Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích khảo sát sự ảnh hưởng của chất bảo quản, chế độ thanh trùng và sự ảnh hưởng của nhiệt độ, ánh sáng trong quá trình bảo quản gel lô hội. Gel lô hội (Aloe vera) được ứng dụng làm màng bao thực phẩm ở dạng phun hoặc màng ăn được nhờ hoạt tính của các hợp chất polysaccharide (PS) có trong gel. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1KHẢO SÁT SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ ĐẾN QUÁ TRÌNH BẢO QUẢN GEL LÔ HỘI ỨNG DỤNG LÀM MÀNG BAO THỰC PHẨM
Nguyễn Phan Khánh Hòa * , Huỳnh Phúc Duy, Nguyễn Bảo Toàn, Phạm Thị Cẩm Hoa
Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm TP.HCM
*Tác giả liên lạc: hoanpk@cntp.edu.vn
TÓM TẮT
Gel lô hội (Aloe vera) được ứng dụng làm màng bao thực phẩm ở dạng phun hoặc màng ăn được nhờ hoạt tính của các hợp chất polysaccharide (PS) có trong gel Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích khảo sát sự ảnh hưởng của chất bảo quản, chế độ thanh trùng và sự ảnh hưởng của nhiệt độ, ánh sáng trong quá trình bảo quản gel lô hội Kết quả cho thấy khi dịch gel được bổ sung acid citric 1% và acid ascorbic 0.5%, sau đó thanh trùng ở 60 o C trong 45 phút và bảo quản ở điều kiện tối, lạnh (4 - 6 o C) cho chất lượng gel ổn định, hàm lượng PS ít biến đổi Sau 4 tuần bảo quản, lượng PS đo được là 4282.40 ± 70.02 µg/100g chất khô, giảm 0.34 % so với trong mẫu ban đầu (4298.19 ± 88.42 µg PS /100g chất khô) Chuối tiêu (Musa acuminate) sau khi được nhúng trong gel (nồng độ 25%), có thể duy trì được những chỉ tiêu chất lượng về khối lượng, độ cứng, hàm lượng chất khô hòa tan và acid tổng trong 16 ngày
Từ khóa: Aloe vera, ánh sáng, chất bảo quản, nhiệt độ, polysaccharide, thanh trùng
THE INFLUENCE OF SOME FACTORS ON PRESERVATION ALOE VERA GEL
USING AS FOOD COATING Nguyen Phan Khanh Hoa*, Huynh Phuc Duy, Nguyen Bao Toan, Pham Thi Cam Hoa
Ho Chi Minh city University of Food Industry
*Corresponding Author: hoanpk@cntp.edu.vn
ABSTRACT
Aloe vera gel is used as food coating thanks to the biological activities of polysaccharide (PS)
in this gel Treatmented gel processing is one of the factors determining the amount of PS, affecting the food preservation capabilities of aloe vera gel This survey study the effects of the preservative substances, the parametersof pasteurization, the effects of temperature and light
in preservative process of aloe vera gel The results show thatwhen adding acid citric 1% and acid ascorbic 0.5%, pasteurizing gel at 60 o C in 45 minutes, and saving gel in dark and cold (0
- 4 o C), the quality of aloe vera is more stable, the change of PS concentration in gel is insignificant After 4 weeks saving gel, PS concentration is 4282.40 ± 70.02µg/100 g dry weight, reducing only 0.34% to compared with the original (4298.19 ± 88.42 µg PS /100g dry weight) The bananas (Musa acuminate) after being embedded in aloe vera gel (25% concentration), can maintain the quality standards in terms of weight, hardness, soluble dry matter and total acid in 16 days
Keywords: Aloe vera, light, pasteurization, polysaccharides, preservative substances,
temperature
MỞ ĐẦU
Lô hội (nha đam) tên khoa học là Aloe vera
thuộc giới Plantantae, ngành Magnoliopsida,
bộ Asparagales, họ Asphodelacea Hiện nay
đã có hơn 360 loài lô hội được biết đến, trong
đó loài Aloe vera Linne var Sinensis Beger,
tức cây lô hội lá nhỏ là loài duy nhất được tìm
thấy ở Việt Nam [1] Phần gel sáng bên trong
lớp lá xanh được ứng dụng rộng rãi làm thực
phẩm và dược phẩm [2],[ 3]; Những đặc tính
này của gel lô hội chủ yếu do hợp chất
polysaccharide (PS) quyết định PS trong gel
