Từ những hạn chế trên, em chọn đề tài “Pháp luật Việt Nam về thực hiện các Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển” để làm bài tiểu luận cuối kỳ của mình.. Mục đích của bài tiểu luận
Trang 11
Trang 2Mở đầu
I Lý do chọn đề tài.
Như chúng ta đã biết, khi nói đến tài nguyên của Việt Nam, người ta thường có câu
“Rừng vàng biển bạc” Là một đất nước được bao phủ bởi 3260km đường bờ biển, Việt Nam được xem như là một quốc gia có tiềm năng phát triển về ngành hàng hải Cùng với sự phát triển kinh tế, mật độ tàu thuyền cũng như các ngành công nghiệp khai thác biển tăng lên, điều đó kéo theo những vấn nạn về suy thoái và ô nhiễm biển Theo thống
kê mới nhất của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì lượng rác thải nhựa thải ra biển mỗi năm là 0,28 tấn – 0,73 tấn, chiếm 6% và là nước xếp thứ 4 về lượng rác thải nhựa trên biển của toàn thế giới Nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm này là do ý thức con người cùng như sự chú trọng vào phát triển kinh tế mà bỏ mặc những vấn đề về môi trường Vì vậy, những kế hoạch, quy định, hành động để bảo vệ môi trường biển là vấn
đề cấp thiết không chỉ của Việt Nam mà còn là vấn đề quan trọng trên thế giới Tuy nhiên, việc thực hiện các ký kết các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường của Việt Nam chưa thực sự hiệu quả Chúng ta chưa thực sự có những biện pháp tối ưu để giải quyết vấn đề về những hành vi vi phạm và chưa thực sự đầu tư để thu hút sự giúp đỡ, hỗ trợ từ các nước phát triển về vấn đề môi trường biển Từ những hạn chế trên, em chọn đề tài “Pháp luật Việt Nam về thực hiện các Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển”
để làm bài tiểu luận cuối kỳ của mình.
II Mục đích của đề tài.
Mục đích của bài tiểu luận là làm rõ các cơ sở lý luận cũng như pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường biển thông qua việc thực hiện các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển Qua đó, chỉ ra những bất cập, hạn chế của pháp luật Việt Nam để từ đó kiến nghị những giải pháp tối ưu hóa hiệu quả thực hiện các Công ước quốc tế mà Việt Nam đang và sẽ ký kết về bảo vệ môi trường biển.
III Phương pháp nghiên cứu.
Trang 3Bài tiểu luận sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng cùng với phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kế để có cái nhìn tổng quan, làm rõ nội dung nghiên cứu của đề tài.
Chương 1: Khái quát chung về pháp luật Việt Nam và các công
ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
I Vấn đề lý luận chung về môi trường biển.
1.1 Khái niệm môi trường biển, ô nhiễm môi trường biển, bảo vệ môi trường biển.
Không chỉ ở nước ta trong những năm gần đây mà trên thế giới đều đang chung tay hoạch định, tổ chức xây dựng những kế hoạch, văn bản pháp luật về vấn đề bảo vệ môi trường biển
Có rất nhiều quan điểm theo nhiều phương diện khác nhau khi định nghĩa về môi trường biển
Theo khoản 4 Điều 1 Công ước viên năm 1982 của Liên hợp Quốc tế về Luật biển thì môi
trường biển được hiểu là môi trường bao gồm các tài nguyên sinh vật, hệ sinh thái biển và chất
lượng nước biển, cảnh quan biển Bên cạnh đó, tại khoản 2 Điều 3 Nghị định 25/2009/NĐ – CP
về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo có định nghĩa: “Môi trường
biển là các yếu tố vật lý, hóa học và sinh học đặc trưng cho nước biển, đất ven biển, trầm tích
