Trong những năm qua, vấn đề nghiên cứu cóc nhà trong phòng trừ côn trùng - sâu hại cây trồng rất ít, mà các tác giả chủ yếu nghiên cứu chung cho tất các loài ếch nhái bò sát ở cấp độ phâ
Trang 1- -
THỬ NGHIỆM SỬ DỤNG CÓC NHÀ
(Bufo melanostictus) TRONG PHÕNG TRỪ SÂU
HẠI RAU CẢI Ở TRẠI NÔNG NGHIỆP
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, vấn đề nghiên cứu cóc nhà trong phòng trừ côn trùng - sâu hại cây trồng rất ít, mà các tác giả chủ yếu nghiên cứu chung cho tất các loài ếch nhái bò sát ở cấp độ phân loại và xây dựng khoá định loại, mô tả, các báo cáo danh lục khu hệ ếch nhái bò sát, đặc điểm sinh học sinh thái ếch nhái bò sát Thực tiễn ở nhiều nước Nông Nghiệp cho thấy chỉ có áp dụng hệ thống phòng trừ tổng hợp mới mong có hiệu quả cao trong phòng trừ côn trùng - sâu hại Hệ thống này được thiết lập dựa trên các mối quan hệ qua lại giữa cây trồng – sâu hại – thiên địch Các loài thiên địch thường hạn chế được số lượng những loài côn trùng - sâu hại đặc biệt ở những nơi sử dụng thuốc trừ sâu hợp lý Bởi vậy cần tiến hành nghiên cứu lợi dụng quần thể thiên địch nhằm tăng cường sự cân bằng tự nhiên để hạn chế số lượng côn trùng sâu hại, đồng thời giảm bớt thuốc hoá học
Cóc nhà nói riêng và ếch nhái bò sát nói chung là loài động vật hữu ích cho con người Nó không những góp phần vào cân bằng sinh thái mà còn góp phần không nhỏ vào sự phát triển nông nghiệp đặc biệt là phòng trừ sâu hại cùng với các loại côn trùng thiên địch khác, chúng góp phần khống chế sự phát triển của sâu hại Theo Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Quốc Thắng (1977) [4] “Ếch nhái là một đội quân hùng hậu, phong phú về số lượng tích cực tiêu diệt côn trùng phá hoại mùa màng” Trên quan điểm quản lý tổng hợp dịch hại cây trồng (IPM) thì “phục hồi và sử dụng thiên địch tự nhiên nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng của sâu hại hạn chế sử dụng thuốc hoá học là biện pháp cốt lõi của phòng trừ sâu hại” Mối quan hệ này được thiết lập dựa trên sự đa dạng cân bằng giữa sâu hại – thiên địch – cây trồng
Cóc nhà luôn săn bắt các loại côn trùng – sâu hại gây hại trên cây trồng làm ảnh hưởng đến năng suất cây trồng Nó là loài thiên địch do thiên nhiên ban tặng cho con người và nó có khắp nơi vì thế có nguồn nguyên liệu dồi dào Cóc là loài động vật biến nhiệt do đó trước những biến động bất lợi của thiên nhiên cóc vẫn
Trang 3tồn tại và phát triển bình thường, cóc có tuổi thọ cao Khi dùng để tiêu diệt côn trùng - sâu gây hại cây trồng cóc còn được dùng vào việc chế biến các món ăn dùng trong nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ, quán ăn …
Cóc nhà còn được dùng để chữa bệnh cho con người như các bệnh còi xương, viêm cột sống, tại Trung Quốc đã có nhiều nghiên cứu theo hướng y học hiện đại
về nhựa cóc Theo tạp chí trung y 1985 có thể điều trị các loại ung thư gan, ung thư vú, bạch cầu, bệnh lao,tim mạch ( như ngoại tâm thu, cơn đau thắt ngực) bằng dung dịch Hoa Thiềm tố (chất chiết xuất từ nhựa cóc) Hoa Thiềm tố có tác dụng tăng bạch cầu, chống tác dụng của tia phóng xạ, chống ung thư Invitro Đặc biệt cóc dùng tiêu diệt côn trùng - sâu hại đây là biện pháp sinh học (BPSH) BPSH là cốt lõi của IPM và IPM-B trong phòng trừ côn trùng - sâu hại trên cây trồng đây là biện pháp hiện nay và trong tương lai được con người quan tâm và nghiên cứu rất nhiều vì nó đem lại nhiều lợi ích cho con người như sản phẩm sạch cho người dùng, không gây tính kháng thuốc cho côn trùng - sâu hại, không làm mất đi một quần thể thiên địch trong tự nhiên, không gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người Đặc biệt là nước ta các mặt hàng về rau, hoa quả, lương thực, thực phẩm khi xuất khẩu gặp rất nhiều khó khăn do hàm lượng thuốc bảo vệ thực vật cao hơn so với mức quy định càng khó khăn hơn khi xuất khẩu qua các thị trường khó tính như EU, Mỹ, Nhật Bản Vì thế mà giá cả các mặt hàng đó thấp gây tổn thất rất lớn cho người sản xuất vì thế việc dùng BPSH để phòng trừ côn trùng - sâu bệnh hại thay cho thuốc hoá học là rất cần thiết
Hơn thế nũa, nước ta mới gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) nên khả năng cạnh tranh với các nước càng khó khăn hơn nữa Việc sử dụng thiên địch để phòng trừ cho cây trồng thay cho thuốc hoá học là một thành tựu rất lớn nó giải quyết được những khó khăn trên và lợi thế rất lớn khi cạnh tranh với các sản phẩm của các nước