lô hội có tính năng phòng bệnh, tác dụng chống viêm, chữa lành vết thương, chống vi khuẩn, chống vi rút, các hoạt động chống nấm, chống đái tháo đường và chống ung thư, kích thích tạo máu và chống oxy hóa [4] PS còn được nghiên cứu làm màng bao thực phẩm ở dạng phun hoặc màng ăn được Những đặc tính của màng bao gel lô hội như giúp kéo dài thời gian bảo quản thực phẩm, chống tác nhân oxy hoá, ngăn cản sự xâm nhập của hơi ẩm
Trang 2không khí, ngăn ngừa hoạt động vi sinh vật
Hiện nay, màng gel lô hội được nghiên cứu
rộng rãi để bảo quản các loại trái cây, như M
Sharmin và cộng sự (2016) đã sử dụng màng
gel 1.5% để bảo quản đu đủ, duy trì được
những chỉ tiêu như màu sắc, acid tổng, hàm
lượng nước, hàm lượng vitamin C trong đủ đủ
lên tới 15 ngày, mặc dù đặt mẫu ở nhiệt độ
phòng (29 – 30oC) [5] Hay theo một nghiên
cứu khác của J M Vieira và cộng sự (2016),
nhóm đã sử dụng gel lô hội 0,5% (v/v) có kết
hợp thêm với 0.5% (w/v) chitosan, 0.5% (w/v)
glycerol + 0.1% (w/v) Tween 80 để kiểm soát
sự phát triển của các đối tượng vi sinh vật gây
hư hỏng trên trái việt quất (blueberry) Nếu
như mẫu đối chứng nhiễm nấm mốc chỉ sau 2
ngày với mật độ 2.00 ± 0.32 log CFU/g, thì
mẫu có nhúng gel sau 9 ngày mới có dấu hiệu
nhiễm nấm mốc, mật độ đo chỉ 1.30 ± 0.35 log
CFU/g, vẫn thấp hơn so với mẫu đối chứng tại
ngày bảo quản thứ 2 [6] Ngoài ra còn rất
nhiều các nghiên cứu khác như nghiên cứu của
C Adetunji và cộng sự (2014) về sử dụng gel
lô hội để bảo quản dưa leo, M A García và
cộng sự (2014) sử dụng để bảo quản cà chua
hay N Padmaja và S J D Bosco đã kéo dài
được thời gian bảo quản trái hồng xiêm lên 20
ngày khi bằng màng gel lô hội 50% (mẫu đối
chứng hư hỏng sau 10 ngày) đã chứng minh
được hiệu quả của gel lô hội trong bảo quản
nông sản [7] [8] [9]
Tuy nhiên, bảo quản gel lô hội là một vấn đề
hoàn toàn mới và có ý nghĩa thiết thực để
hướng tới ứng dụng rộng rãi hơn dịch gel với
vai trò màng gel thực phẩm Hiện nay, chưa
có nghiên cứu nào đề cập tới vấn đề này Gel
lô hội với thành phần chủ yếu là các PS, dễ
dàng bị thủy phân bởi các enzyme có sẵn trong
nguyên liệu hay các enzyme do vi sinh vật từ
môi trường mang vào Các PS cũng dễ dàng
bị oxy hóa dưới những tác nhân oxy hóa, hay
dưới tác động của ánh sáng và nhiệt độ Lựa
chọn được điều kiện bảo quản dịch gel lô hội
sẽ duy trì được lượng PS ít biến đổi sẽ làm
tăng tính ứng dụng của loại màng gel này
Khảo sát được thực hiện nhằm chọn ra hàm
lượng các chất phụ gia bổ sung vào dịch gel,
chế độ thanh trùng dịch gel và khảo sát điều
kiện bảo quản dịch gel thích hợp
NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
Nguyên liệu
Lô hội sử dụng trong khảo sát là lô hội giống
Mỹ, được mua từ siêu thị AEON MALL Tân Phú Lựa chọn các lá lô hội tươi, màu xanh lục, không bị sâu bệnh, dập nát Mỗi lá cân nặng 0.5 – 1.0 kg, độ dày của lá lớn hơn 1.5
cm, chiều dài lá từ 45 – 50 cm, bề rộng từ 8 –
10 cm
Quy trình tạo dịch gel lô hội:
Lá (bẹ) lô hội sau khi rửa sạch bằng nước và
để khô tự nhiên trong bóng râm, sẽ được tách
bỏ phần vỏ xanh bên ngoài, thu lấy phần gel bên trong đem nghiền nát
Tiến hành xử lý gel thô bằng sóng siêu âm với công suất 262.5W trong thời gian 6 phút, sau
đó đồng hóa 4 phút ở tốc 8000 vòng/phút, kết hợp ủ gel ở nhiệt độ 80oC trong 3 giờ và lọc qua rây có kích thước lỗ 0.5 cm [10] Mỗi khảo sát sử dụng 100ml dịch gel đã xử lý
Thí nghiệm 1: Khảo sát sự ảnh hưởng của acid citric và acid ascorbic đến chất lượng gel lô hộisau quá trình bảo quản
Dịch gel sau xử lý được bổ sung các acid citric
