Cắt nghĩa về thành công và sức hấpdẫn của truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu cũng là góp một cách diễn giải về mộtkhuynh hướng văn học tiêu biểu này.Một trong những cách tiếp cận làm sáng tỏ s
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
TRẦN THỊ LƯƠNG
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TRUYỆN NGẮN DƯƠNG NGHIỄM MẬU
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ
BÌNH DƯƠNG – 2021
Trang 2UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
TRẦN THỊ LƯƠNG
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TRUYỆN NGẮN DƯƠNG NGHIỄM MẬU
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN VĂN KHA
BÌNH DƯƠNG – 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn thạc sĩ với tên đề tài Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Dương
Nghiễm Mậu là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS
Nguyễn Văn Kha Các số liệu và tài liệu tôi sử dụng là trung thực và có xuất xứ
rõ ràng
Bình Dương, ngày 26 tháng 05 năm 2021
Tác giả luận vănTrần Thị Lương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, rèn luyện và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhậnđược sự góp ý quý báu, động viên khích lệ của quý thầy cô, gia đình bè bạn, vớilòng thành kính sâu sắc, cho tôi được gửi lời cảm ơn tới:
Quý thầy cô cùng Ban giám hiệu trường Đại học Thủ Dầu Một, Bộ phận sauĐại học, cùng quý thầy cô trong khoa Ngữ văn đã tận tâm truyền đạt tri thức vàgiúp đỡ chúng tôi trong quá trình tiếp nhận tri thức
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Văn Kha, người luôn quan tâm vàkhích lệ động viên chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn này Thầy cũng
là người đưa ra những nhận xét, góp ý, gợi mở động viên tinh thần giúp chúngtôi hoàn thành luậnvăn
Tôi xin gửi cảm ơn tới tập thể Lớp CH16VH02 đã cùng chúng tôi học tập rènluyện, chia sẻ động viên, cùng nhaucố gắng phấn đấu trong quá trình thực hiệnluận văn
Cuối cùng cho tôi gửi lời biết ơn tới gia đình, bạn bè, luôn ủng hộ, khích lệtinh thần, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi không ngừng cố gắng trong quá trìnhlàm luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Bình Dương, ngày 26 tháng 05 năm 2021
Tác giả luận vănTrần Thị Lương
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
2.1 Dương Nghiễm Mậu trong nghiên cứu, phê bình trước 1975 2
2.2 Dương Nghiễm Mậu trong nghiên cứu, phê bình sau năm 1975 3
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
3.1 Mục đích nghiên cứu: 8
3.2 Đối tượng nghiên cứu: 8
3.3 Phạm vi nghiên cứu: 8
4 Phương pháp nghiên cứu 9
5 Đóng góp của đề tài 9
6 Cấu trúc luận văn 9
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỰ SỰ HỌC, TÁC GIẢ DƯƠNG NGHIỄM MẬU TRONG VĂN HỌC MIỀN NAM VIỆT NAM 1954 - 1975 11
1.1 Khái quát về tự sự học 11
1.1.1 Khái niệm tự sự 11
1.1.2 Khái niệm tự sự học 12
1.2 Đôi nét về văn xuôi miền Nam 1954 - 1975 13
1.2.1 Bối cảnh văn hóa - xã hội 13
1.2.2 Đội ngũ và khuynh hướng văn xuôi miền Nam 14
1.3 Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Dương Nghiễm Mậu 17
1.3.1 Cuộc đời của nhà văn Dương Nghiễm Mậu 17
1.3.2 Sự nghiệp sáng tá c 20
Tiểu kết chương 1 22
Chương 2 NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TRONG TRUYỆN NGẮN DƯƠNG NGHIỄM MẬU 24
Trang 62.1 Người kể chuyện trong truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu 24
2.1.1 Người kể chuyện toàn tri 25
2.1.2 Người kể chuyện ngoại hiện 30
2.1.3 Người kể chuyện đồng sự 33
2.2 Điểm nhìn trong truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu 37
2.2.1 Điểm nhìn của người kể chuyện 39
2.2.2 Điểm nhìn của nhân vật 43
Tiểu kết 48
Chương 3 KẾT CẤU, NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRONG TRUYỆN NGẮN DƯƠNG NGHIỄM MẬU 50
3.1 Kết cấu truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu 50
3.1.1 Kết cấu đồng hiện 51
3.1.2 Kết cấu lắp ghép 55
3.1.3 Kết cấu chuyện lồng trong chuyện 57
3.2 Ngôn ngữ truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu 59
3.2.1 Ngôn ngữ giàu tính biểu tượng 59
3.2.2 Ngôn ngữ đậm chất hiện thực - đời thường 64
3.2.3 Ngôn ngữ giàu chất thơ 66
3.2.4 Ngôn ngữ đối thoại nội tâm và độc thoại nội tâm 67
3.3 Giọng điệu trong truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu 69
3.3.1 Giọng chất vấn, hoài nghi 69
3.3.2 Giọng bình thản lạnh lùng 70
Tiểu kết chương 3 71
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dương Nghiễm Mậu là một trong những nhà văn đô thị miền Nam chịu ảnhhưởng đậm của tư tưởng hiện sinh Văn của ông giàu chất triết lý, thể hiện mộtlối viết, phong cách riêng Theo Thụy Khuê, ông là “nhà văn tiên phong đối vớivăn học Việt Nam bởi lối suy tưởng và cách đặt vấn đề của ông vẫn giữ nguyênnhững mấu chốt bí mật, nhiều truyện ngắn với cấu trúc rất lạ, vẫn còn nằm trongvòng trăn trở tìm tòi của người viết hôm nay” (Thụy Khê, 2014) Tìm hiểu vănDương Nghiễm Mậu, ở một phương diện nào đó, là khám phá một trường hợpcủa văn học hiện sinh ở đô thị miền Nam Cắt nghĩa về thành công và sức hấpdẫn của truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu cũng là góp một cách diễn giải về mộtkhuynh hướng văn học tiêu biểu này.Một trong những cách tiếp cận làm sáng tỏ
sự thành công, sức hấp dẫn, vị thế của truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu là tự sựhọc
Tự sự học (narratology) là ngành nghiên cứu lấy nghệ thuật kể chuyện làmđối tượng nghiên cứu Hiện nay, tự sự học đang trở thành một hướng nghiên cứuthu hút sự tham gia đông đảo của các nhà khoa học Tự sự học hiện đại mở ratriển vọng cho việc làm sáng tỏ nhiều vấn đề của thi pháp, phong cách nghệthuật, bao gồm từ vấn đề quan niệm nghệ thuật, cách tổ chức các sự kiện, cácmotif truyện, diễn ngôn, người kể, lời kể, điểm nhìn, thời, thức,…
Từ đầu năm 2000 đến nay, tự sự học được giới nghiên cứu văn học đánhgiá là một bộ môn liên ngành giàu tiềm năng, từ cách nhìn này đã có nhiều lýthuyết tự sự kinh điển và hậu kinh điển được du nhập, tiếp nhận ở Việt Nam,nhiều công trình nghiên cứu vận dụng lý thuyết này giúp soi sáng, lý giải thuyếtphục nhiều vấn đề nghệ thuật mà các phương pháp nghiên cứu khác không có ưuthế
Xuất phát từ vị trí văn học sử của Dương Nghiễm Mậu trong văn họctrước 1975, cùng sự tương thích của lý thuyết tự sự học, chúng tôi lựa chọn đề
tài Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu Mong muốn của
tác giả luận văn làgóp một tiếng nói lý giải về sự thành công cũng như vị thếcủa Dương Nghiễm Mậu trong truyện ngắnđô thị miền Nam Đối với luận văn,
Trang 8Dương Nghiễm Mậu chỉ là một trường hợp nghiên cứu, qua đây người viết vừathử nghiệm để rèn luyện kĩ năng vận dụng lý thuyết hiện đại vào quá trình đọcvăn bản, giảng dạy văn học trong trường phổ thôngvừa có điều kiện trau dồikiến thức để làm sáng tỏ hơn các khuynh hướng văn học khác nhau giữa haimiền Nam - Bắc giai đoạn 1954-1975.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Có thể nói Dương Nghiễm Mậu là một trong những tác giả quan trọng gópphần làm nên gương mặt văn xuôi miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975 Từđầu thập niên 60 (thế kỷ XX) đến sau ngày đất nước thống nhất đến nay, cuộc đời
và sáng tác của Dương Nghiễm Mậu vẫn luôn là đối tượng diễn giải, phân tíchcủa rất nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, nhà văn quan tâm đến sáng tác củaDương Nghiễm Mậu
Để làm tài liệu cho việc nghiên cứu về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắnDương Mậu, một số bài viết sau đây được xem xét và tiếp thu những điểm phùhợp trong luận văn
Có thể phân chia những bài viết, ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu,phê bình có liên quan đến vấn đề nghiên cứu truyện ngắn Dương Nghiễm Mậucủa luận văn theo hai giai đoạn: giai đoạn trước 1975 và giai đoạn sau 1975
2.1 Dương Nghiễm Mậu trong nghiên cứu, phê bình trước 1975
Từ thập niên 60 (của thế kỷ XX) sáng tác của Dương Nghiễm Mậu trởthành một đối tượng chú ý của phê bình văn học Nhà phê bình Đặng Tiến trong
bài viết Vị trí con người dưới mắt Dương Nghiễm Mậu (Tạp chí Bách Khoa số
154 ngày 1 - 6 - 1963), có nhận xét sâu sắc về thế giới nhân vật và bối cảnh xã hội hoạt động của các nhân vật trong sáng tác của Dương Nghiễm Mậu:“Tất cả
nhân vật của Dương Nghiễm Mậu đều mồ côi từ nhân vật chính đến nhân vậtphụ, từ truyện đầu đến truyện cuối Những kẻ không còn cha mẹ chưa chắc đã
mồ côi: mồ côi ở đây vừa không có cha mẹ, vừa không có một bàn tay nào vuốtmắt nếu mình chết đi, không một cái nhìn nào dừng lại khi mình vấp ngã Tôikhông rõ chính Dương Nghiễm Mậu có mồ côi hay không, nhưng qua cái ám ảnhcủa ông, chúng ta bắt gặp một thời đại mồ côi”.Qua nhận xét trên đây của ĐặngTiến, ta thấy rằng, những mảnh đời nhỏ bé đó, những thân phận không may mắn
Trang 9trong cuộc sống hiện lên trong trang văn của Dương Nghiễm Mậu thật đau khổbiết bao Đặng Tiến có cái nhìn bao quát, đồng cảm, ông chỉ ra nội dung xã hội,
số phận con người được trình hiện trong văn Dương Nghiễm Mậu, xã hội ấy, conngười ấy in hằn dấu vết của chiến tranh tàn khốc, loạn lạc
Cùng quan tâm đến thế giới nhân vật trong sáng tác của Dương Nghiễm
Mậu, Tô Thùy Yên trongVăn và người Dương Nghiễm Mậu (Tuần báo Nghệ
thuật số 45 năm 1967) nhận xét: “Thế giới đó của Mậu trưng bày những bi đát
gớm giếc, những tối tăm rờn rợn, những bải hoải rã rời, những thét gào tắcnghẹn, những uất ức, trong đó sinh sôi những chuột rệp, bệnh tật, đói nghèo, vôhọc và tính xấu, với đôi khi, không thể thiếu, một vài cái cười hỗn xược hay tangthương”(Tô Thùy Yên, 1967) Đó chính là số phận của các nhân vật trong truyệnngắn của Dương Nghiễm Mậu
Đến Tạ Tỵ,ông quan tâm đến thái độ sống, bản lĩnh và khuynh hướng sáng
tác của Dương Nghiễm Mậu Trong bàiDương Nghiễm Mậu và tuổi trẻ cô đơn (Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay, 1971) Tạ Tỵ nhận định: “Một khi con
người không có quyền lựa chọn cho đời mình hướng đi, thì một, phải dứt khoátvới nó, hai phải buông trôi thân phận như dòng nước nhỏ chảy len lách vô tridưới một khe lạch không tên, cho đến lúc nhạt nhòa tan biến vào đại dương” (Tạ