Đây là phương pháp phòng trừ côn trùng - sâu hại bất cứ người dân nào cùng
đủ điều kiện để làm vì chi phí rất thấp, phù hợp với trình độ của người dân, dễ làm
Trang 4Đề tài được thực hiện trên cây rau cải vì rau là cây được con người tiêu dùng nhiều vì nó có nhiều chất rất cần thiết cho con người và là món ăn không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày
Vì những lý do đó mà em đã chọn đề tài này để làm đề tài luận văn tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
- Phòng trừ côn trùng - sâu hại thay thuốc hoá học (BPSH)
- Tận dụng nguồn thiên đich của tự nhiên
- Bảo vệ môi trường
- Mang lại hiệu quả kinh tế cao
3 Đối tƣợng, Phạm vi và nôi dung nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
3.1.1 Con Cóc nhà ( Bufo melanostictus)
3.1.1.1 Đặc điểm của cóc nhà (Bufo melanostictus)
Cơ thể sần khô, sần sùi, trên lưng có nhiều mụn cóc to nhỏ xen kẻ Về phía mang tai các mụn cóc tập hợp lại thành hai tuyến lớn gọi là tuyến mang tai Đầu cóc màu đen, lưng màu xám vàng, vàng nhạt, đỏ nâu hay xám nhạt, phần bụng màu trắng bợt hay có đốm, cổ họng màu đen nhạt Cóc đực lớn nhất có chiều dài thân là 0,6cm ; cóc cái lớn nhất có chiều dài thân là 0,8cm, mõm nhọn, ngắn bẹp
ra Miệng rộng lưỡi bầu tròn, màng nhĩ có chiều dài 2/3 đường
Trang 5kính mắt Chi trước ở đầu ngón có vết chai, ngón 1 và ngón 3 dài hơn các ngón khác Chi sau các ngón có da nối 1/2
Phân bố : Thanh hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng trị, Thừa Thiên Huế
3.1.1.2 Tập tính của cóc nhà (Bufo melanostictus)
Theo dõi bằng mắt thường thấy cóc có những tập tính sau :
- Ban đêm : Theo dõi từ 18h30 – 5h00 sáng thì thấy :
Cóc bắt mồi chủ yếu vào ban đêm Cóc kiếm ăn từ sẫm tối đến trời gần sáng, thức ăn của chúng là những loại côn trùng (ruồi, muỗi, mối, dán, chuồn chuồn, kiến, nhện, bọ nhảy, giun đất, các loại sâu như sâu xanh, sâu khoang,…)
Cóc là loài lưỡng cư có ích vì góp phần tiêu diệt côn trùng có hại, thịt cóc ngon,
bổ Bột cóc chưa bệnh còi xương, mũ cóc là dược liệu qúy
- Ban ngày : Theo dõi từ 5h30 – 18h00 thấy có những tập tính sau :
Cóc không ra để tìm kiếm mồi mà nằm trong các hang đá hoặc những hang nhỏ, ẩm thấp, kín gió có sẵn Hang của cóc gần như cố định, mỗi hang cóc từ 2-5 con Nếu ban ngày trời u ám có mưa thì cóc vẫn hoạt động kiếm ăn do hang giun đất bị ngập nước giun ngoi lên mặt đất làm thức ăn cho cóc Cóc có khả năng nhận biết được sự thay đổi áp suất của không khí do đó tiếng nghiến răng của cóc báo hiệu trời mưa Cóc đẻ nhiều lứa trong một năm Mùa sinh sản của cóc thay đổi theo từng vùng (khoảng tháng 4,5 đến tháng 11,12) Trứng màu đen tạo thành những giải trứng dài (có khi đến 10m) vắt trên các cành cây, đám cỏ hoặc chìm sâu xuống đáy
Ngoài ra còn nghiên cứu thêm năng suất cây trồng, tình hình sâu bệnh trên cây trồng, điều kiện ngoại cảnh tác động
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Khu thí nghiệm khoa Nông – Lâm – Ngư, Đại Học Vinh và trên sinh quần ruộng rau cải xã Nghi Phong - Nghệ An, vụ hè thu năm 2008
3.3 Nội dung nghiên cứu
Trước khi thực hiện ngoài đồng ruộng đã tiến hành các thí nghiệm thăm dò sau
đó mới tiến hành thí nghiệm chính thức
Trang 63.3.1 Thử nghiệm sử dụng trọng lƣợng cóc nhà (Bufo melanostictus ph ng
trừ côn tr ng – sâu hại trên Rau cải
- Thực hiện trên 4 ô thí nghiệm với diện tích mỗi công thức là 8m2
- Rau trồng được 10 ngày tiến hành vây nilon và thả cóc
- Tiến hành thả 3 loại cóc với 3 mức trọng lượng khác nhau vào 3 ô thí nghiệm, tương ứng với 4 công thức : CT1, CT2, CT3 CT4 : ĐC ( không thả cóc)
- Tiến hành chăm sóc, bón phân cho rau ở 4 ô thí nghiệm là như nhau
- Theo dõi trong 3 tuần sau đó tiến hành thu hoạch
- Mỗi ô thí nghiệm tiến hành thả 8 con với các mức trọng lượng lần lượt như sau:
Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Dải bảo vệ
3.3.2 Thử nghiệm sử dụng mật độ cóc nhà (Bufo melanostictus ph ng trừ
côn tr ng – sâu hại trên rau cải
- Dựa vào kết quả nghiên cứu về trọng lượng cóc nên ta chọn loại cóc có trọng lương là 0.2 - 0.4 kg /con, rau được trồng 10 ngày tiến hành vây Nilon và thả cóc, trong mức trọng lượng đó tiến hành bắt ngẫu nhiên để tiến hành thí nghiệm mật
độ Điều kiện chăm sóc, bón phân giữa các ô TNo là như nhau
