1. Trang chủ
  2. » Tất cả

9.6.2021 GIÁO TRÌNH PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC - ĐÃ DÀN TRANG - VAN DA CHINH SUA CHUONG 2

333 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 333
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở mức độ chung nhất, khoa học được hiểu là hệ thống tri thức được rút ra từ hoạt động thực tiễn và được chứng minh, khẳng định bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học Để có những quan đ

Trang 1

BỘ NỘI VỤ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

(Sách chuyên khảo dùng cho đào tạo thạc sĩ)

NHÀ XUẤT BẢN BÁCH KHOA HÀ NỘI

Trang 2

Chủ biên:

TS Đặng Xuân Hoan

PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà

Các tác giả tham gia biên soạn:

PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà: Chương 1PGS.TS Nguyễn Thị Thu Vân: Chương 2PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Hải: Chương 3PGS.TS Đặng Khắc Ánh : Chương 4

TS Lê Toàn Thắng: Chương 5

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Phương pháp nghiên cứu khoa học là môn học bắtbuộc đối với các học viên, nghiên cứu sinh học tập ở bậc sauđại học tại Học viện Hành chính Quốc gia Nhằm cung cấpnhững kiến thức cơ bản, nền tảng trong nghiên cứu khoa họcphục vụ cho quá trình đào tạo sau đại học, nhóm các nhàkhoa học đã tham gia biên soạn các nội dung phục vụ chohoạt động nghiên cứu chuyên sâu của các học viên, nghiêncứu sinh

Sách chuyên khảo Phương pháp nghiên cứu khoa họcbao gồm 5 chương, trong đó đề cập đến các vấn đề chungnhất của nghiên cứu khoa học và phương pháp nghiên cứukhoa học gắn với đào tạo sau đại học ở các chuyên ngànhcủa Học viện Hành chính Quốc gia; việc lựa chọn vấn đềnghiên cứu, cách thức xây dựng đề cương nghiên cứu; kỹnăng thu thập và xử lý thông tin trong nghiên cứu; kỹ năngviết báo cáo nghiên cứu cũng như kỹ năng bảo vệ và công

bố kết quả nghiên cứu Đây là những nội dung rất cần thiết

Trang 4

đối với hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung và hoạtđộng viết luận văn, luận án nói riêng.

Trong khuôn khổ thời gian và điều kiện biên soạn cònhạn chế, nội dung không tránh khỏi những khiếm khuyết, rấtmong sự đóng góp từ các độc giả để cuốn sách được hoànthiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn

Nhóm biên soạn

Trang 5

1.1.1.1 Khái niệm nghiên cứu khoa học

Khoa học là thuật ngữ có nguồn gốc xuất hiện từ tiếng Latinh “Scienta”, có nghĩa là tri thức, các nguồn kiến thức Theo Webter’s New Collegiste Dictionary thì khoa học là những tri thức đạt được thông qua kinh nghiệm thực tế và nghiên cứu

Hệ thống tri thức được phân chia thành hai dạng gồm tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học Tri thức kinh

nghiệm là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động hàngngày trong mối quan hệ giữa con người với con người vàgiữa con người với thiên nhiên Quá trình này giúp conngười hiểu biết về sự vật, hiện tượng và hình thành mốiquan hệ giữa những con người trong xã hội Tri thức kinhnghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển

Trang 6

trong hoạt động thực tế Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệmchưa thật sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết cácthuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong của sự vật,hiện tượng Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đếnmột giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sởcho sự hình thành tri thức khoa học.

Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích lũy mộtcách có hệ thống nhờ hoạt động khoa học, các hoạt độngnày có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học.Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa họcdựa trên kết quả quan sát, thu thập thông qua những thínghiệm và qua các sự kiện xảy ra trong hoạt động xã hội,trong tự nhiên Tri thức khoa học được tổ chức trong khuônkhổ các ngành và bộ môn khoa học như triết học, sử học,kinh tế học, toán học, sinh học…

Khoa học là một khái niệm có nội hàm phức tạp, tùy

theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận, có thể phân tích

ở nhiều khía cạnh khác nhau Ở mức độ chung nhất, khoa

học được hiểu là hệ thống tri thức được rút ra từ hoạt động thực tiễn và được chứng minh, khẳng định bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học

Để có những quan điểm khoa học, nhân loại đã phảitrải qua một quá trình nghiên cứu lâu dài, từ những điều sơkhai đến những vấn đề phức tạp, thậm chí, có những vấn đềdẫn đến những tranh luận gay gắt như trái đất xoay quanh

Trang 7

mặt trời hay mặt trời xoay quanh trái đất, con người sinh ra

từ đâu , rồi nắng mưa từ đâu, vì sao có ngày và đêm Cónhững điều tự nhiên bao đời nay vẫn vậy, nhưng để hiểu về

nó, lý giải nguồn gốc, cội nguồn thì đôi khi không đơn giản.Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, nhu cầu tìmhiểu thế giới xung quanh ngày càng tăng lên và tưởng chừngnhư không bao giờ ngừng

Và để hiểu một cách đúng đắn, tường tận về nhữngđiều đó cũng lại càng không đơn giản, cần phải có nhữngnghiên cứu chuyên sâu, toàn diện, đầy đủ, khách quan, biệnchứng … Nghiên cứu khoa học là tổng hợp các họat độngnhư tìm kiếm, xem xét, điều tra, thử nghiệm để phát hiện ranhững cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xãhội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuậtmới cao hơn, giá trị hơn

Như vậy, nghiên cứu khoa học là sự phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới hoặc

là sáng tạo phương pháp mới để làm biến đổi sự vật phục

vụ cho mục tiêu hoạt động của con người.

Cũng có thể hiểu, nghiên cứu khoa học là quá trìnhhình thành và chứng minh luận điểm khoa học về một sự vậthoặc hiện tượng cần khám phá

1.1.1.2 Khái niệm phương pháp nghiên cứu khoa học

Muốn đạt đến chân lý, tìm ra câu trả lời cho những câuhỏi, con người cần phải có phương pháp để nghiên cứu Mỗi

Trang 8

một vấn đề có những cách tiếp cận khác nhau, có thể là bằngphương pháp này hoặc phương pháp khác

Phương pháp không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là

vấn đề có ý nghĩa thực tiễn, bởi chính phương pháp gópphần quyết định thành công của mọi quá trình nghiên cứu

khoa học Phương pháp là công cụ, giải pháp, cách thức, thủ pháp, con đường, bí quyết, quy trình công nghệ để chúng ta thực hiện công việc nghiên cứu khoa học Bản chất

của nghiên cứu khoa học là từ những hiện tượng chúng tacảm nhận được để tìm ra các quy luật của các hiện tượng đó.Nhưng bản chất bao giờ cũng nằm sâu trong nhiều tầng hiệntượng, vì vậy để nhận ra được bản chất nằm sâu trong nhiềutầng hiện tượng và nhận ra được quy luật vận động củachúng đòi hỏi phải có phương pháp nghiên cứu khoa học.Phương pháp chính là sản phẩm của sự nhận thức đúng quyluật của đối tượng nghiên cứu Đến lượt mình, phương pháp

là công cụ có hiệu quả để tiếp tục nhận thức sâu hơn và cảitạo tốt hơn đối tượng đó Trong thực tế cuộc sống đã chothấy, người thành công là người biết sử dụng đúng và cóhiệu quả đối với phương pháp

Như vậy, bản chất của phương pháp nghiên cứu khoa học chính là việc con người sử dụng một cách có ý thức các quy luật vận động của đối tượng như một phương tiện để khám phá chính đối tượng đó Phương pháp nghiên cứu

chính là con đường dẫn nhà khoa học đạt tới mục đích sángtạo

Trang 9

Phương pháp nghiên cứu khoa học là tổng hợp các hoạt động mà nhà khoa học thực hiện như phân tích lý thuyết, điều tra, thí nghiệm, thực nghiệm … để làm rõ bản chất của sự vật, hiện tượng cần chứng minh trong khoa học Dựa trên những số liệu, tài liệu đã thu thập được trong suốt quá trình nghiên cứu để các nhà khoa học sẽ tìm

ra quy luật chung và bản chất của các sự vật hiện tượng

Có thể thấy, phương pháp nghiên cứu khoa học có những đặc điểm cơ bản.