Tỵ, 1971) Cùng nhấn mạnh đến cái nhìn nghệ thuật của Dương Nghiễm Mậu,
Du Tử Lê vớisự ngưỡng mộ sâu sắc văn chương Dương Nghiễm Mậu, cho rằngcác tác phẩm của ông giống như ngọn hải đăng, ngọn đuốc soi rọi và chi phối cả
sự nghiệp của ông
Ngoài các bài viết đánh giá khái quát quá trình sáng tác, phong cách, lốiviết, khuynh hướng tư tưởng của Dương Nghiễm Mậu, trước năm 1975 còn cómột số bài viết điểm sách Loại bài viết này xuất hiện mỗikhi sáng tác của DươngNghiễm Mậu được xuất bản. Chẳng hạn “Đọc Ngã đạn của Dương Nghiễm Mậu:
Thái độ của con người sống thực trong trò chơi: cuộc đời” (Nguyễn Nhật Duật,
Khởi hành số 57, tháng 6/1970), “Quê người của Dương Nghiễm Mậu” (Nguyễn
Nhật Duật, Khởi hành số 71, tháng 9/1970), “Tuổi nước độc” (Tràng Thiên, Tạpchí Bách khoa số 68, năm 1959)…
2.2 Dương Nghiễm Mậu trong nghiên cứu, phê bình sau năm 1975
Trang 10Trước năm 1975 cho đến thập niên 80, nếu như các nhà phê bình Sài Gònthiên về ghi nhận các phương diện văn học của sáng tác Dương Nghiễm Mậu, thì
từ cái nhìn ý thức hệ các nhà phê bình miền Bắc có xu hướng xem xét văn họcđôthị miền Nam là lệch lạc, là thứ văn học của thực dân, Mỹ ngụy phản động, đồitrụy, sáng tác chỉ nhằm phục vụ xã hội tiêu thụ Cái nhìn định kiến chính như vậycòn nặng nềcho đến đầu thập niên 80
Năm 1975, Bộ Thông tin Văn hóa ra thông tri cấm lưu hành sách báophản động Thông tri có nội dung như sau: “theo chủ trương của Ban Tuyên huấntrung ương cục, Bộ Thông tin Văn hóa miền Nam đã tổ chức một bộ phận côngtác chuyên đọc và nghiên cứu những sách báo của địch xuất bản và lưu hànhtrong thời kỳ chúng còn chiếm đóng, phân loại những tác phẩm phản động, đồitrụy, trước hết là loại sách dâm ô, để có thái độ xử lí” (Trần Trọng Đăng Đàn,2000) Trong bảng kê sách báo cấm lưu hành thì Dương Nghiễm Mậu có 12 tácphẩm bị cấm lưu hành Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương tại Đạihội IV năm 1976 khẳng định, “ở miền Nam, chủ nghĩa thực dân cũ và mới cùngvới ba mươi năm chiến tranh, đã để lại những hậu quả nặng nề trên lĩnh vực vănhóa và tư tưởng Bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, bọn Mỹ-ngụy cố tạo ra một thứvăn hóa nô dịch, đồi trụy, lai căng, cực kỳ phản động” (Phong Hiền, 1984)
Trong công trình Chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ ở miền Nam Việt đánh giá
Dương Nghiễm Mậu và Thế Uyên, Nguyên Vũ, Văn Quang, Phan Nhật Nam, …
là những cây bút chống Cộng thế hệ trẻ, “họ không đem cái tâm tình chống Cộngphơi trên mặt giấy hay gửi gắm vào các nhân vật, mà đi vào những vấn đề nóngbỏng của cuộc sống, đưa chúng vào bối cảnh cụ thể của một quân trường ngụy,một mật khu, một trại giam của Cộng sản hay pha loãng nội dung chống Cộngvào một gợi ý lơ lửng, một niềm băn khoăn không có gì giải đáp cụ thể, một câuchuyện tình trong đó chất phản động và chất lãng mạn hay đồi trụy quyện vàonhau một cách chặt chẽ Tác phẩm của họ mang chiều sâu của cuộc sống mà họphản ánh, mang sự dằn vặt nội tâm sống thực mà chính họ đã trải qua, nhưng conngười họ trước sau, vẫn không chấp nhận Cộng sản” (Phong Hiền, 1984).Đánhgiá riêng về Dương Nghiễm Mậu, tác giả Phong Hiền viết: “chính DươngNghiễm Mậu, viên sĩ quan chiến tranh chính trị rất hung hăng đó, có lúc đã viết
Trang 11về mình: “Có hôm nhìn lại, tôi rùng mình, như một kẻ lưu đày, tôi hiểu ra nhữngcay đắng của đời mình, tôi không thể để mất nữa, như là tôi đã mất hết” Với mộttâm trạng rối bời như vậy, Dương Nghiễm Mậu vẫn viết chống Cộng và cắt nghĩathái độ của mình một cách đầy ngụy biện như là lựa chọn một “sự bất côngkhông có tổ chức” để chống lại một sự“bất công có tổ chức” Tác giả chống Cộngmột cách tuyệt vọng, đồng thời gào thét lên sự tuyệt vọngcủa chính mình”.
(Phong Hiền, 1984) Năm 1989, Trần Trọng Đăng Đàn trong công trình Văn hóa
văn nghệ… Nam Việt Nam 1954-1975 xếp Dương Nghiễm Mậu vào khuynh
hướng phản động, đồi trụy hóa con người: “có thể tìm thấy nhiều sự pha tạp, xen
kẽ giữa các khuynh hướng kích dâm, đồi trụy, khuynh hướng văn chương tiêu thụnhằm phi chính trị hóa bạn đọc với khuynh hướng phản động chính trị ở nhiềutác giả phục vụ cho chủ nghĩa thực dân mới nhưTrùng Dương, Minh Đức - HoàiTrinh… ở nhiều tác phẩm của Võ Phiến, Nguyễn Mạnh Côn, Mai Thảo….Dương Nghiễm Mậu…” (Phong Hiền, 1984)
Năm 1985 Mai Thảo cho xuất bản cuốn sách Chân dung mười lăm nhà
văn nhà thơ Việt Nam Điểm thú vị của cuốn sách này là Mai Thảo viết về các
nhà văn, nhà thơ cùng thời với ông, ông miêu tả, đánh giá về các tác giả ấy từđiểm nhìn gần, từ cái nhìn bên trong, vì thế cả sinh hoạt văn chương lẫn cuộcsống ngoài đời của nhiều nhà văn nhà thơ hiện lên sinh động trên các trang
viết.Trong bàiCon đường Dương Nghiễm Mậu, Mai Thảo chia sẻ: “Dương
Nghiễm Mậu bao giờ cũng đến với tôi bằng khuôn mặt đó Khuôn mặt một ngườinhắm cả hai mắt lại, cho cái nhìn trở thành cái nhìn bên trong, cái nhìn tâm hồn,
và nụ cười tủm tỉm hóm hỉnh là chân dung Mậu ở tấm hình chân dung ngộnghĩnh của Trần Cao Lĩnh” (Mai Thảo, 1984)
Một trong những đổi mới đáng lưu ý trong cách đánh giá văn học miềnNam nói chung, Dương Nghiễm Mậu nói riêng là việc các soạn giả của công
trình Từ điển văn học bộ mới đã đưa tác giả Dương Nghiễm Mậu vào làm một
mục từ, do Thụy Khuê phụ trách và viết khá kĩ lưỡng Đây là một sự ghi nhận cótính chất đổi mới đối với bộ phận văn học đô thị miền Nam trước 1975 Đánh giá
về Dương Nghiễm Mậu, Thụy Khuê viết: “Dương Nghiễm Mậu là một trongnhững nhà văn đã góp phần từ bỏ lối viết hiện thực xã hội để thử nghiệm lối viết
Trang 12hiện thực hiện sinh”, ông là “một trong những nhà văn Việt Nam thế hệ 60-70 đãđào rất sâu vào bản chất của cuộc hiện sinh con người, con người Việt Nam vớichiến tranh và nhược tiểu Ông đứng riêng một cõi, dường như không có bạnđồng hành và đã tạo được một lối cấu trúc về truyện ngắn, truyện dài trong nhânsinh quan bao quát của triết học hiện sinh vô thần” Tiếp tục quan điểm này,trong tiểu luận “Dương Nghiễm Mậu, con người nội soi trong bạo lực chiến tranh
và thân phận nhược tiểu”, Thụy Khuê đã phân tích rất kĩ bút pháp phân tích tâm
lí đặc sắc của tác giả và chứng minh sự gần gũi với triết học hiện sinh của vănxuôi Dương Nghiễm Mậu Thụy Khuê khẳng định trong văn học Việt đến nay
chưa có nhà văn nào khai triển con người hư vô, một cách triệt để như Dương
Nghiễm Mậu
Trong bối cảnh đổi mới,việc tái bản văn học miền Nam giai đoạn
1954-1975 trong đó có bộ phận văn học đô thị đã được một số đơn vị tư nhân quan
tâm Năm 2007 sau khi Công ty Phương Nam xuất bản 4 tác phẩm (Đôi mắt trên
trời, Cũng đành, Tiếng sáo người em út và Nhan sắc) của Dương Nghiễm Mậu,
một cuộc tranh luận về Dương Nghiễm Mậu đã diễn ra Một phía đại diện là VũHạnh, Lê Anh Đào tiếp tục phê phán các sáng tác của nhà văn này, một phíakhác đại diện là Phạm Xuân Nguyên, Chi Mai… đã khẳng định đóng góp và vịthế của Dương Nghiễm Mậu trong lịch sử văn học và sự tiếp nhận của độc giảđương đại
Năm 2013, lần đầu tiên Dương Nghiễm Mậu trở thành chủ để chính của số
chuyên san Tạp chí Thư quán bản thảo (số 55) Có thể nói đây là một dấu mốc
quan trọng về tiếp nhận Dương Nghiễm Mậu sau 1975 Số chuyên san vừa là mộtcuộc kiểm kê sự nghiệp của Dương Nghiễm Mậu, khôi phục lại bản gốc hoànchỉnh văn bản một số tác phẩm đã từng bị cắt xén khi xuất bản trước đó, giớithiệu thêm các bút ký khá hiếm gặp viết về biến cố lịch sử của miền Nam củaông, đồng thời đăng tải nhiều bài “đọc và viết” giàu trải nghiệm, có tính hồi ứchoặc nhận xét tinh tế trong ý thức đối thoại về Dương Nghiễm Mậu của KhuấtĐẩu, Nguyễn Xuân Thiệp, Đinh Cường… Trong đó đáng chú ý nhất là bài củaTrần Văn Nam và Phạm Xuân Nguyên Trong tiểu luận “Dương Nghiễm Mậu,thử xét giới hạn ba lối viết trong ba thời kỳ”, Trần Văn Nam lựa chọn phân tích
Trang 13ba tác phẩm để làm rõ ba lối viết truyện của Dương Nghiễm Mậu: hiện thực xã
hội thời chiến (Cũng đành), tra vấn hiện sinh phi lí (Niềm đau nhức của khoảng
trống), dòng ý thức (Bên sườn núi đá).Phạm Xuân Nguyên thể hiện một cái nhìn
sắc sảo với lời bình phẩm về văn chương Dương Nghiễm Mậu:“Đọc văn Dương
Nghiễm Mậu là đọc những trăn trở, hoài nghi, lo âu, dằn vặt trước những hoàn
cảnh có thể biến con người thành chuột, hạ cấp nhân tính thành thú tính (Những
chuột), trước sự bạo hành của cái ác có thể khiến con người dửng dưng với nỗi
đau của đồng loại (Lấy máu) Tính biểu tượng của truyện Những chuột buộc
người đọc từ hoảng sợ đến thức tỉnh Đọc văn Dương Nghiễm Mậu là đọc nhữngday dứt lựa chọn của người trí thức, người sĩ phu trước một hiện tại lịch sử: xuất
xử hay hành tàng, hành động hay không hành động, hành động vì cái gì, hành
động theo hướng nào Cả tập Nhan sắc gần như có thể nói là được viết cho đường
hướng tư tưởng này, bằng những truyện dã sử và giả sử Từ Hải, Kinh Kha, HồQuý Ly, Lê Quý Đôn, Nguyễn Huệ, Phạm Thái khi trở thành nhân vật của DươngNghiễm Mậu đã đặt nhà văn vào những tình thế lựa chọn, và họ đã phải lựa chọntheo cách của con người hiện đại muốn ở họ Họ phải lựa chọn để không ngừng
đi tìm ý nghĩa của cuộc sống”(Phạm Xuân Nguyên, 2016).Theo Phạm XuânNguyên, tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu có sự ảnh hưởng lớn đối với quátrình tiếp nhận của người đọc được toát lên thông qua những câu chữ lời vănkhiến cho người đọc phải suy nghĩ trăn trở về những nhân vật, số phận con ngườihay những day dứt của chính tác giả về hướng đi của cuộc đời.Đọc DươngNghiễm Mậu “độc giả sẽ được phát hiện một nhà văn xuất sắc với một lối viếthiện đại, thấm đầy chất hiện sinh, đi sâu vào thân phận con người, phơi bàynhững cảnh ngộ làm người trong một thế giới nhiều bất trắc, phi lí Do đó đọcông không thể đọc theo kiểu ngoại quan mà phải bằng con mắt nội quan” (Việt
Trang 14đánh giá thấp, lên án và bài trừ, nhất là bộ phận văn học đô thị; ở miền Nam cáchđọc chính trịnhường chỗ cho cách đọc văn, theo đó vấn đề vốn sống, nhân sinhquan, tư tưởng hiện sinh, thế giới nhân vật, đề tài, bút pháp, lối viết… của DươngNghiễm Mậu được phân tích kĩ lưỡng.