- Tiến hành thực hiện trên 4 ô thí nghiệm với mật độ khác nhau, tương ứng với 4 công thức + CT1 : Thả 5 con/1ô
kg
CT3 0.4 - 0.6
kg
CT4: ĐC
Trang 7Tiến hành theo dõi trong 3 tuần
Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Dải bảo vệ
3.3.3 Thử nghiệm sử dụng lƣợng côn tr ng - sâu hại mà cóc nhà
(Bufo melanostictus) ăn đƣợc trong thời gian 18h30 – 6h30
- Sau khi nghiên cứu trọng lượng và mật độ cóc ta biết được trọng lượng có
thích hợp là 0.2 - 0.4 kg/con với mật độ là 8 con/1ô/8m2
Tiến hành thả 8 con trên 1 ô thí nghiệm nhưng trong 8 con đó tiến hành bắt ngẫu
nhiên nên trọng lượng mỗi con sẽ khác nhau Sau đó tiến hành đánh dấu từng con
theo thứ tự 1,2,3,4,5,6,7,8 bằng bút màu
thả với trọng lượng 0.2 - 0.4 kg/con xung quanh vây Nilon kín
Tiến hành thắp đèn từ 18h30 và theo dõi đến thời điểm côn trùng - sâu hại tập
trung nhiều nhất vì đây là thời gian côn trùng – sâu hại tập trung nhiều nhất, rồi
trập vải màn kín trên ô thí nghiệm đợi đến sáng ngày mai lúc 6h30 Tiến hành bắt
từng con cân lên (dùng cân đĩa) thu được kết quả :
Trang 84 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
4.1 Ý nghĩa khoa học
Cung cấp dẫn liệu khoa học cho biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp
(IPM).Trên cơ sở đó giảm phun thuốc trừ sâu trong mỗi vụ cây trồng, tăng hiệu quả kinh tế, bảo vệ sức khoẻ con người, môi trường và cân bằng sinh học trong
hệ sinh thái nông nghiệp
Từ những kết quả nghiên cứu các nhà nghiên cứu có cái nhìn mới về việc sử
dụng cóc nhà (Bufo melanostictus) làm thiên địch vì các nhà khoa học chủ yếu
nghiên cứu về khoá định loại, xây dựng danh lục, đặc điểm sinh thái - sinh học
Trang 9Chương I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Các tác giả chủ yếu nghiên cứu chung cho các loài ếch nhái bò sát trong đó
cóc nhà (Bufo melanostictus) thuộc Họ cóc (Bunfonidae) và đều thuộc loài ếch
nhái
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Ếch nhái là động vật có xương sống đầu tiên trên cạn, vì vậy nó trở thành đối tượng quan tâm của không ít nhà khoa học Những công trình nghiên cứu về ếch nhái có từ thời cổ đại như Aristote (384 – 322) trước Công Nguyên Tuy nhiên phải từ sau thế kỷ XIX việc nghiên cứu ếch nhái mới được tiến hành một cách có
hệ thống
Có thể kể đến công trình nghiên cứu của các nhóm tác giả sau:
Pope C.,1935; Er-miZhao và Adlerk.,1993 nghiên cứu khu hệ bò sát trung quốc
có 209 loài Trong đó nhóm rùa có 23 loài, 6 họ, 15 giống Nhóm rắn có 120 loài,
9 họ, 59 giống Nhóm thằn lằn có 66 loài, 6 họ, 21 giống
Smith M.,1943 nghiên cứu khu hệ bò sát Ấn Độ, Ceylon, Mianma và Đông Dương thống kê được 400 loài thuộc 75 giống, 8 họ, trong đó họ Typhlopidae 42 loài, 7 giống Họ Colubridae 228 loài, 53 giống Họ Dasypeltidae 1 loài, 1 giống
Họ Elapidae 21 loài, 3 giống Họ Viperidae 22 loài, 7 giống Nghiên cứu khu hệ
bò sát Ấn Độ đã thống kê được 116 loài thuộc 21 họ (Daltel J.C,1983) Trong đó nhóm cá sấu có 3 loài, nhóm rùa có 26 loài, nhóm thằn lằn có 39 loài, nhóm rắn
có 49 loài
Đặc biệt nghiên cứu ếch nhái bò sát khu vực Đông Nam Á năm 1997 các tác giả Manthey U và Grossman W,… đã mô tả, làm khoá định loại cho 353 loài, trong đó có 93 loài ếch nhái thuộc 7 họ, 1 bộ và 260 loài bò sát thuộc 20 họ, 2 bộ Bên cạnh việc nghiên cứu các khu hệ ếch nhái bò sát trên khu vực rộng lớn, việc nghiên cứu cũng được tiến hành ở các nhóm chuyên biệt Taylor E.H., 1963 nghiên cứu thằn lằn Thái Lan công bố 158 loài thuộc 6 họ Deuve J (1970) nghiên cứu rắn ở Lào thống kê được 64 loài thuộc 6 họ
Sant Girons H (1972) nghiên cứu Rắn ở Campuchia gồm 61 loài, 9 họ, 34 giống Trong đó Typhlopidae 3 loài Họ Anilidae 1 loài Họ Xenopeltidae 1 loài Họ
Trang 10Boidae 3 loài Họ Aerochordidae 2 loài Họ Colubridae 40 loài Họ Elapidae 5 loài Họ Hydrophidae 2 loài
Một số tác giả đi sâu nghiên cứu theo hướng tìm hiểu đặc điểm sinh thái, sinh học của các loài như: Thức ăn, tập tính,…nghiên cứu theo hướng này năm 1994 Bohme W., Georg H., Thomas Z., đã xác định tên và mô tả một loài mới thuộc giống Valanus ở Đông Nam Á Thomas Z., Bolme W., 1996 nghiên cứu thức ăn, tập tính của loài Varanus Dumerilli (Sehlel,1839) Các công trình của Angusd A.,(1975) [2] , Goin C.,(1962) nghiên cứu về hình thái giãi phẩu, đặc điểm sinh học, tập tính hoạt động của ếch nhái bò sát
