Chị Nguyễn Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt là vợ chồng với nhau, theo Giấy đăng ký kết hôn số 09, quyển số 011999 do Ủy ban nhân dân xã Thượng Đạt, TP.Hải Dương, tỉnh Hải Dương cấp ngày 26031999. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống trên phần đất của bà Nguyễn Thị Thoa và ông Nguyễn Văn Cang (bố mẹ đẻ anh Nguyệt). Đến năm 1999, anh Nguyệt chị Hảo mới ra ở riêng sau khi đã xây dựng nhà và công trình phụ trên đất. Thời gian đầu kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên, thời gian sau đó khoảng 2 năm, anh chị phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau về cách sống, thường bất đồng quan điểm dẫn đến cãi nhau. Anh Nguyệt cho rằng chị Hảo hay ghen, thường hay bỏ về nhà bố mẹ đẻ. Theo chị Hảo, nhân mâu thuẫn do anh Nguyệt hay đi chơi về uống rượu vào chửi bới, đánh đập chị và các con. Hiện vợ chồng đã sống ly thân 01 năm nay, không ai còn quan tâm đến ai và xác định không thể hàn gắn được nữa. Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi, sinh ngày: 04012000 hiện đang sống với chị Hảo và cháu Nguyễn Đức Anh, sinh ngày 13062007, hiện đang ở cùng với bố (anh Nguyệt). Về tài sản chung, vợ chồng tạo lập được khối tài sản chung là: Phần quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và công trình trên đất đối với phần đất có diện tích 216m2, thuộc thửa số 496, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại địa chỉ: xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Căn cứ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở có số vào sổ cấp GCN: H2497 do UBND xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương cấp ngày: 31122005 đứng tên anh Nguyễn Văn Nguyệt và chị Nguyễn Thị Hảo. Quyền sử dụng đối với thửa đất chuyển đổi cơ cấu cây trồng thuê khoán từ UBND xã Thượng Đạt có diện tích 1965 m2 đất ruộng, ao khoán có địa chỉ tại: Bãi Nam, khu dân cư số 02 Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Thời hạn thuê khoán từ tháng 012013 đến hết tháng 122016. Về nợ chung: năm 2014, vợ chồng anh Nguyệt chị Hảo có vay 30.000.000 đồng tại Ngân hàng Agribank – chi nhánh thành phố Hải Dương, anh Nguyệt đã trả được 10.000.000 đồng, còn nợ lại 20.000.000 đồng tiền gốc và lãi phát sinh. Ngày 02012016, chị Hảo nộp đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương yêu cầu giải quyết ly hôn, nuôi con, chia tài sản.
Trang 1CƠ SỞ TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
MÔN: KỸ NĂNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SƯ KHI THAM
GIA GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ
MÃ HỒ SƠ SỐ : LS.DS - 07
DIỄN LẦN : 01
NGÀY DIỄN: 12/08/2021
Họ và tên : NGUYỄN THỊ Y
Số báo danh : XX
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 08 năm 2021
Trang 2HỒ SƠ VỤ ÁN DÂN SỰ
HỒ SƠ SỐ 07: TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN PHẦN 1: TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN:
Chị Nguyễn Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt là vợ chồng với nhau, theo Giấy đăng ký kết hôn số 09, quyển số 01/1999 do Ủy ban nhân dân xã Thượng Đạt, TP.Hải Dương, tỉnh Hải Dương cấp ngày 26/03/1999 Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống trên phần đất của bà Nguyễn Thị Thoa và ông Nguyễn Văn Cang (bố mẹ
đẻ anh Nguyệt) Đến năm 1999, anh Nguyệt chị Hảo mới ra ở riêng sau khi đã xây dựng nhà và công trình phụ trên đất Thời gian đầu kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc Tuy nhiên, thời gian sau đó khoảng 2 năm, anh chị phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau về cách sống, thường bất đồng quan điểm dẫn đến cãi nhau Anh Nguyệt cho rằng chị Hảo hay ghen, thường hay bỏ về nhà bố mẹ đẻ Theo chị Hảo, nhân mâu thuẫn do anh Nguyệt hay đi chơi về uống rượu vào chửi bới, đánh đập chị và các con Hiện vợ chồng đã sống ly thân 01 năm nay, không ai còn quan tâm đến ai và xác định không thể hàn gắn được nữa
Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi, sinh ngày: 04/01/2000 hiện đang sống với chị Hảo và cháu Nguyễn Đức Anh, sinh ngày 13/06/2007, hiện đang ở cùng với bố (anh Nguyệt)
Về tài sản chung, vợ chồng tạo lập được khối tài sản chung là:
- Phần quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và công trình trên đất đối với phần đất có diện tích 216m2, thuộc thửa số 496, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại địa chỉ: xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Căn cứ theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở có số vào sổ cấp GCN: H2497 do UBND xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương cấp ngày: 31/12/2005 đứng tên anh Nguyễn Văn Nguyệt và chị Nguyễn Thị Hảo
- Quyền sử dụng đối với thửa đất chuyển đổi cơ cấu cây trồng thuê khoán từ UBND xã Thượng Đạt có diện tích 1965 m2 đất ruộng, ao khoán có địa chỉ tại: Bãi Nam, khu dân cư số 02 Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương Thời hạn thuê khoán từ tháng 01/2013 đến hết tháng 12/2016
Về nợ chung: năm 2014, vợ chồng anh Nguyệt chị Hảo có vay 30.000.000 đồng tại Ngân hàng Agribank – chi nhánh thành phố Hải Dương, anh Nguyệt đã trả được 10.000.000 đồng, còn nợ lại 20.000.000 đồng tiền gốc và lãi phát sinh
Ngày 02/01/2016, chị Hảo nộp đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương yêu cầu giải quyết ly hôn, nuôi con, chia tài sản
Trang 3PHẦN 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU HỒ SƠ VỤ ÁN:
1 Thẩm quyền giải quyết:
Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì tranh chấp về hôn nhân, gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 sẽ
do Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về thảm quyền của Tòa án theo lãnh thổ thì Tòa án nơi bị đơn cư trú có thẩm quyền giải quyết
→ Vì vậy mà Tòa án có thẩm quyền giải quyết là: Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương
2 Thời hiệu khởi kiện:
Đây là tranh chấp trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, nên không áp dụng thời hiệu khởi kiện Người khởi kiện có thể khởi kiện bất cứ thời điểm nào mà người khởi kiện cho rằng là cần thiết
3 Quan hệ pháp luật tranh chấp:
Thời điểm khởi kiện là ngày 02/01/2016, vì vậy căn cứ theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 (BLTTDS 2004) vẫn còn hiệu lực nên sẽ áp dụng Bộ luật này để xem xét quan hệ pháp luật và thẩm quyền Tòa án Căn cứ vào
khoản 1 Điều 27 BLTTDS 2004 thì đây là: “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con, chia tài
sản chung khi ly hôn”
PHẦN 3: DỰ THẢO KẾ HOẠCH XÉT HỎI:
1 Mục đích hỏi:
- Khắng định chị Hảo là ngừoi đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục
02 con chung;
- Chứng minh anh Nguyệt không đảm bảo điều kiện chăm sóc cháu Đức Anh;
- Chứng minh thửa đất số 469 được UBND huyện Nam Sách cấp Giấy chứng
nhận là tài sản chung hợp pháp của vợ chồng;
- Khẳng định hợp đồng thuê khoán đất là tài sản chung vợ chồng.
2 Kế hoạch xét hỏi:
2.1 Hỏi để khẳng định chị Hảo là người đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục 02 con chung, đồng thời chứng minh anh Nguyệt không đảm bảo điều kiện để nuôi dưỡng cháu Đức Anh:
Hỏi bị đơn anh Nguyễn Văn Nguyệt:
2.1.1 Hiện tại công việc của anh là gì? Thu nhập có ổn định liên tục không?
2.1.2 Anh có thường xuyên sử dụng rượu bia và chơi lô đề với bạn bè không?
Trang 42.1.4 Có phải mỗi khi chị Hảo sang thăm cháu Đức Anh thì anh lại về đánh cháu,
đúng không?
2.1.5 Cháu Đức Anh có nguyện vọng ở với mẹ, anh có ý kiến gì?
2.1.6 Anh có thường xuyên đến thăm cháu Nhi không?
Hỏi nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hảo:
2.1.7 Công việc hiện tại của chị là gì? Thu nhập ra sao?
2.1.8 Anh Nguyệt có đóng góp gì trong việc nuôi dạy các con chung không?
2.1.9 Nếu một mình chị nuôi 02 đứa con nhỏ khi ly hôn, thì chị có lường trước được
những khó khăn sẽ gặp phải không?