dưới biển, không khí trên mặt biển và các hệ sinh thái biển tồn tại một cách khách quan, ảnh hưởng đến con người và sinh vật” Mặc dù môi trường biển được định nghĩa theo nhiều phương diện khác nhau nhưng ta đều thấy mối liên kết giữa môi trường biển và con người Bất kỳ một
sự suy thoái nào đều ảnh hưởng đến môi trường biển, đến sự phát triển của con người
Ô nhiễm môi trường biển: Trong pháp luật Việt Nam không có định nghĩa cụ thể về ô nhiễm
môi trường biển Tuy nhiên, tại khoản 8 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014 quy định: “Ô
nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn
kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.” Tuy nhiên, do định nghĩa trên chỉ là định nghĩa chung nên không chỉ rõ những tác nhân ảnh hưởng xấu đến môi trường biển Nhưng tại khoản 4 Điều 1 Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 lại định nghĩa ô nhiễm môi trường biển một cách khá đẩy đủ và rõ ràng
các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển: “Ô nhiễm môi trường biển (Pullution du milieu
marin): là việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, bao gồm cả các cửa sông, khi việc đó gây ra hoặc có thể gây ra những tác hại như
3
Trang 4gây tổn hại đến nguồn lợi sinh vật, và đến hệ động vật và hệ thực vật biển, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương diện
sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mỹ cảm của biển”
Bảo vệ môi trường biển: Biển cũng như tài nguyên của biển có vai trò rất quan trọng đối với
đời sống con người Tuy nhiên, con người hiểu rằng biển là vô tận nên cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, môi trường biển lại càng trở nên đáng báo động Do đó, vấn đề bảo vệ môi trường biển là một vấn đề cấp thiết hiện nay Tại khoản 3 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường
2014 quy định: “Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành.” Theo Luật bảo vệ môi trường năm 2014, mức độ, cách thức bảo vệ môi trường gồm: (i) giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường biển; (ii) ứng phó sự cố môi trường; (iii) khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường biển;
(iv) khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên Điều 3 khoản 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.
thiên nhiên biển nhằm giữ môi trường trong lành Định nghĩa này là một định nghĩa mở bởi không nhấn mạnh các nguồn ô nhiễm và cũng không hạn chế phạm vi điều chỉnh đối với các hành vi đang diễn ra Pháp luật Việt Nam cũng phân biệt hai hoạt động ô nhiễm môi trường biển và suy thoái môi trường biển Tuy nhiên, dựa vào mức độ thay đổi về chất lượng và số lượng thành phần môi trường sẽ là thước đo để xác định hiện tượng ô nhiễm hay suy thoái môi trường biển để có thể kiểm soát phù hợp theo như định nghĩa khoản 8 và 9 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014
1.2 Các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển.
Tại Điều 207 đến Điều 212 Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982, các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển bao gồm:
- Ô nhiễm bắt nguồn từ đất, kể cà các ô nhiễm xuất phát từ các dòng sông, ngòi, cửa sông, ống dẫn và các thiết bị thải đổ công nghiệp
- Ô nhiễm do các hoạt động liên quan đến đáy biển thuộc quyền tài phán quốc gia gây ra hay xuất phát từ các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình thuộc quyền tài phán của mình
- Ô nhiễm do các hoạt động tiến hành trong Vùng gây ra
Trang 5- Ô nhiễm do sự nhấn chìm.