và acid ascorbic với hàm lượng khác nhau (Bảng 1) Sau đó, mẫu được rót vào túi PA, đóng kín và thanh trùng ở 70oC trong 15 phút Đặt mẫu trong điều kiện nhiệt độ và ánh sáng phòng, theo dõi trong 4 tuần
Bảng 1 Bố trí thí nghiệm khảo sát sự ảnh
hưởng của acid citric và acid ascorbic đến
chất lượng Gel lô hội sau bảo quản
Hàm lượng acid ascorbic (%
w/v)
0 (Xo) (X1) 0.5 (X2) 1.0 (X3) 1.5
0 (Yo) XOYO X1YO X2YO X3YO 0.5
(Y1) XOY1 X1Y1 X2Y1 X3Y1
1.0 (Y2) XOY2 X1Y2 X2Y2 X3Y2
1.5 (Y3) XOY3 X1Y3 X2Y3 X3Y3
Chỉ tiêu đánh giá: Hàm lượng PS
Thí nghiệm 2: Khảo sát sự ảnh hưởng của chế độthanh trùng đến chất lượng gel lô hội sau quá trình bảo quản
Dịch gel sau xử lý được bổ sung các acid citric
và acid ascorbic với hàm lượng đã xác định được từ thí nghiệm 1 Sau đó, mẫu được rót
Trang 3vào túi PA, đóng kín và thanh trùng các chế
độ khác nhau về thời gian và nhiệt độ (Bảng
2) Đặt mẫu trong điều kiện nhiệt độ và ánh
sáng phòng, theo dõi trong 4 tuần
Bảng 2 Bố trí thí nghiệm khảo sát sự ảnh
hưởng chế độ thanh trùng đến chất lượng Gel
lô hội sau bảo quản
Thời gian (phút)
15 (A1) 30 (A2) 45 (A3)
o C) (B1) 60 A1B1 A2B1 A3B1
70
(B2)
A1B2 A2B2 A3B2
80
(B3) A
Chỉ tiêu đánh giá: Hàm lượng PS
Thí nghiệm 3: Khảo sát sự ảnh hưởng của
ánh sáng và nhiệt độ môi trường đến đến
chất lượng gel lô hội sau quá trình bảo quản
Dịch gel sau xử lý được bổ sung các acid citric
và acid ascorbic với hàm lượng đã xác định
được từ thí nghiệm 1 và thanh trùng trong túi
PA đóng kín theo chế độ đã xác định từ thí
nghiệm 2 Sau đó, đặt mẫu trong điều kiện
nhiệt độ và ánh sáng phòng khác nhau (Bảng
3), theo dõi trong 4 tuần
Bảng 3 Bố trí thí nghiệm khảo sát sự ảnh
hưởngcủa ánh sáng và nhiệt độ môi trường
đến chất lượng Gel lô hội sau bảo quản
Điều kiện nhiệt độ (oC) Nhiệt độ phòng
(28-30 oC) (T)
Nhiệt độ lạnh
(4-6oC) (L)
Ánh sáng
thường
Chỉ tiêu đánh giá: Hàm lượng PS
Thí nghiệm 4: Ứng dụng Gel lô hội trong
bảo quản chuối tiêu
Chuối tiêu sau thu hoạch để nguyên nải và
nhúng vào dịch gel đã được bảo quản trong
điều kiện tối ưu được xác định từ thí nghiệm
1, 2, 3 ở nồng độ 25%.Thời gian nhúng chuối
ngập trong gel là 5 phút Sau đó lấy ra, để khô
tự nhiên và đặt trong rỗ nhựa để trên sàn có lót
giấy báo Chuối sau nhúng được bảo quản ở
nhiệt độ thường, sau mỗi 4 ngày lấy mẫu 1 lần
và tiến hành các đánh giá các chỉ tiêu, so sánh với mẫu đối chứng (không nhúng gel) cho đến khi chuối hư hỏng hoàn toàn
Chỉ tiêu đánh giá: Hàm lượng lượng acid
tổng, hàm lượng chất khô hòa tan, độ cứng, màu sắc, pH, độ giảm khối lượng của chuối
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Phương pháp phân tích mẫu
Phương pháp xác định hàm lượng PS trong gel
lô hội: Đem cô 25 ml dịch gel sau bảo quản đến giảm khoảng ½ thể tích, lấy 10 ml mẫu sau cô đem kết tủa bằng ethanol tuyệt đối (tỉ
lệ 1:2) trong 5 phút Sau đó, ly tâm ở 5500 vòng/phút trong 15 phút Thu tủa, hoà tan bằng nước cất, định mức thành 50 ml và xác định hàm lượng PS bằng phương pháp phenol – acid sulfuric [11], [12]
Hàm lượng chất khô hòa tan: Đo bằng máy đo
độ Brix
Phương pháp xác định hàm lượng acid tổng
được thực hiện theo TCVN 4589-88: Nguyên
tắc: Thực hiện phản ứng trung hòa hàm lượng
acid có trong mẫu gel với dung dịch NaOH 0.1N từ đó xác định hàm lượng acid tổng tổng mẫu
Độ cứng được đánh giá bằng máy hand – penetrometer: Thiết bị đo gồm hai bộ phận: Test stand (Hãng: Handpi, xuất xứ: Trung Quốc, Model: HL-X-AC, serial: 8134003072)
và Durometer Shore C ( serial: 8278012684)
Thực hiện: Một đầu dò được đâm vào mẫu để
đo và đọc lấy kết quả
Phương pháp xử lý số liệu
Các thí nghiệm được lặp lại 3 lần, thực hiện theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên Các phép
