1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tiểu luận đánh giá các dấu hiệu của tranh chấp lao động cá nhân theo quy định của bộ luật lao động 2019, thực trạng tranh chấp lao động cá nhân tại doanh nghiệp

8 106 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 37,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá tranh chấp lao động cá nhân theo quy định của Bộ luật lao động hiện hành, Bộ luật lao động 2019, Phân tích đánh giá được ưu điểm cũng như nhược điểm của các quy định trong Bộ luật lao động 2019 về nội dung tranh chấp lao động cá nhân, bên cạnh đó còn đánh giá được thực trạng áp dụng các quy định đó tại doanh nghiệp ở Việt Nam

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

Pháp luật là công cụ điều chỉnh nhiều quan hệ xã hội Pháp luật dân sự, chủ yếu điều chỉnh quan hệ quan hệ nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân Pháp luật hình sự điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa Nhà nước và người phạm tội khi người này thực hiện tội phạm Tương tự vậy, quan hệ lao động nói chung và tranh chấp trong quan hệ lao động nói riêng thuộc lĩnh vực điều chỉnh của luật Lao động Mối quan hệ lao động được hình thành trên cơ sở sự

tự nguyện thoả thuận của các bên thông qua việc giao kết hợp đồng lao động, mặc dù hình thành trên cơ sở tự nguyện thoả thuận song trên thực tế, quan hệ giữa hai chủ thể này đôi khi vẫn xảy ra mâu thuẫn, khi mâu thuẫn không thể điều hoà được và phát triển tới mức tối đa sẽ làm xảy ra những tranh chấp lao động Sau đây em sẽ đi đánh giá các dấu hiệu của tranh chấp lao động cá nhân theo quy định của Bộ luật lao động 2019 và thực trạng tranh chấp lao động cá nhân tại doanh nghiệp hiện nay

NỘI DUNG Nội dung thứ nhất đánh giá các dấu hiệu của tranh chấp lao động cá nhân theo quy định của Bộ luật lao động 2019

Vì tranh chấp lao động cá nhân là một loại tranh chấp lao động nên trước khi tìm hiểu tranh chấp lao động cá nhân ta sẽ tìm hiểu sơ qua tranh chấp lao động quy định trong Bộ luật lao động hiện hành

Dưới góc độ pháp lý, Căn cứ Điều 179 Bộ luật lao động 2019 quy định

về khái niệm tranh chấp lao động như sau: “Tranh chấp lao động là tranh

chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động; tranh chấp giữa các tổ chức đại diện người lao động với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động.” Như đã phân tích ở phần mở đầu thì

mối quan hệ lao động mặc dù hình thành trên cơ sở tự nguyện thoả thuận

Trang 2

nhưng đôi khi vẫn xảy ra mâu thuẫn, khi mâu thuẫn không thể điều hoà được

và phát triển tới mức tối đa sẽ làm xảy ra những tranh chấp lao động Tranh chấp lao động được phân thành hai loại chính đó là: Tranh chấp lao động cá nhân và Tranh chấp lao động tập thể1 Theo như đề bài thì ta sẽ đi đánh giá

tranh chấp lao động cá nhân

Tranh chấp lao động cá nhân được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 179

Bộ luật lao động 2019: “a) Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao

động với người sử dụng lao động; giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại;” sau khi đọc

xong quy định trên ta có thể thấy rằng tranh chấp lao động cá nhân gồm ba dấu hiệu chính

Dấu hiệu một là tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động2 với người sử dụng lao động3 Về tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động

và người sử dụng lao động ta có thể hiểu nó là tranh chấp về quyền và nghĩa

vụ, lợi ích phát sinh giữa cá nhân người lao động với người sử dụng lao động trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động

Dấu hiệu thứ hai là tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Về tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với doanh nghiệp,

tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được hiểu là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa cá nhân người lao động với doanh nghiệp, tổ chức (người sử dụng lao động) đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động4 đây là quy định về

1 Khoản 1 Điều 179 Bộ luật lao động 2019.

2 Khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động 2019.

3 Khoản 2 Điều 3 Bộ luật lao động 2019.

4 Khoản 1 Điều 13 Bộ luật lao động 2019.

Trang 3

việc người lao động Việt Nam sang nước ngoài lao động cũng giống như ở trong nước thì trường hợp này cũng có nảy sinh tranh chấp lao động