2.2 Hỏi để chứng minh thửa đất số 469 được UBND huyện Nam Sách cấp và hợp đồng thuê khoán là tài sản chung vợ chồng:
Hỏi bị đơn anh Nguyễn Văn Nguyệt:
2.1.1 Vào thời điểm anh và chị Hảo xây nhà thì bố mẹ anh có biết không? Anh em
trong nhà có phản đối việc này không?
2.1.2 Anh có nói với chị Hảo đất này tài sản riêng do bố mẹ cho anh hay không? 2.1.3 Khi UBND huyện Nam Sách cấp GCN quyên sử dụng đất đứng tên anh và chị
Hảo thì bố mẹ anh và các anh em trong nhà không có khiếu nại gì?
2.1.4 Thời điểm trước khi vợ chồng anh được cấp GCN thì mảnh đất đó thuộc quyền
sử dụng của ai? Anh có tài liệu nào chứng minh không?
Hỏi nguyên đơn Chị Nguyễn Thị Hảo:
2.3.1 Khi vợ chồng chị về chung sống trên mảnh đất hiện đang tranh chấp, thì chị có
đóng góp những gì trong việc xây dựng và cải tạo đất?
2.3.2 Ai là ngừoi nộp hồ sơ xin cấp GCN quyền sử dụng đất đối với thửa đất 496, tờ
bản đồ số 01?
2.3.3 Chị có thực hiện việc kê khai và nộp thuế đối với thửa đất số 496 không?
2.3.4 Khi được cấp GCN đối với thửa đất 496, tờ bản đồ số 01 thì trong gia đình bên
chồng chị có biết không?
2.3.5 Khi anh Nguyệt sử dụng GCN quyền sử dụng đất thế chấp ngân hàng, thì chị có
biết không? Chị có ký tên trên hợp đồng tín dụng không?
2.3.6 Đối với hợp đồng thuê khoán đất từ UBND thị xã Thượng Đạt thì hoa lợi, lợi
tức thu được từ hợp đồng thuê có dùng vào mục đích chăm lo cho gia đình không?
Hỏi người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị Thoa
2.3.7 Bà có biết thời điểm cơ quan nhà nước đo đạc, kê khai cấp GCN quyền sử dụng đất cho anh Nguyệt, chị Hảo không?
2.3.8 Bà có biết GCN quyền sử dụng đất của thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01 được cấp cho vợ chồng anh Nguyệt, chị Hảo không?
2.3.9 Sau khi biết được GCN quyền sử dụng đất cấp cho anh Nguyệt, chị Hảo bà không có ý kiến hay phản đối gì mà tới khi anh Nguyệt, chị Hảo ly hôn yêu cầu chia tài sản, bà mới có ý kiến phản đối?
Trang 5PHẦN 4: LUẬN CỨ BẢO VỆ
Định hướng bài bảo vệ: bảo vệ cho nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Hảo theo
hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ CHO NGUYÊN ĐƠN – CHỊ NGUYỄN THỊ HẢO
Kính thưa Hội đồng xét xử!
Thưa vị đại diện Viện kiểm sát!
