độc lập của kiểm toán nội bộ Do có các chức năng quan trọng trên, nên sự hữu hiệu của Uỷ ban Kiểm toán và Hội đồng Quản trị

có ảnh hưởng lớn đến môi trường kiểm soát

Các nhân tố được xem xét để đánh giá sự hữu hiệu của Hội đồng Quản trị hoặc Uỷ ban Kiểm toán gồm mức độ độc lập, kinh nghiệm và uy tín của các thành viên trong Hội đồng Quản trị hoặc Ủy ban Kiểm toán, và mối quan hệ của họ với bộ phận kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập

Triết lý quản lý và phong cách điều hành của nhà quản lý:

Triết lý quản lý thể hiện quan điểm và nhận thức của người quản lý; phong cách điều hành lại thể hiện cá tính, tư cách và thái độ của họ khi điều hành đơn vị Một số nhà quản lý rất quan tâm đến việc lập báo cáo tài chính và rất chú trọng đến việc hoàn thành hoặc vượt mức kế hoạch Họ hài lòng với những hoạt động kinh doanh có mức rủi ro cao, nhưng có thế thu được nhiều lợi nhuận Một số nhà quản

lý khác lại rất bảo thủ và quá thận trọng với rủi ro Sự khác biệt về triết lý quản lý

và phong cách điều hành có thể ảnh hưởng đến môi trường kiểm soát và tác động đến việc thực hiện các mục tiêu của đơn vị

Triết lý quản lý và phong cách điều hành cũng được phản ánh trong cách thức nhà quản lý sử dụng các kênh thông tin và quan hệ với cấp dưới Có nhiều nhà quản lý trong quá trình điều hành thích tiếp xúc và trao đổi trực tiếp với các nhân viên Ngược lại, có những nhà quản lý chỉ thích điều hành công việc theo một trật tự

đã được xác định trong cơ cấu tổ chức của đơn vị

Trang 23

Cơ cấu tổ chức:

Cơ cấu tổ chức thực chất là sự phân chia trách nhiệm và quyền hạn giữa các

bộ phận trong đơn vị, nó góp phần rất lớn trong việc đạt được các mục tiêu Nói cách khác, cơ cấu phù hợp sẽ là cơ sở cho việc lập kế hoạch, điều hành, kiểm soát

và giám sát các hoạt động Vì thế, khi xây dựng một cơ cấu tổ chức phải xác định được các vị trí then chốt với quyền hạn, trách nhiệm và các thể thức báo cáo cho phù hợp Tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc vào quy mô và tính chất hoạt động của đơn vị Cơ cấu tổ chức của một đơn vị thường được mô tả qua sơ đồ tổ chức, trong

đó phản ánh các mối quan hệ về quyền hạn, trách nhiệm và báo cáo

Cách thức phân định và quyền hạn và trách nhiệm:

Phân định quyền hạn và trách nhiệm được xem là phần mở rộng của cơ cấu

tổ chức Nó cụ thể hoá về quyền hạn và trách nhiệm của từng thành viên phải hiểu biết rằng họ có nhiệm vụ cụ thể gì và từng hoạt động của họ sẽ ảnh hưởng như thế nào đến người khác trong việc hoàn thành mục tiêu Do đó, khi mô tả công việc, đơn vị cần phải thể chế hoá bằng văn bản về những nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của từng thành viên và quan hệ giữa họ với nhau

Chính sách nhân sự:

Là các chính sách và thủ tục của nhà quản lý về việc tuyển dụng, huấn luyện,

bổ nhiệm, đánh giá, sa thải, đề bạt, khen thưởng và kỷ luật nhân viên Chính sách nhân sự có ảnh hưởng đáng kể đến sự hữu hiệu của môi trường kiểm soát thông qua tác động đến nhân tố khác trong môi trường kiểm soát như đảm bảo về năng lực, tính chính trực và các giá trị đạo đức

Môi trường kiểm soát ảnh hưởng đến mọi hoạt động của một đơn vị, trong

đó có công tác kế toán và độ trung thực của báo cáo tài chính

1.1.3.2 nh gi rủi ro

Đây là một bộ phận thứ hai của hệ thống kiểm soát nội bộ Như mọi người đều biết, tất cả các hoạt động diễn ra trong đơn vị đều có thể phát sinh những rủi ro

và khó có thể kiểm soát tất cả Vì vậy, các nhà quản lý phải thận trọng khi xác định

và phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro làm cho những mục tiêu- kể cả

Trang 24

mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động của đơn vị có thể không được thực hiện và phải cồ gắng kiểm soát được những rủi ro này

Để giới hạn được rủi ro ở mức chấp nhận được, người quản lý phải xác định được mục tiêu của đơn vị, nhận dạng và phân tích rủi ro từ đó mới có thể kiểm soát được rủi ro

X c định mục tiêu của đơn vị:

Mục tiêu tuy không phải là một bộ phận của kiếm soát nội bộ nhung việc xác định nó là điều kiện tiên quyết để đánh giá rủi ro Bởi lẽ một sự kiện có trở thành rủi

ro quan trọng đối với tổ chức hay không sẽ phụ thuộc vào mức độ tác động tiêu cực của nó đến mục tiêu của đơn vị Xác định mục tiêu bao gồm việc đưa ra sứ mệnh, hoạch định các mục tiêu chiến lược cũng như những chỉ tiêu phải đạt được trong ngắn hạn, trung hạn, dài hạn Việc xác định mục tiêu có thể thực hiện qua việc ban hành các văn bản hoặc đơn giản hơn, qua nhận thức và phát biểu hàng ngày của người quản lý