- Ô nhiễm do tàu thuyền gây ra
- Ô nhiễm có nguồn gốc từ bầu khí quyển hay qua bầu khí quyển
Qua những tác nhân gây ô nhiễm môi trường biển, ta thấy một điểm chung là đêu xuất phát
từ những hoạt động của con người Việc phân loại những tác nhân gây ô nhiễm môi trường biển giúp cho việc xác định nguyên nhân từ đó nêu ra những biện pháp ngăn ngừa cũng như giải pháp khắc phục một cách dễ dàng hơn Việt Nam – quốc gia có đường bờ biển dài 3260
km, hoạt động khai thác biển chiếm một tỷ trọng không hề nhỏ trong nền kinh tế nước ta Tuy nhiên, việc khai thác biển dẫn tới nguy cơ ô nhiễm môi trường biển ngày càng tăng cao
II Các Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 được xem là một bộ luật hoàn chỉnh
nhất về biển cho đến thời điểm hiện nay Việt Nam tham gia Công ước đã giúp việc bảo vệ và giữ gìn môi trường biển trở nên thuận lợi hơn cũng như đẩy mạnh hợp tác quốc tế về bảo vệ, ngăn ngừa những tác động tiêu cực đến môi trường biển Công ước dành phần XII (từ Điều 192 đến Điều 237) quy định việc bảo vệ và giữ gìn môi trường biển Đó là cơ sở pháp lý khuyến khích các quốc gia áp dụng các biện pháp cần thiết ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển cũng như hợp tác thông qua các tổ chức quốc tế nhằm bảo vệ môi trường biển Điểm nổi bật của Công ước là xác định rõ quyền hạn cũng như nghĩa vụ của các quốc gia ven biển trong vấn đề bảo vệ môi trường biển khỏi ô nhiễm
Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu biển MARPOL năm 1973 (Công ước MARPOL 73/78): Công ước ra đời năm 1973 và được sửa đổi bổ sung Nghị định thư 1978 kèm thêm 5
phụ lục mới, đến năm 1997 được sửa đổi bổ sung bằng Nghị thư 1997 và có thêm một phụ lục
là phụ lục thứ sáu MARPOL 73/78 bao gồm “hệ thống các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật – pháp lý nghiêm ngặt trong thiết kế, vật liệu, trang bị, tài liệu của tàu biển nhằm phòng ngừa, ngăn chặn ô nhiễm từ tàu” 1 Điểm nổi bật của công ước là quy định các tàu phải có giấy chứng nhận thỏa mãn quy định của công ước Bên cạnh đó, công ước cũng được coi là đầu tiên đề cập đến vấn đề ô nhiễm môi trường biển do rác thải sinh hoạt
Ngoài hai công ước trên, trên thế giới có khoảng 300 công ước quốc tế về bảo vệ môi trường nói chung, các công ước về bảo vệ môi trường biển bao gồm:
1 Nguyễn Bá Diến (2006), Chính sách, pháp luật biển của Việt Nam và chiến lược phát triển bền vững, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
5
Trang 6- Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm biển do chất thải và những vật liệu khác (London 1972).
- Công ước quốc tế về An toàn sinh mạng con người trên biển 1974 (SOLAS)
- Công ước quốc tế sẵn sàng ứng phó và hợp tác đối với việc xử lý ô nhiễm dầu năm 1990 (OPRC)
- Công ước về trách nhiệm và bồi thường thiệt hại gắn liền với việc vận chuyện bằng đường biển các chất nguy hiểm và độc hại 1996 (HNS), …
Các công ước trên đã góp phần quan trọng trong việc ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển Các công ước về bảo vệ môi trường biển đều xác định rõ quyền cũng như nghĩa vụ của các thành viên Bên cạnh đó, khuyến khích sự hợp tác, giúp đỡ của các nước phát triển đến những nước kém phát triển hơn Việt Nam là một nước tham gia nhiều công ước về bảo vệ môi trường nói chung Điều này mang lại lợi ích về kinh tế, xã hội, chính trị, ngoại giao và đặc biệt là môi trường cho Việt Nam Không chỉ vậy, nó còn giúp hệ thống luật pháp Việt Nam trở nên hoàn thiện, tiến bộ hơn để phù hợp với các cam kết quốc tế Từ đó, giúp chúng ta thu hút được vốn đầu tư của nước ngoài cũng như sự hỗ trợ từ các nước phát triển không chỉ về môi trường mà còn nhiều lĩnh vực khác Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng, công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển càng trở nên quan trọng cũng như ngày càng được sửa đổi, xây dựng nhiều Nhưng việc thực thi các công ước này lại chưa thực sự hiệu quả
Chương 2: Pháp luật Việt Nam về thực hiện các công ước quốc
tế về bảo vệ môi trường biển Giải pháp hoàn thiện pháp luật.
I Pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường biển.