Thứ hai, sau 1975, vẫn còn không ít công trình, bài viết thể hiện cách đọcvăn Dương Nghiễm Mậu từ lập trường chính trị, đây đó việc phê bình DươngNghiễm Mậu rơi vào tình trạng xã hội học cứng nhắc, máy móc, nhìn nhận khákhắt khe, cực đoan đối với bộ phận văn học đô thịmiền Nam giai đoạn 1954-
1975 Tuy vậy cũng cần thừa nhận rằng, từ đầu những năm 2000 trở lại đây, việctái bản tác phẩm Dương Nghiễm Mậu bước đầu được chú ý, những đánh giá cótính chất học thuật, thể hiện tinh thần hòa giải, nhân văn, khách quan, cởi mở, đổimới
Thứ ba, dù có đổi mới, điều chỉnh trong đánh giá Dương Nghiễm Mậunhưng đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào đặt vấn đề vận dụng lýthuyết hiện đại (ngoại trừ việc vận dụng triết học hiện sinh) đểnghiên cứu, để điđến những đánh giá truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu khách quan, có cơ sở khoahọc Đây đó vấn đề người kể chuyện, nhân vật, lối viết được đề cập nhưng việclàm sáng tỏ nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu vẫn còn làmột khoảng trống, mời gọi những nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống
3 Mụcđích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:Với tên đề tài Nghệ thuật tự sự trong truyện
ngắn Dương Nghiễm Mậu, mụcđích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ
những nét đặc trưng trong nghệ thuật tự sự của truyện ngắn Dương Nghiễm Mậunhư: người kể chuyện, điểm nhìn nghệ thuật, giọng điệu, ngôn ngữ
3.2.Đối tượng nghiên cứu:Đối tượng nghiên cứucủa đề tài luận văn là
truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu, trong đó chủ yếu tập trung khảo sát các bìnhdiện tự sự như: người kể chuyện, điểm nhìn, giọng điệu, ngôn ngữ góp phần tạonên phong cách truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu
3.3 Phạm vi nghiên cứu:Do giới hạn về thời gian, tư liệu, trong khuôn
khổ của luận văn, chúng tôi tập trung tìm hiểu 4 tập truyện ngắn:
- Cũng đành (Nhà xuất bản Văn nghệ, 2007)
Trang 15- Đôi mắt trên trời (Nhà xuất bản Văn nghệ, 2007)
- Tiếng sáo người em út (Nhà xuất bản Văn nghệ, 2007)
- Nhan sắc (Nhà xuất bản Văn nghệ, 2007)
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, luận văn sử dụng hướng tiếp cận vàphương pháp nghiên cứu sau đây:
Hướng tiếp cận từ lý thuyết tự sự được sử dụng chủ yếu trong luận văn
này để khảo sát, đánh giá vềcác yếu tố: người kể chuyện, điểm nhìn, giọng điệu,ngôn ngữ,để thấy ý nghĩa nhân sinh, sự thức tỉnh nhân tính, những biểu hiện củachất nhân văn toát lên từnghệ thuật xây dựng hình tượng của tác phẩm Dương
Nghiễm Mậu.Qua đólàm nổi bật những nét đặc trưng trong nghệ thuật tự sự của
truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu
Phương pháp lịch sử- xã hội được vận dụng để xem xét truyện ngắn của
Dương Nghiễm Mậu gắn với hoàn cảnh lịch sử- xã hội, đời sống văn học, vănhóa mà nó được sản sinh để có cái nhìn cụ thể - lịch sử trong việc đánh giá, giátrị của văn bản
Phương pháp loại hình giúp tác giả luận văn trong khi triển khai thực hiện
đề tài có thể tiếp cận, lý giải tư duy nghệthuật của nhà văn qua thể loại truyệnngắn
Trong quá trình triển khai đề tài, người thực hiện luận văn cũng sử dụngphương pháp thống kê phân loại, các thao tác so sánh đối chiếu, phân tích - tổnghợp giúp hiểu sâu hơn về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Dương NghiễmMậu
5.Đóng góp của đề tài
Với đề tài Nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Dương Nghiễm
Mậu người thực hiện đề tài hy vọng góp tiếng nói thẩm định thành công về nghệ
thuật tự sự, phương diện tạo thành phong cách sáng tác trong truyện ngắn củaDương Nghiễm Mậu trong dòng văn học Việt Nam hiện đại
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung nghiên cứucủa đề tài gồm 3 chương:
Trang 16Chương 1 Khái quát về tự sự học, tác giả Dương Nghiễm Mậu trong văn học miền Nam Việt Nam 1954 - 1975
Chương 2 Người kể chuyện và điểm nhìntrong truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu
Chương 3 Kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu
Trang 17Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỰ SỰ HỌC, TÁC GIẢ DƯƠNG NGHIỄM MẬU TRONG VĂN HỌC MIỀN NAM VIỆT NAM 1954 - 1975
1.1 Khái quát về tự sự học
1.1.1 Khái niệm tự sự
Tự sự là một trong những khái niệm gốc, cơ bản của tự sự học Không
hiểu đúng về thuật ngữ tự sự thì không diễn giải đúng về tự sự học Tự trong tự
sự có nghĩa là kể, sự là sự việc, sự kiện, như vậy tự sự là kể chuyện Từ điển
thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên)
định nghĩa: “Tự sự là một phương thức tái hiện đời sống trong toàn bộ tính kháchquan của nó Tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của đờisống trong không gian, thời gian, qua các sự kiện biến cố xảy ra trong cuộc đờicon người Phương thức phản ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố và hành vicon người làm cho tác phẩm tự sự trở thành một câu chuyện về ai đó hay về mộtcái gì đó Cho nên tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện Gắn liền với cốttruyện là một hệ thống nhân vật được khắc họa đầy đủ, nhiều mặt hơn hẳn trữtình và kịch” (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, 2010) Đây là cáchhiểu truyền thống, phổ thông, quen thuộc Trong thực tiễn lý luận, tự sự và cáckhái niệm liên quan, gần gũi với nó được diễn giải rất đa dạng
Nhà lý luận G Genette trong công trình Tân diễn ngôn tự sự phân biệt ba
khái niệm trần thuật, tự sự và câu chuyện như sau: câu chuyện là toàn bộ sự kiệnđược kể, tự sự là diễn ngôn về câu chuyện đó, trần thuật là hành vi trần thuật làmsản sinh ra diễn ngôn đó Phải có hành vi trần thuật thì chúng ta mới biết đến câuchuyện, mới có diễn ngôn tự sự Tự sự chính là diễn ngôn, là lời văn, là ngôn ngữtạo ra quan hệ, ý nghĩa, trật tự của các sự kiện” (Trần Đình Sử, 2018) Tự sựchính là kết quả của quá trình trần thuật Hàng ngày chúng ta đều nghe các câuchuyện khác nhau, nghe hoặc kể để hiểu hay giải thích các sự vật hiện tượng, ởđâu có câu chuyện thì ở đó có tự sự, trần thuật Tự sự là một lĩnh vực rộng lớncủa giao tiếp đời sống con người J.H.Miller nói rằng, “tự sự là cách để ta đưa các
sự việc vào một trật tự, và từ trật tự ấy mà chúng ta có được ý nghĩa, tự sự là cáchtạo nghĩa cho các sự kiện, biến cố” (Trần Đình Sử, 2007) Roland Barthes
Trang 18nhấn mạnh, đã có bản thân lịch sử loài người thì có tự sự J.Culler cho rằng, bất
kể chúng ta xem đời sống là một chuỗi sự kiện liên tục dẫn đến một mục tiêu nào
đó hay là kể bất cứ cái gì xảy ra thì tự sự là phương thức chủ yếu để con ngườihiểu biết sự vật và tự sự chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa
1.1.2 Khái niệm tự sự học
Trong luận văn này chúng tôi không bàn về tự sự trong các lĩnh vực rộnglớn khác của đời sống (tôn giáo, khoa học, chính trị, điện ảnh…), mà chỉ quantâm đến tự sự nghệ thuật được thực hiện bằng ngôn từ Về mặt nguồn gốc, tên gọi
tự sự học (narratology, narratologie) do nhà nghiên cứu T.Todorov đề xuất trong
cuốn sách Ngữ pháp “Câu chuyện mười ngày” năm 1969 Todorov cho rằng,
“Tự sự học là lí luận về cấu trúc của tự sự Để phát hiện và miêu tả cấu trúc ấy,người nghiên cứu tự sự đem hiện tượng tự sự chia thành các bộ phận hợp thành,sau đó cố gắng xác định chức năng và mối quan hệ qua lại của chúng” ( Trần
Đình Sử, 2004) Mieke Bal - một nhà nghiên cứu người Hà Lan trong sách Tự sự
học - Dẫn luận lí thuyết tự sự xuất bản năm 1985 sau bổ sung thành cuốn Dẫn luận lí thuyết tự sự in năm 1997 định nghĩa: “Tự sự học là lí thuyết về sản phẩm
văn hóa gồm trần thuật, văn bản trần thuật, hình tượng, sự kiện và kể chuyện”, làkhoa nghiên cứu lí luận về văn bản tự sự (Trần Đình Sử, 2018) G.Prince trong
Tự sự học định nghĩa, tự sự học là khoa học nghiên cứu hình thức và chức năng
của tự sự Genette chỉ ra, tự sự học theo nghĩa rộng nghiên cứu chủ đề, nội dung
tự sự, và theo nghĩa hẹp nghiên cứu hình thức, các phương thức tự sự
C.Bremond trong Logic của các khả năng tự sự xem đối tượng của tự sự học là
các thủ pháp, phương thức tạo nên tự sự, các quy luật chi phối các sự kiện được
kể ra
Theo cách hiểu phổ biến nhất, tự sự học (có khi gọi là trần thuật học, phân
tích cấu trúc truyện kể…) là một ngành nghiên cứu phê bình văn học lấy tácphẩm tự sự, văn bản tự sự nghệ thuật làm đối tượng Nghiên cứu tự sự cũngchính là nghiên cứu cơ chế tổ chức văn bản tự sự, hoạt động kiến tạo nghĩa chocác sự kiện Tự sự học nghiên cứu rất nhiều yếu tố, bình diện như người kểchuyện, điểm nhìn, thời gian, không gian tự sự, giọng điệu, kết cấu…(Trần Đình
Sử, 2018)
Trang 19Cách hiểu trên đây về tự sự học được luận văn sử dụng để triển khai vấn
đề nghiên cứu
1.2 Đôi nét về văn xuôi miền Nam 1954 - 1975
1.2.1 Bối cảnh văn hóa - xã hội
Sau năm 1954, đất nước bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trịkhác biệt Hiệp ước Giơnevơ và vĩ tuyến 17 không chỉ đánh dấu ranh giới địa lý,chính trị mà cả về văn hóa xã hội Miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa, hoạtđộng văn nghệ chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng Mác - Lê nin; miền Nam đi theocon đường tư bản chủ nghĩa, văn học chịu ảnh hưởng của các tư tưởng Âu - Mỹ.Đánh giá về biến chuyển xã hội miền Nam sau 1954, Nguyễn Đình Lê nhận xét:
“song song với súng đạn, tiền bạc, văn hóa Hoa Kỳ cũng được du nhập vào miềnNam Sự lan truyền nền văn hóa đó vào xã hội miền Nam theo hai con đườngchính: một là sách báo, phim ảnh, thông tin từ chính phủ hay các cơ quan chứcnăng của Hoa Kỳ giới thiệu vào Việt Nam; hai là ảnh hưởng trực tiếp về lối sốngHoa Kỳ qua khoảng 3.5 triệu lượt thanh niên Hoa Kỳ trong sắc phục quân độiđến miền Nam… Lối sống Mỹ tác động hai mặt đến cộng đồng cư dân miềnNam: vừa tiêu cực, vừa tích cực Một mặt nó xa rời văn hóa truyền thống củangười Việt, nhưng mặt khác giúp người ta hiểu cuộc sống đa dạng hơn” (NguyễnĐình Lê, 2019)
So với miền Bắc, chế độ chính trị, xã hội miền Nam có nhiều biến độngphức tạp và dữ dội Từ sau khi Hiệp định Giơnevơ được kí kết, có hàng triệungười miền Bắc di cư vào miền Nam, chủ yếu là các gia đình tư sản, địa chủ giàu
có, các trí thức, và người Công giáo Chiến tranh giữa hai miền ngày càng khốcliệt, sự can thiệp của Mỹ vào đời sống miền Nam ngày càng sâu sắc, đời sốngchính trị miền Nam thường xuyên đảo lộn, các cuộc đảo chính diễn ra liên miên
Cả chế độ Ngô Đình Diệm và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đều triển khainhiều biện pháp, chiến lược chống Cộng mạnh mẽ Nói riêng về mặt tư tưởng vănhóa: văn hóa Mỹ nói riêng, văn hóa phương Tây nói chung dưới nhiều hình thứckhác nhau thâm nhập vào miền Nam, làm thay đổi tư duy, cách nhìn, lối sống củangười dân nơi đây Theo Võ Phiến, người Mỹ vào miền Nam “đem theo tiền Mỹ,lối sống Mỹ, văn hóa Mỹ và đây là đầu mối cho nhiều thay đổi sâu xa
Trang 20trong xã hội miền Nam” (Võ Phiến, 1986) Nguyễn Hiến Lê chỉ ra rằng, “từ năm1960-1961, loại phim cao bồi, nhạc jazz và các tạp chí khiêu dâm Playboy ồ ạtxâm nhập Sài Gòn… Lính Mỹ qua, dân tộc ta mới tiếp xúc thẳng với người Mỹ,mới thấy rõ được cái mặt trái của văn minh Mỹ, xã hội Mỹ và chịu ảnh hưởng taihại của văn minh đó” (Nguyễn Hiến Lê, 1972) Nếu chiến tranh, xung đột chínhtrị hình thành tâm lí bi quan, chán nản, lo lắng, tuyệt vọng thì văn hóa ngoại laihình thành tâm lí sùng ngoại, vong bản, lối sống hiện sinh, hưởng thụ trụy lạc…trong đời sống thành thị miền Nam Việt Nam những năm 1954 - 1975.