đo được lặp lại 3 lần trên 1 mẫu Sử dụng phần mềm Statgraphic để phân tích phương sai ANOVA và kiểm tra hậu nghiệm bằng LSD các số liệu thu thập được Đồ thị được vẽ bằng
EXCEL 2013
KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN Khảo sát ảnh hưởng của acid citric và acid ascorbic đến chất lượng gel lô hội sau bảo quản
Những tác nhân oxy hóa trong không khí hay
từ các sinh vật khác từ môi trường xâm nhập
có khả năng ảnh hưởng đến các hợp chất có hoạt tính sinh học có trong gel, làm tăng tốc các phản ứng enzyme xúc tác hay hình thành nên các hợp chất polyphenol, từ đó làm thay đổi màu sắc cũng như tính chất vật lý, hóa học
Trang 4của gel lỏng tạo thành Có rất nhiều nghiên
cứu đã đề cập tới việc bổ sung các chất chống
oxy hóa tự nhiên vào gel lô hội để duy trì chất
lượng gel Ví dụ trong khảo sát của Arowora
và cộng sự (2013), ông đã phối trộn vào gel lô
hội với acid ascorbic (2.0 g/l) và acid citric
(4.5 g/l) để làm màng bao cho quả cam, kết
quả cho thấy có thể làm giảm tổn thất đáng kể
về hàm lượng chất khô, khối lượng sản phẩm
và một số thành phần dinh dưỡng so với mẫu
đối chứng [13] Hay theo Marpudi khi bổ sung
acid ascorbic (1.9 - 2.0 g/l) và acid citric (4.5
- 4.5 g/l) vào gel lô hội có thể kéo dài thời gian bảo quản đu đủ tới 15 ngày [14] Acid citric
và acid ascorbic là những chất chống oxy hóa
tự nhiên, được bổ sung vào thực phẩm nhằm ngăn cản những phản ứng gây hư hỏng Điều
đó mở ra khả năng các chất này có thể bảo vệ được gel lô hội, duy trì hàm lượng chất có hoạt tính sinh học quan trọng nhất trong gel là PS Kết quả khảo sát sự ảnh hưởng của acid citric
và acid ascorbic đến chất lượng gel (hàm lượng PS) được thể hiện ở hình 1
Hình 1 Kết quả thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của acid citric, acid ascorbic lên quá trình bảo
quản Gel lô hội
Ghi chú: X0: 0% acid citric, X1: 0.5% acid citric, X2: 1% acid citric, X3: 1.5% acid citric Y0: 0% acid ascorbic, Y1: 0.5% acid ascorbic, Y2: 1% acid ascorbic, Y3: 1.5% acid ascorbic Kết quả thu được (hình 1) thể hiện sự có mặt
acid citric và acid ascorbic làm chất lượng gel
lô hội ổn định hơn, thể hiện qua hàm lượng PS
ít biến đổi hơn so với mẫu đối chứng (XoYo)
Khi tăng dần nồng độ của của acid ascorbic và
acid citric, mức độ giảm của PS trong gel cũng
cải thiện rõ rệt Phân tích các số liệu cho thấy,
khi sử dụng phối hợp acid citric 0.5% và acid
ascorbic 1% (nghiệm thức X2Y1) cho kết quả
tốt nhất Ở các nghiệm thức sử dụng nồng độ
acid citric và acid ascorbic lớn hơn (X2Y2,
X2Y3, X3Y1, X3Y2, X3Y3), mức độ giảm của
PS có tăng lên, tuy nhiên thay đổi không đáng
kể (không có ý nghĩa về mặt thống kê) Hàm
lượng PS trong mẫu gel đo được sau 4 tuần
bảo quản ở nghiệm thức X2Y1 là 4043.50 ±
68.59 µg/100g chất khô, giảm 5.92% so với
thời điểm gel mới tạo ra Ở mẫu đối chứng
(XoYo), hàm lượng PS sau 4 tuần chỉ còn lại 3026.00 ± 57.98 µg/100g chất khô, giảm tới 29.59%
Khảo sát sự ảnh hưởng của quá trình thanh trùng đến chất lượng gel lô hội sau quá trình bảo quản
Quá trình thanh trùng được thực hiện trong khoảng nhiệt độ từ 60 - 80oC trong khoảng từ
15 đến 45 phút Mục đích của quá trình nhằm
vô hoạt các enzyme còn sót lại trong gel, đồng thời loại bỏ các vi sinh vật, một trong những tác nhân chính gây hư hỏng gel PS là nguồn thức ăn ưa thích của vi sinh vật, sự xâm nhập của các tác nhân này có thể dẫn đến làm giảm hàm lượng PS trong gel, hoặc sinh ra những enzyme phân giải PS và các chất có hoạt tính
khác Kết quả khảo sát được thể hiện ở hình 2
2000
2500
3000
3500
4000
4500
5000
Mẫu
Tuần 0 Tuần 1 Tuần 2 Tuần 3 Tuần 4
Trang 5Hình 2 Kết quả thí nghiệm khảo sát sự ảnh hưởng của chế độ thanh trùng đến chất lượng gel