Trước thực trạng môi trường biển Việt Nam ngày càng suy thoái, ô nhiễm, việc xây dựng phát triển hệ thống các chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường biển là vô cùng cần thiết Vấn đề bỏa vệ môi trường biển được ghi nhận lần đầu tiên trong bản Hiến pháp năm 1992 Tiếp
đó, các nhà làm luật Việt Nam đã xây dựng những văn bản luật, dưới luật nhằm bảo vệ, ngăn ngừa tình trạng suy thoái môi trường biển như: Luật Dầu khí 1993 sửa đổi bổ sung năm 2000
và 2008, Luật Thủy sản 2003, Luật biển Việt Nam 2012, Luật Bảo vệ môi trường 2014, … Từ những văn bản pháp luật trên, ta thấy những chính sách phát triển kinh tế cùng với bảo vệ môi trường được xây dựng từ trung ương đến địa phương, khung pháp lý cơ bản, toàn diện về bảo
Trang 7vệ môi trường biển cùng với đó là việc nôi luật hóa, thực hiện các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết về bảo vệ môi trường biển Luật bảo vệ môi trường 2014 bên cạnh những hoạt động bảo vệ môi trường nói chung, văn bản luật cũng đưa ra những nguyên tắc riêng đối với bảo vệ môi trường biển Văn bản dành Chương V đề cập đến vấn đề bảo vệ môi trường biển và hải đảo Tại điều 49 nêu ra những quy định chung mang tính định hướng cho hoạt động bảo vệ môi trường biển cùng với việc phát triển kinh tế
Bên cạnh những văn bản luật, dưới luật về bảo vệ môi trường biển, hệ thống pháp luật Việt Nam còn ban hành những chính sách nhằm kết hợp giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường biển Nghị quyết số 36-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khóa XII về Chiến lược phát triền bền vững kinh tế biển Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
đã nêu: “Đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển; hình thành văn hoá sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; ngăn chặn xu thế ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, tình trạng sạt lở bờ biển
và biển xâm thực; phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái biển quan trọng Những thành tựu khoa học mới, tiên tiến, hiện đại trở thành nhân tố trực tiếp thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển Đến năm 2030, phát triển thành công, đột phá về các ngành kinh tế biển theo thứ tự ưu tiên: (1)
Du lịch và dịch vụ biển; (2) Kinh tế hàng hải; (3) Khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển khác; (4) Nuôi trồng và khai thác hải sản; (5) Công nghiệp ven biển; (6) Năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới” Trên cơ sở Nghị quyết về Chiến lược kinh tế biển, do chịu ảnh hưởng của dịch Covid 19, du lịch biển Việt Nam đã chuyển hướng sang khách hàng nội địa và đa dạng hóa sản phẩm du lịch Bên cạnh đó, để hỗ trợ thực hiện Nghị quyết, Đảng đã
đề ra các dự án, đề án, nhiệm vụ nhằm triển khai một cách hiệu quả, phù hợp Cùng với những
dự án nhằm phát triển nền kinh tế, chiến lược đã đề cao nhiệm vụ bảo vệ môi trường biển cũng như những giải pháp nhằm khắc phục và bảo vệ tài nguyên biển
Ngoài những văn bản nêu trên, nhà nước còn ban hanh những văn bản, chương trình, … nhằm bảo vệ, bảo tồn đa dạng sinh vật biển, … cũng như những chiến lược phát triển trong tương lai như: quyết định số 188/QĐ – TTg về Chương trình Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, quyết định 28/QĐ – TTg Phê duyệt Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, …
7
Trang 8Bên cạnh những quy định về phương hướng bảo vệ môi trường biển, pháp luật về bảo vệ môi trường cũng quy định về trách nhiệm pháp lý đối với những hành vi vi phạm Nghị định 155/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Nghị định này quy định về các hành vi vi phạm cũng như mức độ vi phạm và mức độ chịu trách nhiệm hành chính hay hình sự Ngoài những hình phạt về hành chính cũng như hình sự, văn bản trên còn quy định về các biện pháp cũng như hình thức xử lý đối với hậu quả gây ra Như vậy, hệ thống pháp luật Việt Nam tương đối toàn diện về lĩnh vực bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường biển nói riêng Tuy nhiên, bên cạnh những tích cực thì những quy định trong hệ thống pháp luật vẫn cần được điều chỉnh, sửa đổi để hoàn thiện, phù hợp với hiện tại như về vấn đề hợp tác quốc tế trong các công ước quốc tế, nội luật hóa các công ước,
…
II Một số Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển Việt Nam đã và xem xét tham gia 2.1 Công ước Luật biển năm 1982.