Để nhận dạng rủi ro, người quản lý có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, từ việc sử dụng các phương tiện dự báo, phân tích các dữ liệu quá khứ, cho đến việc rà soát thường xuyên các hoạt động Trong các đơn vị nhỏ, công việc này

có thể tiến hành những cuộc tiếp xúc với khách hàng, ngân hàng hoặc các buổi họp giao ban trong nội bộ

Trang 25

Phân tích và đ nh gi rủi ro:

Vì rủi ro rất khó định lượng nên đây là một công việc khá phức tạp và có nhiều phương pháp khác nhau Tuy nhiên, một quy trình phân tích và đánh giá rủi

ro thường bao gồm những bước sau đây: Ước lượng tầm cỡ của rủi ro qua ảnh hưởng có thể có của nó đến mục tiêu của đơn vị, xem xét khả năng xảy ra rủi ro và những biện pháp có thể sử dụng để đối phó với rủi ro

Trong lĩnh vực kế toán, có thể kể những rủi ro đe dọa sự trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính như ghi nhận các tài khoản không có thực hoặc là không thuộc quyền sở hữu của đơn vị; đánh giá tài sản và các khoản nợ phải trả không phù hợp với các chuẩn mực, chế độ kế toán; khai báo không đầy đủ thu nhập và chi phí; trình bày những thông tin tài chính không phù hợp với yêu cầu của chuẩn mực và chế độ kế toán

Các rủi ro trên có thể phát sinh từ trong bản chất hoạt động của đơn vị hoặc

từ yếu kém của chính hệ thống kiếm soát nộ bộ

1.1.3.3 Hoạt động kiểm soát

Hoạt động kiểm soát là những chính sách và thủ tục để đảm bảo cho các chỉ thị của nhà quản lý được thực hiện Các chính sách và thủ tục này giúp thực thi những hành động với mục đích chính là giúp kiểm soát các rủi ro mà đơn vị đang hay có thể gặp phải Có nhiều loại hoạt động kiểm soát khác nhau có thể được thực hiện, và dưới đây là những hoạt động kiểm soát chủ yếu trong đơn vị:

Phân chia trách nhiệ đầy đủ:

Phân chia trách nhiệm là không cho phép một thành viên nào được giái quyết mọi mặt của nghiệp vụ từ khi hình thành cho đến khi kết thúc Chẳng hạn, không thành viên nào được kiêm nhiệm các chức năng phê chuẩn, thực hiện, ghi chép nghiệp vụ và bảo quản tài sản

Mục đích của phân chia trách nhiệm nhằm để các nhân viên kiểm soát lẫn nhau; nếu có các sai sót xảy ra sẽ được phát hiện nhanh chóng; đồng thời giảm cơ hội cho bất kỳ thành viên nào trong quá trình thực hiện nhiệm vụ có thể gây ra và giấu diếm những sai phạm của mình

Trang 26

Thí dụ như phân chia trách nhiệm đòi hỏi phải tách biệt giữa các chức năng sau đây:

- Chức năng bảo quản tài sản với chức năng kê toán: Lý do không cho phép

nhân viên bảo quản tài sản được làm nhiệm vụ lưu giữ các sổ sách kế toán về tài sản

đó là để ngăn chặn hành vi tham ô tài sản Vì nếu cho kiêm nhiệm hai chức năng trên có thể tạo rủi ro là nhân viên sẽ tự tiện sử dụng tài sản để phục vụ cho lợi ích cá nhân và điều chỉnh sổ sách để che giấu sai phạm của mình

- Chức năng phê chuẩn nghiệp vụ với chức năng bảo quản tài sản: Nghĩa là

người được giao nhiệm vụ phê chuẩn nghiệp vụ không được kiêm bảo quản tài sản

vì tạo khả năng thâm lạm tài sản

- Chức năng thực hiện nghiệp vụ với chức năng kế toán: Nếu từng bộ phận vừa

thực hiện nghiệp vụ vừa ghi chép và báo cáo thì họ sẽ có xu hướng thổi phồng kết quả để tăng thành tích của bộ phận hoặc khu vực của mình

Muốn không cho thông tin bị thiên lệch như trên, quá trình ghi sổ nên giao cho một

bộ phận riêng biệt thực hiện - thường là bộ phận kế toán

Kiểm soát quá trình xử lý thông tin và các nghiệp vụ:

Để thông tin đáng tin cậy cần phải thực hiện nhiều hoạt động kiểm soát nhằm kiểm tra tính xác thực, đầy đủ và việc phê chuẩn các nghiệp vụ

Khi kiểm soát quá trình xử lý thông tin, cần bảo đảm rằng phải kiểm soát chặt chẽ hệ thống chứng từ, sổ sách; việc phê chuẩn các loại nghiệp vụ phải đúng đắn, cụ thể là:

Kiểm soát hệ thống chứng từ sổ sách cần phải chú ý những vấn đề sau:

- Các chứng từ phải được đánh số liên tục trước khi sử dụng để có thể kiểm soát, tránh thất lạc và dễ dàng truy cập khi cần thiết