Dấu hiệu thứ ba là tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại Về tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại được hiểu là quá trình người lao động giao kết hợp đồng lao động với một người sử dụng lao động là doanh nghiệp cho thuê lại lao động, sau đó người lao động được chuyển sang làm việc và chịu sự điều hành của người sử dụng lao động khác (chính là người sử dụng lao động thuê lại) mà vẫn duy trì quan hệ lao động với người sử dụng lao động đã giao kết hợp đồng lao động5 bên cạnh đó hoạt động cho thuê lại lao động là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, chỉ được thực hiện bởi các doanh nghiệp có Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động

và áp dụng đối với một số công việc nhất định, trong một số trường hợp thì có phát sinh tranh chấp

Đánh giá chung: Qua việc phân tích các quy định liên quan tới vấn đề tranh chấp lao động cá nhân em rút ra những đánh giá như sau:

Về số lượng chủ thể tham gia tranh chấp lao động cá nhân thông thường

là tranh chấp giữa một cá nhân người lao động với người sử dụng lao động Nhưng đôi khi, chúng ta hay thấy, trong tranh chấp này lại có sự xuất hiện của nhiều người lao động Việc tham gia của nhiều người lao động trong tranh chấp lao động cá nhân dễ gây nhầm lẫn với tranh chấp lao động tập thể Và pháp luật hiện nay cũng không quy định bao nhiêu người lao động tham gia thì quy về tranh chấp lao động cá nhân hay từ bao nhiêu người lao động trở lên thì xếp vào loại tranh chấp lao động tập thể Tuy nhiên, điểm đặc thù để phân biệt giữa hai loại tranh chấp này là số lượng chủ thể tham gia tranh chấp lao động tập thể sẽ gồm toàn bộ người lao động trong đơn vị, phân xưởng

5 Khoản 1 Điều 52 Bộ luật lao động 2019.

Trang 4

hoặc công ty Còn số lượng người lao động tham gia tranh chấp lao động cá nhân chỉ là một người hoặc một số người trong tập thể mà thôi

Về mục đích của tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp lao động liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của một cá nhân người lao động, ngươi

sử dụng lao động Thông thường các tranh chấp này phát sinh do sự vi phạm nghĩa vụ của một hoặc cả hai bên trên cơ sở hợp đồng lao động đã giao kết Các điều khoản về quyền, nghĩa vụ và chế độ phúc lợi bị xâm phạm, ảnh hưởng tới chủ thể trong hợp đồng nên các bên có thể tự giải quyết hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp Mục đích của giải quyết tranh chấp là đòi quyền lợi cho cá nhân người lao động hoặc người sử dụng lao động Trong trường hợp số lượng người lao động hoặc người sử dụng lao động tham gia nhiều nhưng mỗi người chỉ hướng tới mục đích cá nhân như có người đòi trả lương đúng hạn, có người đòi bồi thường thiệt hại khi bị sa thải, hoặc yêu cầu bồi thường do tự ý nghỉ việc có thể thấy mục đích tranh chấp của họ khác nhau, nên xác định là tranh chấp lao động cá nhân

Về quy mô của tranh chấp lao động cá nhân, tranh chấp lao động cá nhân tuy xảy ra nhiều nhưng do chỉ phát sinh giữa một hoặc vài người lao động, người sử dụng lao động nên quy mô những tranh chấp này thường nhỏ lẻ, đơn giản, không có tổ chức Cá nhân hoặc nhiều cá nhân tham gia tranh chấp không có sự liên kết, thống nhất về ý chí và phần lớn là không cùng mục đích Cho nên, về cơ bản mức độ ảnh hưởng của tranh chấp lao động cá nhân là không lớn Tuy nhiên, nếu tranh chấp lao động cá nhân diễn ra thường xuyên hoặc có sự chuyển hoá thành tranh chấp lao động tập thể thì điều này không còn là vấn đề nhỏ nữa Nên việc cấp thiết là dự đoán, xác định và giải quyết một cách triểt để, có hiểu quả tranh chấp lao động cá nhân, tránh gây ảnh

Trang 5

hưởng, kích động tới các đối tượng khác đồng thời tránh việc chuyển hoá sang loại hình tranh chấp khác nghiêm trọng hơn

Như vậy, quy định của Bộ luật lao động 2019 về các dấu hiệu tranh chấp lao động cá nhân là tương đối đầy đủ và hoàn thiện Ngoài ra so với Bộ luật lao động 2012 có thể kể đến một số điểm mới như quy định xác định tranh chấp lao động và các loại tranh chấp lao động6, Bổ sung cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân7, Bổ sung quy định về thời hiệu yêu cầu Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp lao động cá nhân8, Bộ luật Lao động năm 2019 còn bổ sung quy định về các trường hợp người lao động

có quyền đình công9

Nội dung thứ hai thực trạng áp dụng tranh chấp lao động cá nhân tại doanh nghiệp hiện nay.