* Phương pháp nghiên cứu khoa học luôn có tính mụcđích

Mọi hoạt động nghiên cứu mà con người thực hiện đều

có những mục đích khác nhau, chính vì vậy mà nghiên cứu khoa học cũng là phương pháp mang tính mục đích Mục đích của nghiên cứu khoa học là dựa trên các số liệu, tài liệu thu thập được để tìm ra được những quy luật, bản chất của sự vật, hiện tượng Đảm bảo tính mục đích trong nghiên cứu khoa học cũng giúp cho nhà khoa học lựa chọn được những phương pháp nghiên cứu phù hợp nhất

Mặt khác, phương pháp nghiên cứu khoa học có tính

mục đích vì hoạt động của con người đều có mục đích, mụcđích nghiên cứu của các đề tài nghiên cứu khoa học chỉ đạoviệc tìm tòi và lựa chọn phương pháp nghiên cứu và ngượclại, nếu lựa chọn phương pháp chính xác, phù hợp sẽ làm

Trang 10

cho mục đích nghiên cứu đạt tới nhanh hơn và đôi khi vượtqua cả yêu cầu mà mục đích đã dự kiến ban đầu.

* Phương pháp nghiên cứu khoa học là các cách thaotác của nhà khoa học

Phương pháp nghiên cứu khoa học có một cấu trúc đặcbiệt đó là một hệ thống các thao tác được sắp xếp theo mộtchương trình tối ưu và đảm bảo tính logic Sự thành côngnhanh chóng hay không của một hoạt động nghiên cứuchính là phát hiện được hay không lôgíc tối ưu của các thaotác hoạt động và sử dụng nó một cách có ý thức

Phương pháp nghiên cứu khoa học luôn gắn chặt với chủ thể nghiên cứu, vì vậy nghiên cứu khoa học luôn gắn với những quan điểm chủ quan của tác giả Mặt chủ quan của phương pháp nghiên cứu là những kinh nghiệm sáng tạo, là năng lực nhận thức của chính chủ thể Chính vì vậy, các công trình nghiên cứu của mỗi nhà khoa học sẽ mang dấu ấn của chính nhà khoa học đó.

Phương pháp là cách thức làm việc của chủ thể và baogiờ cũng xuất phát từ đặc điểm của đối tượng, phương phápgắn chặt với đối tượng và như vậy phương pháp cũng có mặtkhách quan Mặt khách quan quy định việc chọn cách nàyhay cách kia trong hoạt động của chủ thể Đặc điểm của đốitượng chỉ dẫn cách chọn phương pháp làm việc, Trongnghiên cứu khoa học, mặt chủ quan phải tuân thủ khách

Trang 11

quan Ý thức về sự sáng tạo của con người phải tiếp cậnđược các quy luật khách quan của thế giới.

* Phương pháp nghiên cứu cần có sự hỗ trợ của công cụ

Bất kỳ một phương pháp nghiên cứu nào đều cần các công cụ hỗ trợ Điều này giúp mang lại tính chính xác và hiệu quả cho việc nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu và phương tiện nghiên cứu là hai khái niệm, hai phạm trù hoàn toàn riêng biệt nhưng chúng lại có quan hệ chặt chẽ với nhau Vì vậy, cần phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu để từ

đó có thể lựa chọn những công cụ nghiên cứu phù hợp

Như vậy, có thể thấy, phương pháp nghiên cứu khoahọc không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là vấn đề có ý nghĩathực tiễn, bởi vì chính phương pháp góp phần quyết địnhthành công của mọi quá trình nghiên cứu khoa học Bản chấtcủa phương pháp nghiên cứu khoa học chính là việc conngười sử dụng một cách có ý thức các quy luật vận động củađối tượng nghiên cứu như một phương tiện để khám pháchính đối tượng đó Phương pháp nghiên cứu là con đườngdẫn nhà khoa học đạt tới mục đích sáng tạo

Trong nghiên cứu khoa học, phương pháp và phươngpháp luận là hai khái niệm gần nhau nhưng không đồng

nhất Phương pháp luận là hệ thống các nguyên lý, quan điểm (trước hết là những nguyên lý, quan điểm liên quan đến thế giới quan) làm cơ sở, có tác dụng chỉ đạo, xây dựng

Trang 12

các phương pháp, xác định phạm vi, khả năng áp dụng các phương pháp và định hướng cho việc nghiên cứu tìm tòi cũng như việc lựa chọn, vận dụng phương pháp

Nói cách khác thì phương pháp luận chính là lý luận

về phương pháp, bao hàm hệ thống thế giới quan và nhân sinh quan của người sử dụng phương pháp và các nguyên tắc để giải quyết các vấn đề đã đặt ra.

Các quan điểm phương pháp luận nghiên cứu khoa học

có tính lý luận cho nên thường mang màu sắc triết học, tuynhiên nó không đồng nhất với triết học (như thế giới quan)

để tiếp cận và nhận thức thế giới Phương pháp luận chungnhất, phổ biến cho hoạt động nghiên cứu khoa học là triếthọc Triết học Mác - Lênin là phương pháp luận đáp ứngnhững đòi hỏi của nhận thức khoa học hiện đại cũng nhưhoạt động cải tạo và xây dựng thế giới mới

Những phương pháp nghiên cứu khoa học riêng, cụ thểthường gắn liền với từng ngành khoa học như toán học, vật

sở lý luận và thực tiễn với những minh chứng đầy đủ, khách

Trang 13

quan Tính khoa học đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải dựatrên những lý thuyết đã được chứng minh với những căn cứđầy đủ, đảm bảo tính xác thực, logic với những lập luậnthuyết phục Tính khoa học trong nghiên cứu cũng đòi hỏingôn ngữ sử dụng trong các công trình khoa học cần mangtính trung tính, sử dụng văn phong khoa học trong trình bàycác luận thuyết nghiên cứu

Tính kế thừa

Nghiên cứu khoa học luôn có sự kế thừa trên cơ sởnhững ý tưởng, quan điểm, cách nhìn nhận, đánh giá của cáccông trình trước đó Mỗi nghiên cứu đều phải kế thừa cáckết quả nghiên cứu trong các công trình nghiên cứu khácnhau

Một nghiên cứu chân chính không bao giờ đóng cửatrong những lý luận và phương pháp riêng có mà luôn mởrộng cánh cửa để đón nhận những điều mới mẻ, nhữngphương pháp mới, lý luận mới, kế thừa những quan điểmcủa các nghiên cứu đi trước

Tính sáng tạo, tính mới

Vì nghiên cứu khoa học là quá trình khám phá thế giớicủa những sự vật, hiện tượng mà khoa học chưa biết, chonên, quá trình nghiên cứu khoa học luôn là quá trình hướngđến những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới Trong nghiêncứu khoa học không có sự lặp lại như cũ những phát hiệnhoặc sáng tạo mà các đồng nghiệp đi trước đã thực hiện