Phương pháp nghiên cứu giới tính bằng cách xác định cấu tạo cơ quan sinh dục đực và cái, được các tác giả ở ZIMK áp dụng Dựa vào các đặc điểm sinh dục và các đặc điểm khác để xác định loài
Cho đến nay song song với việc nghiên cứu khu hệ ếch nhái bò sát, các nhà nghiên cứu còn đi sâu vào việc tìm hiểu đặc điểm sinh thái, sinh học; đa dạng sinh học của các quần thể ếch nhái bò sát
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo Hoàng Xuân Quang, 1993 [16] ở Việt Nam những nghiên cứu ếch nhái
bò sát được tiến hành bắt đầu từ khi các nhà khoa học phương tây tìm đến nước
ta Khoảng vào những năm cuối thế kỷ XIX, Các nghiên cứu do các nhà khoa học nước ngoài tiến hành như:
Tirant (1885)., Bonlenger (1903)., Smith (1921, 1923, 1924,…)., trong đó đáng chú ý là công trình của Bouret R và các cộng sự trong khoảng thời gian từ 1924 –
1944 đã thống kê, mô tả 177 loài và phụ loài thằn Lằn, 245 loài và phụ loài Rắn,
44 loài và phụ loài Rùa trên toàn Đông Dương trong đó có nhiều loài ở miền Bắc Việt Nam (Bouret R., 1936, 1941, 1942) [30] Có lẽ Bottger là người đầu tiên nói đến ếch nhái bò sát vùng Bắc Trung Bộ trong tài liệu “Aafzhlung Einer Liste von Reptilen Und Batrachien ans Annam” Tuy nhiên các nghiên cứu chủ yếu tập trung điều tra khu hệ, xây dựng danh lục ếch nhái bò sát
Trang 11Sau đó các công trình nghiên cứu bị gián đoạn do chiến tranh mãi đến năm
1954 sau khi hoà bình lập lại công tác điều tra động vật trong đó có ếch nhái bò sát được tiến hành ở miền Bắc nhiều công trình đã được nghiên cứu như:
Năm 1974 – 1975 Uỷ ban khoa học và kỷ thuật nhà nước tổ chức đoàn kiểm tra nghiên cứu ở một vài địa điểm phía Bắc của vùng Bắc Trung Bộ kết quả của đợt khảo sát này được công bố vào những năm sau
Năm 1977, Đào Văn Tiến xây dựng đặc điểm phân loại và khoá định loại ếch nhái Việt Nam [22], tiếp đó năm 1979 tác giả tiếp tục thống kê và xây dựng khoá định loại cho 77 loài, trong đó có 6 loài lần đầu tiên phát hiện ở Việt Nam [23] Đến năm 1981, tác giả nghiên cứu các đặc điểm hình thái, phân loại và xây dựng khoá định loại gồm 165 loài Rắn thuộc 9 họ, 69 giống ở Việt Nam [24, 25] Năm 1978 Lê Hữu Thuận, Hoàng Đức Đạt, Trần Văn Minh đã thông báo kết quả điều tra ở địa điểm phía Nam của vùng và bổ sung 13 loài ếch nhái bò sát Năm 1981, trong công trình nghiên cứu “ kết quả điều tra cơ bản động vật miền Bắc Việt Nam”, Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc [9] đã thống kê
ở miền Bắc có 159 loài bò sát thuộc 72 giống, 19 họ, 2 bộ và 69 loài ếch nhái thuộc 16 giống, 9 họ, 3 bộ [5] Cùng thời gian này, Nguyễn Văn Sáng nghiên cứu khu hệ Rắn trên toàn miền Bắc đã thống kê phát hiện 89 loài thuộc 6 họ, 1 bộ Trong đó có 14 loài Rắn độc, bổ sung cho danh lục Rắn ở miền Bắc 6 loài, 57 loài tìm thấy ở địa điểm mới [18]
Năm 1985, các tác giả Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng [6] báo cáo danh lục khu
hệ ếch nhái bò sát Việt Nam gồm 160 loài bò sát và 90 loài ếch nhái Các tác giả còn phân tích sự phân bố địa lý, phân bố theo sinh cảnh và ý nghĩa kinh tế của các loài
Năm 1985, Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc [10] trong tuyển tập báo cáo kết quả điều tra thống kê động vật miền Nam của viện sinh thái về tài nguyên sinh vật, viện khoa học Việt Nam đã nói tới các loài ếch nhái bò sát ở vùng Bắc Trung Bộ Các tác giả đã đề cập đến sự phân bố ếch nhái ở các hệ sinh thái trong
đó có cả hệ sinh thái nông nghiệp Có thể đây là đợt tu chỉnh đầu tiên và tương đối đầy đủ hơn về ếch nhái và bò sát ở nước ta
Trang 12Từ năm 1990 trở lại đây Việc điều tra thành phần loài ếch nhái bò sát ở các khu
hệ vẫn tiếp tục Có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến phân tích sự phân bố các loài theo sinh cảnh, rải rác có nêu lên vai trò của ếch nhái bò sát trong các hệ sinh thái nông nghiệp
Năm 1993 trở lại đây, Hoàng Xuân Quang [16] đã thống kê danh sách ếch nhái
bò sát ở các tỉnh Bắc Trung Bộ gồm 128 loài trong đó ếch nhái có 7 họ, 14 giống,
34 loài Nhóm bò sát có 17 họ, 59 giống, 94 loài kèm theo phân tích về sự phân
bố địa hình, sinh cảnh và quan hệ ái tình với các khu hệ ếch nhái bò sát trong nước, các khu hệ lân cận trong vùng Phương Đông Tác giả cũng đề cập đến phân bố thành phần ếch nhái ở hệ sinh thái nông nghiệp