- Chứng từ cần được lập ngay khi nghiệp vụ vừa xảy ra, hoặc càng sớm càng tốt

- Cần thiết kế đơn giản, rõ ràng dễ hiểu và có thể sử dụng cho nhiều công dụng khác nhau

- Chứng từ chỉ đi qua các bộ phận có liên quan đến nghiệp vụ, và phải được xử

Trang 27

lý nhanh chóng để chuyển cho bộ phận tiếp theo

- Sổ sách cần phải đóng chắc chắn, đánh số trang, quy định nguyên tắc ghi chép, có chữ ký xét duyệt của người kiểm soát;

- Tổ chức lưu trữ, bảo quản tài liệu kế toán khoa học, an toàn, đúng quy định

Phê chuẩn đúng đắn cho các nghiệp vụ hoặc hoạt động:

- Cần đảm bảo là tất cả các nghiệp vụ hoặc hoạt động phải được phê chuẩn bởi một nhân viên quản lý trong phạm vi quyền hạn cho phép Bởi lẽ nếu bất kỳ ai trong đơn vị cũng đều có quyền mua sắm hoặc sử dụng tài sản thì sự hỗn loạn sẽ xảy ra Sự phê chuẩn có thể được chia làm hai loại là phê chuẩn chung và phê chuẩn

cụ thể

Phê chuẩn chung: Là trường họp người quản lý ban hành các chính sách để

áp dụng cho toàn đơn vị

Phê chuẩn cụ thể: Là trường hợp người quản lý xét duyệt từng nghiệp vụ riêng biệt chứ không đưa ra chính sách chung nào Phê chuẩn cụ thể được áp dụng cho những nghiệp vụ không thường xuyên phát sinh

Các cá nhân bộ phận được uỷ quyền để thực hiện sự phê chuẩn phải có chức

vụ tương xứng với tính chất và tầm quan trọng của nghiệp vụ

Trong môi trường xử lý dữ liệu bằng phương pháp điện tử, việc kiểm soát quá trình xử lý thông tin cũng thường được chia thành kiểm soát chung và kiểm soát ứng dụng với những đặc điểm riêng

Kiểm soát vật chất:

Hoạt động này được thực hiện cho các loại sổ sách và tài sản, kể cả những ấn chỉ đã được đánh số trước nhưng chưa sử dụng; cũng như cần hạn chế sự tiếp cận với các chương trình tin học và những hồ sơ dữ liệu

Việc so sánh, đối chiếu giữa sổ sách kế toán và tài sản hiện có trên thực tế bắt buộc phải được thực hiện định kỳ Khi có bất kỳ chênh lệch nào cũng cần phải điều tra và xem xét nguyên nhân, nhờ đó sẽ phát hiện được những yếu kém về các thủ tục bảo vệ tài sản và sổ sách có liên quan Nếu không thực hiện công việc này thì tài sản

có thể bị bỏ phế, mất mát hoặc có thể không phát hiện được những hành vi đánh cắp

Trang 28

Kiểm tra độc lập việc thực hiện

Là việc kiểm tra được tiến hành bởi các cá nhân (hoặc bộ phận) khác với cá nhân (hoặc bộ phận) đang thực hiện nghiệp vụ Nhu cầu cần phải kiểm tra độc lập xuất phát từ hệ thống kiểm soát nội bộ thường có khuynh hướng bị giảm sút tính hữu hiệu trừ khi có một cơ chế thường xuyên kiểm tra soát xét lại

Yêu cầu quan trọng đối với những thành viên thực hiện kiểm tra là họ phải độc lập với đối tượng được kiểm tra Sự hữu hiệu của hoạt động này sẽ mất đi nếu người thực hiện thẩm tra lại là nhân viên cấp dưới của người đã thực hiện nghiệp vụ, hoặc không độc lập vì bất kỳ lý do nào

Phân tích soát xét lại việc thực hiện:

Hoạt động này chính là xem xét lại những việc đã được thực hiện bằng cách so sánh số thực tế so với số liệu kế hoạch, dự toán, kỳ trước, và các dữ liệu khác có liên quan như những thông tin không có tính chất tài chính; đồng thời còn xem xét trong mối liên hệ với tổng thể để đánh giá quá trình thực hiện Soát xét lại quá trình thực hiện giúp nhà quản lý biết được một cách tổng quát là mọi thành viên có theo đuổi mục tiêu của đơn vị một cách hữu hiệu và hiệu quả hay không? Nhờ thuờng xuyên nghiên cứu về những vấn đề bất thường xảy ra trong quá trình thực hiện, nhà quản lý có thể thay đổi kịp thời chiến lược hoặc kế hoạch, hoặc có những điều chỉnh

thích hợp

1.1.3.4 Thông tin và truyền thông

Thông tin và truyền thông chính là điều kiện không thể thiếu cho việc thiết lập, duy trì và nâng cao năng lực kiểm soát trong đơn vị thông qua việc hình thành các báo cáo để cung cấp thông tin về hoạt động, tài chính và sự tuân thủ, bao gồm

cả cho nội bộ và bên ngoài

Thông tin cần thiết cho mọi cấp của một tô chức vì giúp cho việc đạt được các mục tiêu kiểm soát khác nhau Thông tin được cung cấp thông qua hệ thống thông tin Hệ thống thông tin của một đơn vị có thể được xử lý trên máy vi tính, qua

hệ thống thủ công hoặc kết hợp cả hai, miễn là bảo đảm các yêu cầu chất lượng của thông tin là thích hợp, kịp thời, cập nhật, chính xác và truy cập thuận tiện