lô hội
Ghi chú: A0B0: không thanh trùng, A1: 60oC, A2: 70oC, A3: 80oC, B1: 15 phút, B2: 30 phút, B3:
45 phút
So sánh hàm lượng PS trước và ngay sau thời
điểm thanh trùng, chúng tôi nhận thấy, hàm
lượng PS đo được ở tất cả các nghiệm thức có
có xu hướng giảm, tuy nhiên ở mức độ không
đáng kể, không có ý nghĩa về mặt thống kê
Điều này chứng tỏ, khoảng nhiệt độ thanh
trùng 60 - 80oC không ảnh hưởng đến các
phân tử PS Trong khi, nhiệt độ từ 30oC đến
60oC có thể thúc đẩy các phản ứng thủy phân
PS của enzyme và nhiệt độ lớn hơn 90oC có
thể phân hủy hầu hết các PS [15] [16]
Sau 4 tuần bảo quan gel trong túi kín, so sánh mẫu gel có thanh trùng và không thanh trùng (mẫu đối chứng, AoBo), chúng tôi nhận thấy
có sự khác biệt rõ rệt về hàm lượng PS Ở trường hợp gel không thanh trùng, sau 4 tuần, lượng PS đo được là 2935.63 ± 368.57 µg/100g chất khô, giảm 30.99% Trong khi ở các mẫu còn lại (gel có thanh trùng), mức độ giảm PS dưới 16% (Bảng 4)
Bảng 4 Kết quả khảo sát sự ảnh hưởng của chế độ thanh trùng đến chất lượng Gel lô hội Mẫu Hàm lượng PS (µg/100g chất khô) Mức độ giảm của PS so với sau thanh
trùng (%) Trước thanh trùng Sau thanh trùng Sau 4 tuần
A0B0
4254.06 ± 77.10
4254.06 ± 77.10 2935.63 ± 368.57 30.99
A1B2
A2B2
A3B2
2000 2500 3000 3500 4000 4500 5000
Mẫu
Trước thanh trùng Sau thanh trùng Sau 4 tuần
Trang 6Ở nghiệm thức A3B3 (thanh trùng ở nhiệt độ
80oC trong thời gian 30 phút) có mức giảm
hàm lượng PS thấp nhất 0.05%, tuy nhiên xét
về hàm lượng PS lại khác biệt không có ý
nghĩa so với nghiệm thức A2B3 (70oC trong
thời gian 30 phút), mức giảm 0.76% Dựa vào
kết quả thu được, chúng tôi chọn nghiệm thức
A2B3, nhiệt độ thanh trùng 70oC, thời gian 30
phút làm yếu tố cố định cho các thí nghiệm
sau, hàm lượng PS đo được trong mẫu sau 4
tuần bảo quản là 4062.74 ± 33.13 µg/100g
chất khô
Khảo sát sự ảnh hưởng của ánh sáng và
nhiệt độ đến chất lượng gel lô hội sau quá
trình bảo quản
Nhiệt độ và ánh sáng là 2 yếu tố quan trọng
ảnh hưởng đến thời gian bảo quản gel lô hội
Trong sản xuất nước ép Aloe vera, người ta
thường sử dụng các chai thủy tinh có màu để
tránh tác động của ánh sáng lên các chất hoạt
tính sinh học vốn dễ bị phân hủy Nhiệt độ
cũng là một thông số môi trường quan trọng
nhất có khả năng ảnh hưởng đến chất lượng
gel Nhiệt độ bảo quản cao có thể làm mất đi
một số chất dễ bay hơi trong gel do đó ảnh
hưởng đến tuổi thọ của sản phẩm [17] Thí nghiệm đã khảo sát chế độ bảo quản trong điều kiện ánh sáng bình thường và điều kiện tối, ở
2 vùng nhiệt độ, nhiệt độ phòng (28 - 30oC) và nhiệt độ lạnh (4 - 6oC), kết quả thu được thể hiện ở hình 3
So sánh hàm lượng PS trong các mẫu gel sau
4 tuần bảo quản ở các điều kiện nhiệt độ, ánh sáng khác nhau, chúng tôi nhận thấy có sự khác biệt đáng kể Hàm lượng PS đo được trong các mẫu tương ứng với 4 nghiệm thức
TS, TT, LS và LT lần lượt là 2983.15 ± 156.91, 3062.37 ± 77.12, 3383.89 ± 234.56 và 3892.07 ± 110.48 µg/100g chất khô Nghiệm thức LT (nhiệt độ lạnh và điều kiện tối) cho kết quả tốt nhất, hàm lượng PS trong mẫu gel sau 4 tuần lưu trữ là 3892.07 ± 110.48 µg/100g chất khô, chỉ giảm 4.72% so với ban đầu (tuần 0), trong khi nghiệm thức TS giảm 26.97%, nghiệm thức TT giảm 25.03% và nghiệm thức LS giảm 17.16% Xét trong cùng một điều kiện về ánh sáng, nhiệt độ lạnh đảm bảo cho quá trình bảo quản gel được tốt hơn, điều này có thể do nhiệt độ thấp làm ức chế các phản ứng phân hủy PS
Hình 3 Kết quả thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của ánh sáng và nhiệt độ trong bảo quản gel
Ghi chú: TS: nhiệt độ thường, có ánh sáng; TT: nhiệt độ thường, tối; LS: nhiệt độ lạnh, có ánh