Trong số các lý thuyết, trào lưu tư tưởng phương Tây du nhập vào miền Nam,chủ nghĩa hiện sinh có ảnh hưởng sâu đậm nhất “Chủ nghĩa hiện sinh đã đượcmột số trí thức Thiên chúa giáo du nhập vào miền Nam từ cuối những năm 50…đến khi Diệm đổ (cụ thể là từ năm 1964) thì trào lưu triết học ấy bao hàm cả hìnhthức hữu thần lẫn hình thức vô thần, đã gặp được những điều kiện phù hợp để lantràn ồ ạt trong chế độ Sài Gòn” (Phong Hiền, 1984) Sở dĩ chủ nghĩa hiện sinh cóchỗ đứng vững chắc, được tiếp nhận rộng rãi vì cuộc chiến tranh diễn ra trênkhắp đất nước tạo ra bao đau thương tàn khốc; các cuộc đảo chính thay ngựa giữadòng xảy ra liên tiếp làm cho xã hội miền Nam bất ổn, tan rã, sụp đổ không lốithoát; con người đối diện sống trong nghịch cảnh ấy cảm thấy lo âu, mất niềmtin, tuyệt vọng, bế tắc, bi quan, hoài nghi hoặc nổi loạn phá phách… Tâm lý vàđiều kiện này tương hợp với tinh thần của triết học hiện sinh Điều đáng nói làtriết học hiện sinh không chỉ ảnh hưởng đến lối sống, tư duy, tâm thế của ngườitrí thức nói chung mà còn ảnh hưởng đến các hoạt động văn học, từ dịch thuật,nghiên cứu, đến sáng tác
1.2.2 Đội ngũ và khuynh hướng văn xuôi miền Nam
Theo một thống kê chưa đầy đủ của Doãn Quốc Sĩ trong cuốn Văn học và
tiểu thuyết, tính đến năm 1973, ở miền Nam có khoảng 50 tác giả văn xuôi Còn
theo Cao Huy Khanh trong Nhà văn hiện đại tính đến năm 1974, số lượng các tác
giả văn xuôi miền Nam lên đến 200 người, trong đó khoảng 60 tác giả viết cóchất lượng Từ độ lùi trên dưới một thập kỷ, nhìn lại văn xuôi miền Nam, Võ
Phiến trong Hai mươi năm văn học miền Nam 1954-1975 (Tổng quan) đã trình ra
một kết quả kiểm kê khá gần với quan sát của Cao Huy Khanh - trong số 267 tác
Trang 21giả hiện diện trong cuốn Tổng quan văn học miền Nam của Võ Phiến thì có hơn
hai phần ba là tác giả văn xuôi Rõ ràng, đội ngũ văn xuôi miền Nam giai đoạn
1954 - 1975 rất đông đảo, chỉ tính riêng số nhà văn “thực sự có chất lượng” (theocách nói của Cao Huy Khanh) cũng cho thấy tính chất bề thế của văn xuôi khuvực này Sở dĩ đội ngũ đông đảo là vì, bên cạnh các nhà văn sống và viết ở đây từtrước 1954, văn học miền Nam còn được bổ sung bởi đội ngũ các nhà văn di cư
từ miền Bắc, miền Trung vào Đó là Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Trang Thế Hy,Ngọc Linh, Lưu Nghi, Nhất Linh, Vũ Bằng, Vi Huyền Đắc, Thanh Nam, Lê TấtĐiều, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Dương Nghiễm Mậu, Duyên Anh, Võ Phiến, YUyên, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sĩ, Chu Tử, Nhật Tiến, Phan
Du, Nguyễn Văn Xuân, Minh Quân, Võ Hồng, Vũ Hạnh, Nguyễn Mộng Giác,Hoàng Ngọc Tuấn, Từ Kế Tường, Cung Tích Biền, Túy Hồng, Nguyễn ThịHoàng, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Vinh, Trần Thị NgH,
… Nhìn về mặt thế hệ, văn xuôi thập niên 50, 60 ở miền Nam “không có đànanh” (Nguyên Sa, 1967)không có nhiều cách tân đột phá, những nhà văn có đónggóp nổi bật và được độc giả yêu thích nhất vẫn là những nhà văn truyền thốngkiểu Bình Nguyên Lộc Phải từ giữa thập niên 60 trở đi, văn xuôi miền Nam đổigác sang thế hệ trẻ, mới có những bước chuyển quan trọng cả về lập trường chínhtrị, về quan niệm sáng tác, lối viết, bút pháp và đề tài Văn chương miền Nambiến thái cùng với một mối ám ảnh thường xuyên, khốc liệt sau 1963: ám ảnhchiến tranh và tất cả những gì xung quanh chiến tranh.Ngoài đề tài chiến tranh,đến giai đoạn này, văn học miền Nam hướng vào đề tài hiện sinh, chống Cộng,chống chiến tranh, chống chính quyền Sài Gòn đậm nét
Có thể hình dung các hoạt động văn xuôi ở miền Nam theo các nhóm vănhọc Nhà phê bình Cao Huy Khanh khi tổng kết 15 năm văn xuôi miền Nam chiavăn xuôi đô thị thành nhiều nhóm, các nhóm này thường gắn với các diễn đàn
báo chí/cơ sở xuất bản nhất định Nhóm Người Việt (Sáng tạo) gồm Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Sĩ Tế…; nhóm Quan điểm có Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ…;nhóm Văn hóa ngày nay có Nhất Linh, Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo, Duy Lam, Nhật Tiến…; nhóm Nhân loại gồm Ngọc Linh, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Trang Thế Hy…; nhóm Bách khoa gồm Võ Phiến, Vũ
Trang 22Hạnh, Võ Hồng, Phan Du…; nhóm Khởi hành có Viên Linh, Dương Nghiễm Mậu, Cung Tích Biền…; nhóm Văn có Nguyễn Xuân Hoàng, Hoàng Ngọc Tuấn, Mường Mán, Ngụy Ngữ…; nhóm Đất nước (Trình bầy, Đối diện) có Thế
Nguyên, Thế Vũ, Võ Trường Chinh, Trần Duy Phiên, Huỳnh Ngọc Sơn,…;
nhóm Tuổi ngọc có Duyên Anh, Từ Kế Tường, Đinh Tuyến Luyện… Sự đa dạng
của các nhóm bút cũng là sự đa dạng về phong cách, lối viết, về báo chí và xuấtbản văn học
Có quan điểm phân chia văn xuôi miền Nam thành các khuynh hướngkhác nhau Một số nhànghiên cứu chia văn xuôi đôi thị miền Nam thành haikhuynh hướng: văn học tiến bộ, yêu nước cách mạng tại vùng địch tạm chiếm vàvăn học phản động đồi trụy, chống Cộng, phục vụ xã hội tiêu thụ tại các đô thị.Cách phân chia này phản ánh tính lịch sử và giới hạn của cái nhìn mang tính lậptrường chính trị Theo tác giả Nguyễn Thị Thu Trang, nếu lấy giá trị văn hóatruyền thống làm tiêu chí thì có thể phân chia văn xuôi đô thị miền Nam thànhhai khuynh hướng: một là khẳng định các giá trị văn hóa truyền thống; hai là xarời các giá trị văn hóa truyền thống, quan tâm đến những yếu tố hiện đại Khuynhhướng khẳng định văn hóa truyền thống (Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Võ Hồng,
Vũ Hạnh, Nguyễn Văn Xuân, Vũ Bằng, Nhật Tiến…) thể hiện ở thái độ trở vềvới dân tộc, quá khứ, đề cao truyền thống, đấu tranh chống các yếu tố ngoại lai,thực dân; khuynh hướng xa rời văn hóa truyền thống (Chu Tử, Dương NghiễmMậu, Viên Linh, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng, Trần ThịNgH…) thể hiện ở cái nhìn phủ định, phản ứng chống lại truyền thống, bi quan
về thực tại,…(Nguyễn Thị Thu Trang, 2015)
Nhìn từ góc độ ảnh hưởng của các tư tưởng triết học, văn học nước ngoài
có thể thấy văn học miền Nam giai đoạn 1954- 1975 có ba khuynh hướng cơ bản,trong đó có hai khuynh hướng thể hiện tính hiện đại, gắt kết với phương Tây vàmột khuynh hướng thể hiện rõ tính chất đối kháng chính trị Thứ nhất là các sáng
tác chịu ảnh hưởng của phân tâm học, với Thanh Tâm Tuyền (Mù khơi…), Nguyễn Thị Hoàng (Tuổi học trò, Ngày qua bóng tối, Vòng tay học trò, Về trong
sương mù, Vào nơi gió cát…), Nguyễn Thị Thụy Vũ (Khung rêu, Mèo đêm, Thú hoang…), Túy Hồng (Tóc mai nghìn năm, Vết thương dậy thì, Thở dài…), Nhã
Trang 23Ca (Bóng tối thời con gái, Đêm dậy thì…) Thứ hai là các sáng tác chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh, trong văn xuôi có Dương Nghiễm Mậu (Con sâu,
Đêm tóc rối…), Doãn Quốc Sĩ (Dòng sông định mệnh), Mai Thảo (Bên lề giấc mộng, chìm dần vào lãng quên), Thanh Tâm Tuyền (Bếp lửa).(Trong thơ có
Nguyên Sa, Tô Thùy Yên, Du Tử Lê, Nguyễn Đức Sơn, Bùi Giáng ) Cáckhuynh hướngsáng tác chịu ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng khác ở miềnNam khá đa dạng, có những dấu ấn nhất định, như chịu ảnh hưởng của các tràolưu nữ quyền, kĩ thuật dòng ý thức của tiểu thuyết mớinhưng vị thế không thểvượt lên hai khuynh hướng chúng tôi vừa nêu hoặc hòa trộn vào thành tựu củacác dòng văn học đó.Thứ ba là các sáng tác chống Cộng Văn học chống Cộng làmột nét đặc trưng của hoạt động văn nghệ miền Nam Tiêu biểu cho khuynhhướng này có Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ, Chu Tử, Võ Phiến,… Đặcđiểm của văn học này là dùng văn chương nghệ thuật làm vũ khí chống miềnBắc, chống chủ nghĩa Cộng sản; ca tụng xã hội, con người và chế độ Việt NamCộng hòa ở miền Nam
Từ sự phân chia văn học đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 thành nhiềunhóm, theo các khuynh hướng sáng tác cho thấy hoàn cảnh xã hội đã tác độngđến đời sống văn học, dẫn đến sự phân hóa dữ dội trong đội ngũ sáng tác Thực tếnày, với độ lùi của thời gian cho thấy, điều quan trọng trong nghiên cứu, đánh giásáng tác của các nhà văn miền Nam giai đoạn này không phải là theo nhóm nàyhay nhóm kia mà là ở giá trị của tác phẩm, kết quả của tư duy nghệ thuật của laođộng nhà văn
Với cách hiểu như trên về đội ngũ sáng tác văn xuôi miền Nam, luận văn đặt vấn
đề nghiên cứu truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu hướng tới việc thẩm định giá trịcủa mảng truyện ngắn để khẳng định vị trí, sự đóng góp của ông cho văn họcViệt Nam hiện đại
1.3 Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Dương Nghiễm Mậu
1.3.1 Cuộc đời của nhà văn Dương Nghiễm Mậu
Dương Nghiễm Mậu tên thật là Phí Ích Nghiễm, sinh ngày 19 – 11- 1936tại làng Mậu Hòa, huyện Đan Phượng, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông nay thuộc
Hà Nội; mất ngày 02 – 08 – 2016 tại Thành phố Hồ Chí Minh Ông được coi là
Trang 24một trong số những nhà văn nổi tiếng của miền Nam Việt Nam với bút hiệu làHương Việt Hương Từ năm 12 đến 18 tuổi, Dương Nghiễm Mậu sinh sống vàhọc tập ở Hà Nội Sáng tác đầu tay của ông là đoản văn, tùy bút được in ở trangphụ trương văn nghệ của báo chuyên nghiệp Đến năm 1954, sau khi hiệp địnhGiơnevơ được ký kết, Dương Nghiễm Mậu di cư vào Nam cùng với gia đình Từnăm 1957, ông viết nhiều đoản văn, truyện ngắn và truyện dài Năm 1962, ông
chủ trương Tạp chí Văn nghệ với Lý Hoàng Phong và cộng tác với các báo như:
Tia sáng, Thế kỷ, Sáng tạo, Giữ thơm quê mẹ, Giao điểm, Bách khoa Ngoài ra,
Dương Nghiễm Mậu còn chủ trương Nhà xuất bản Văn Xã.Ông nhận giải thưởng
văn chương toàn quốc (miền Nam) năm 1966 với tập truyện Cũng đành(do Tạp chí Văn nghệ xuất bản năm 1963), truyện dài Gia tài người mẹ (Văn nghệ, 1964).