Trang 29

Truyền thông là một phần của hệ thông thông tin nhưng được nêu ra để nhấn mạnh vai trò của việc truyền đạt thông tin Liên quan đến vấn đề này cần chú ý các khía cạnh sau:

- Mọi thành viên của đơn vị phải hiểu rõ công việc của mình, tiếp nhận đầy

đủ và chính xác chỉ thị từ cấp trên, hiểu rõ mối quan hệ với các thành viên khác và

sử dụng được những phương tiện truyền thông trong đơn vị Điều này sẽ được thực hiện nhờ việc tổ chức các kênh thông tin hữu hiệu trong nội bộ

- Các thông tin từ bên ngoài (khách hàng, nhà cung cấp, ngân hàng ) cũng phải được tiếp nhận và ghi nhận một cách trung thực và đầy đủ, nhờ đó đơn vị mới

có thể có những phản ứng kịp thời Các thông tin cho bên ngoài (Nhà nước, cổ đông ) cũng cần được truyền đạt kịp thời, đảm bảo độ tin cậy và phù hợp với yêu cầu của pháp luật

Trong hệ thống thông tin, hệ thống thông tin kế toán là một phân hệ quan trọng Đầu vào của hệ thống là các sự kiện kinh tế đuợc biểu hiện dưới dạng các nghiệp vụ kế toán, đầu ra của hệ thống là báo cáo kế toán Quá trình vận hành của

hệ thống là quá trình ghi nhận, phân loại, tính toán, xử lý và tổng hợp

Hệ thống thông tin kế toán thường bao gồm có hai phần có quan hệ chặt chẽ với nhau là hệ thống thông tin kế toán tài chính và hệ thống thông tin kế toán quản trị Hai bộ phận này thường sử dụng chung về phần lớn dừ liệu đầu vào, thế nhưng quá trình xử lý và sản phẩm đầu ra lại có nhiều khác biệt để hình thành và cung cấp thông tin Ngoài những yêu cầu thông thường của bất kỳ hệ thống thông tin nào (tính kịp thời, hiệu quả ), các mục tiêu chủ yếu mà hệ thống thông tin kế toán tài chính phải đạt được như sau:

- Xác định và ghi chép tất cả các nghiệp vụ có thật

- Diễn giải nghiệp vụ một cách chi tiết, đầy đủ để cho phép phân loại đúng đắn các nghiệp vụ

- Đo lường giá trị của các nghiệp vụ để ghi chép đúng giá trị

- Xác định đúng kỳ hạn của các nghiệp vụ kinh tế đã xảy ra để ghi chép đúng

kỳ

Trang 30

- Trình bày đúng đắn và công bố đầy đủ thông tin cần thiết trên báo cáo tài chính

Để đạt các điều trên, cần phải chú ý đến hai bộ phận quan trọng trong hệ thống đó là chứng từ và sổ sách kế toán

Với đặc trưng là phản ánh từng nghiệp vụ kinh tế đã xảy ra, chứng từ cho phép kiểm tra, giám sát tỉ mỉ về từng hành vi kinh tế thông qua thủ tục lập chứng từ Ngoài ra, chứng từ còn giúp ngăn chặn kịp thời các hành vi sai phạm để bảo vệ tài sản của đơn vị

Sổ sách kế toán được xem là bước trung gian tiếp nhận những thông tin ban đầu trên chứng từ để xử lý nhằm hình thành thông tin tổng hợp trên các báo cáo quản trị

Một hệ thống sổ sách chi tiết và khoa học đối với những đối tượng như vật

tư, hàng hoá, công nợ, chi phí, doanh thu sẽ góp phần đáng kể trong bảo vệ tài sản nhờ ở chức năng kiểm tra, giám sát ngay trong quá trình thực hiện nghiệp vụ

Việc ghi nhận thông tin từ những chứng từ ban đầu cho đến việc ghi chép, phân loại, tính toán, tổng họp, lưu trữ và cuối cùng là chuyển những thông tin đó vào báo cáo sẽ để lại “dấu vết kiểm toán” giúp cho các nhà quản lý có thể kiểm tra

và đánh giá sự chấp hành những thủ tục kiểm soát trong quá trình xử lý

Ngoài chứng từ, sổ sách và phương pháp ghi chép vào sổ sách, để hệ thống thông tin kế toán vận hành tốt còn cần có sơ đồ hạch toán và sổ tay hướng dẫn về các chính sách và thủ tục kế toán, vì thế chúng còn được xem như là phương tiện truyền thông về chính sách

Sơ đồ hạch toán mô tả vê phương pháp xử lý các nghiệp vụ tại đơn vị, thường dưới dạng hình vẽ sổ tay hướng dẫn thường bao gồm bảng liệt kê và phân loại tài sản sử dụng và diễn giải chi tiết về mục đích và nội dung của từng tài khoản, cách thức xử lý các nghiệp vụ hoặc sơ đồ hạch toán, sổ tay đầy đủ sẽ giúp cho việc

xử lý các nghiệp vụ đúng đắn và thống nhất trong toàn đơn vị

Việc truyền thông đúng đắn cũng đem đến cho các nhân viên sự hiểu biết về vai trò và trách nhiệm của họ có liên quan đến quá trình lập báo cáo tài chính Các