Trang 14

Tính mới là thuộc tính quan trọng số một của nghiêncứu khoa học Nó luôn có khả năng dẫn tới những xung đột

xã hội với các kết luận cũ, bất kể trong khoa học tự nhiênhay khoa học xã hội Chẳng hạn, thuyết Nhật tâm (Mặt trời

là trung tâm) đã gặp sức chống đối mạnh mẽ của thuyết Địatâm (Trái đất là trung tâm) Trong khoa học xã hội và nhânvăn, sự xung đột giữa cái cũ và cái mới cũng diễn ra khámạnh mẽ

Tính tin cậy

Một kết quả nghiên cứu dựa trên một số phương phápnhất định phải có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần trongnhững điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm hoàn toàn giốngnhau và với những kết quả thu được hoàn toàn giống nhau.Một kết quả thu được ngẫu nhiên dù phù hợp với giả thuyết

đã đặt ra trước đó cũng chưa thể xem là đủ tin cậy để kếtluận về bản chất của sự vật hoặc hiện tượng

Điều này dẫn đến một nguyên tắc mang tính phươngpháp luận của nghiên cứu khoa học là khi trình bày một kếtquả nghiên cứu, người nghiên cứu cần chỉ rõ những điềukiện, nhân tố và phương tiện thực hiện Nghiên cứu khoahọc luôn đòi hỏi phải đảm bảo độ tin cậy cao

Tính thông tin

Sản phẩm của nghiên cứu khoa học được thể hiện dướinhiều hình thức khác nhau, đó có thể là một báo cáo khoahọc, một cuốn sách, bài viết khoa học song cũng có thể là

Trang 15

một mô hình thí điểm về một phương thức sản xuấtmới Tuy nhiên, trong tất cả các trường hợp này, sản phẩmkhoa học luôn mang đặc trưng thông tin Đó là những thôngtin về quy luật vận động của sự vật, thông tin về một quátrình xã hội Nghiên cứu khoa học luôn chưa đựng cácthông tin trong đó, thể hiện các dữ liệu để làm rõ bản chấtcủa sự vật, hiện tượng.

Tính cá nhân

Dù là một công trình nghiên cứu khoa học do một tậpthể thực hiện thì vai trò cá nhân trong sáng tạo nghiên cứucũng mang tính quyết định Tính cá nhân được thể hiệntrong tư duy cá nhân, nỗ lực cá nhân và chủ kiến riêng của

cá nhân Vì vậy, các công trình nghiên cứu luôn mang dấu

ấn cá nhân của các tác giả khi nghiên cứu Do vậy, cùng mộtvấn đề nhưng có thể có những quan điểm khác nhau của cáctác giả nghiên cứu khác nhau, điều này thể hiện tính cá nhâncủa mỗi nghiên cứu

Tính rủi ro

Quá trình khám phá bản chất sự vật và sáng tạo sự vậtmới hoàn toàn có thể gặp phải thất bại Đó là tính rủi ro củanghiên cứu Sự thất bại trong nghiên cứu khoa học có thể donhiều nguyên nhân, chẳng hạn, thiếu những thông tin cầnthiết và đủ độ tin cậy, trình độ kỹ thuật của thiết bị quan sátcòn thấp, năng lực xử lý thông tin của người nghiên cứu còn

Trang 16

hạn chế, giả thuyết khoa học đặt ra là sai do những tác nhânbất khả kháng

Ngay khi kết quả nghiên cứu đã được thử nghiệmthành công cũng vẫn gặp những rủi ro trong áp dụng Điềunày có thể xảy ra khi kỹ thuật chưa được làm chủ, việc triểnkhai áp dụng trong phạm vi mở rộng không thành công.Ngay cả khi đã thử nghiệm thành công thì vẫn khôngthể đi đến quyết định áp dụng vì một nguyên nhân xã hộinào đó khiến cho kết quả không thể được áp dụng trên thực

tế Vì vậy, nhà nghiên cứu có thể đối mặt với không ít rủi rotrong nghiên cứu

Tính khách quan

Tính khách quan vừa là một đặc điểm của nghiên cứukhoa học, vừa là tiêu chuẩn về phẩm chất của người nghiêncứu khoa học Đây được xem là một chuẩn mực giá trị Mộtnhận định theo cảm tính, một kết luận thiếu các xác nhậnbằng kiểm chứng chưa thể xem là một phản ánh khách quan

về bản chất của sự vật, hiện tượng

Để đảm bảo tính khách quan, người nghiên cứu cầnphải luôn đặt các dạng câu hỏi ngược lại những kết luận đãđược xác nhận Điều này sẽ góp phần làm rõ hơn tính kháchquan của kết quả nghiên cứu1

1Xem: Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học,

Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà nội, 2006

Trang 17

1.1.3 Yêu cầu trong nghiên cứu khoa học

Thứ nhất, cần đảm bảo tính chính xác, tin cậy trong

nghiên cứu Đây là một trong những yêu cầu cơ bản đặt ratrong nghiên cứu khoa học Điều này đỏi hỏi nhà nghiên cứukhi phân tích, lập luận vấn đề phải dựa trên các nguồn thôngtin tin cậy, đã được kiểm chứng Các lý thuyết mà nhànghiên cứu sử dụng đã được chứng minh và thừa nhận Các

số liệu sử dụng trong nghiên cứu cần đảm bảo tính trungthực, khách quan và chính xác, có tính đại diện cao Để đảmbảo tính chính xác, tin cậy, các quan điểm mà nhà nghiêncứu trích dẫn từ các công trình trước đó, các số liệu từ cácbáo cáo cần có dẫn nguồn cụ thể Nghiên cứu khoa học luôn

có tính kế thừa, tuy nhiên, để đảm bảo tính chính xác và tincậy trong nghiên cứu thì việc dẫn nguồn là yêu cầu bắt buộcđặt ra đối với nhà nghiên cứu khi sử dụng các kết quảnghiên cứu trước đó

Thứ hai, người nghiên cứu khoa học cần có chuyên

môn gắn với nội dung nghiên cứu Người nghiên cứu cần cónhững am hiểu nhất định về lĩnh vực nghiên cứu Do đó, khiphân tích, lập luận vấn đề sẽ đảm bảo trên cơ sở các quanđiểm khoa học, khách quan, đánh giá vấn đề ở nhiều chiềucạnh, từ đó đưa ra được những phân tích, luận giải có tínhthuyết phục Sản phẩm nghiên cứu khoa học thể hiện nănglực của người nghiên cứu Chính vì vậy, điều này đòi hỏingười nghiên cứu cần am hiểu về lĩnh vực nghiên cứu, vấn

đề nghiên cứu

Trang 18

Thứ ba,các lập luận trong nghiên cứu cần đảm bảo tính

khoa học, không thể dựa trên cảm nhận chủ quan của tác giảnghiên cứu Cũng xuất phát từ yêu cầu khoa học mà đòi hỏicác phân tích, lập luận trong nghiên cứu đảm bảo tính logic,khoa học Các lập luận cần chặt chẽ, nhất quán, logic, mangtính thuyết phục Điều này cũng đòi hỏi ngôn ngữ sử dụngtrong các công trình khoa học cần đảm bảo trung tính,không sử dụng văn nói trong các công trình khoa học