Năm 1966, gia nhập quân đội Việt Nam Cộng hòa; năm 1967, Dương NghiễmMậu làm phóng viên mặt trận Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhà văn bị bắt đi
tù cải tạo Năm 1977, ông chuyển sang vẽ tranh sơn mài và sinh sống bằng nghề
đó tại Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà văn Dương Nghiễm Mậu, sau Hiệp định Giơnevơ, ông đi theo giađình di cư vào Nam Hoàn cảnh xã hội miền Nam sau hiệp định Giơnevơ, chiếntranh lan rộng khắp miền Nam và cả nước, sự can thiệp của người Mỹ vào cuộcchiếnkéo theo những hệ lụy làm cho xã hội miền Nam bất ổn, rối ren Bom đạncủa chiến tranh, chất độc hóa học đã rải xuống mảnh đất miền Nam khiến nhiềuđồng ruộng trở thành đất hoang, hàng vạn làng mạc bị tàn phá bởi bom mìn, súngđạn Quân nhân Mỹ xa nhà với cuộc sống điều kiện dư dật cần có những quánbar, tụ điểm vui chơi như phòng trà, gái nhảy, v.v Trong hoàn cảnh chiến tranh -lối sống của xã hội tiêu thụ kéo theocác tệ nạn hút chích, cờ bạc,v.v Bên cạnh
đó, trên phương diện văn hóa, sự du nhập ồ ạt văn hóa phương Tây vào miềnNam làm cho xã hội thêm phức tạp Khác với giai đoạn tiền chiến, ở giai đoạnnày, tuổi trẻ chứng kiến những biến động của xã hội cùng với việc di dân phầnnào đã ảnh hưởng lối cảm, lối nghĩ, cảm quan nghệ thuật của nhà văn VớiDương Nghiễm Mậu, những tháng năm của tuổi trẻ đã trải qua và chứng kiếnhoàn cảnh xã hội đó đã tạo cho ông những suy nghĩ và hướng đi mới trong việcđổi mới cách viết.Tạ Tỵ đã có nhận xét về cách tiếp cận hiện thực xã hội miền
Trang 25Nam sau 1954 theo cảm quan của Dương Nghiễm Mậu như sau: “Dương NghiễmMậu tuy không có quyền chọn lựa hướng đi nhưng cũng chẳng sẵn sàng làm mộtdòng nước nhỏ, nên chấp nhận sự có mặt của mình trước cuộc sống với một thế
đứng riêng biệt” (Tạ Tỵ, 2017) Tập truyện ngắn đầu tay Cũng đành (xuất bản
1963) mang đậm dấu ấn về thân phận con người trong xã hội.“Tất cả các nhânvật của Dương Nghiễm Mậu đều nghèo túng, xã hội của Dương Nghiễm Mậu làmột xã hội bị chiến tranh tàn phá, ở đâu cũng còn vết tích của rạn vỡ: trong thànhphố, trên cơ thể, trong tâm hồn Một xã hội con lạc cha, vợ lạc chồng, anh emhằm hè nhau như hổ đói, người với người xem nhau như súc vật” (Đặng Tiến,1963) Đặc biệt là sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ, sự biến độngtrong đời sống chính trị làm cho đời sống xã hội miền Nam càng thêm phứctạp.Chủ nghĩa hiện sinh có cơ hội phát triển Huỳnh Như Phương trong bài viết
giới thiệu về chủ nghĩa hiện sinh (in trong Tiến trình văn học (khuynh hướng và trào lưu), Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2019) đã viết: “…
trong bối cảnh chiến tranh khốc liệt và bi thảm, xã hội miền Nam tiếp xúc sâurộng với nền văn hóa phương Tây, triết học và văn học hiện sinh được giới thiệu,quảng bá qua hệ thống giáo dục, xuất bản và báo chí” “Từ ảnh hưởng đến vănhọc nghệ thuật, chủ nghĩa hiện sinh đi vào quan niệm sống và lối sống, với nhữngtác động khá tế nhị và phức tạp Một mặt không thế chối cãi rằng việc du nhậptriết học và văn học hiện sinh góp phần dẫn đến phản ứng “nổi loạn”, “tận hưởngcuộc đời” của một bộ phận thanh niên nông nổi không tìm thấy đườngđi trongchiến tranh, như Lý Chánh Trung, Nguyễn Văn Xuân, Lữ Phương, Thế Nguyên,Nguyễn Trọng Văn đã từng chỉ ra” (5.6 Chủ nghĩa hiện sinh (Existentialism ),Sđd, tr.140 -141) Từ hiện thực đời sống xã hội và văn học miền Namnhư HuỳnhNhư Phương diễn giải và phân tích, một số nhà văn chịu ảnh hưởng của chủnghĩa hiện sinh trong đó có Dương Nghiễm Mậu Sáng tác của Dương NghiễmMậu giai đoạn sau có sự biến chuyển trong tư tưởng cũng như sự dấn thân trongsáng tác Dương Nghiễm Mậu dám nói lên tiếng nói của cá nhân mình, dùngnhững hình tượng cũng như số phận của nhân vật để thể hiện quan điểm cũngnhư lập trường viết của ông Qua đó, khẳng định một vị thế
Trang 26vững chắc một chỗ đứng riêng trong giới văn chương miền Nam của DươngNghiễm Mậu.
1.3.2 Sự nghiệp sáng tác
Dương Nghiễm Mậu đã để lại cho đời một khối lượng tác phẩm phongphú và đồ sộ, với hơn 20 tác phẩm, thuộc nhiều thể loại khác nhau từ truyệnngắn, truyện dài đến tiểu thuyết Chính lối viết đặc sắc, độc đáo, không lặp lại đãtạo nên vị trí Dương Nghiễm Mậu rất riêng, một mình một thế đứng.Tiêu biểu
trong thành tựu sáng tác của ông, về truyện ngắn có thể kể: Cũng đành (Tạp chí Văn nghệ, Sài Gòn, 1963), Đêm (Giao điểm, 1965), Đôi mắt trên trời (Giao điểm, 1966), Sợi tóc tìm thấy (Những tác phẩm hay, 1966), Nhan sắc (An Tiêm, 1966), Kinh cầu nguyện (Văn xã, 1967), Ngã đạn (Tân văn, 1970) Bên cạnh
truyện ngắn, Dương Nghiễm Mậu có những truyện dài được độc giả chú ý như:
Gia tài người mẹ (Tạp chí Văn nghệ, 1964), Đêm tóc rối (Thời mới, 1965), Tuổi nước độc (Văn, 1966), Phấn đấu (Văn, 1966), Ngày lạ mặt (Giao điểm, 1967), Gào thét (Văn uyển, 1969) Ngoài ra còn phải kể đến một số tác phẩm khác
như: Địa ngục có thật (Bút ký, Văn xã, 1969), Quê người (Văn xã, 1970)
Nhìn lại quá trình sáng tác, sự nghiệp sáng tác của Dương Nghiễm Mậuchúng tôi nhận thấy có mấy điểm đáng chú ý sau:
Dương Nghiễm Mậu xuất hiện trong đời sống văn nghệ miền Nam ViệtNam từ khá sớm và nhanh chóng khẳng định được tên tuổi, phong cách Ông lànhà văn tiêu biểu của thế hệ di cư vào miền Nam Thời kỳ viết sung sức nhất, dồidào nhất là từ khoảng 1966 đến 1974, những sáng tác kết tinh cho quan điểm,nghệ thuật, thành tựu chính, khẳng định vị trí văn học sử, đóng góp của DươngNghiễm Mậu cho văn xuôi miền Nam thuộc về thời gian này
Nói về quan niệm sáng tác, trên Văn nghệ số 21, Dương Nghiễm Mậu cho
biết quan điểm của ông như sau: phần nhiều tác giả phải trải qua một giai đoạnviết truyện ngắn trước khi viết truyện dài; viết truyện ngắn khó hay, đòi hỏi phải
có sức nén lớn, chuẩn bị và viết công phu, tập trung, liền mạch một cách tự nhiên
- “tôi thường nuôi sẵn trong đầu một số truyện rồi lúc đó nào cóthì giờ là viết.Tôi viết một hơi từ đầu đến cuối… tôi không quen cách thức làm việc kiểu thủcông nghiệp, cũng có khi điều gì đó đến bất ngờ không viết không được thì tôi
Trang 27viết ngay.Kĩ thuật với tôi là một điều thứ yếu.Nội dung tùy thuộc vào tác giả, kĩthuật tùy thuộc nội dung, kĩ thuật thực hiện như thế nào (từ cách chấm, phẩy,xuống dòng, ngôn ngữ…) là do nơi nội dung đòi hỏi” Dương Nghiễm Mậu cũngcho biết ông chỉ có thể viết hay được với những truyện thực -“truyện thực trongđời sống dưới mắt tôi khủng khiếp hơn nhiều tưởng tượng Tôi nhiều khi bất mãnvới chính mình vì thấy mình bất lực trước việc diễn tả cuộc sống, suy nghĩ… Câybút trên tay muốn vứt bỏ đi nhưng rồi vẫn phải viết” (Dương Nghiễm Mậu,1963).