Hiện nay, vấn đề áp dụng tranh chấp lao động cá nhân tại doanh nghiệp theo quy định của Bộ luật lao động hiện hành vào thực tiễn đa số đã đạt hiệu quả cao trong việc áp dụng Vì các chủ doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay ngày càng chú trọng việc điều hành quản lý doanh nghiệp của mình tuân thủ theo quy định của pháp luật, khi có tranh chấp lao động xảy ra thì các chủ doanh nghiệp đã có bộ phận pháp chế của mình giải quyết, với những doanh nghiệp có quy mô nhỏ khi không có bộ phận pháp chế thì cũng đã đi thuê dịch

vụ tư vấn pháp luật tại các cơ sở uy tín về việc giải quyết tranh chấp lao động

cá nhân ở doanh nghiệp của mình, đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật Bên cạnh những điểm mạnh trong việc áp dụng tranh chấp lao động cá nhân tại doanh nghiệp thì còn tồn tại một số vấn đề sau:

Tranh chấp lao động cá nhân tuy diễn ra với quy mô nhỏ nhưng loại tranh chấp này lại khá phổ biến trên thực tế và gần như chiếm đa số trong các

6 Điều 179 Bộ luật lao động 2019.

7 Điều 187 Bộ luật lao động 2019.

8 Điều 190 Bộ luật lao động 2019.

9 Điều 199 Bộ luật lao động 2019.

Trang 6

tranh chấp lao động Lý do là người lao động, người sử dụng lao động chưa cập nhật hoặc được phổ biến kiến thức pháp luật về lao động đầy đủ, dẫn đến tình trạng mơ hồ, chưa rõ quy định pháp luật về việc áp dụng quy định giải quyết tranh chấp lao động cá nhân và các quy phạm liên quan trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng lao động

Trong một số trường hợp cụ thể, tranh chấp lao động cá nhân tại doanh nghiệp không có nghĩa là chỉ có một người lao động xảy ra tranh chấp Thực

tế hiện nay, trong nhiều vụ tranh chấp có nhiều người lao động tham gia Nếu mỗi người tham gia với mục đích riêng, lợi ích riêng thì xác định là tranh chấp lao động cá nhân Nhưng nếu cũng những con người ấy nhưng họ hướng tới quyền lợi của tập thể thì lại xác định đó là tranh chấp lao động tập thể Việc xác định đúng loại tranh chấp lao động mang ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp lao động đúng trình tự, thủ tục luật định nhằm bảo

về được tối đa quyền và lợi ích của các bên trong tranh chấp Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới các vụ việc tranh chấp lao động cá nhân tại doanh nghiệp còn khó khăn trong cách giải quyết

Theo quan điểm của cá nhân em, từ thực trạng đã phân tích ở trên đòi hỏi cần phải tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về tranh chấp lao động cá nhân đến các chủ thể trong quan hệ lao động để họ hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật, hạn chế được các khó khăn cũng như nâng cao hơn nữa việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân ngày càng phổ biến hiện nay

KẾT LUẬN

Qua việc phân tích đánh giá các dấu hiệu của tranh chấp lao động cá nhân theo quy định của Bộ luật lao động 2019 và đánh giá thực trạng áp dụng tranh chấp lao động tại doanh nghiệp đã chỉ ra được ưu nhược điểm của quy định trong Bộ luật lao động 2019 vào thực tiễn áp dụng, giúp ta thấy rõ ràng

Trang 7

hơn những yêu cầu đặt ra là cần hoàn thiện những hạn chế đã được phân tích trong bài để hoàn thiện hơn nữa pháp luật lao động, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi tranh chấp lao động xảy ra nói riêng, bảo đảm quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia vào quan hệ lao động nói chung

Trang 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Quốc hội (2019), Bộ luật lao động 2019, Hà Nội.

Ngày đăng: 28/10/2021, 12:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w