Trong những năm gần đây việc nghiên cứu ếch nhái bò sát ở các vườn Quốc Gia cũng được đẩy mạnh Năm 1995, Ngô Đắc Chứng [3] nghiên cứu thành phần loài ếch nhái bò sát ở vườn Quốc Gia Bạch Mã ( Thừa Thiên Huế) đã thống kê được 19 loài ếch nhái, 30 loài bò sát, thuộc 3 bộ, 15 họ
Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc [19] công bố danh lục ếch nhái bò sát Việt Nam gồm 256 loài bò sát, 82 loài ếch nhái ( chưa kể 14 loài bò sát và 5 loài ếch nhái chưa xếp vào danh lục)
Năm 1998, Bryan Stuart, Hoàng Xuân Quang khảo sát khu hệ ếch nhái bò sát ở vườn quốc gia Pù Mát đã công bố 53 loài thuộc 42 giống, 19 họ và 4 bộ [30]
Lê Nguyên Ngật, Nguyễn Văn Sáng (2001) [11] khi tiến hành khảo sát ếch nhái bò sát khu đồi rừng Bằng Tạ, Ngọc Nhị ( Cẩm lĩnh, Bavì, Hà Tây) đã thống
kê được 16 loài ếch nhái và 26 loài bò sát trong đó 8 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam
Năm 2000, Nguyễn Văn Sáng, Hoàng Xuân Quang [18] nghiên cứu thành phần ếch nhái bò sát ở Bến En ( Thanh Hoá) có 85 loài, gồm có 31 loài ếch nhái, 5 loài
bò sát
Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Quảng Trường, Nguyễn Trường Sơn (2000) nghiên cứu ếch nhái ở Yên Tử đã thống kê được 36 loài bò sát, thuộc 13 họ, 3 bô và 19 loài ếch nhái thuộc 6 họ, 1 bộ
Trang 13Định Thị Phương Anh (2000) [1] nghiên cứu khu hệ ếch nhái bò sát khu bảo tồn Sơn Trà (Đà Nẵng) có 34 loài gồm 9 loài ếch nhái và 25 loài bò sát
Nghiên cứu về sinh học, sinh thái lưỡng cư bò sát ở nước ta cũng được tiến hành cùng với các nghiên cứu về khu hệ như sơ lược về đặc điểm sinh thái học của ếch đồng trong tự nhiên của Đào Văn Tiến, Lê Vũ Khôi (1965) Tài liệu chuyên khảo về đời sống ếch nhái của Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Quốc Thắng (1977) [4]…
Năm 1985, Trần Kiên đã nghiên cứu về sinh thái học và ý nghĩa kinh tế của Rắn Hổ Mang châu Á ( Naja naja Linnaeus, 1758) ở đồng bằng miền Bắc Việt Nam Ngoài những đặc điểm hình thái, chủ yếu tác giả đã nghiên cứu những dấu hiệu giải phẫu về sinh dục, mô học, tinh hoàn, ngoài ra còn tiến hành một số thực nghiệm ở trại Rắn giống Vĩnh Sơn
Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu theo hướng trên của các tác giả như Trần Kiên và Viêng Xay [7] nghiên cứu về một số đặc điểm sinh học của Tắc Kè Gekkogecko ( Linnaeus, 1758) trong điều kiện nuôi Ngoài ra còn có một số công trình của các tác giả như Nguyễn Quốc Thắng, Lê Thị Liễu (1987); Nguyễn Văn Sáng (1998); Ngô Đắc Chứng (1991); Lê Nguyên Ngật (1992); Trần Kiên, Nguyễn Kim Tiến (1997)
Nghiên cứu về đặc điểm hình thái của quần thể Thạch Sùng đuôi sần Hemidactylus frenatus của Ngô Thái Lan, Trần kiên (2000) và nghiên cứu về dinh dưỡng của chúng trong điều kiện nuôi
Năm 2001, Hoàng Xuân Quang, Hoàng Ngọc Thảo nghiên cứu về đặc điểm sinh học của 2 quần thể Nhông Xanh (Calotes versicolor Daudin, 1802) ở Nghĩa Đàn và Thành Phố Vinh Nghệ An [20]
Năm 2004, Hoàng Xuân Quang và cộng sự đã nghiên cứu về quá trình lột xác của Rắn Ráo Trâu và quan hệ giữa lột xác, tăng trưởng với các yếu tố môi trường trong điều kiện nuôi tại Thị Xã Cửa Lò, Nghệ An [16]
Như vậy những nghiên cứu từ trước từ trước đến nay ở Việt Nam chủ yếu về thành phần loài, điều tra khu hệ và xây dựng danh lục ếch nhái bò sát cho các vùng Bên cạnh đó là các nghiên cứu về sinh học sinh thái của một số loài trong
Trang 14điều kiện nuôi Riêng đối với công tác nghiên cứu ếch nhái bò sát trong hệ sinh thái đồng ruộng ở Việt Nam thì chưa được tiến hành bao nhiêu
Năm 2002, Nguyễn Thị Bích Mẫu [10] khi tiến hành nghiên cứu đa dạng sinh học ếch nhái bò sát thiên địch trên hệ sinh thái đồng ruộng ở Quỳnh Lưu, Nghệ
An đã xác định được trên sinh quần nông nghiệp Quỳnh Lưu, Nghệ An có 10 loài ếch nhái, 7 giống, 5 họ, 1 bộ và 16 loài bò sát thuộc 13 giống, 6 họ, 1bộ
Năm 2002, Hoàng Xuân Quang, Trần Ngọc Lân, Cao Tiến Trung [15] cùng với các cộng sự khi tiến hành nghiên cứu cơ sở phục hồi và phát triển một số động vật thiên địch nhóm bò sát lưỡng cư ở hệ sinh thái đồng ruộng khu vực Quỳnh Lưu, Vinh, Thị Xã Hồng Lĩnh và Xã Cẩm Mỹ thuộc 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh
đã xác định được 10 loài ếch nhái thuộc 5 họ, 1 bộ và 18 loài bò sát thuộc 6 họ, 1
bộ Bên cạnh đó các tác giả đã đi sâu nghiên cứu mối tương quan mật độ giữa các loài thiên địch – sâu hại và đánh giá vai trò của thiên địch trong việc phòng trừ tổng hợp dịch hại trong hệ sinh thái nông nghiệp