Trang 31

nhân viên xử lý thông tin sẽ hiểu rằng công việc của họ có liên quan như thế nào

đến ngừơi khác và yêu cầu phải báo cáo những tình huống bất thường cho cấp trên

1.1.3.5 Giám sát

Đây là bộ phận cuối cùng của kiểm soát nội bộ Giám sát là quá trình mà người quản lý đánh giá chất lượng của hệ thống kiểm soát Điều quan trọng trong giám sát là phải xác định kiểm soát nội bộ có vận hành đúng như thiết kế hay không

và có cần thiết phải sửa đổi chúng cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đơn vị hay không? Để đạt được kết quả tốt, nhà quản lý cần thực hiện những hoạt động giám sát thường xuyên hoặc định kỳ

Giám sát thường xuyên đạt được thông qua việc tiếp nhận các ý kiến góp ý

của khách hàng, nhà cung cấp hoặc xem xét các báo cáo hoạt động và phát hiện các biến động bất thường

Giám sát định kỳ thường được thực hiện thông qua các cuộc kiểm toán định kỳ

do kiểm toán viên nội bộ, hoặc do kiểm toán viên độc lập thực hiện

1.1.4 Lợi ích của hệ thống KSNB

Đối với tất cả các tổ chức nói chung và đơn vị công lập nói riêng, việc thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu mang lại cho đơn vị những lợi ích sau: + Tạo lập một cơ cấu kỷ cương trong toàn bộ quy trình hoạt động của đơn vị + Giúp nhận biết, phân tích và lựa chọn được phương pháp tối ưu đối phó với các sự kiện bất lợi trong việc thực hiện mục tiêu

+ Tạo lập được một hệ thống thông tin và truyền đạt thông tin hữu hiệu trong toàn tổ chức phục vụ cho việc thực hiện tất cả các mục tiêu KSNB

+ Việc kiểm tra đánh giá thường xuyên và định kỳ giữa các bộ phận với nhau hoặc cấp trên với cấp dưới giúp phát hiện và ngăn chặn kịp thời những sai phạm do thiếu sót hoặc cố tình gây ra, động thời cũng giúp đánh giá và hoàn thiện hơn những bất cập cần bổ sung của HTKSNB,

+ KSNB giúp người quản lý có cái nhìn toàn diện về vấn đề kiểm soát trong tổ chức theo hướng xác định mục tiêu, đánh giá rủi ro và thiết lập các hoạt động kiểm soát; đồng thời tạo lập một môi trường kiểm soát tốt đi đôi với một hệ thống thông tin hữu hiệu

Trang 32

1.1.5 Các hạn chế vốn có của hệ thống KSNB

Ở bất kỳ đơn vị nào, dù đã đầu tư rất nhiều trong thiết kế và vận hành hệ thống, thế nhưng vẫn không thể có một hệ thống kiểm soát nội bộ hoàn toàn hữu hiệu Bởi lẽ ngay cả khi có thể xây dựng được một hệ thống hoàn hảo về cấu trúc, tính hữu hiệu thật sự của nó vẫn phụ thuộc vào nhân tố chủ yếu là con người, tức là phụ thuộc vào năng lực làm việc và tính đáng tin cậy của lực lượng nhân sự, Nói cách khác, hệ thống kiểm soát nội bộ chỉ có thể hạn chế tối đa những sai phạm, vì

nó có các hạn chế tiềm tàng xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:

+ Những hạn chế xuất phát từ bản thân con người như sự vô ý, bất cẩn đãng trí, đánh giá hay ước lượng sai, hiểu sai chỉ dẫn của cấp trên hoặc các báo cáo của

cấp dưới

+ Khả năng đánh lừa, che giấu của nhân viên thông qua sự thông đồng với

nhau hay với các đối tượng bên ngoài đon vị

+ Hoạt động kiểm soát thường chỉ nhằm vào các nghiệp vụ thường xuyên phát sinh mà ít chú ý đến những nghiệp vụ không thường xuyên, do đó những sai phạm

trong các nghiệp vụ này hay bị bỏ qua

+ Yêu cầu thuờng xuyên và trên hết của người quản lý là chi phí bỏ ra cho hoạt động kiểm soát phải nhỏ hơn giá trị thiệt hại ước tính do nhầm lẫn hoặc gian

lận gây ra

+ Luôn có khả năng là các cá nhân có trách nhiệm kiểm soát đã lạm dụng

quyền hạn của mình nhằm phục vụ cho lợi ích cá nhân

+ Điều kiện hoạt động của đơn vị thay đổi dẫn đến những thủ tục kiểm soát

không còn phù hợp

Chính những hạn chế nói trên của kiểm soát nội bộ là nguyên nhân khiến cho

hệ thống kiểm soát nội bộ không thể đảm bảo tuyệt đối, mà chỉ đảm bảo hợp lý

trong việc đạt các mục tiêu của mình

1.2 TÍNH HỮU HIỆU CỦA HỆ THỐNG KSNB

Hệ thống KSNB của các tổ chức khác nhau trong khu vực công được vận hành với các mức độ hữu hiệu khác nhau Tương tự như thế, một hệ thống KSNB

cụ thể cũng hoạt động khác nhau ở những thời điểm khác nhau Vậy thế nào là một

hệ thống KSNB hữu hiệu (xét ở một thời điểm xác định)?