sáng, LT: nhiệt độ lạnh, tối
Quan sát sự thay đổi màu sắc của gel lô hội
trong quá trình bảo quản (Hình 4), chúng tôi
cũng nhận thấy, điều kiện lạnh duy trì được
màu sắc gel tốt hơn, trong khi các mẫu gel bảo
quản điều kiện ánh sáng thường, màu của gel chuyển nâu dần theo thời gian, có thể do sự tác động của ánh sáng thúc đẩy các phản ứng oxy hóa gel, sinh ra những hợp chất có màu
0
500
1000
1500
2000
2500
3000
3500
4000
4500
Mẫu
Tuần 0 Tuần 1 Tuần 2 Tuần 3 Tuần 4
Trang 7(a) (b) (c)
(d) (e)
Hình 4 Sự thay đổi màu sắc của gel lô hội khi bảo quản ở điều kiện khác nhau trong 4 tuần
Ghi chú: (a) Tuần 0, (b) Tuần 1, (c) Tuần 2, (d) Tuần 3, (e) Tuần 4
Ứng dụng gel lô hội trong bảo quản chuối
tiêu
Khảo sát nhằm đánh giá khả năng ứng dụng
làm màng bao thực phẩm được thử nghiệm
trên đối tượng chuối tiêu Nhúng chuối vào
dịch gel có nồng độ 25% và theo dõi cho đến
khi mẫu hư hỏng hoàn toàn, so sánh với mẫu
đối chứng không nhúng gel, đánh giá hiệu quả
thông qua một số chỉ tiêu hóa lý như độ cứng,
độ giảm khối lượng, hàm lượng chất khô hòa
tan và hàm lượng acid tổng
Sự thay đổi về độ cứng của chuối tiêu trong
quá trình bảo quản bằng màng gel lô hội
Sự phân hủy thịt quả và mềm hóa thường diễn
ra ở chuối trong suốt quá trình bảo quản
Chuối sử dụng làm thí nghiệm là dạng quả còn
xanh, nên độ cứng khá cao Số liệu từ bảng 5
đã thể hiện rõ mức độ thay đổi về độ cứng của
chuối trong thời gian bảo quản
Bảng 5 Kết quả thí nghiệm khảo sát sự thay
đổi về độ cứng của chuối tiêu trong quá trình
bảo quản bằng màng Gel lô hội
Đối chứng Có nhúng gel
25%
0 73.67a±2.89 71.33a±3.79
4 56.33a±4.73 66.67b±3.06
8 32.33a±4.51 29.00a±1.00
12 10.33a±1.53 25.33b±1.15
16 7.33a±0.57 8.33a±1.53
*Các ký tự khác nhau trong cùng một hàng khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê (p<0.05)
Tại thời điểm vừa nhúng gel, độ cứng của chuối không có sự khác biệt, nhưng qua 4, 8,
12 ngày bảo quan, độ cứng đo được ở mẫu chuối có nhúng gel và không nhúng gel đã có
sự khác biệt đáng kể Độ cứng của mẫu chuối không được nhúng gel giảm một cách nhanh chóng Mẫu có nhúng gel, độ cứng có giảm, tuy nhiên so sánh cùng một thời điểm, độ cứng của mẫu có nhúng gel vẫn cao hơn so với mẫu không nhúng gel Tới ngày 12, độ cứng của mẫu không nhúng gel chỉ còn 10.33 ± 1.53, trong khi mẫu có nhúng gel độ cứng 25.33 ± 1.15
Như vậy, trong trường hợp này, màng bao thực phẩm đã hạn chế được sự tiếp xúc của quả với các vi sinh vật gây hư hỏng, vốn có khả năng sinh ra các enzyme gây mềm như pectin methylesterase và polygalacturonase [18], [19]
Sự giảm khối lượng của chuối tiêu trong quá trình bảo quản bằng màng gel lô hội
Trang 8Bảng 6 Kết quả thí nghiệm khảo sát sự giảm
khối lượng của chuối tiêu trong quá trình bảo
quản bằng màng Gel lô hội
Ngày
Mức độ giảm khối lượng
(%) Đối chứng Có nhúng gel
25%
4 5.57a±1.27 5.78a±0.64
8 12.97a±0.57 13.46b±3.67
12 22.60a±1.81 20.33b±1.10
16 32.21a±1.82 27.58b±1.71
*Các ký tự khác nhau trong cùng một hàng
khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê (p<0.05)
Sự giảm khối lượng của quả chủ yếu là do quá
trình hô hấp và sự thoát ẩm từ quả ra bên
ngoài Lớp phủ gel lô hội được sử dụng với
mong muốn có thể kiểm soát sự mất hơi nước
trong quá trình bảo quản và làm giảm tốc độ
hô hấp trong quả Số liệu thu được ở các ngày
thứ 8, 12, 16 đều thể hiện được sự khác biệt
giữa mẫu có nhúng gel và mẫu không nhúng
gel Mức độ giảm khối lượng của mẫu chuối
có nhúng gel đều thấp hơn mẫu đối chứng
(Bảng 6)
Sự thay đổi về hàm lượng chất khô hòa tan
trong chuối tiêu trong quá trình bảo quản
bằng màng gel lô hội
Hàm lượng chất khô hòa tan trong chuối tăng