Thứ tư, nghiên cứu khoa học phải trên cơ sở khách

quan, phù hợp với thực tiễn Các nghiên cứu khoa học phảixuất phát từ thực tiễn và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn Yêucầu khách quan đòi hỏi nhà nghiên cứu cần có những đánhgiá, nhìn nhận trên cơ sở thực tiễn, có thể thông qua các hoạtđộng khảo sát thực tiễn, qua quan sát, điều tra bằng bảng hỏihay phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm để có những tiếp cậnđịnh lượng hoặc định tính phục vụ cho việc nghiên cứu Cácđánh giá của tác giả trong nghiên cứu phải luôn trên cơ sởthực tiễn kết hợp với khung lý thuyết nghiên cứu để làmsáng tỏ các vấn đề nghiên cứu

Thứ năm, nghiên cứu khoa học đòi hỏi khả năng dự

báo, tầm nhìn của nhà nghiên cứu đối với vấn đề nghiên cứutrong tương lai Do nghiên cứu khoa học là sự phân tích cácvấn đề trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn, từ đó, đưa ra đượcnhững giải pháp nhằm khắc phục bất cập, tồn tại của thựctiễn và phát huy những điểm tích cực của vấn đề thực tiễntrong tương lai, do vậy, khả năng dự báo hay phán đoán của

Trang 19

nhà nghiên cứu đối với vấn đề sẽ nảy sinh trong thực tiễncủa tương lai là một trong những yêu cầu đặt ra Các dự báonày cho phép nhà nghiên cứu đưa ra các giải pháp có tínhhiệu quả nhất, góp phần khắc phục các bất cập của thực tiễn.Giải pháp càng sát với thực tiễn, có hiệu quả sẽ càng chứng

tỏ khả năng dự báo của nhà nghiên cứu Điều này đỏi hỏinhà nghiên cứu cần có cái nhìn toàn diện, đa dạng, nhiềuchiều trong đánh giá và dự báo1

1.1.4 Các yếu tố tác động đến nghiên cứu khoa học

1.1.4.1 Yếu tố nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học

Đây là yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượngnghiên cứu khoa học Điều này đòi hỏi cần có đội ngũ cácnhà khoa học có khả năng, trình độ và đặc biệt là sự say mêsáng tạo trong nghiên cứu, hay đúng hơn là cần có nguồnnhân lực chất lượng cao trong nghiên cứu khoa học

Để có được thành công trong nghiên cứu khoa học,không chỉ đòi hỏi nhà nghiên cứu có động lực nghiên cứu,

có môi trường nghiên cứu tốt mà còn đòi hỏi phải đảm bảo

1 Lê Văn Hảo, Nguyễn Thị Ngân, Phương pháp nghiên cứu khoa

học (Dành cho sinh viên khối ngành Xã hội nhân văn),

http://www.ntu.edu.vn/Portals/96/Dien%20dan%20doi%20moi

XHNV%20(02.2019).pdf

Trang 20

%20PPGD/PPGD/Nam%202019/Phuong%20phap%20NCKH-được năng lực nghiên cứu khoa học Năng lực nghiên cứukhoa học là khả năng sáng tạo, phát hiện ra tri thức mới,công nghệ mới, đưa ra các giải pháp hiệu quả và thiết thực Năng lực nghiên cứu khoa học bao gồm 3 thành tố chủyếu là kiến thức, kỹ năng và thái độ Kiến thức bao gồmtrình độ chuyên môn, khả năng nắm bắt vấn đề của nhà khoahọc, trong đó cũng bao gồm các kiến thức về phương phápnghiên cứu khoa học Kỹ năng bao gồm kỹ năng xây dựng

đề tài nghiên cứu; kỹ năng thu thập dữ liệu nghiên cứu; kỹnăng phân tích dữ liệu và sử dụng công cụ phân tích; kỹnăng phê phán, phản biện khoa học; kỹ năng lập luận khoahọc; kỹ năng viết báo cáo khoa học; Thái độ bao gồm sựnhiệt tình, say mê khoa học; khách quan, trung thực, nghiêmtúc; kiên trì, cẩn thận khi làm việc; tinh thần hợp tác, chia sẻkhoa học

Động cơ tham gia nghiên cứu khoa học của các nhàkhoa học cũng là một trong những yếu tố cơ bản tác động,ảnh hưởng đến chất lượng nghiên cứu Bên cạnh mục tiêunâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phát triển nănglực nghiên cứu, sự đam mê, nguồn thu nhập, nâng cao uy tínkhoa học tác động trực tiếp đến động cơ nghiên cứu của nhànghiên cứu

1.1.4.2 Yếu tố nguồn lực tài chính cho nghiên cứu

Trang 21

Chính sách tài chính là một trong những nhóm nhân tốđóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động nghiên cứu vàứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học Yếu tố tài chính

sẽ tác động trực tiếp đến tiến độ cũng như chất lượng nghiêncứu khoa học Tiến độ hoàn thành của đề tài/dự án nhanhhay chậm phụ thuộc rất lớn vào yếu tố tài chính bởi liênquan đến các thủ tục lập dự toán kinh phí, cấp kinh phí vàthanh toán kinh phí thực hiện đề tài/dự án

Bên cạnh đó, định mức chi kinh phí hợp lý còn khuyếnkhích hoạt động nghiên cứu khoa học, tránh việc chi nhiềucho các khâu trong giai đoạn tiền nghiên cứu để rồi thiếunguồn kinh phí cho khâu hoàn thành và báo cáo kết quảnghiên cứu Đối với việc cấp kinh phí để thực hiện đề tài,nếu kinh phí đề tài không được đáp ứng kịp thời sẽ làm hoạtđộng nghiên cứu cũng như triển khai ứng dụng bị gián đoạn,ảnh hưởng đến thời gian triển khai

1.1.4.3 Yếu tố thể chế

Thể chế là một trong những yếu tố tác động không nhỏđến hoạt động nghiên cứu khoa học, đó là toàn bộ nhữngquy định về nghiên cứu khoa học, góp phần xây dựng môitrường nghiên cứu minh bạch, công khai, bình đẳng cho cácnhà nghiên cứu tham gia

Hệ thống thể chế, chính sách phù hợp và đồng bộ sẽgóp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy chất lượng vàkhuyến khích trong nghiên cứu Quản lý nhà nước về khoa

Trang 22

học công nghệ cũng cần có những điều chỉnh cho phù hợpvới thời kỳ mới, thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa Chính vìvậy, cần có những quy định nhằm kiện toàn công tác quản lýnhà nước, qui trình xây dựng và quản lý các chương trình,

đề tài, dự án khoa học công nghệ, đặc biệt là khâu đề xuấtnhiệm vụ cũng cần có những cải tiến nhằm phục vụ và xuấtphát từ thực tiễn

Các quy định về thủ tục xét duyệt và nghiệm thu dựán/đề tài cũng cần đảm bảo sự gọn nhẹ, đơn giản hóa chocác nhà khoa học Thủ tục xét duyệt và nghiệm thu đề tàiphức tạp, rườm rà sẽ kéo dài thời gian thực hiện cũng nhưlàm chậm tiến độ ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoahọc

Đồng thời, cũng cần có những quy định đảm bảo tínhminh bạch trong quy trình xét duyệt đề tài Tính minh bạchcần phải được thực hiện liên tục và xuyên suốt, không chỉthực hiện từ quy trình đầu vào mà còn tăng cường ở cácbước giám sát và kiểm tra để hạn chế rủi ro đối với các dựán/đề tài lớn, có tính mới, khó thực hiện và mang tính khoahọc ứng dụng cao

1.1.4.4 Yếu tố môi trường nghiên cứu

Môi trường nghiên cứu cũng được xem là một trongnhững yếu tố tác động đến nhà khoa học trong nghiên cứu.Môi trường nghiên cứu rộng mở, tạo điều kiện cho các nhàkhoa học phát huy mọi năng lực trong nghiên cứu sẽ là động