Dương Nghiễm Mậu sống và viết trong tình thế cực đoan của văn hóa xãhội miền Nam.Ông vừa là nhân chứng vừa là người trong cuộc, vừa là người chịuảnh hưởng của chiến tranh, văn hóa xã hội thời ấy, vừa là người góp phần sángtạo ra những sản phẩm văn học phục vụ xã hội tiêu dùng
Một trong những mối quan tâm hàng đầu trong sáng tác của DươngNghiễm Mậu là thân phận con người Phải là nhà văn gắn bó với thời cuộc, vớiđời sống, đối diện với hoàn cảnh bi đát nhãn tiền mới có những trang viết nặngtrĩu suy tư về con người như Dương Nghiễm Mậu Tạ Tỵ nhận thấy: DươngNghiễm Mậu không phải vô tình hay vô cớ khi đặt vấn đề thân phận con người,nhất là tuổi trẻ trong phạm trù sinh hoạt thực tế, với bao nỗi băn khoăn, ám ảnh
về một xã hội thối nát, bất công” (Tạ Tỵ, 1971) Cắt nghĩa về đề tài này, Tạ Tỵnhấn mạnh đến môi trường sống phân hóa, cuộc chiến khốc liệt, sự vay mượn tưtưởng của Sartre, Camus, đặc biệt là tâm lý nhìn nhận thân phận con người, trong
đó có chính bản thân nhà văn, như một định mệnh, “từ phẫn uất, Dương NghiễmMậu đi vào chán nản khi biết rằng thân phận mình đã bị điểm danh, nghĩa là đãđược định đoạt” Thụy Khuê khi viết về Dương Nghiễm Mậu cũng nhận xét: mỗinhân vật của Dương Nghiễm Mậu “là một trường hợp tự phân- tự nhận thức vềbản thân- họ thuộc về cái thế giới đau đớn, bi đát của những người nhìn vào cuộcsống hiện sinh, phi lý của mình (Thụy Khê, 2014)
Dương Nghiễm Mậu là một nhà văn hiện sinh, phân tích tâm lý sâu sắc.Ngòi bút của tác giả không thiên về miêu tả những cái bề ngoài của xã hội vànhân vật, mà lách sâu vào đời sống bên trong “Dương Nghiễm Mậu thường tìmhình bóng mình qua kẻ khác, cũng như dùng kẻ khác để nói về mình” (Tạ Tỵ,
Trang 281971).Nhà văn không tìm cách trình bày, mô tả cái hiện thực nhìn thấy như nhiềunhà văn khác, mà tìm cách phơi mở ra thế giới nội tâm, không ngần ngại xoáysâu vào cái đau không nhìn thấy, chỉ có thể cảm nhận, thể nghiệm trong mỗi bảnthân con người - “những người ý thức được những ung nhọt trong thể xác và tinhthần của mình”, ông “phác họa chân dung con người với những đam mê vô ích,con người hư vô trong cuộc sống hiện sinh bi đát của một xã hội Việt Nam đang
bị dày vò, xâu xé vì chiến tranh và thù hận” (Thụy Khê, 2004) Văn xuôi củaDương Nghiễm Mậu thấm đẫm tư tưởng hiện sinh, với nhiều chủ đề đặc trưng:con người hư vô, thái độ chấp nhận thực tại phi lí và cái chết như là định mệnh,tâm trạng chán nản, bi quan, phẫn uất tràn ứ trong các suy tư, cảm giác của nhânvật…
Tiểu kết chương 1
Muốn hiểu về tự sự học cần phải nắm rõ khái niệm gốc là tự sự Trên cơ
sở kế thừa những kết quả nghiên cứu về lý luận, tác giả luận văn đã lựa chọn,tổng hợp và đúc rút một cách hiểu phù hợp, có tính căn bản, dễ hình dung về tự
sự và tự sự học, làm cơ sở cho việc triển khai các chương tiếp theo Mặc dùkhông có điều kiện đi sâu, trình bày kĩ lưỡng, nhưng từ sự đa dạng trong quanniệm đến những đường nét phát triển chính của ngành tự sự học đã được luận vănphác thảo lại
Song song với việc lựa chọn quan điểm lý thuyết làm điểm tựa lý luận choviệc triển khai đề tài, luận văn đã cố gắng dựng lại bối cảnh văn hóa xã hội chiphối, ảnh hưởng đến sáng tác của Dương Nghiễm Mậu Trong khi trình bày lịch
sử vấn đề nghiên cứu, luận văn đã cố gắng bám sát nguồn tư liệu trong phạm vihiểu biết của mình để thấy vấn đề nghiên cứu về sáng tác của Dương NghiễmMậu, trong đó có mảng truyện ngắn của nhà văn là cần thiết cần được tiến hànhdựa trên những căn cứ khoa học để có những đánh giá, khách quan, thỏa đáng
Từ nguồn tư liệu người viết có được về Dương Nghiễm Mậu, chương 1cũng đã tổng hợp, trình bày những thông tin chính yếu nhất về cuộc đời, “conngười tiểu sử” của nhà văn Dương Nghiễm Mậu, hướng đến hai khía cạnh, một làcho thấy tác giả thuộc thế hệ nhà văn miền Bắc di cư vào miền Nam, và hai làbước đầu hình dung về hành trình sáng tác của Dương Nghiễm Mậu chia thành
Trang 29hai giai đoạn (ở miền Bắc sáng tác đoản văn, tùy bút) và ở miền Nam viết truyệnngắn, truyện dài, bút ký.Thành tựu chính xác định tư cách nhà văn hiện sinh, nhàvăn tiêu biểu, quan trọng của văn học miền Nam của Dương Nghiễm Mậu tậptrung ở giai đoạn sau.
Trang 30Chương 2 NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TRONG TRUYỆN NGẮN DƯƠNG NGHIỄM MẬU 2.1.
Người kể chuyện trong truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu
Người kể chuyện là một bình diện của tự sự học Theo Từ điển thuật ngữ
văn học: Người kể chuyện là hình tượng ước lệ về người trần thuật trong tác
phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thểtrong tác phẩm Đó có thể là hình tượng của chính tác giả, dĩ nhiên không nênđồng nhất hoàn toàn với tác giả ngoài đời, có thể là một nhân vật đặc biệt do tácgiả sáng tạo ra, có thể là một người biết một câu chuyện nào đó Một tác phẩm cóthể có một hoặc nhiều người kể chuyện
Người kể chuyện là một yếu tố của cấu trúc tự sự Người kể chuyện nghĩađen là người kể (câu chuyện) cho người đọc nghe Đó là nhân vật trung tâm của
tự sự, bởi vì toàn bộ văn bản tự sự đều là sản phẩm của danh nghĩa người kểchuyện Đọc văn bản tự sự bao giờ ta cũng nghe thấy một lời kể, một giọng điệu,một tiếng nói cho ta biết có sự việc gì đã, đang hay sẽ xảy ra Có người xưng
“tôi”, có cá tính, có giới tính, có người chỉ nghe thấy tiếng, mà không biết ai, cótruyện một người kể, có truyện nhiều người kể thay thế nhau, có trường hợpkhông thấy dấu hiệu của người kể, dường như “câu chuyện tự kể” (Trần Đình Sử,2018)
N.Tamarchenco viết: Người kể chuyện là chủ thể lời nói và là người đạidiện cho điểm nhìn trong tác phẩm văn học người kể chuyện được khách quanhóa và được tách biệt rõ rệt với tác giả cả về mặt không gian, lẫn bình diện tu từ
mà cụ thể nó được gắn với một hoàn cảnh văn hóa - xã hội và ngôn ngữ cụ thể để
từ vị thế ấy nó mô tả các nhân vật khác (Trần Đình Sử, 2018)
Tz.Todorov cho rằng: Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiếntạo thế giới tưởng tượng không thể có trần thuật thiếu người kể chuyện Người
kể chuyện không nói như các nhân vật tham thoại khác mà kể chuyện Như vậy,kết hợp trong mình đồng thời cả nhân vật và người kể, nhân vật mà nhân danh nócuốn sách được kể có một vị thế hoàn toàn đặc biệt
Trang 31Pospelov chỉ ra mối quan hệ giữa người kể chuyện và độc giả: Người kểchuyện là người môi giới giữa các hiện tượng được miêu tả và người nghe (ngườiđọc), là người chứng kiến và cắt nghĩa các sự việc xảy ra.
Theo W.Ksayser: Người kể chuyện là một khái niệm mạng tính chất cực
kì hình thức, đó là một hình hài được sáng tạo ra, thuộc về toàn bộ chỉnh thể tácphẩm văn học Ở nghệ thuật kể không bao giờ người kể chuyện là vị tác giả đãhay chưa nổi danh, nhưng là cái vai mà tác giả bịa ra và chấp nhận: trong nghệthuật kể, người kể chuyện không bao giờ là tác giả đã hay chưa từng được biếtđến, mà là một vai trò được tác giả nghĩ ra và ước định
Từ những ý kiến của các nhà lý luận về tự sự học đề cập cách hiểu khái
niệm người kể chuyệntrên đây, tác giả luận văn rút ra một cách hiểu về người kể
chuyện làm cơ sở cho việc khảo sát, phân tích, đánh giá yếu tố này trong nghệ
thuật tự sự của truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu Thứ nhất: người kể chuyện làmột sản phẩm sáng tạo, không đồng nhất với tác giả, tiểu sửtác giả ngoài đời; mộttác phẩm có thể có nhiều người kể chuyện Thứ hai: người kể chuyện thực hiệnchức năng kể chuyện, truyền đạt thông tin, bình luận Thứ ba: người kể chuyện
có thể can dự vào câu chuyện, có thể không can dự vào tình tiết, câu chuyện đượckể
Đi vào tìm hiểu truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu, chúng tôi nhận thấy yếu
tố người kể chuyện được nhà văn sử dụng ở các ngôi kể sau: người kể toàn tri,người kể đồng hiện, người kể ngoại hiện
2.1.1 Người kể chuyện toàn tri
Người kể chuyện toàn tri là người kể biết hết, biết cả quá khứ, hiện tại,tương lai, bề ngoài và bên trong nhân vật, biết tất cả các quan hệ của các nhânvật, người này như “vị chúa tể”, đứng ra dàn chuyện và kể chuyện
Truyện Tiếng sáo người em út, kể câu chuyện của hai anh em ứng xử về
cái chết của người cha Khi người anh đi xa trở về nghe tiếng sáo của người emtrong lòng cảm thấy vui, tiếng sáo nghe trầm bổng, véo von, mang một nỗi niềmcủa tâm sự Cuộc nói chuyện giữa hai anh em về những câu chuyện xưa cũ, vềcái chết của người em gái út, về ông nội Người anh bàng hoàng khi biết ngườicha đã chết:
Trang 32“Người anh lặng đi đôi mắt mở lớn nhìn người em không chớp:
- Cha chết rồi sao?
- Cha đi tối hôm qua
Người anh vụt bỏ chạy lên nhà trên, tiếng bước chân, tiếng cửa va đậpvang động rồi tiếng khóc oằn lên Người em trở ra hiên nhà lấy cây sáo trúcxuống và bắt đầu thổi một khúc nhạc, âm thanh nhảy nhót tươi vui Người anh từtrong nhà bước ra, nước mắt ràn rụa Người em ngừng thổi sáo Người anh nóigiọng khô:
- Cha chết mà em không buồn sao?
- Cha già thì chết, tại sao lại buồn? Anh khóc cha có sống lại không? Chanói với em: cả đời không làm điều gì quấy, không có gì phải hối hận, cha nhẹlòng khi nhắm mắt có con ở bên Con hãy thổi sáo cho cha nghe ” (DươngNghiễm Mậu, 2007) Từng lớp, từng chi tiết diễn ra tưởng rất đỗi bình thườngnhưng để rồi dẫn người đọc tới nỗi đau của người con sau bao năm xa nhà khiquay trở về thì người cha đã mất Dương Nghiễm Mậu như tận cùng thấu hiểuđược nỗi đau đó biểu hiện qua “tiếng khóc oằn lên”, cảm giác đau đớn, bất hạnh.Nhưng câu truyện không đơn giản như vậy, mà thông qua hình ảnh người em út
để nói lên cách sống, cách nhìn đời của người cha về lẽ sống nhân sinh Người
em đã thổi sáo đễ tiễn đưa người cha về bên kia thế giới với khúc hân hoan làmvơi lòng người ở lại, nhẹ lòng người ra đi Tưởng rằng người em út là ngườikhông làm tròn đạo hiếu của một người con: cha chết lại thổi sáo, bế người chađặt vào trong cỗ áo quan, đầu gối lên cái ruột tượng nhồi thóc, không thông báocho họ hàng làng xóm Nhưng không, người em út là một người con có hiếu, biếtnối chí cha, bám đất bám làng: “Anh nghĩ em có thể bỏ nơi này mà đi được sao?