Như vậy những nghiên cứu về sinh học ếch nhái bò sát ở Việt Nam chưa được nhiều Trong các công trình trên, các tác giả có đề cập đến sự phân bố, đa dạng ếch nhái bò sát chủ yếu ở các sinh cảnh, Trong đó có sinh cảnh đồng ruộng như Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1985) [10] Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Quốc Thắng (1977) [8] Các tác giả có nêu lên vai trò ếch nhái bò sát trong hệ sinh thái nông nghiệp…
1.3 Cơ sở khoa học
Cóc là loài động vật thuộc lớp lưỡng cư, có những đặc điểm cơ bản sau :
Lưỡng cư là những động vật Có xương sống đầu tiên chuyển từ môi trường nước lên cạn nên mang các đặc điểm của các động vật Có xương sống ở cạn nhưng chưa hoàn chỉnh và có các đặc điểm của động vật Có xương sống ở nước
Bộ xương đã hoá xương, cột sống chia thành 4 phần, một số loài cột sống có xương sườn Sọ khớp động với cột sống nhờ 2 lồi cầu chẩm, xương hàm trên gắn với hộp sọ Sụn móng hàm biến thành xương tai (xương bàn đạp nằm trong tai giữa)
Trang 15Thần kinh trung ương phát triển: não trước phát triển chia thành 2 bán cầu não với não thất rõ ràng, nóc não có chất thần kinh làm thành vòm não cổ Cơ quan cảm giác phát triển thích nghi với đời sống trên cạn như: Mắt có thấu kính lồi, giác mạc lồi, thính giác có tai giữa với xương bàn đạp, khứu giác thông với hầu qua lỗ mũi trong
Hô hấp bằng da, phổi (ở con trưởng thành) và bằng mang (đối với ấu trùng),
do đó xương nắp mang tiêu giảm hoàn toàn
Hệ tuần hoàn phát triển cao hơn cá: Tim có 3 ngăn, 2 vòng tuần hoàn
Cơ quan tiêu hoá đã hình thành lưỡi chính thức, ống tiêu hoá và tuyến tiêu hoá
có cấu tạo điển hình
Bên cạnh đó Lưỡng cư còn thể hiện một số đặc điểm nguyên thủy như: + Cơ quan bài tiết là trung thận
Da của lưỡng cư là cơ quan hô hấp vô cùng quan trọng Da trần, ẩm thuận lợi cho sự khuếch tán khí và độ ẩm của da giảm cùng độ ẩm của môi trường ngoài Không khí càng khô sự hô hấp càng không thuận lợi và thân nhiệt càng giảm dẫn đến bị chết Mức độ hô hấp qua da cũng thay đổi tùy loài và tùy nơi ở Các loài sống ở nơi khô ráo, thường có da hóa sừng để giảm bớt sự thoát hơi nước ở bề mặt thân, hơn nữa chúng hoạt động vào buổi chiều và ăn đêm nên tránh được thời tiết khô ráo ban ngày
Thân nhiệt của lưỡng cư không những tùy thuộc nhiệt độ của môi trường như ở cá và bò sát mà thường thấp hơn từ 2 - 30C Thí dụ một loài nhái bén ở
Trang 16California khi trời lạnh nhiệt độ cơ thể cao hơn nhiệt độ không khí nhưng khi trời nóng nhiệt độ cơ thể thấp hơn
Cấu tạo đặc biệt của da lưỡng cư làm chúng không thể sống trong nước có hàm lượng muối 1 - 1,5% vì ở nồng độ này cân bằng thẩm thấu qua da bị phá hủy Do đó lưỡng cư không thấy ở vùng nước lợ cũng như ở các đảo đại dương Tuy nhiên một số loài vẫn có khả năng sống ở nước lợ Ở Philippin có loài ếch
Rana moodei sống trong hang cuả nước lợ và ấu trùng chịu đựng hàm lượng
muối 2,1% Ở các vùng ven biển nước ta, các loài cóc, nhái vẫn sống kiếm ăn bên các vũng nước lợ Ðộ pH cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của trứng lưỡng
cư khi pH giảm thì trứng lưỡng cư có thể không phát triển (một số loài trứng chịu đựng đến pH= 3,8)
Về mặt sinh thái học ta phân biệt ba nhóm: Nhóm ở cây, nhóm ở đất và nhóm ở nước Nhóm ở cây và ở đất gồm chủ yếu các loài thuộc bộ không đuôi
+ Nhóm ở cây phổ biến nhất, đa số thuộc hai họ Nhái bám (Rhacophoridae)
và Nhái bén (Hylidae) Các loài ở cây có cấu tạo đặc biệt thích hợp cho sự leo trèo Nhái bén (Hyla) có ngón chân nở rộng thành giác bám, có thêm rèm biểu bì
và tuyến tiết chất dính giúp con vật bám được vào mặt phẳng thẳng đứng Nhiều
loài nhái bám như hót cổ (Rhacophorus) có đầu ngón chân nở rộng thành giác
bám, có đốt sụn trung gian giữa hai đốt ngón chân làm chúng dễ dàng nắm cành cây để leo trèo Hơn nữa một số loài có màng da nối ngón chân làm chúng có thể nhảy chuyền từ cành này sang cành khác, có khi xa đến 10m (chẫu xanh ở rừng Cúc Phương) Màng này giúp hạn chế tốc độ rơi của con vật
+ Nhóm ở đất gồm nhiều loài ở bộ không đuôi, một số ít loài bộ có đuôi và không chân Các loài không đuôi sống ở đất thường tìm kiếm những hang hốc, khe đất trong tự nhiên để làm nơi ở Một số loài này có thể đào đất bằng chân sau, các loài này đều có chi ngắn và khỏe, thiếu khả năng nhảy xa Cóc đào đất bằng cách dùng chân sau đạp lần lượt và dũi phần sau thân vào đất Cử động lần lượt của các chân dẫn đến hình thành khớp động giữa xuơng chậu và đốt sống chậu nhờ mấu bên rất lớn Ngoài ra da đầu của cóc cũng hóa xương một phần để bảo vệ đầu con vật khỏi bị thương do đất cát rơi xuống Một số loài của bộ không