Thưa các vị Luật sư đồng nghiệp và toàn thể quý vị đang có mặt trong phiên tòa ngày hôm nay
Tôi là Nguyễn Thị Y - Luật sư thuộc Công ty Luật X, Đoàn Luật sư TP Hồ Chí Minh – chi nhánh tỉnh Bình Dương Tôi có mặt tại phiên tòa ngày hôm nay với tư cách
là luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ của tôi – chị Nguyễn Thị Hảo
– là nguyên đơn trong vụ án tranh chấp “Ly hôn, nuôi con, chia tài sản” với bị đơn là
anh Nguyễn Văn Nguyệt
Hôm nay, trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ vụ án và qua phần xét hỏi công khai tại tòa hôm nay, tôi xin phép HĐXX trình bày luận cứ bảo vệ cho nguyên đơn như sau:
Thứ nhất, Về yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Hảo:
Căn cứ vào các biên bản lời khai, biên bản hòa giải ngày 19/05/2016 và 17/06/2016 đều thể hiện tình trạng mâu thuẩn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được Đối với yêu cầu này, phía bị đơn là anh Nguyễn Văn Nguyệt đồng ý, do đó hai bên thống nhất thuận tình ly hôn
Thứ hai, Về yêu cầu nuôi con chung:
Khi ly hôn với anh Nguyệt, chị Hảo có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi, sinh ngày 04/01/2000 và cháu Nguyễn Đức Anh, sinh ngày 13/06/2007 mà không yêu cầu anh Nguyệt thực hiện cấp dưỡng nuôi con chung Hiện tại, cháu Nhi và cháu Anh đã trên 07 tuổi, căn cứ theo Khoản 2, Điều 81, Luật Hôn nhân gia đình 2014 vợ chồng khi ly hôn phải thỏa thuận về việc trông nom con, nếu con trên 07 tuổi thì phải xem xét nguyện vọng của con Căn cứ vào Đơn đề nghị viết tay của cháu Nhi và cháu Đức Anh, cùng biên bản lấy lời khai cháu Đức Anh tại Tòa án nhân dân Thành phố Hải Dương ngày 05/07/2016 (có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị Thoa – bà nội của cháu) thì cả hai cháu đều thể hiện mong muốn được ở với mẹ
Mặt khác, yêu cầu được nuôi 02 con chung của chị Hảo sau khi ly hôn là có căn
cứ chấp nhận, bởi lẽ căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của các con thì chị Hảo sẽ chăm sóc và dạy dỗ các con tốt hơn
- Về điều kiện kinh tế: chị Hảo hiện đang làm công nhân do đó thu nhập của chị
Trang 6con Đồng thời đối với công việc trên chị Hảo làm 8 tiếng/ngày, làm giờ hành chính Chính vì vậy chị Hảo sẽ có thời gian chăm sóc cho con tốt hơn, nhất là khi các cháu đang trong giai đoạn phát triển tâm sinh lý thì việc quan tâm, chia sẻ của người mẹ với con là một trong tác nhân giúp các cháu có thể phát triển một cách toàn diện Trên thực
tế cho thấy thì người mẹ luôn là người gần gũi, tâm sự, chia sẻ với các con hơn người cha Chị Hảo có đủ điều kiện về kinh tế, chổ ở, thời gian chăm sóc để cả hai cháu phát triển đầy đủ và toàn diện
- Về điều kiện tinh thần, giáo dục: Hiện cháu Đức Anh đang ở với cha, theo lời
khai của chị Hảo, mỗi khi chị sang thăm con thì anh Nguyệt lại đánh đập cháu Anh, không cho cháu gặp mẹ Do đó, mỗi lần muốn gặp con thì chị Hảo phải lén lút để thăm con Cũng theo biên bản xác minh ông Đỗ Văn Tự - cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt,
trong đó có nội dung “…anh Nguyệt không cho chị Hảo gặp con, nếu chị Hảo gặp con
thì anh Nguyệt hành hạ đứa bé…” Đối với một đứa trẻ đang tuổi phát triển thì hành vi
và cách giáo dục của anh Nguyệt sẽ gây ra những ảnh hưởng không tốt cho sự phát triển của cháu Anh Do đó, có cơ sở để thấy rằng, nếu giao 02 con chung là cháu Nhi
và cháu Đức Anh cho anh Nguyệt nuôi dưỡng thì các cháu sẽ không được gặp mẹ, không được uốn nắn, giáo dục trong môi trường lành mạnh Vì lẽ đó, kính đề nghị
HDXX xem xét giao cả 02 con chung cho chị Hảo trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc
và giáo dục.