Trang 23

lực lớn để có những sáng kiến trong nghiên cứu Đồng thời,cũng cần đáp ứng những yêu cầu cơ bản để thực hiện nghiêncứu như hệ thống tài liệu, cơ sở dữ liệu đầy đủ, trang thiết bị

và phòng thí nghiệm, phòng làm việc luôn được đảm bảo.Mặt khác, cần có sự quan tâm, hỗ trợ, phối hợp của các bênliên quan, bao gồm các cấp lãnh đạo, đơn vị chủ quản,những cộng tác viên nghiên cứu, thậm chí có thể là sự mongmỏi được sử dụng kết quả nghiên cứu từ cộng đồng, từ cácdoanh nghiệp…, điều này sẽ thúc đẩy hoạt động nghiên cứu

và triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học mộtcách nhanh chóng

Với các nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học tự nhiên,việc đảm bảo đầy đủ trang thiết bị trong nghiên cứu nhưphòng thí nghiệm, dụng cụ thí nghiệm phục vụ cho hoạtđộng nghiên cứu rất quan trọng Nếu trang thiết bị khôngđầy đủ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện nghiên cứucủa chủ nhiệm đề tài

Rõ ràng, nhà nghiên cứu được hoạt động trong môitrường nghiên cứu luôn khuyến khích, tạo động lực cho sángtạo và đổi mới cho nghiên cứu, sẽ giúp cho hoạt độngnghiên cứu đạt kết quả cao, cho ra những sản phẩm, côngtrình nghiên cứu có giá trị cho thực tiễn

1.1.4.5 Yếu tố hợp tác quốc tế trong nghiên cứu

Trang 24

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng nhưhiện nay, hoạt động nghiên cứu khoa học không chỉ bó hẹptrong phạm vi của tổ chức nghiên cứu trong quốc gia mà cầnđược hợp tác mở rộng với các quốc gia trong khu vực vàtrên thế giới Điều này là tất yếu trong bối cảnh hiện nay.Các nghiên cứu chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc gia sẽ khôngthể đánh giá toàn cảnh thực trạng vấn đề nghiên cứu, đặcbiệt không kế thừa được những kinh nghiệm của các quốcgia, điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của cácnghiên cứu.

Với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, cácquốc gia tham gia vào tiến trình toàn cầu ở nhiều lĩnh vựckhác nhau, trong đó bao gồm lĩnh vực khoa học công nghệ.Các nghiên cứu trên các lĩnh vực như y học, kinh tế học,quản lý công, tài chính ngân hàng, luật học…rất cần phảiđược chia sẻ giữa các quốc gia khác nhau Các nhà khoa họcđến từ các quốc gia khác nhau sẽ chia sẻ, học hỏi, giao lưu,hợp tác trên các lĩnh vực nghiên cứu Chính vì vậy, rất nhiềucác hội thảo quốc tế đã được triển khai, trong đó có sự thamgia của nhiều nhà khoa học đến từ nhiều quốc gia khácnhau Đây là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh hội nhập và toàncầu hóa hiện nay

1.2 CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Trang 25

1.2.1 Điều kiện đảm bảo về thể chế, chính sách

Để hoạt động nghiên cứu khoa học được đảm bảo vàphát huy được khả năng sáng tạo của nhà nghiên cứu, tạomôi trường nghiên cứu rộng mở, những đảm bảo về thể chế,chính sách là rất cần thiết Các quy định thể chế, chính sáchcần khuyến khích, tạo điều kiện cho các nhà khoa học yêntâm và say mê với hoạt động nghiên cứu Muốn vậy, cần cónhững chính sách phù hợp về chế độ, thu nhập xứng đángvới các nhà khoa học Các quy định về thủ tục hành chínhtrong thanh quyết toán các đề tài, dự án cũng cần đảm bảonhanh gọn, thuận lợi cho nhà nghiên cứu vấn đề xã hội hóatrong nghiên cứu khoa học cũng cần phải được triển khaimạnh mẽ hơn nữa Đặc biệt, cần có sự phối hợp chặt chẽgiữa các cơ sở nghiên cứu với các doanh nghiệp, để nhữngkết quả nghiên cứu nhanh chóng được ứng dụng trong thựctiễn Vấn đề đặt hàng trong nghiên cứu cũng cần phải đượcthực hiện mạnh mẽ hơn, kể cả trong nghiên cứu khoa học xãhội nhân văn

Đồng thời, cần có những chính sách thu hút các nhàkhoa học tham gia nghiên cứu, tạo động lực mạnh mẽ trongnghiên cứu Các chính sách về hợp tác nghiên cứu trongnước và ngoài nước cũng cần được xây dựng cụ thể hơn đểtạo điều kiện thuận lợi cho các nhà nghiên cứu tham giamạnh mẽ hơn nữa trong các nghiên cứu quốc tế

Trang 26

1.2.2 Điều kiện đảm bảo về nguồn nhân lực

Như đã phân tích, yếu tố nguồn nhân lực đóng vai tròquan trọng trong việc thúc đẩy chất lượng nghiên cứu Vìvậy, cần xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đảm bảotrên cả ba phương diện cơ bản là kiến thức, kỹ năng và thái

độ trong nghiên cứu khoa học

Nhà khoa học cần có những kiến thức chuyên sâutrong lĩnh vực nghiên cứu, có khả năng nắm bắt và phát hiệnvấn đề, đánh giá vấn đề và dự báo được tiến triển của vấn đềnghiên cứu trong tương lai Điều này đòi hỏi nhà khoa họccần có kiến thức toàn diện, có cái nhìn biện chứng khinghiên cứu Nhà khoa học cũng cần có kỹ năng tốt trongnghiên cứu như kỹ năng đánh giá vấn đề, kỹ năng giải quyếtvấn đề, kỹ năng làm việc nhóm…Các kỹ năng nghiên cứucũng rất cần cho các nhà khoa học Bên cạnh đó, nhà khoahọc cần có thái độ nghiên cứu cầu thị, say mê, ham học hỏi.Như vậy, năng lực nghiên cứu của nhà nghiên cứu chịu ảnhhưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau Vì vậy, đảm bảo nguồnnhân lực nghiên cứu chất lượng cao chính là điều tất yếu đặt

ra nếu muốn nâng cao chất lượng các công trình nghiên cứu

1.2.3 Điều kiện đảm bảo về nguồn lực tài chính

Nguồn lực tài chính đóng vai trò quan trọng trongnghiên cứu khoa học Vì vậy, dù là nghiên cứu ở bất kỳ lĩnh

Trang 27

vực nào thì việc đảm bảo nguồn lực tài chính sẽ là yêu cầu

cơ bản đặt ra Nguồn lực tài chính sẽ ảnh hưởng trực tiếpđến tiến độ nghiên cứu, chất lượng nghiên cứu Vì vậy, cần

có những chính sách khuyến khích về tài chính để các nhàkhoa học yên tâm với công tác nghiên cứu, luôn tâm huyết

và say mê với nghiên cứu khoa học Để gia tăng nguồn lựctài chính trong nghiên cứu, có thể kêu gọi các nhà đầu tư từcác doanh nghiệp, tổ chức tham gia vào việc đầu tư chonghiên cứu, đồng thời, các tổ chức này sẽ là những đơn vịthụ hưởng kết quả nghiên cứu Như vậy, kinh phí chonghiên cứu khoa học có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau,điều này sẽ góp phần thúc đẩy động lực và tạo môi trườngrộng mở, khuyến khích các nhà khoa học sáng tạo và say mêvới nghên cứu

1.3 PHÂN LOẠI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

1.3.1 Phân loại theo cách thức nghiên cứu

1.3.1.1 Nghiên cứu quy nạp

Nghiên cứu quy nạp là phép suy luận đi từ cái riêngđến cái chung Người nghiên cứu đi từ các sự kiện thực tế đểkhái quát hóa thành lý thuyết Để làm rõ một vấn đề cầnnghiên cứu, nhà nghiên cứu có thể đưa ra một số những vấn

đề có nhiều điểm tương đồng, để rồi qua đó phân tích, luậngiải và rút ra một điểm chung từ việc nghiên cứu một số vấn

Trang 28

đề cụ thể đó Như vậy, quy nạp thực chất là phân tích nhữngvấn đề cụ thể để rút ra điểm chung Thực chất đó là việcnghiên cứu đi từ cái riêng đến chung Cách thức nghiên cứunày đòi hỏi các vấn đề cụ thể khi nghiên cứu cần có nhữngđiểm chung nhất định, để rồi từ đó khái quát hóa, rút ra lýthuyết chung hoặc những nhận định, đánh giá chung.