Trang 17chân chuyên đào đất như ếch giun (Ichthyophis) thường xuyên sống trong đất, có
cơ thể hình rắn, thiếu chi, một số giác quan như tai, mắt bị tiêu giảm nhưng có đầu cứng như một công cụ để đào hang
+ Nhóm ở nước gồm chủ yếu các loài thuộc bộ có đuôi và một số nhỏ loài thuộc bộ không đuôi Các loài có đuôi sống dưới nước có thân dài, chi nhỏ, đuôi
dài với vây đuôi phát triển Cá cóc khổng lồ (Megalobatrachus) sống thường
xuyên ở sông có vây đuôi rất lớn Loài sống ở suối, thích nghi với nước chảy nhanh, có chi phát triển và có vuốt giúp con vật bám vào giá thể, do môi trường nhiều oxy nên phổi bị tiêu biến, hoàn toàn thở bằng da như cá cóc vuốt
(Onychodactylus) Loài sống ở sông hay hồ ngầm thiếu ánh sáng thường thiếu
sắc tố và mắt nhỏ (như cá cóc mù Proteus) Số loài của bộ không đuôi sống ở
nước không nhiều Hầu hết chỉ có một phần đời sống trong nước, thường vào thời kỳ sinh sản Chúng có xương chậu khớp động với đốt sống chậu, có bàn chân sau ngắn và màng da nối các ngón chân (nhái, chẫu ) Một số loài con đực
có túi thanh âm có tác dụng như cái phao bơi (cóc nước) Ðặc biệt một số loài sống ở nước chảy nhanh như suối, thác có giác bám ở đầu ngón chân (ếch ang, ếch sần ) giúp chúng có thể bám chặt vào vách đá dựng thẳng, ngay trong lòng nước
- Thức ăn
Lưỡng cư có thể ăn động vật, thực vật và ăn tạp Nhóm ăn động vật phổ biến
hơn cả, nhất là ở các cá thể trưởng thành Thức ăn chủ yếu gồm côn trùng, giun
đất, giáp xác, nhện, thân mềm, cá
Chế độ ăn thay đổi tùy theo tuổi Hầu hết nòng nọc của các loài ếch đều ăn chất bã động vật và thực vật Nhái con ăn chủ yếu sâu bướm, kiến, nhện Trong khi nhái lớn ăn nhiều nhóm côn trùng Ếch đồng còn nhỏ ăn những động vật có
vỏ mềm (châu chấu nhỏ, kiến, nhện) còn ếch đồng lớn ngoài ăn côn trùng còn ăn cua, ốc, giun, có khi cả cá con Có rất nhiều trường hợp ếch ăn cả nòng nọc của chúng (hiện tượng ăn đồng loại)
Thành phần thức ăn thay đổi tùy theo tầm vóc của loài vật Các loài lưỡng cư
có kích thước trung bình và lớn (ếch đồng, nhái bám lớn ) có miệng rộng, ăn
Trang 18nhiều loại thức ăn và các nhiều cỡ côn trùng có vỏ cứng Các loài lưỡng cư có cỡ nhỏ, miệng hẹp (ểnh ương, cóc nước, nhái bầu ) chỉ ăn một số ít loài, chủ yếu các loại côn trùng có vỏ mềm (kiến, mối )
Ở nước ta, đa số các loài lưỡng cư ăn tạp Cá cóc Tam Ðảo
(Paramesotriton) ăn côn trùng, nhện, giun, nòng nọc, rong rêu Ếch đồng ăn 22
loại thức ăn khác nhau, nhái 18 loại chủ yếu là côn trùng Cóc nhà không những
ăn nhiều côn trùng, nhện, nhiều chân mà còn ăn cả thực vật (hạt cỏ, thóc, hạt bí ) Ở vùng nhiệt đới, thành phần thức ăn phong phú, nên một số loài lưỡng cư
chuyển sang ăn chuyên Ếch giun (Ichthyophis) chuyên ăn giun đất, cóc rừng
(Bufo galeatus) ở rừng nứa chuyên ăn kiến, ếch gai (Rana spinosa) chuyên ăn
ếch nhái khác
- Cách bắt mồi thay đổi tùy loài
Cá cóc sống dưới nước bắt mồi bằng hàm, ngoạm các loại thức ăn tiếp xúc với miệng còn chân trước có vai trò giữ mồi cho chặt Phần lớn các loài sống trên cạn bắt mồi bằng lưỡi, bắt những con mồi cử động và loại bỏ các vật không ăn được Lưỡi phóng ra ngoài nhanh như tia chớp, dính con mồi vào đầu lưỡi, rồi nhanh chóng thu vào miệng Khả năng nhịn đói của lưỡng cư cũng khá cao: nòng nọc đến cả tháng, cóc nhà đến 1 năm, cá cóc có đuôi mù đến 8 năm
- Thích nghi tự vệ
Lưỡng cư có nhiều kẻ thù trong động vật Có xương từ cá đến thú và động vật Không xương sống (nhện độc, bò cạp, rết ) Sự tự vệ của chúng thường có tính chất thụ động, chúng chạy trốn kẻ thù và tìm nơi ẩn nấp.Ví dụ cóc bùn khi gặp nguy hiểm dùng chân sau đào một cái lỗ trong vài phút rồi trốn dưới đó Nhiều loài có màu sắc mang tính chất tự vệ rõ rệt Nhái bám sống trên thân cây có màu vàng đất hay màu nâu (hót cổ) Các loài bám trên lá cây thường có
màu xanh (chàng hiu) Nhái bám nhỏ (Philautus) dễ lẫn trong đám địa y Nhiều
loài ếch có vết đen trên thân làm ngụy trang những bộ phận chủ yếu của con vật (mắt, đùi, ống chân ) Cóc thường dễ lẫn với đám đất Nhiều loài lưỡng cư có thể thay đổi màu sắc cho phù hợp với môi trường (ếch, nhái, chàng hiu ) Một
số loài lưỡng cư khác có màu sắc sặc sỡ, có tính chất báo hiệu, mặt bụng của cá