Trang 33

- Báo cáo COSO (1992), Basel (2013) cho rằng: sự hữu hiệu của một hệ thống KSNB có thể được xem xét theo một trong ba nhóm mục tiêu khác nhau nếu ban giám đốc và nhà quản lý đảm bảo hợp lý rằng:

+ Họ hiểu rõ mục tiêu hoạt động của tổ chức đang đạt được ở mức độ nào? Báo cáo tài chính đang được lập và trình bày một cách đáng tin cậy

+ Các luật lệ và quy định đang được tuân thủ

- Theo INTOSAI 2013, sự hữu hiệu của hệ thống KSNB thể hiện qua 4 tiêu chí:

+ Thúc đẩy các hoạt động hữu hiệu, hiệu quả, kinh tế và đạo đức

+ Thực hiện trách nhiệm giải trình

+ Tuân thủ luật pháp và các quy định

+ Bảo vệ các nguồn lực chống lại việc thất thoát, phá hủy

Như vậy, trong khi khẳng định KSNB là một quá trình thì sự hữu hiệu của hệ thống KSNB lại là một trạng thái (tình trạng) của quá trình đó ở một thời điểm xác định Việc đánh giá sự hữu hiệu của một hệ thống KSNB thì mang tính xét đoán Đối với phạm vi của đề tài là Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn Quy Nhơn - thuộc về khu vực công thì để đánh giá hệ thống KSNB là hữu hiệu thì phải đáp ứng đuợc các yêu cầu theo bản huớng dẫn KSNB của INTOSAI 2013 Như vậy, ngoài 4 tiêu chí theo INTOSAI 2013 thì cần phải đánh giá thêm là: năm bộ phận cấu thành của hệ thống KSNB có hiện hữu hay không? Nếu có, thì chúng có đang hoạt động hữu hiệu

và đáp ứng được các yêu cầu của INTOSAI 2013 không?

Có thể thấy, 5 bộ phận cấu thành của một hệ thống KSNB trong khu vực công của INTOSAI cũng chính là tiêu chí để đánh giá sự hữu hiệu của hệ thống KSNB Tuy nhiên cần lưu ý rằng, các tiêu chí trên cần được thỏa mãn khi đánh giá

sự hữu hiệu của hệ thống KSNB thì điều này không có nghĩa là mỗi bộ phận hợp thành của hệ thống KSNB đều phải hoạt động y hệt như nhau hoặc cùng mức độ ở các tổ chức khác nhau Lý do nêu ra trong đó là: Có sự bù trừ tự nhiên giữa các bộ phận của hệ thống KSNB Bởi vì KSNB phục vụ cho nhiều mục đích vì vậy việc kiểm soát ở bộ phận này có thể phục vụ cho yêu cầu kiểm soát ở bộ phận kia

Trang 34

Để đối phó với một rủi ro cụ thể, nhà quản lý có thể đề ra nhiều mức độ kiểm soát khác nhau ở các bộ phận khác nhau Các yếu tố này sẽ làm cho các tiêu chí trên được thỏa mãn mà không nhất thiết phải có sự đồng nhất về mức độ hoạt động của các bộ phận Do đó, hệ thống KSNB hữu hiệu khi hệ thống đó tồn tại năm bộ phận cấu thành và tác động tích hợp lẫn nhau để đạt được mục tiêu giảm thiếu rủi ro

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH HỮU HIỆU CỦA HTKSNB 1.3.1 Môi trường kiểm soát

Theo Angella Amudo & Eno L Inaga (2009) đây là nhân tố quan trọng tác động đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB trong đơn vị Để kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của mỗi cán bộ được phân công, thể hiện tính kỷ luật, tuân thủ các quy định của pháp luật, văn bản hướng dẫn của ngành và đạo đức về cách ứng

xử, tinh thần trách nhiệm của công việc; mỗi cán bộ phải đảm bảo thực hiện những nhiệm vụ cụ thể mà Ban Lãnh đạo đã đề ra Nhà quản lý đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nhân tố môi trường kiểm soát của hệ thống kiểm soát nội bộ Môi trường kiểm soát chính là điều kiện tiên quyết, nền tảng cho hệ thống kiểm soát nội

bộ đơn vị hoạt động Kết quả của nhiều tác giả như Bùi Thanh Huyền (2011), Morim, A C V P., Inácio, H., & Vieira, E (2018), Mohamed, M M (2018) cũng đồng tình với quan điểm này tức là cho rằng môi trường kiểm soát ảnh hưởng tích

cực đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB

1.3.2 Đánh giá rủi ro

Nghiên cứu của Sterck và cộng sự (2005) chỉ ra rằng các tổ chức nói chung và các đơn vị công nói riêng cần phân tích, đánh giá một cách đầy đủ các rủi ro liên quan đến hoạt động của đơn vị Cần xây dựng một quy trình giám sát chặt chẽ các rủi ro và có kế hoạch đối phó trong các trường hợp có sự biến động đột ngột về cơ cấu tổ chức, chính sách cũng như những biến động của nền kinh tế Việc đánh giá rủi ro không nên mang tính chất chủ quan, cảm tính như vậy sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị

Các tác giả như Trần Thị Như Quỳnh (2017); Nguyễn Thị Thủy (2016); Triệu Phương Hồng (2016); Phạm Huyền Trang (2017); Babatunde S.A & Dandago K.I (2014); Joseph O.N & Albert O & Byaruhanga P.J (2015) khi nghiên cứu về tính hữu hiệu trong hệ thống tổ chức nội bộ của các tổ chức cũng cho rằng đánh giá rủi