1.3.1.2 Nghiên cứu diễn dịch

Nghiên cứu diễn dịch là phép suy luận đi từ cái chungđến cái riêng Trong phương pháp diễn dịch, người nghiêncứu đi từ lý thuyết đến thực tiễn Như vậy, nghiên cứu diễndịch là sự đối ngược lại so với cách nghiên cứu quy nạp.Nghiên cứu diễn dịch lại bắt đầu từ lý thuyết hoặc luận điểmchung, tuy nhiên, để làm rõ lý thuyết hay luận điểm, nhànghiên cứu sẽ đi phân tích các luận cứ để chứng minh choluận điểm Các luận cứ sẽ là những minh chứng rõ ràng choluận điểm mà nhà nghiên cứu đưa ra Trong khoa học xãhội, nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp diễndịch trong nghiên cứu của mình Thậm chí, trong cùng mộtcông trình nghiên cứu, ở nội dung này tác giả sử dụngphương pháp diễn dịch, tuy nhiên trong nội dung khác tácgiả lại sử dụng phương pháp quy nạp Vì vậy, điều này hoàntoàn tùy thuộc vào cách thức sử dụng phương pháp của nhànghiên cứu

1.3.2 Phân loại theo phương pháp tiếp cận

Trang 29

1.3.2.1 Tiếp cận định tính

Nghiên cứu là một quá trình tìm kiếm các tri thức đượckhái quát hóa để có thể áp dụng vào việc giải thích cho mộtloạt các hiện tượng Để làm được điều đó nhà nghiên cứuphải xác định nguồn - nơi có thể thu thập được số liệu thíchhợp Một khi nguồn đã được xác định, nhà nghiên cứu phảilựa chọn kỹ thuật thu thập số liệu cho phép thu được số liệutốt nhất Trong trường hợp lý tưởng, nhà nghiên cứu phải sửdụng bất kỳ phương pháp thích hợp nào mà nhờ đó thu thậpđược số liệu đáng tin cậy Tuy nhiên, trong thực tế, việc sửdụng loại phương pháp thực nghiệm nào lại phụ thuộc vàoloại số liệu cần được thu thập Khi nào cần thông tin địnhlượng thì các phương pháp định lượng là thích hợp nhất.Nếu số liệu cần thu thập là định tính thì nhà nghiên cứu cầnphải sử dụng các phương pháp định tính

Nghiên cứu định tính là gì? Nghiên cứu định tính làmột phương pháp tiếp cận nhằm tìm cách mô tả và phân tíchđặc điểm, tính chất của sự vật, hiện tượng hay các mối quan

hệ xã hội mà nhà nghiên cứu đang cần làm rõ Nghiên cứuđịnh tính cung cấp thông tin toàn diện về các đặc điểm củamôi trường xã hội nơi nghiên cứu được tiến hành Đời sống

xã hội được nhìn nhận như một chuỗi các sự kiện liên kếtchặt chẽ với nhau mà cần được mô tả một cách đầy đủ đểphản ánh được cuộc sống thực tế

Trang 30

Tiếp cận định tính dựa trên một chiến lược nghiên cứulinh hoạt và có tính biện chứng Phương pháp này cho phépphát hiện những vấn đề quan trọng mà các nhà nghiên cứu

có thể chưa bao quát được trước đó Trong nghiên cứu địnhtính, một số câu hỏi nghiên cứu và phương pháp thu thậpthông tin được chuẩn bị trước, nhưng chúng có thể đượcđiều chỉnh cho phù hợp khi những thông tin mới xuất hiệntrong quá trình thu thập Đó là một trong những khác biệt cơbản giữa phương pháp định tính và phương pháp định lượngCác phương pháp nghiên cứu định tính được phát triển

và sử dụng đầu tiên trong các nghiên cứu nhân chủng học,một bộ môn khoa học xã hội Các nhà nhân chủng học điđến các cộng đồng mà họ muốn nghiên cứu và sống ở đómột thời gian dài để quan sát người dân và tìm hiểu nhữngnguyên nhân chi phối hành vi ứng xử của họ Để có đượcnhững thông tin sâu, các nhà nhân chủng học thường sửdụng các kỹ thuật như phỏng vấn phi cấu trúc, thu thập lịch

sử đời sống, thảo luận nhóm và nghiên cứu trường hợp.Thoạt tiên, những kỹ thuật này được phát minh nhằm thuthập những thông tin mô tả phi định lượng Ngày nay, các

kỹ thuật đó được sử dụng rộng rãi không chỉ trong phạm vicủa nhân chủng học mà còn ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vựckhác nhau

Nghiên cứu định tính cho phép nhà nghiên cứu hạn chếcác sai số bằng cách sử dụng các kỹ thuật phỏng vấn và tạo

ra một môi trường phỏng vấn mà trong đó đối tượng trả lời

Trang 31

cảm thấy thoải mái nhất Tiếp cận định tính thường thôngqua hoạt động phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm và mang đếncho nhà nghiên cứu những dữ liệu gồm các đánh giá, nhậnđịnh và quan điểm của người được phỏng vấn Điều này chophép nhà nghiên cứu tiếp cận vấn đề nhiều chiều, thâm chínhiều vấn đề, quan điểm mới nảy sinh nhờ cách tiếp cậnđịnh tính

1.3.2.2 Tiếp cận định lượng

Tiếp cận định lượng là cách mà nhà nghiên cứu sửdụng để có được những số liệu bằng các con số trong nghiêncứu Phương pháp nghiên cứu định lượng sử dụng một bảnghỏi đã chuẩn bị trước theo một cơ cấu nhất định cho mọi đốitượng nghiên cứu Điều tra bằng bảng hỏi cho phép suy luậnthống kê từ kết quả thu được ở các mẫu tương đối nhỏ raquần thể lớn hơn, điều này cũng cho phép đo lường và đánhgiá mối liên quan giữa những biến số, kết quả thu được từcác cuộc điều tra có thể sử dụng để so sánh theo thời gianhoặc giữa các vùng1

Tuy nhiên, điều tra bằng bảng hỏi cũng có một sốnhược điểm và cần được sử dụng một cách thận trọng Đánglưu ý nhất là những sai số không do chọn mẫu, ví dụ ngườiđược hỏi trả lời không đúng các câu hỏi vì không nhớ hoặc

1 Xem: Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học,

Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà nội, 2006

Trang 32

do hiểu sai hoặc cố tình nói dối Hai vấn đề nghiêm trọngnhất có thể xảy ra khi điều tra bằng bảng hỏi đó là:

- Hiểu sai ý của câu hỏi: Điều này xảy ra khi đối tượngtrả lời không hiểu câu hỏi đặt ra như ý định của nhà nghiêncứu mà lại hiểu khác đi và trả lời theo cách hiểu của họ

- Những sai số ngữ cảnh: Phương pháp nghiên cứuđịnh luợng giả định rằng hành vi và thái độ của con ngườikhông thay đổi theo ngữ cảnh Tuy nhiên, câu trả lời của đốitượng có thể thay đổi phụ thuộc vào các ngữ cảnh khácnhau, thậm chí phụ thuộc vào tinh thần của người trả lời ởcác thời điểm khác nhau

Các phương pháp thu thập thông tin khác nhau đem lạithông tin khác nhau Vì vậy trước khi quyết định sử dụngphương pháp nào cần phải xác định loại thông tin nào cầnthiết nhất cho mục đích nghiên cứu Các phương phápnghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng có thể kếthợp để bổ sung lẫn cho nhau Trong một số trường hợp,nghiên cứu định tính có thể hỗ trợ cho nghiên cứu địnhlượng bằng cách xác định các chủ đề phù hợp với phươngpháp điều tra Nghiên cứu định tính có thể giúp giải thíchcác mối quan hệ giữa các biến số được phát hiện trong cácnghiên cứu định lượng Như vậy, có thể có những công trìnhnghiên cứu sử dụng đồng thời cả nghiên cứu định lượng vànghiên cứu định tính hoặc có thể sử dụng một trong haiphương pháp này

Trang 33

1.3.3 Phân loại theo loại hình nghiên cứu

1.3.3.1 Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu luận văn, luận án

Trong nghiên cứu luận văn, luận án, các học viên vànghiên cứu sinh sẽ cần phải sử dụng một số phương pháp cơbản như:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết: Đây làmột trong những phương pháp cơ bản trong nghiên cứu cácluận văn, luận án, bao gồm cả các đề tài khoa học Ngườinghiên cứu cần tổng quan các nghiên cứu trước đó có liênquan đến nội dung của đề tài, từ đó thấy được những điểmcần kế thừa, đồng thời cũng thấy được khoảng trống trongnghiên cứu Phân tích lý thuyết sẽ giúp người nghiên cứuluôn trên cơ sở các lý luận đã được chứng minh, từ đó đốichiếu, so sánh và đánh giá, đưa ra những quan điểm cá nhân

về các vấn đề nghiên cứu Phân tích lý thuyết sẽ giúp ngườinghiên cứu làm rõ hơn bản chất về lý luận của vấn đề nghiêncứu, trên cơ sở đó, những lý thuyết được phân tích sẽ đượcđưa vào thực tiễn để so sánh, đối chiếu, đánh giá, chỉ rađược những kết quả, hạn chế của thực tiễn

Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết đòi hỏingười nghiên cứu phân tích các công trình nghiên cứu theotừng khía cạnh về nội dung, về lịch sử thời gian, để từ đóhiểu các công trình nghiên cứu một cách đầy đủ và toàndiện, nhằm phát hiện ra những xu hướng, những trường phái

Trang 34

nghiên cứu của từng tác giả và từ đó chọn lọc những thôngtin quan trọng, phù hợp, phục vụ cho đề tài nghiên cứu củamình Tổng hợp lý thuyết là việc liên kết từng mặt, từng bộphận thông tin từ các lý thuyết đã thu thập được, để tạo ramột hệ thống lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc, phù hợp vớichủ đề nghiên cứu của nhà nghiên cứu Quá trình tổng hợp

lý thuyết sẽ cung cấp bức tranh tổng thể và toàn diện, kháiquát hơn các tài liệu đã có

Nghiên cứu lý thuyết thường bắt đầu từ phân tích cáctài liệu để tìm ra cấu trúc các lý thuyết, các trường phái, các

xu hướng phát triển của lý thuyết Từ phân tích lý thuyết,nhà nghiên cứu sẽ tiếp tục tổng hợp để xây dựng thành một

hệ thống khái niệm, phạm trù, nguyên lý, tiến tới tạo thànhcác lý thuyết khoa học mới

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâuhoặc thảo luận nhóm

Điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp nhằm khảo sátmột nhóm đối tượng trên diện rộng nhằm phát hiện, làm rõcác khía cạnh khác nhau của đối tượng cần nghiên cứu Điềutra bằng bảng hỏi “Anket” được khá nhiều các đề tài nghiêncứu sử dụng Anket là hệ thống câu hỏi với các phương ántrả lời, người được hỏi chọn câu trả lời theo nhận thức vàquan điểm của mình Anket có hai loại: Anket đóng vàAnket mở Anket đóng là hệ thống các câu hỏi mà người trảlời chỉ cần chọn một trong các phương án đã có sẵn Anket

Trang 35

mở là hệ thống các câu hỏi mà ngoài các phương án có sẵn,người trả lời có thể bổ sung ý kiến riêng của mình.

Các tài liệu, số liệu qua điều tra sẽ là những thông tinquan trọng cho quá trình nghiên cứu và là căn cứ để đề xuấtnhững giải pháp khoa học hay giải pháp thực tiễn Điều trabằng bảng hỏi là một trong những phương pháp cơ bản khinghiên cứu đề tài khoa học, đây là hoạt động có mục đích,

có kế hoạch, được tiến hành một cách thận trọng, kháchquan và đảm bảo đủ tính đại diện trong khảo sát

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi cần đáp ứng một

số yêu cầu cơ bản như lập kế hoach điều tra, bao gồm mụcđích, đối tượng, địa bàn, nhân lực, kinh phí,…; Xây dựngcác mẫu phiếu điều tra với các thông số, tiêu chí cần làmsáng tỏ; Chọn mẫu điều tra đại diện; Xử lý tài liệu điều tranhằm đảm bảo kết quả khách quan

Khi cần kiểm tra kết quả nghiên cứu, có thể điều tralại, thay đổi địa điểm, thời gian, thay đối tượng điều tra hoặc

sử dụng các phương pháp nghiên cứu hỗ trợ khác

Trong một số luận án, các nghiên cứu sinh đã thựchiện phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm để từ đó có thêm các

dữ liệu định tính cho nghiên cứu trong luận án Các quanđiểm, đánh giá, nhìn nhận của người được phỏng vấn sâuhoặc thảo luận nhóm sẽ giúp người nghiên cứu có được bứctranh tổng thể, có cái nhìn đa chiều về vấn đề nghiên cứu,

Trang 36

thậm chí, có thể đưa ra được những giải pháp mang tính khảthi cho nghiên cứu

1.3.3.2 Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu đề tài

Đề tài nghiên cứu khoa học là một hình thức tổ chứcnghiên cứu khoa học do một người hoặc một nhóm ngườithực hiện Đề tài nghiên cứu có những điểm khác so với dự

án, đề án Đề tài nghiên cứu khoa học được thực hiện sẽ baogồm đầy đủ các nghiên cứu lý luận và thực tiễn, từ đó đưa racác giải pháp để khắc phục

Trong khi đó, Dự án được thực hiện thường tập trungvào mục đích ứng dụng, có xác định cụ thể hiệu quả về kinh

tế và xã hội Dự án có tính ứng dụng cao, có ràng buộc thờigian và nguồn lực

Đề án thường được một đơn vị, tổ chức tham gia xâydựng để trình cấp quản lý cao hơn nhằm đưa ra những luậnchứng cho một đề xuất nhất định như thành lập một tổ chức,cho phép triển khai một nhiệm vụ nhất định, tài trợ cho mộthoạt động xã hội Sau khi đề án được phê chuẩn, sẽ hìnhthành những dự án, chương trình, đề tài theo yêu cầu của đề