dần theo thời gian bảo quản do trong quá trình
chín, tinh bột trong chuối sẽ bị chuyển hóa
nhanh chóng thành các loại đường như
sucrose, glucose, fructose, maltose… [19]
Bảng 7 Kết quả thí nghiệm khảo sát sự thay
đổi về hàm lượng chất khô hòa tan trong
chuối sau quá trình bảo quản bằng màng Gel
lô hội Ngày
Hàm lượng chất khô hòa tan
(%) Đối chứng Có nhúng gel
25%
0 1.87a±0.21 1.88a±0.22
4 10.13a±0.12 10.03a±0.32
8 12.10a±0.10 11.00b±0.20
12 13.90a±0.10 12.80b±0.20
16 13.33a±0.12 13.80a±0.20
* Các ký tự khác nhau trong cùng một hàng
khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê (p<0.05)
Dựa vào kết quả ở bảng 7, chúng tôi nhận
thấy, hàm lượng chất khô đo được ở ngày thứ
4 cao hơn hẳn so với thời điểm bắt đầu (ngày
0) ở cả nghiệm thức đối chứng và có nhúng
gel,có thể do chuối sử dụng ban đầu ở dạng còn xanh, nên hàm lượng chất khô đo được tại thời điểm 0 ngày rất thấp Đến ngày thứ 4, chuối đã bắt đầu chín, nên hàm lượng đường tăng mạnh Đối với chỉ tiêu hàm lượng chất khô hòa tan, màng gel lô hội dường như không tác động hiệu quả, có thể do quá trình chín của quả là do chính bản thân các enzyme có sẵn trong quả thúc đẩy quá trình thủy phân tinh bột sinh ra các đường mono và disaccharide Chính vì vậy màng gel bên ngoài không làm giảm bớt được độ Bx trong chuối
Sự thay đổi về hàm lượng acid tổng trong chuối sau quá trình bảo quản bằng màng gel
lô hội
Acid tổng hình thành trong chuối là do hiện tượng trái chín sẽ chyển đổi từ tinh bột, đường sang acid và là nguyên liệu cho quá trình hô hấp của quả [20]
Số liệu ở bảng 8 đã thể hiện rõ, càng kéo dài thời gian bảo quản thì lượng acid đo được trong chuối càng tăng (ở cả mẫu đối chứng và mẫu nhúng gel) Tuy nhiên, ở mẫu chuối có nhúng gel hàm lượng acid đo được ở 12 ngày đầu tương đối thấp hơn so với mẫu đối chứng, điều đó thể hiện được vai trò của màng gel lô hội ở vai trò bảo quản
Bảng 8 Kết quả thí nghiệm khảo sát sự thay
đổi về hàm lượng acid trong chuối sau quá
trình bảo quản bằng màng Gel lô hội Ngày
Hàm lượng acid (%) Đối chứng Có nhúng gel
25%
0 0.14a±0.01 0.14a±0.02
4 0.19a±0.01 0.20a±0.01
8 0.29a±0.01 0.23b±0.01
12 0.31a±0.01 0.27b±0.01
16 0.31a±0.02 0.32a±0.03
* Các ký tự khác nhau trong cùng một hàng khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê (p<0.05)
Như vậy, thông qua so sánh các chỉ tiêu theo dõi như hàm lượng chất khô hòa tan, lượng acid, sự giảm trọng lượng, độ cứng giữa chuối tiêu được nhúng gel lô hội và mẫu đối chứng cho thấy gel lô hội có khả năng ứng dụng được trong trên chuối, hạn chế một số biến đổi nhất định và kéo dài hơn thời gian bảo quản chuối
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Kết luận
Khảo sát các yếu tố trong quá trình bảo quản gel lô hội có ý nghĩa khi hướng tới ứng dụng
Trang 9gel lô hội làm màng bao thực phẩm Acid
citric và acid ascorbic với vai trò là chất phụ
gia, chất chống oxy hóa tự nhiên; thanh trùng
là điều kiện cần thiếtđể loại bỏ các vi sinh vật
và các enzyme có sẵn trong gel, hạn chế quá
trình hư hỏng, quá trình bảo quản lạnh và tối
giúp hạn chế sự mất mát các hợp chất có hoạt
tính sinh học Kết quả khảo sát cho thấy khi
dịch gel được bổ sung acid citric 1% và acid
ascorbic 0.5%, sau đó thanh trùng ở 60oC
trong 45 phút và bảo quản ở điều kiện tối, lạnh
(4-6oC) cho chất lượng gel ổn định, hàm lượng
PS ít biến đổi Sau 4 tuần bảo quản, lượng PS
đo được là 4282.40 ± 70.02 µg/100g chất khô,
giảm 0.34 % so với trong mẫu ban đầu
(4298.19 ± 88.42 µg PS /100g chất khô)
Chuối tiêu (Musa acuminate) sau khi được
nhúng trong gel (nồng độ 25%), có thể duy trì được những chỉ tiêu chất lượng về khối lượng,