Trang 35

ro là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB

1.3.3 Hoạt động kiểm soát

Theo INTOSAI 2013 hoạt động kiểm soát bao gồm sự phân công, phân nhiệm giữa các cấp xét duyệt nghiệp vụ và những người thực hiện nghiệp vụ cần được quy định rõ ràng trong văn bản theo hướng dẫn của ngành, hoặc theo quy định của đơn

vị Bên cạnh đó cũng rất cần đảm bảo tính độc lập giữa tính năng thực hiện và tính năng kiểm soát, tốt nhất thì một công việc đảm bảo phải được kiểm soát ít nhất từ hai người trở lên

Kết quả nghiên cứu của Phạm Huyền Trang (2017); Amudo, A & Inanga, E.L (2009); Babatunde S.A & Dandago K.I (2014) cũng cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho thấy có sự tác động tích cực giữa nhân tố này đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB

1.3.4 Thông tin và truyền thông

Nghiên cứu của Babatunde S.A & Dandago K.I (2014) cho thấy thông tin và truyền thông có tác động tích cực đáng kể đến hiệu quả hoạt động của tổ chức Thông tin bao gồm thông tin bên ngoài và thông tin bên trong tổ chức đan xen với nhau Thông tin sử dụng thường thể hiện dưới dạng văn bản, chứng từ hoặc các thông tin trong nội bộ, các kênh thông tin khác thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau (truyền miệng, báo đài, tạp chí, )

Theo Trần Thị Như Quỳnh (2017), các bộ phận, cá nhân đều có quan tâm đến các nguồn thông tin, nhất là các văn bản pháp luật của đơn vị hoặc các thông tin nội

bộ liên quan đến các hoạt động của đơn vị Thông tin thì đa chiều, đa nguồn, có thể

có giá trị ít hay nhiều, hoặc không giá trị với các cá nhân, bộ phận khác nhau trong đơn vị Do đó, công tác sàng lọc, phân loại, xử lý thông tin trung thực là hết sức quan trọng, đòi hỏi người thực hiện phải nhạy bén, có năng lực tốt để xác định đâu

là thông tin cần thiết, đâu là thông tin tham khảo, đâu là thông tin rác… và gửi đến đúng người có nhu cầu sử dụng Thông tin và truyền thông càng hữu hiệu càng nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống KSNB trong tổ chức

Trang 36

1.3.5 Giám sát

Ban lãnh đạo các đơn vị công lập luôn mong muốn HTKS của đơn vị hoạt động hữu hiệu, theo tổ chức INTOSAI 2013 để thực hiện điều này đơn vị cần kiểm tra, giám sát xem nó đang được vận hành như thế nào, các thủ tục kiểm soát đặt ra

có phù hợp, có được mọi người hiểu đúng và tuân thủ hay không, trong quá trình thực hiện, có phát hiện bổ sung thêm những gì hoặc cần phải thay đổi những gì cho phù hợp với những thay đổi về mục tiêu của đơn vị

Các nghiên cứu trước đây liên quan đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ như Trần Thị Như Quỳnh (2017); Phạm Huyền Trang (2017); Babatunde S.A & Dandago K.I (2014); Joseph O.N & Albert O & Byaruhanga P.J (2015) cũng cho thấy giám sát có ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội

bộ trong tổ chức

1.3.6 Công nghệ thông tin

Năm 1996, Ban tiêu chuẩn có tên “Các mục tiêu kiểm soát trong công nghệ thông tin và các lĩnh vực có liên quan” (COBIT - Control Objectives for Infomation and Related Technology) do hiệp hội kiểm soát và kiểm toán hệ thống thông tin (ISACA - Information System Audit and Control Association) ban hành COBIT nhấn mạnh đến kiểm soát trong môi trường tin học (CIS - Computer Infomation System), bao gồm những lĩnh vực hoạch định và tổ chức, mua và triển khai, phân phối và hỗ trợ, giám sát

COBIT xác định CNTT là một nguồn lực quan trọng trong quy trình của tổ chức, bao gồm các thành phần: con người, hệ thống ứng dụng, công nghệ, thiết bị

1.4.1 Lý thuyết đại diện

Lý thuyết đại diện xuất hiện trong những năm 1970 với nghiên cứu đầu tiên tập trung vào những vấn đề thông tin bất cân xứng giữa người chủ sở hữu và người

Trang 37

quản lý trong ngành Bảo hiểm Sau đó, nó nhanh chóng trở thành một lý thuyết vận dụng vào các lĩnh vực khác về những vấn đề liên quan đến hợp đồng đại diện giữa người chủ sở hữu và người thay mặt người chủ sở hữu để điều hành hoạt động của đơn vị - gọi là người đại diện

Người chủ sở hữu mong muốn người đại diện hoàn thành mục tiêu của mình đặt ra và người đại diện phải thực hiện công việc một cách hiệu quả và trung thực Người đại diện có nhiều thẩm quyền trong việc điều hành hoạt động của đơn vị Do

đó, tồn tại khả năng người đại diện không thực hiện hết những yêu cầu của người sở hữu, dẫn tới xung đột lợi ích giữa người sở hữu vốn và người đại diện