Thứ ba, Về yêu cầu tài sản chung
Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như qua lời khai của các đương
sự trong quá trình tố tụng, có cơ sở để khẳng định yêu cầu chia tài sản chung là đất và tài sản trên đất đối với thửa đất 496, tờ bản đồ số 01 và hợp đồng thuê khoán đối với 1965m2 tại địa chỉ: Bãi Nam, khu dân cư số 02 Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, TP.Hải Dương được hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa anh Nguyệt và chị Hảo là hoàn toàn có căn cứ
- Đối với thửa đất 496, tờ bản đồ số 01:
Về nguồn gốc đất: Cả anh Nguyệt và chị Hảo đều công nhận nguồn gốc thửa đất này là của gia đình anh Nguyệt mua của UBND xã Thượng Đạt Năm 1999 bà Thoa (mẹ anh Nguyệt) cho vợ chồng anh chị ra xây dựng nhà và ở trên thửa đất này từ
đó tới nay
+ Căn cứ vào biên bản số 24/BB-UBND của UBND xã Thượng Đạt biên bản xét duyệt nguồn gốc sử dụng đất của hộ ông Nguyễn Văn Nguyệt và chị Hoàng Thị
Hảo có nội dung: “UBND xã Thượng đạt lập danh sách 30 hộ trong đó có hộ ông
Nguyệt và bà Hảo được UBND huyện Nam Sách ký cấp bìa đỏ ngày 11/12/2005 tại thửa 496 tờ bản đồ số 01, diện tích 216m 2”
+ Biên bản xác minh ngày 23/6/2016 ông Nguyễn Văn Bích – công chức địa
chính xã Thượng Đạt cho biết “ngày 25/10/2001 30 hộ dân đã có đơn đề nghị cấp
GCNQSDĐ, trong đó có đơn của hộ anh Nguyễn Văn Nguyệt và chị Nguyễn Thị Hảo Cán bộ địa chính khi đó là ông Bích đã trực tiếp xuống các hộ dân đo đạt, lập biên
Trang 7bản đo đạc, xác minh hiện trạng có chữ ký xác nhận của chủ sử dụng đất là anh Nguyệt, chị Hảo Có chữ ký của các hộ giáp danh xung quanh gồm chị Nguyễn Thị Thanh (phía tây) và Nguyễn Thị Vi (phía đông)”
Về trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Nguyệt, chị Hảo là hoàn toàn hợp pháp Hơn nữa khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh Nguyệt, chị Hảo thì phía gia đình anh Nguyệt đều biết về việc này Thời điểm được cấp GCN từ năm 2006 đến nay là 10 năm thì không có bất kỳ ai phản đối hay khiếu nại gì về việc cấp GCN này Vợ chồng anh chị đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định từ đó cho đến nay
Căn cứ theo nội dung án lệ số 03/2016/AL được HĐTP Tòa án nhân dân tối cao thông qua 06/04/2016 và được công bố theo Quyết định 220/QĐ-CA ngày 06/04/2016
của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì “Trường hợp cha mẹ đã cho vợ chồng người
con một diện tích đất và vợ chồng người con đã xây dựng nhà kiên cố trên diện tích đất đó để làm nơi ở, khi vợ chồng người con xây dựng nhà thì cha mẹ và những người khác trong gia đình không có ý kiến phản đối gì; vợ chồng người con đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định và đã tiến hành việc kê khai đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải xác định vợ chồng người con đã được tặng cho quyền
sử dụng đất”.
Từ những căn cứ, phân tích và dẫn chứng nêu trên, có cơ sở để khẳng định quyền sử dụng đất tại thửa đất 496, tờ bản đồ số 01 đã được bố mẹ anh Nguyệt đồng ý tặng cho vợ chồng anh Nguyệt, chị Hảo Căn cứ theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm thì quyền sử dụng đất này là phần tài sản chung của vợ chồng anh Nguyệt chị Hảo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp trong thời kỳ hôn nhân của anh Nguyệt và chị Hảo cụ thể là vào ngày 31/12/2005 đứng tên chủ sử dụng đất là bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt là đúng quy định pháp luật
Vì lẽ đó, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chị Hảo cũng như của các
con, tôi kính đề nghị hội đồng xét xử xem xét chấp nhận cho chị Hảo được nhận ½
giá trị quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m 2 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương bằng hiện vật (quyền sử dụng đất).
Thứ tư, Về nợ chung
Phần nợ chung tại Ngân hàng Agribank - Chi nhánh khu Tiền Trung, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương anh Nguyệt, chị Hảo đã thống nhất với nhau về vấn đề trên, nên không yêu cầu toà án giải quyết
Trên đây là quan điểm của Luật sư để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn – chị Nguyễn Thị Hảo Kính đề nghị HĐXX xem xét ra một bản án khách quan và đúng pháp luật bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp cho thân chủ tôi
Xin trân trọng đề nghị và cảm ơn HĐXX!