Ai cũng bỏ đi cả thì ngôi nhà này ai coi, ruộng ai cày và những người như anh lấyđâu nơi để trở về?” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Sống với người cha, rồi chứngkiến bao đổi thay, bao nhiêu cái chết của người thân,…người em đã trưởng thành
và già dặn, suy nghĩtrở nên sâu sắc hơn Phải chăng người em út là bóng hìnhngười cha để lại: “Em nghĩ: anh không phải là người để sống ở trong nhà, lại nữabây giờ cha đã mất Từ lúc em lớn lên đến nay em thấy có mấy khi anh sống ởnhà Chị bé đã chết, bao nhiêu người đã chết, bao nhiêu đổi thay, anh
Trang 33đâu có sống với những điều đó? Em không nghĩ là có lúc anh trở về chuyện còndài” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Qua những cử chỉ, lời nói của người em út tacảm tưởng đây không còn là một người em nhỏ bé nữa Thái độ của người emtrước cái chết của cha, hành động của người em khác thường so với cách ứng xửcủa người đời khi cha mẹ ra đi, và ngay cả với người anh cùng cha, toát lên triết
lý sống của người lịch lãm Người em trong truyện Tiếng sáo người em út là
người kể chuyện hàm ẩn, thể hiện quan niệm nhân sinh của người kể chuyện toàntri
Trong truyện Những chuột kể về cuộc sống của lão Chệt với lũ chuột Lão
Chệt biểu tượng cho sự tha hóa, trở về với sự hoang dã Dường như người vàchuột là cùng một thế giới Lão ăn ở chung với lũ chuột: “Trong cái xóm nhỏ bé
ấy chẳng mấy khi người ta để ý đến nhau Mỗi người nghĩ và lo lấy đời sống củamình Lão Chệt sống chết gì người ta cũng không quan tâm tới, và riêng lão cũngkhông nghĩ tới bên ngoài, trong ba chuồng chuột lớn, hơn ba trăm con đó lãongắm nghía, sờ soạng chơi đùa, khi nào đói lão lại bắt ra từng con nướng vào lửa
xé ăn Lão cũng chẳng cần phải nằm ở giường, mệt lão lăn ra nằm ở ngay bên lũchuột” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Lão ăn tươi nuốt sống cả dòi bọ: “Lão nhớlại bữa chuột bao tử mấy hôm trước khi lão bắt được trọn ổ, tới mười bốn conchuột đỏ hỏn chưa mở mắt lão đã mang về tẩm bột rán, lão nghĩ ăn cái ấy thì bổphải biết, cái gì vào bao tử chả bổ, đến dòi mà lão nghe nói cũng là một vị thuốcghê gớm lắm Lão cầm lấy đầu chú chuột bóp mạnh một cái, một tiếng kêu chítrồi tắt, giữa hai ngón tay, đầu chú chuột bẹp dí tóe máu và óc, lão vứt bỏ vào gócnhà, lão đưa ngón tay lên miệng mút lấy một chút lầy nhầy của máu và óc rachiều khoan khoái rồi lão vào trong bàn kiếm rượu để tợp một hớp Lão lấy thuốcvấn một điếu châm lửa hút” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Cuộc sống trước đâycủa lão cũng không khó khăn gì: “Chẳng phải lão không có lúc sướng đâu, cáihồi lão còn làm chủ cái tiệm chạp - phô kia thì cũng chủ nhân ông lắm, nhưng cô
vợ tài hoa son phấn của lão lại trót đa mang với nàng tiên nâu đã vê tròn, đút lỗhết sản nghiệp vào hơi khói, đến nỗi lão cũng mắc nghiện Nhưng khi nghèo khónuốt sái mãi không được lão phải cai - cái thuở khốn khó đó, không có chút nhựa
đã vật vã lão tưởng chết Nhưng nợ đời nó chẳng tha cho nên lão vẫn phải sống,
Trang 34phải về đây bắt chuột bán” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Lão bắt chuột để chocon lão mang ra tiệm làm bánh bao và xíu mại bán: “Lão mơ tưởng tới một thứ
kỹ nghệ thịt chuột, nếu có chắc lão là kẻ tiên phong: nào trại nuôi chuột, rồi sữachuột, thịt chuột đóng hộp biết đâu lại chẳng giúp cho lão có xe hơi, nhà lầu, gáiđẹp, cái món sau chả cần gì miễn sao cưới được con nhỏ Xiêm, có tiền cưới aichẳng được mà phải lo” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Nhưng rồi thằng Lai đãmang Xiêm đi Sài Gòn Lão Chệt làm bạn với chuột, người bạn độc nhất: “Lũchuột đối với lão bây giờ thật đáng yêu, nó có cái gì đáng ghét đâu, nó cũng nhưngười, chẳng qua hình thù nó khác Nó cũng ăn uống, ỉa đái, sinh nở rồi chết,cũng kiếm ăn như người vậy, có điều lão Chệt yêu chuột, hình như chuột nó cóthể sống với nhau cùng một đời sống, không có giai cấp chuột Và nhất nữa thịtchuột lại có thể ăn được” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Cho đến một ngày có mộtcon chó lông đen lù xù như chó hoang, gầy teo, đi khập khễnh: “Chào quý khách!Chào quý khách! Không bao giờ tôi lại được tiếp ngài Ngài mới ở xa tới? Xinngài cứ tự tiện Nhà của tôi như nhà của ngài, lũ bè bạn chuột của tôi đây cũngvậy Chắc ngài chỉ ghé tạm đây trên con đường đi tìm chân lý, bình định thiên hạ.Chả sao, ngài cứ tự tiện xơi những người bạn quý này nếu cần” (Dương NghiễmMậu, 2007) Cho đến một ngày lão lo sợ đến lúc nào đó nó đè lão ra nhai nên lãotìm cách đánh chết nó: “Chờ con chó ngủ, lão kiếm một cái chai để bên cạnh rồicầm ở tay thu sức giáng một cái xuống đầu con chó Chó duỗi hai chân giãy giãy
lè lưỡi và sùi bọt mép Lão chệt mệt nhọc lắm mới kiếm được con dao mổ bụngchó, lão mổ bụng moi bộ gan nướng ăn, lão thấy tiết chó nóng và đặc sánh, lãothấy cổ khát nên vốc uống Lão ưng ý về món ăn lạ kỳ Lão vứt bỏ xác chó ragiữa nhà, lũ chuột kéo đến ngoạm” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Sau đó trongxóm xôn xao về những cái chết và người ta nghĩ ngay đến lão Chệt và phát giác
ra bệnh dịch
Câu chuyện được kể trong Những chuột mà luận văn vừa dẫn ra là một
truyện kể ở ngôi thứ ba Người đọc chỉ nghe thấy giọng kể, người kể chuyện ởđây ẩn đi, điều này thể hiện rõ qua cách gọi tên nhân vật là “lão” Lựa chọn hìnhthức kể chuyện này, người kể trở thành một người biết tuốt, biết hết mọi việc, câuchuyện về “lão”, của “lão” được người kể nắm trong lòng bàn tay, anh ta vừa
Trang 35như đứng bên ngoài, đứng bên trên quan sát, nắm rõ mọi nguồn cơn, diễn biến,vừa có thể thâm nhập vào đời sống nội tâm của nhân vật, vừa quan sát hànhđộng, lời nói nhân vật.Từnhững trích dẫn trên, người đọc rùng rợn, kinh hãi do sựmiêu tả tường tận những góc khuất tăm tối của sinh hoạt thiếu văn hóa của conngười Một môi trường sống từ ăn, ở, đến hành xử,… ánh sáng văn minh khôngđến được Con người trở về đời sống mông muội Hậu quả của nó là dịch bệnh, làthảm họa môi trường,… mà hiện nay con người đang phải đối mặt Cách kểchuyện, lối miêu tả gây cảm giác mạnh vào giác quan người đọc là hiệu quả củaviệc tự sự chú trọng vào vai trò người kể chuyện toàn tri để thực hiện ý đồ củanhà văn được đặt ra từ chủ đề câu chuyện.
Trong tập truyện Nhan sắc, trừ tác phẩm Kinh Kha, con Chủy Thủ và đất
Tần bất trắcđan xen nhiều câu chuyện, sử dụng nhiều hình thức kể chuyện, ngôi
kể chuyện, hầu hết các truyện trong tập này đều là truyện kể theo ngôi thứ ba,người kể ở đấy là người kể toàn tri, không xuất hiện trực tiếp trong tác
phẩm.Người tình của Trương Quỳnh Như mở đầu bằng việc người kể miêu tả
hành động của hai người bạn: “Hai người bạn ôm chầm lấy nhau không thốt đượclời nào, mãi sau Phạm Thái mới cầm lấy tay người bạn trẻ mời ngồi xuống ghếđối diện với mình”.Kết thúc truyện, người kể thông tin: “Sáng mờ hôm sau, khi
ra khỏi cơn say và thức dậy, Phạm Thái không còn thấy người bạn trẻ, chỉ còn lạingoài sân dấu chân ngựa đi về hướng mặt trời mọc”.Dễ thấy từ tên truyện đếndiễn tiến mạch kể cho thấy ở đây có một người kể chuyện thực hiện chức năng kểchuyện khách quan.Anh ta ẩn đi, không can dự vào câu chuyện Dương NghiễmMậu ở tập truyện này có chủ ý sáng tạo người kể toàn tri.Nói là tác giả có chủ ý
bởi vì có 6 trên tổng số 12 truyện thuộc lối viết này:Một người lên núi, Nhan sắc,
Từ Hải và cuộc phiêu lưu của đời chàng, Gậy thần sách ước, Người tình của Trương Quỳnh Như, Tiếng gọi người.Ở tập truyện Tiếng sáo người em út thì trừ
các tác phẩm:Sáng mùa xuân, Nơi máu chảy ở ngoài, Có một bông hồng cho đêm
giáng sinh, Trên đường dài, các truyện còn lại như Tiếng sáo của người em út, Tiếng động buổi trưa, Con chim cánh trắng, Nụ cười, Thiết lộ đều sử dụng ngôi
kể thứ ba, người kể toàn tri Chúng ta thấy dường như người kể đứng bên ngoàithế giới nhân vật, đó là người kể chuyện hàm ẩn nhưng tồn tại
Trang 36như một “thượng đế” có mặt ở khắp nơi, anh ta vừa như là người quan sát vừa làngười kể lại toàn bộ những gì mình quan sát, cảm nhận được Điều này có nghĩa
là, Dương Nghiễm Mậu muốn khách quan hóa câu chuyện trong hình thức truyện
kể ngôi thứ ba Đây chính là một cách lựa chọn trong nghệ thuật kể chuyện nhằmtăng sức thuyết phục đối với người đọc trong sáng tác truyện ngắn của DươngNghiễm Mậu
2.1.2 Người kể chuyện ngoại hiện
Người kể chuyện ngoại hiện là người tự miêu tả mình, giới thiệu về mìnhcho người đọc biết, ví như người kể xưng “tôi”, một nhân vật trong truyện, hoặcngười kể ngôi thứ ba nhưng tự thể hiện quan điểm riêng của mình
Tập truyện tiêu biểu nhất cho phong cách sáng tạo người kể chuyện ngoại
hiện là Cũng đành, gồm 12 truyện ngắn, trong đó có8 truyện,gồm:Niềm đau nhức
của khoảng trống, Cũng đành, Bồn cát tuổi thơ, Tiếng động trên da thú, Làm thân con gái, Buồn vàng, Mẹ và con, Cơn say mù đục, có người kể tự miêu tả
mình, giới thiệu về mình và kể câu chuyện của mình cho độc giả nghe
Trong truyện Cũng đành kể lại câu chuyện của nhân vật chính xưng tôi bị
cơn sốt rét hành hạ nên trốn đơn vị trở về Hà Nội, nghe lời mách bảo cách chữabệnh sốt rét bằng cách nuốt những con giun đất: “Không còn cách gì hơn, tôikiếm một con dao cùn và chiếc gáo dừa vỡ đi đào giun.Những con giun dài xanh
đỏ ưa nằm chỗ ẩm, tôi cứ việc lật những viên gạch vỡ ở bên vại nước, và đào ởcác bờ rãnh hàng bát giun mang rửa và nuốt Những con giun còn sống nguyên,
bò ngoi đầu lúc nhúc, tôi cầm từng vốc bỏ vào miệng cho nó trườn vào cổ họng.Những ngày đầu ghê tởm, nôn mửa qua đi Những ngày tiếp theo tôi nuốt thảnnhiên” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Nhưng nuốt bao nhiêu, cơn sốt vẫn hành hạchỉ còn cách vào thành kiếm ký - ninh uống Do không có giấy tờ nên phải trốnchui trốn lủi, sống lén lút và không thể về được nhà: “Muỗi kêu vo ve, những conchuột kêu thành tiếng chui vào đống rác kiếm ăn Chúng cắn chân mà tôi khôngmuốn cựa, chúng cắn chán lại rúc, lại kêu Tôi vớ những nắm lá chuối ướt nhẹp