án

Chương trình là một nhóm đề tài hoặc dự án được tậphợp theo một mục đích xác định Giữa chúng có tính độc lậptương đối cao Tiến độ thực hiện đề tài, dự án trong chương

Trang 37

trình không nhất thiết phải giống nhau, nhưng nội dung củachương trình thì phải đồng bộ

Bên cạnh các phương pháp cơ bản như phân tích tàiliệu, nghiên cứu lý thuyết, điều tra xã hội học thì các đề tài,

đề án… thường sử dụng một số phương pháp như:

Phương pháp quan sát thực tiễn

Nhờ quan sát thực tiễn mà nhà khoa học có thông tin

về đối tượng, trên cơ sở đó tiến hành các bước tìm tòi vàkhám phá tiếp theo Quan sát thực tiễn là một hoạt độngđược tổ chức đặc biệt, có mục đích, có kế hoạch, có phươngtiện để nhận diện các đối tượng nghiên cứu được lựa chọn.Mục đích quan sát là tìm các dấu hiệu đặc trưng hay nhữngquy luật vận động và phát triển của đối tượng nghiên cứu.Quan sát thực tiễn được tiến hành trong thời gian dàihay ngắn, không gian rộng hay hẹp, đối tượng nhiều hay ít,tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu của đề tài Các tài liệuquan sát qua xử lý đặc biệt giúp nhà nghiên cứu những kếtluận đầy đủ, chính xác về đối tượng Quan sát thực tiễn có

ba chức năng gồm thu thập thông tin thực tiễn, đây là chứcnăng quan trọng nhất Các tài liệu thu thập qua xử lý chonhà nghiên cứu những thông tin có giá trị về đối tượng;Kiểm chứng các giả thuyết hay các lý thuyết đã có Quathực tiễn kiểm chứng mới khẳng định được độ tin cậy của lý

Trang 38

thuyết; Đối chiếu các kết quả nghiên cứu lý thuyết với thựctiễn để tìm ra sự sai lệch, từ đó có các giải pháp hoàn thiện1.

Có hai loại quan sát thực tiễn gồm quan sát trực tiếp vàquan sát gián tiếp Quan sát trực tiếp là quan sát trực diệnđối tượng đang diễn biến trong thực tế bằng mắt thườnghoặc bằng các phương tiện kỹ thuật nghe nhìn để thu thậpthông tin một cách trực tiếp Quan sát gián tiếp là quan sátdiễn biến hiệu quả của các tác động tương tác giữa đốitượng cần quan sát với các đối tượng khác, mà bản thân đốitượng không thể quan sát trực tiếp được

Các đối tượng nghiên cứu có thể là đơn lẻ, có thể là sốđông Người quan sát có thể là nhà khoa học hay các cộngtác viên Bất kỳ một quan sát khoa học nào cũng đều do conngười thực hiện, cho nên phải chú ý đến các đặc điểm củaquá trình quan sát với các lưu ý như các chủ thể tham giaquan sát đều chịu ảnh hưởng bởi tính chủ quan, đó là sựkhác biệt về trình độ, kinh nghiệm, quan điểm, cảm xúc.Quan sát bao giờ cũng thông qua lăng kính chủ quan, có

“cái tôi” trong sản phẩm; Đối tượng quan sát, các quan hệ

xã hội hoặc hiện tượng xã hội luôn vận động, biến đổi vàphát triển Vì vậy, việc xác định đúng các chỉ số trọng tâm

về đối tượng cần quan sát là điều rất cần thiết

Phương pháp thực nghiệm khoa học (Experiment)

1 Xem: Trần Thanh Ái, 2014 “Cần phải làm gì để phát triển năng

lực nghiên cứu khoa học giáo dục”, Tạp chí Dạy và Học ngày

nay, số 1/2014

Trang 39

Thực nghiệm khoa học là phương pháp nghiên cứuthực tiễn quan trọng, trong đó các nhà khoa học chủ độngtác động vào đối tượng và quá trình diễn biến của sự kiệnhoặc hiện tượng mà đối tượng tham gia, để hướng dẫn sựphát triển của đối tượng theo mục tiêu dự kiến Thựcnghiệm thành công sẽ cho nhà nghiên cứu các kết quả kháchquan và như vậy mục đích khám phá khoa học được thựchiện một cách hoàn toàn chủ động Kinh nghiệm cho thấythực nghiệm có ý nghĩa như là một cuộc cách mạng trongnghiên cứu khoa học, làm đảo lộn tư duy khoa học kiểu cũ

và nó được sử dụng triệt để trong nhiều lĩnh vực khoa học,đặc biệt là với các ngành khoa học tự nhiên, khoa học kỹthuật Thực nghiệm giúp đẩy nhanh quá trình nghiên cứukhoa học và khả năng vận dụng nhanh chóng các kết quảnghiên cứu khoa học vào thực tiễn sản xuất

Phương pháp thực nghiệm giúp trình độ thực hànhnghiên cứu đạt tới mức độ cao, giúp phát triển cả khả năng

tư duy lý thuyết Thực nghiệm tạo ra một hướng nghiên cứumới, hoàn toàn chủ động trong sáng tạo khoa học Ngày nay,phương pháp thực nghiệm cũng được sử dụng cả trong lĩnhvực nghiên cứu khoa học xã hội và đem lại những kết quảquan trọng

Trong nghiên cứu khoa học tự nhiên và khoa học kỹthuật, nhà nghiên cứu còn sử dụng phương pháp thí nghiệm,được tiến hành trong các phòng thí nghiệm (Laboratory) vớinhững biện pháp kỹ thuật nhằm phát hiện đặc điểm và các

Trang 40

quy luật phát triển của đối tượng nghiên cứu Thí nghiệmthực hiện trên cơ sở thay đổi dần các dữ kiện hay các chỉ sốđịnh tính và định lượng của những thành phần tham gia vàlặp lại nhiều lần nhằm xác định tính ổn định của đối tượngnghiên cứu Thí nghiệm có thể là một bước hay một bộ phậncủa quá trình thực nghiệm khoa học Từ kết quả của nhữngthí nghiệm có thể chuyển dần thành lý thuyết thực nghiệm.Thực nghiệm và thí nghiệm về bản chất cũng là để tìm tòihay chứng minh một ý tưởng, một giả thuyết khoa học nào

đó

Phương pháp chuyên gia

Phương pháp chuyên gia được thực hiện nhằm sử dụngtrí tuệ của đội ngũ chuyên gia của một chuyên ngành để xemxét, nhận định bản chất của vấn đề nghiên cứu, từ đó tìm ragiải pháp tối ưu cho vấn đề nghiên cứu… Ý kiến của từngchuyên gia sẽ bổ sung cho nhau, kiểm tra lẫn nhau và các ýkiến giống nhau của đa số chuyên gia về một vấn đề hay giảipháp có thể là ý kiến giúp nhà nghiên cứu đưa ra đượcnhững giải pháp hoàn thiện Tuy nhiên, phương phápchuyên gia chủ yếu dựa trên cơ sở kinh nghiệm, cách nhìnnhận, đánh giá của chuyên gia, vì vậy, chỉ nên sử dụng khicác phương pháp khác không có điều kiện thực hiện hoặckhông thể thực hiện được

Khi sử dụng phương pháp chuyên gia cần chú ý chọnđúng chuyên gia có năng lực chuyên môn về lĩnh vực nghiên

Ngày đăng: 28/10/2021, 10:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w