Công ước Luật biển năm 1982 được thông qua vào ngày 11/12/1982 và có hiệu lực vào năm 1994 Đây được coi là “Bản hiến chương của nhân loại về biển” Công ước Luật biển năm
1982 là cơ sở phát lý hoàn chỉnh, toàn diện nhất về biển và đại dương Công ước gồm 17 phần,
320 điều, 9 phụ lục, 4 nghị thư, trong đó đó 11 mục và 46 điều (từ Điều 192 đến Điều 237) quy định về bảo vệ và giữ gìn môi trường biển Bên cạnh đó, công ước khẳng định các quốc gia có nghĩa vụ bảo vệ và giữ gìn môi trường biển Nghĩa vụ này không đi ngược lại với lợi ích của các quốc gia ven biển trong hoạt động khai thác của mình mà nó làm cho quyền chủ quyền được phát huy một cách hiệu quả Vấn đề ô nhiễm môi trường biển ngày càng trở nên nghiêm trọng, vượt ngoài tầm kiểm soát của các quốc gia Vì vậy, việc hợp tác giữa các quốc gia để xây dựng một khung pháp lý chung nhằm bảo vệ môi trường biển là một điều cần thiết Nhận thức rõ vấn đề quan trọng về lĩnh vực bảo vệ môi trường biển, các quốc gia đang và sẽ tăng cường hợp tác, nỗ lực đề ra những giải pháp hiệu quả trong việc giữ gìn môi trường biển Việt Nam là một trong 107 quốc gia tham gia ký kết Công ước này Điều này thể hiện sự thiện chí, coi trọng cũng như kỳ vọng vào những trật tự về pháp lý mới về biển và đại dương Đồng thời, việc tham gia Công ước Luật biển năm 1982 làm khung pháp lý hoàn chỉnh vào việc xây dựng
hệ thống luật pháp về lĩnh vực bảo vệ môi trường nói chung và môi trường biển nói riêng Bên cạnh những lợi ích về vấn đề môi trường, hệ thống pháp luật, việc tham gia ký kết công ước đã
Trang 9đẩy mạnh ngoại giao Việt Nam với những quốc gia có chung mục đích hướng tới bảo vệ môi trường biển Cùng với đó là sự hỗ trợ, giúp đỡ của các quốc gia phát triển trong vấn đề môi trường biển tại Việt Nam Sau hơn 30 năm kể từ khi ra đời, không thể phủ nhận được ý nghĩa
to lớn và vai trò quan trọng của Công ước Luật biển 1982 trong việc điều chỉnh các hoạt động của cộng đồng quốc tế trên biển
2.2 Công ước Marpol 73/78 về ngăn ngừa ô nhiễm biển do dầu gây ra.
Công ước Marpol 73/78 được thông qua vào năm 1973, sửa đổi bổ sung năm 1978 và có hiệu lực vào năm 1983 Công ước gồm 6 phụ lục và 2 Nghị thư Công ước đề ra nhằm ngăn chặn những vụ ô nhiễm môi trường biển gây ra bởi tai nạn tàu biển Đồng thời công ước xác định quyền hạn, nghĩa vụ đối với các quốc gia tham gia công ước nhằm đảm bảo an toàn khi vận chuyển những hàng hóa có nguy cơ gây ảnh hưởng đến môi trường biển Cùng với đó là nghĩa vụ hợp tác về kỹ thuật và phối hợp trong việc phát hiện các ô nhiễm, vi phạm, có nghĩa
vụ thông tin khi xảy ra vi phạm và lắp đặt các thiết bị tiếp nhận theo quy định của công ước Cùng với sự phát triển kinh tế, lượng tàu thuyền lưu thông trên biển ngày càng nhiều, việc quy định nghiêm ngặt về an toàn tàu thuyền là điều vô cùng cần thiết để giảm thiểu ô nhiễm cũng như bảo vệ, giữ gìn môi trường biển Công ước Marpol 73/78 có vai trò vô cùng quan trọng, góp phần bảo vệ môi trường biển từ tàu, những hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm cao từ tàu Hiện Việt Nam đã gia nhập các Phụ lục I, II của Marpol 73/78 từ năm 1991 Kể từ khi gia nhập Phụ lục I, II Công ước MARPOL, Việt Nam đã nâng cao việc khắc phục tình trạng ô nhiễm biển, xây dựng, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật
2.3 Công ước Basel 1989 về kiểm soát việc vận chuyển qua biên giới chất thải nguy hại và viêc tiêu hủy chúng.
Công ước có hiệu lực năm 1992, điều chỉnh mọi hoạt động vận chuyển chất thải nguy hại giữa các quốc gia, trong đó có vận chuyển qua đường biển Công ước quy định nghĩa vụ cũng như trách nhiệm liên quan đến bảo vệ môi trường nói chung, môi trường biển nói riêng Bên cạnh đó, công ước đưa ra những nguyên tắc, phạm vi áp dụng công ước để hiệu quả kiểm soát cũng như xử lý các chất thải nguy hại được áp dụng tối ưu Công ước Basel 1989 là một trong những công ước quan trọng về lĩnh vực bảo vệ môi trường biển được các quốc gia quan tâm, ủng hộ, tham gia Cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội, các công ước luôn được bổ sung,
9
Trang 10sửa đổi để phù hợp với hiện tại Vấn đề môi trường biển ngày càng được các quốc gia quan tâm nhằm bảo vệ, giữ gìn môi trường biển
2.4 Các công ước khác mà Việt Nam đã và đang xem xét tham gia liên quan đến môi trường biển.
Bên cạnh những công ước trên, các công ước liên quan khác cũng không kem phần quan trọng Để ngăn chặn tình trạng ngày càng suy thoái của môi trường biển, ngoài nhưng công ước
đã nêu trên, Việt Nam đã và đang xem xét tham gia các công ước:
a) Các công ước Việt Nam đã tham gia:
- Công ước quốc tế về an toàn tính mạng trên biển SOLAS 1974
- Công ước về các quy tắc quốc tế phòng tránh dâm va trên biển COLREG 1972
- Công ước về tiêu chuẩn cấp chứng chỉ cho thuyền viên 1978/1995 (STCW)…
b) Các công ước Việt Nam đang xem xét tham gia
- Công ước Quốc tế về trách nhiệm hình sự đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu 1969
- Công ước về phòng ngừa ô nhiễm biển do đổ chất thải và các chất khác 1971
- Công ước về phòng ngừa ô nhiễm biển do đổ chất thải và các chất khác 1972
- Công ước Quốc tế về sự sẵn sàng, ứng phó và hợp tác đối với ô nhiễm dầu
- Công ước Quốc tế liên quan tới can thiệp vào các biểu vĩ độ cao trong trường hợp thiệt hại
do ô nhiễm dầu 1969
Với độ dài đường bờ biển 3260km, diện tích vùng biển Việt Nam gấp 3 lần diện tích đất liền Cùng với đó là nguồn tài nguyên biển vô cùng phong phú, thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biển Nhưng biển Việt Nam đang dần bị suy thoái, ô nhiễm từ các nguồn khác nhau như: đất liền, tàu thuyền, … Việc tham gia các công ước quốc tế về lĩnh vực bảo vệ môi trường biển đã góp phần hạn chế các nguồn dẫn đến ô nhiễm môi trường biển Ngoài việc giảm thiểu ô nhiễm tại vùng biển Việt Nam, việc tham gia, thực thi các công ước góp phần bảo vệ môi trường biển thế giới
III Thực trạng thực hiện các công ước quốc tế trong pháp luật Việt Nam.
Hệ thống pháp luật về lĩnh vực bảo vệ môi trường nước ta tương đối hoàn chỉnh với những văn bản luật, dưới luật cụ thể: Luật Bảo vệ môi trường 2014, Luật Dầu khí, … Đặc biệt, nước
ta đang xem xét thực hiện chính sách mới là Luật Các vùng biển Việt Nam Việc ban hành Luật Các vùng biển Việt Nam giúp nội luật hóa những quy định tại Công ước Luật biển 1982, việc