bỏ vào mồm nhai cho đỡ buồn miệng Tôi nghĩ chắc thịt tôi đã hết máu nên lũchuột chả thèm ăn, và chắc chúng nó nhiều máu hơn tôi là khác, nghĩ thế tôi hálớn miệng tự nhủ: để chú nào vô phúc rúc vào mình sẽ ngậm miệng lại mà nhai
Trang 37một miếng cho khoái bao tử”, “Tôi đến những đống rác ấy bới móc nhặt nhữngmiếng vỏ bánh mì đen thui ấn vào mồm mà nhai mà nuốt Tôi bới hết đống nàyđến đống khác Tôi vét vào mồm từng chút cặn thịt hộp đã thiu thối, từng chútđầu hay đuôi cá tanh lợm còn sót lại trong những chiếc ống bơ Tôi nhặt cả từngmiếng bánh mặn nhỏ ấn vào hai túi áo Đi bới hết những đống rác, tôi ngồi nhainhững mẩu bánh, khi cổ khô vì khát tôi tìm một cái máy nước áp mặt vào nốc”
(Dương Nghiễm Mậu, 2007) Nhờ người quen nên nhân vật xưng “tôi” xin được
việc làm: “Tôi không biết thổi nên nhận một chân đốt lò, khuân thủy tinh, quétdọn Buổi tối giải chiếu ngay nơi cửa lò - chỗ làm việc của bọn thợ ban ngày, màngủ cho ấm” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Những cơn sốt dần lui thì lại hóa ranghễnh ngãng, ù tai và bị đuổi việc Sau đó đi móc rác, bới những đống hôi thối
để nhặt chai, kính Đến một khuya thì bị lính bắt và mang về đồn tra khảo, trả lờilung tung nên bị đánh đập, Một không khí đến nghẹt thở, sợ hãi, con người bịđối xử không khác gì con vật Đến lúc chết cũng không biết mình là ai, từ đâu tới,cũng đành một kiếp người Ưu thế trong việc sáng tạo người kể chuyện ngoại
hiện ở truyện ngắn Cũng đành thể hiện ở chỗ, Dương Nghiễm Mậu đã cho nhân vật của mình bộc lộ được nhân sinh quan, thế giới quan đậm ý vị triết học Cũng
đành là truyện ngắn hiện sinh, truyện ngắn có tính chất luận đề, nhân vật kể
chuyện xưng tôi đào sâu, tự vấn nhiều vấn đề bản thể, nó là tiểu biểu cho sự ngộnhận, tình trạng phi lý và thái độ “chấp nhận, cũng đành” trước thực tại
Ngôi thứ nhất là người nói dùng để chỉ về mình, tôi/chúng tôi vừa là chủthể của hành động vừa là chủ thể của lời nói Khác với người kể chuyện toàn triđứng đằng sau nhân vật, trước mắt độc giả không thấy người nói, chỉ thấy câuchuyện được kể.Ở các truyện sử dụng người kể ngoại hiện thì nhân vật tôi/xưng
“chúng tôi” xuất hiện trực tiếp Trong truyện Lấy máu, nhân vật xưng tôi có số
phận bất hạnh, mồ côi mẹ, tự kể cuộc đời của mình, kể về những cảm nhận suynghĩ của mình, những băn khoăn, đau đớn dằn vặt: “Tại sao mẹ bỏ con, con sẽsống với ai? Làm sao con về được nhà” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Trong lúcbốc trộm cơm thiu ở chiếc thùng người ta gánh về cho lợn thì nhân vật tôi bịngười gánh đuổi và không cho ăn Một người đằng sau lên tiếng nói: “Mày cómuốn được tao nuôi không?” - “Thưa ông con đang chết đói” (Dương Nghiễm
Trang 38Mậu, 2007) Đó chính là cuộc gặp gỡ giữa Năm Sàigòn và nhân vật tôi Hắn sốngtrong một căn nhà đổ trong xó bếp chưa đổ hẳn Năm Sàigòn dạy cho nó đủ nghể
để kiếm sống từ: bán thuốc, nhăn nhở pha trò nhào lộn để gây sự chú ý của mọingười nhưng tiền kiếm không được là bao Sau đó hắn lại dạy cho đứa trẻ trò
“nực cười”: “Thưa bà con cô bác, một dịp may hiếm có, một trò lạ chỉ có một lầnkhông hai, xin ghé lại, chúng tôi không bán thuốc, không xin tiền mà muốn đượctrao ông bà cô bác một kỷ niệm, đó là gói “nực cười” (Dương Nghiễm Mậu,2007) Nhưng rồi trò đó cũng không ăn thua gì mà còn bị người ta đuổi đánh.Hắn lại nghĩ một trò khác trò “đấm kẹo” Sau bữa đó những đồng tiền kiếm đượccũng không được bao nhiêu Cuối cùng hắn dạy thằng bé nghề bán thuốc caoGiang Đông gia truyền.Để minh chứng cho điều đó, hắn rạch tay thằng bé sau đólấy miếng dán dán lại chỗ vết thương Bao lời bàn tán xì xào xung quanh liệu cóích gì cho thằng bé: “Máu tôi nhỏ ra vì miếng cơm Nhưng còn những giọt máucủa mẹ tôi do viên đạn bắn vào mạng mỡ đó - để đổi lấy cái gì - chẳng lẽ để đổilấy cái chết do chính mẹ tôi gánh chịu - và cho tôi như thế này” (Dương NghiễmMậu, 2007)… Rõ ràng, hình thức người kể chuyện ngoại hiện có một hiệu quảthẩm mỹ riêng: nhân vật cũng là người kể chuyện, vừa kể câu chuyện như một sựtrải nghiệm, từng trải, vừa như một sự “thú nhận”, chia sẻ, khơi gợi sự cảm thôngđồng cảm
Trong truyện Cơn say mù đục nhân vật tôi kể về cảm giác, cảm nhận của
mình sau những tháng ngày bạo bệnh nay sức khỏe giảm sút: “Đưa tay sờ lên mặttôi biết tôi gầy đi nhiều, sự cường tráng không còn nữa, đôi mắt trũng sâu, máhóp lại, trán nhăn nheo Tay mình cầm lấy tay mình khô héo, chiếc nhẫn lỏngtrong ngón tay như quắt lại Tôi vuốt tay và nhổ một vài sợi tóc, tôi nhìn thấy vàisợi tóc, những sợi tóc như xỉn đi khô khan Tôi nhận ra rằng tôi cũng không cònsống được bao lâu nữa, có lẽ tôi cũng không bao giờ đứng dậy bước đi Tôi đãchết trong một cơ thể còn sống, như đốm lửa leo lét xanh xao trong ngọn đèn đãcạn dầu, cho tới lúc dầu khô, cơn gió nhẹ thoảng qua, ngọn lửa phụt tắt” (DươngNghiễm Mậu, 2007) Thời gian lấy đi sức khỏe, sự dẻo dai của con người Nằmtrên giường bệnh hồi tưởng lại những ngày tháng cũ: “Tôi nhớ lại thời còn cắpsách, lúc tung mình vào cơn phẫn nộ trôi nổi không ngừng nghỉ, những ngày vui
Trang 39say đắm mệt mề Khuôn mặt người cha, dáng dấp người mẹ, hình ảnh Đặng gòlưng chở tôi trên chiếc xe đạp cũ cao trong thị trấn nhỏ bé, nét mặt hiền dịu củaThanh, những lá bài đen đỏ bày trên mặt chiếu và tiếng kèn kéo níu trên sànnhảy Đã qua hết không bao giờ trở lại, phải rồi, sẽ nằm đây rồi chết, một giấcngủ êm đềm sẽ đến và triền miên không bao giờ thức dậy ra khỏi Rồi ai cũngchết” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Quá khứ ùa về trong ký ức: “Trở về tôi sống
ba tháng trong gia đình không nghe thấy tiếng ai nói với nhau Mỗi người nằmmột góc, ngồi một góc, tôi chỉ nghe thấy tiếng cha tôi hút thuốc lào, tiếng thở dàicủa người chị dâu Tôi muốn phát điên lên trong không khí đó Tôi không saochịu được Làm sao anh hiểu được làm sao để sống trong một cái nhà mồ Tôithu xếp và đi khỏi Tôi tranh đấu cho lý tưởng cao đẹp, nào vì dân tộc, vì tổquốc nhưng đó chỉ là một cách nói, tất cả chúng ta trước nhất vì chúng ta, vì anh
em gia đình ta sau đó mới tới những điều khác Tôi không còn lý do nữa người
ta có thể kết án tôi tội đào ngũ, nhưng với tôi mọi kết án đều vô nghĩa, mọi ngườikhông ở trong hoàn cảnh của tôi Và từ đó, máu tôi lạnh dần nhưng chắc tôichết Trong câu nói chợt tôi nhận ra một ẩn dấu tha thiết, niềm ẩn dấu của mộtcon người không được có đời sống như mơ tưởng” (Dương Nghiễm Mậu, 2007).Bằng hình thức này, Dương Nghiễm Mậu đã để cho nhân vật của mình lục tungmọi kí ức, “tôi” kể về cuộc đời của chính mình đầy ắp cảm xúc, ở đây không chỉ
có sự kiện, tình tiết mà câu chuyện trở thành tâm tình Tôi chính là chủ thể cảmnhận, quan sát, nó không chỉ có nhiệm vụ kể chuyện, dẫn chuyện mà còn làngười chiêm nghiệm cuộc sống, tự phân tích tâm lý, đánh giá về hành động củamình
2.1.3.Người kể chuyện đồng sự
Người kể chuyện đồng sự là người kể chuyện mình như là một nhân vậtcủa chuyện, có tham gia hay trực tiếp chứng kiến sự việc
Truyện Mẹ và con kể về sự hụt hẫng của người con trai khi mẹ sắp đi lấy
chồng, nhân vật xưng “tôi” bỏ đi ba ngày sau đó quay trở về nhà và không còncảm giác thân thuộc như xưa nữa, một sự đau nhói: “Hôm tôi bỏ đi chính là hôm
mà khuôn mặt mẹ tôi muốn xa lạ với sự quen thuộc của ngày tháng cũ Tôi khôngngờ là mẹ tôi sẽ cắt bỏ cuộn tóc dài búi về đằng sau để đến hiệu uốn cho
Trang 40hợp thời trang, nhưng từ sự nhỏ ấy tôi biết: “Mẹ tôi sắp chính thức kết hôn vớiông Phúc” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Sau 16 năm từ khi người bố qua đời đếnnay đã có sự thay đổi và cảm giác của người con là đánh mất đi một cái gì đó:
“Mẹ vẫn nghĩ rằng thế nào con cũng về, con không chịu được sự thay đổi của mẹ
- có lẽ rằng mẹ biết chắc như thế, nhưng mẹ không muốn biết ý kiến của con Tất
cả những điều mẹ đã làm và sắp làm dù mẹ không nói con cũng hiểu ra làm sao.Nhưng mẹ không biết làm sao Mẹ không còn đủ sức chỉ để sống với con - bâygiờ con đã lớn, rồi mai kia con sẽ tạo một đời sống khác Mẹ sẽ lấy ông Phúc
Mẹ cũng hiểu rằng con không muốn nhìn thấy mặt ông ta Ông ta cũng chỉ cómột mình và mẹ cũng chỉ có một mình Nhưng dù lấy ông Phúc mẹ cũng vẫnnghĩ có đời sống của con ở giữa mẹ ” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Đó là nhữngtrải lòng chia sẻ của người mẹ với đứa con trai của mình, muốn đứa con hiểu cho
sự lựa chọn đó, ai cũng có nhu cầu mong được hạnh phúc: “Thưa mẹ, lúc nào concũng thương mẹ, con không bao giờ trái ý mẹ, mẹ bảo sao con làm thế - nhưngxin mẹ đừng nói thêm nữa, như 16 năm nay bố không nói một điều nào vớicon Con yêu mẹ như bố con - nhất là bây giờ ” (Dương Nghiễm Mậu, 2007).Sau đó là cuộc nói của nhân vật tôi với ông Phúc khi xuống phố: “Chúng tôixuống phố, ông Phúc bỏ tiền mua cho tôi bốn cuốn sách - ông mua khăn tay,khung ảnh, cái gạt tàn thuốc Mẹ tôi mua vải Chúng tôi vào tiệm kem Ở đấy tôigặp một người bạn cũ, hắn hỏi tôi đi với ai - tôi bảo tôi đi với bác tôi - một ngườibác họ xa - và tôi chảy nước mắt” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Ông Phúc chínhthức trở thành dượng, nhưng khi nghĩ tới người bố quá cố thì nhân vật tôi cảmthấy không vui, tất cả mọi người như đang đánh lừa nhau: “Chúng tôi tới mộtquán ăn lúc đó đã vắng khách Tôi nói là muốn ăn bất cứ cái gì ông Phúc muốn
Mẹ tôi cũng cùng ý ấy Tôi nghĩ rằng chính lúc này mới là lúc đám cưới của mẹtôi bắt đầu Tôi xin uống rượu Ông Phúc tán đồng, nhưng giữa lúc ăn tôi có cảmtưởng mọi người đang đánh lừa nhau, khi tôi không nói thì ai cũng nín lặng, vànỗi nín lặng ấy đau nhói, bao la khôn cùng, cho đến bây giờ tôi vẫn chưa được dựmột đám cưới nào”, “Tôi còn đủ sức về đến nhà, và yên tâm không thấy ai Tôingồi ở bậc cửa, bóng đêm đè nặng sự im lìm Tôi như một vật vô tri vô giác vàtôi có cảm tưởng như ở chung quanh loài thảo mộc, đang bắt rễ từ thân thể tôi -