Trang 19cóc Tam Ðảo có màu da cam, cóc tía (Bombina) khi gặp nguy hiểm, chúng cong
lưng, nằm ngửa để lộ phần da dưới bụng có màu sắc sặc sỡ để kẻ thù phải sợ Một số loài lưỡng cư có khả năng giả chết Cóc tía, nhái bầu khi gặp nguy hiểm thì nắm ngửa, nhắm mắt và nín thở
Một số loài lưỡng cư không đuôi phình thân thật lớn để dọa kẻ thù, miệng
mở to để dọa nạt Thân phồng lớn cũng giúp con vật ẩn chật trong khe hốc khó bị lôi ra ngoài (ểnh ương, cóc, nhái )
Một số loài lưỡng cư cỡ lớn khi bị tấn công đã tìm cách cắn lại
(Amphiuma), có loài phát ra tiếng kêu
Vũ khi tự vệ lợi hại nhất của lưỡng cư là các tuyến da tiết ra chất độc Một
số tuyến độc rõ ràng phân tán hay tập trung thành các khối tuyến để bảo vệ các nơi trọng yếu của cơ thể như ở đầu Thông thường chất độc kích thích màng nhầy của miệng kẻ thù làm cho chúng không dám tấn công liên tiếp Chất độc của cóc
tiêm vào chim thú sẽ làm ngừng hô hấp và liệt cơ Nọc của cóc Bufo marima làm
chết chó khi cắn phải con vật Ðặc biệt ếch độc Nam Mỹ có nhựa rất độc, các thợ săn Colombia dùng để tẩm tên, có thể giết chết khỉ lớn hoặc báo
Vì cóc có những điểm thuận lợi cho phòng trừ côn trùng – sâu hại như vậy nên cóc là đối tượng sử dụng phòng trừ sâu hại, côn trùng
Theo quan điểm quản lý tổng hợp dịch hại cây trồng (IPM) cho rằng “ Phục
hồi và sử dụng thiên địch tự nhiên nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng của các sâu hại, hạn chế việc sử dụng thuốc BVTV là biện pháp cốt lõi của phòng trừ sâu hại” Mối quan hệ này được thiết lập dựa trên sự đa dạng cân bằng giữa: sâu hại – thiên địch – cây trồng
Cóc nhà là loài thiên địch sử dụng côn trùng, sâu hại làm thức ăn và mối quan hệ này chủ yếu là quan hệ vật ăn thịt – con mồi, trong mối quan hệ này, mật độ cóc phụ thuộc chặt chẽ vào mật độ côn trùng, sâu hại Sự gia tăng số lượng côn trùng, sâu hại kéo theo sự gia tăng sự gia tăng số lượng của cóc, sự gia tăng này đến mức độ nhất định sẽ kìm hãm số lượng và làm giảm mật độ côn trùng, sâu hại
Số lượng cá thể của bất kỳ một loài nào đều không ổn định mà có sự thay đổi theo mùa, theo năm, phụ thuộc vào yếu tố nội tại của quần thể và điều kiện môi trường (
Trang 20Trần Kiên, 1976) [10] Số lượng cá thể của bất cứ loài nào cũng không giảm tới mức
biến mất và cũng không tăng tới mức vô tận, khuynh hướng này được hình thành nhờ
quá trình điều hoà tự nhiên trong một môi trường không bị phá vỡ
Trong quan hệ ăn thịt, cóc có vai trò lớn đối với hệ sinh thái nông nghiệp góp
phần ổn định năng suất và giảm thiểu thiệt hại do côn trùng, sâu bệnh gây ra
Theo K.Watl (1976) cho rằng: Lý thuyết quản lý nguồn lợi xuất phát từ những
nguyên lý sinh thái học Đó là năng suất tối đa của quần thể và hình thức đấu
tranh chống lại các loài có hại đảm bảo tính bền vững cố định
Cóc thường tìm kiếm hang hốc ở bờ ruộng, chui lùn dưới đất ruộng làm nơi trú
ẩn nó sống ở khu vực dân cư và ven làng Sự phân bố này cũng tương đồng với
sự phân bố các nhóm thức ăn tương ứng
Sinh cảnh đồng ruộng có nhiều sinh cảnh phù hợp với đời sống của cóc đồng
thời tập trung nhiều loài côn trùng, sâu hại là nguồn thức ăn phong phú cho cóc
1.4 Cơ sở thực tiễn
Hàng năm, sâu bệnh phá hoại rất mạnh trên cây trồng gây tổn thất rất lớn cho người
sản xuất Vì thế để phòng trừ có hiệu quả nhanh người ta đã sử dụng thuốc BVTV còn các biện pháp phòng trừ khác hiệu quả chưa cao và thời gian dài nếu dùng thì sâu bệnh đã phá hoại hết cây trồng
Biện pháp hóa học để lại hậu quả lâu dài làm cho môi trường sống bị huỷ diệt
làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến con người và sinh vật khác
Trước thực trạng trên, việc nghiên cứu cóc nhà để phòng trừ côn trùng hại rau
là điều hết sức cần thiết
1.5 Những vấn đề c n tồn tại và những vấn đề mà đề tài luận văn tập trung
nghiên cứu, giải quyết
Các tác giả chỉ nghiên cứu ở mức phân loại, xây dựng khoá định loại, mô tả,
danh lục các loài và đặc điểm sinh học, sinh thái chứ chưa nghiên cứu sâu vào
chức năng, vai trò từng cá thể để từ đó sử dụng nó phục vụ cho con người
Những vấn đề mà luận văn tập trung nghiên cứu giải quyết là thử nghiệm có
nhà trên đồng ruộng về trọng lượng, mật độ, lượng côn trùng - sâu hại cóc ăn
được để đánh giá khả năng cóc nhà tiêu diệt côn trùng – sâu hại và đem lại năng
suất cho cây Rau phục vụ cho con người