độ cứng, hàm lượng chất khô hòa tan, acid tổng, pH trong 16 ngày
Kiến nghị
Khảo sát lựa chọn nồng độ gel lô hội thích hợp nhắm bảo quản chuối tiêu, giảm bớt hơn sự sự biến đổi của những chỉ tiêu như khối lượng,
độ cứng, độ Bx, acid tổng, pH và sự thay đổi
về màu sắc quả
Khảo sát khả năng ứng dụng gel lô hội làm màng bao trên các loại trái cây, củ, quả khác
như nho, cam,…
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phạm Hoàng Hộ, Cây cỏ Việt Nam vol III Nhà xuất bản trẻ, 1999
R J E Grindlay D., "The Aloe vera phenomenon: A review of the properties and modern uses
of the leaf parenchyma gel," vol 16, pp 117-151, 1986
S Joshi, "Chemical constituents and biological activity of Aloe barbadensis-A review.J Med
Aromat.Plant Sci 20," pp 768-773, 1998
J H Hamman, "Composition and applications of Aloe vera leaf gel," Molecules, vol 13, pp
1599-1616, 2008
M Sharmin, M Islam, and M Alim, "Shelf-life enhancement of papaya with Aloe vera gel coating at ambient temperature," Journal of the Bangladesh Agricultural University, vol
13, pp 131-136, 2016
J M Vieira, M L Flores-López, D J de Rodríguez, M C Sousa, A A Vicente, and J T
Martins, "Effect of chitosan–Aloe vera coating on postharvest quality of blueberry (Vaccinium corymbosum) fruit," Postharvest Biology and Technology, vol 116, pp
88-97, 2016
C Adetunji, A Fadiji, and O Aboyeji, "Effect of chitosan coating combined Aloe vera gel on cucumber (Cucumis sativa L.) post-harvest quality during ambient storage," Journal of Emerging Trends in Engineering and Applied Sciences (JETEAS), vol 5, pp 391-397,
2014
M A García, M Ventosa, R Díaz, S Falco, and A Casariego, "Effects of Aloe vera coating
on postharvest quality of tomato," Fruits, vol 69, pp 117-126, 2014
N Padmaja and S J D Bosco, "Preservation of sapota (Manilkara zapota) by edible aloe vera gel coating to maintain its quality," Food Science, vol 3, 2014
Nguyễn Bảo Toàn, Nguyễn Phan Khánh Hòa, Nguyễn Thị Hằng, Phạm Thị Cẩm Hoa, and Nguyễn Thị Cúc, "Khảo sát sự ảnh hưởng của một số yếu tố trong quá trình xử lý dịch
gel lô hội để thu nhận polysaccharide," Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm TP Hồ Chí Minh, 2017
S S Nielsen, "Phenol-sulfuric acid method for total carbohydrates," Food Analysis Laboratory Manual, pp 47-53, 2010
D C Gowda, B Neelisiddaiah, and Y V Anjaneyalu, "Structural studies of polysaccharides
from Aloe vera," Carbohydrate Research, vol 72, pp 201-205, 1979
K A Arowora, J Williams, C Adetunji, O Fawole, S Afolayan, O Olaleye, et al., "Effects
of Aloe vera coatings on quality characteristics of oranges stored under cold storage," Greener J Agric Sci, vol 3, pp 39-47, 2013
S L Marpudi, L Abirami, and N Srividya, "Enhancement of storage life and quality
maintenance of papaya fruits using Aloe vera based antimicrobial coating," 2011
Trang 10A Femenia, E S Sánchez, S Simal, and C Rosselló, "Compositional features of
polysaccharides from Aloe vera (Aloe barbadensis Miller) plant tissues," Carbohydrate polymers, vol 39, pp 109-117, 1999
J S Cohen and T C Yang, "Progress in food dehydration" Trends in Food Science & Technology, vol 6, pp 20-25, 1995
G Sadler and R Braddock, "Absorption of citrus flavor volatiles by low density polyethylene,"
Journal of food science, vol 56, pp 35-37, 1991
Đ T A Đào, Kỹ thuật bao bì thực phẩm TP Hồ Chí Minh: NXB ĐH QGTPHCM, 2011
L V V M Tôn Nữ Minh Nguyệt, Trần Thị Thu Trà, Công nghệ chế biến rau quả: Nguyên liệu và công nghệ bảo quản sau thu hoạch vol tập TP Hồ Chí minh: Đại học quốc gia,
2008
L V Tán, Công nghệ bảo quản và chế biến rau quả Hà Nội: NXB Khoa học và Kỹ thuật,
2008