Trong các đơn vị trong khu vực công nói chung thì Nhà nuớc là người chủ sở hữu vốn, còn thủ trưởng các cơ quan hành chính là người đại diện cho Nhà nước để điều hành hoạt động của đơn vị hành chính Nhà nước luôn mong muốn các đơn vị công phải hoàn thành nhiệm vụ do Nhà nước nước giao và kiểm soát tài sản công cũng như NSNN hiệu quả, bảo vệ tài sản của Nhà nước Do đó lý thuyết này giải thích hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị càng tốt thông qua các yếu tố như môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, giám sát, thông tin và truyền thông thì tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ càng cao

1.4.2 Lý thuyết hành vi tổ chức

Hiện nay, có rất nhiều lý thuyết hành vi con người ứng dụng cho các lĩnh vực khác nhau như lý thuyết hành động hợp lý (TRA), lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) với mục đích dự đoán hành vi con người Nhưng để tìm hiểu về hành vi con người trong một tổ chức, Mary Parker Pollet đã đưa ra lý thuyết hành vi của con người trong tổ chức

Theo lý thuyết hành vi của con người trong tổ chức, trong quá trình làm việc, người lao động có các mối quan hệ giữa họ với nhau và giữa họ với một tổ chức khác bao gồm:

- Quan hệ giữa người lao động với người lao động

- Quan hệ giữa người lao động và nhà lãnh đạo Đồng thời nhấn mạnh hiệu quả của lãnh đạo phụ thuộc vào việc giải quyết mối quan hệ này

Trang 38

Do vậy, hành vi của con người trong tổ chức được chi phối và quyết định bởi

sự nhận thức, thái độ, năng lực của bản thân người lao động Con người với tư cách

là thành viên của tổ chức, chịu sự chi phối và tác động của nhân tố thuộc tổ chức như văn hóa, lãnh đạo, quyền lực, cơ cấu tổ chức, các nhóm của tổ chức mà người lao động tham gia là thành viên nhóm

Theo nghiên cứu của tác giả Doughlas Mc Gregor trong lý thuyết này, cho rằng các nhà quản trị truớc đây điều hành theo quan niệm cũ “phần đông mọi nguời không thích làm, thích chỉ huy hơn tự chịu trách nhiệm, và làm vì lợi ích vật chất”

Do đó, họ thiết lập bộ máy quyền hành tập trung, kiểm soát chặt chẽ Tuy nhiên, Doughlas Mc Gregor đã đưa ra giả thuyết khác “con nguời sẽ thích thú làm việc nếu

có những điều kiện làm việc thuận lợi và họ có thể đóng góp nhiều hơn cho tổ chức” Vì vậy, các nhà quản trị cần quan tâm về việc phối hợp hoạt động hơn là tập trung kiểm tra

Lý thuyết hành vi tổ chức áp dụng vào nghiên cứu này nhằm giải thích trong khu vực công, để đạt được mục tiêu của tổ chức thì hệ thống KSNB cần có sự tham gia của tất cả các cá nhân trong tổ chức từ nhà quản lý cấp cao đến nhân viên Một

hệ thống KSNB có hữu hiệu hay không phụ thuộc rất lớn vào mức độ tham gia, hành vi, nhận thức của nhân viên Trong tổ chức mà nhà lãnh đạo có phong cách làm việc và triết lý quản lý mang tính đạo đức, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển năng lực của nhân viên, có mối quan hệ tốt với nhân viên thì khi đó các nhân viên sẽ có ý thức tự giác tuân thủ theo pháp luật, chế độ, theo sự hướng dẫn của nhà lãnh đạo, đóng góp khả năng của mình vào việc phát hiện, ngăn ngừa những sai phạm, gian lận, hạn chế rủi ro trong hoạt động của tổ chức

1.4.3 Lý thuyết ủy nhiệm

Được C.Jensen và H.Meckling lần đầu công bố vào năm 1976, lý thuyết ủy nhiệm tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa bên ủy nhiệm (principal) như cổ đông, chủ sở hữu, và bên được ủy nhiệm (agent) như các nhà quản lý, điều hành đơn vị thông qua việc ủy nhiệm

Trang 39

Vận dụng lý thuyết này vào nghiên cứu: lý thuyết ủy nhiệm thể hiện thông qua mối quan hệ bên được ủy nhiệm và bên ủy nhiệm đưa ra các quyết định trong quá trình điều hành hoạt động của tổ chức, đảm bảo các lợi ích Để thực hiện trách nhiệm này, nhà quản lý tạo ra một môi trường kiểm soát chuyên nghiệp, thực hiện việc đánh giá rủi ro bên trong tổ chức, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông đảm bảo đầy đủ, tin cậy và kịp thời, từ đó giúp tổ chức đạt được các mục tiêu

đã đặt ra liên quan đến mục tiêu hoạt động, mục tiêu tuân thủ và mục tiêu báo cáo tài chính tin cậy

Như vậy lý thuyết này được sử dụng nhằm giải thích sự tác động của các nhân

tố như: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông và giám sát tác động đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại tổ chức

Trang 40

về lợi ích và các hạn chế vốn có của hệ thống KSNB, trình bày về tính hữu hiệu của

hệ thống KSNB Bên cạnh đó, nội dung chương này tác giả cũng trình bày về các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống và các lý thuyết nền có liên quan Nội dung chương này là căn cứ lý thuyết quan trọng để tác giả thực hiện các phần tiếp theo của nghiên cứu

Ngày đăng: 28/10/2021, 21:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w