1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng phương pháp Delphi xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến hiệu quả thực hiện các dự án sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tại Việt Nam

13 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 508,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích phát triển khung phân tích (mô hình) về ảnh hưởng của các nhân tố tới hiệu quả thực hiện dự án ODA ở khía cạnh triển khai. Nghiên cứu sử dụng là các kỹ thuật phát triển mô hình và thang đo bằng các phương pháp nghiên cứu định tính (thảo luận tay đôi, phỏng vấn bán cấu trúc, phỏng vấn bằng mạng đa chuyên gia hai vòng, thảo luận nhóm). Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

87

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DELPHI XÂY DỰNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CÁC DỰ ÁN SỬ DỤNG VỐN

HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) TẠI VIỆT NAM

USING THE DELPHI METHOD TO PROPOSE A RESEARCH MODEL ON THE INFLUENCE OF FACTORS ON PERFORMANCE OF PROJECTS USING OFFICIAL DEVELOPMENT ASSISTANCE CAPITAL (ODA) IN VIETNAM

ThS Trần Đình Nam - Ban Quản lý đường sắt đô thị Hà Nội ThS Đào Trung Kiên - Công ty CP Phân tích Định lượng Việt Nam PGS,TS Nguyễn Đắc Hưng - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Tóm tắt

Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích phát triển khung phân tích (mô hình) về ảnh hưởng của các nhân tố tới hiệu quả thực hiện dự án ODA ở khía cạnh triển khai Nghiên cứu sử dụng là các kỹ thuật phát triển mô hình và thang đo bằng các phương pháp nghiên cứu định tính (thảo luận tay đôi, phỏng vấn bán cấu trúc, phỏng vấn bằng mạng đa chuyên gia hai vòng, thảo luận nhóm) Kết quả nghiên cứu xây dựng được một khung phân tích ảnh hưởng của hiệu quả ODA bởi sáu nhân tố: (1) năng lực tài chính; (2) khả năng tổ chức; (3) năng lực điều hành; (4) tầm nhìn của lãnh đạo; (5) năng lực thích nghi và (6) khả năng quản trị rủi ro Bằng phỏng vấn bán cấu trúc và phỏng vấn mạng chuyên gia hai vòng nhóm tác giả

đã thiết lập được 33 chỉ tiêu đo lường cho các nhân tố và biến hiệu quả thực hiện dự án

Từ khóa: Vốn ODA, hiệu quả thực hiện dự án, phương pháp Delphi

Abstract

This study was carried out with the aim of developing an analytical framework (model)

on the impact of factors on effectively implementing ODA projects in term of deployment The study used techniques of model development and scale by using qualitative research methods (one - on-one discussions, semi-structured interviews, interviews with two round multi-professional network, group discussions) Findings built an analysis framework of the influence of ODA by six factors: (1) financial capacity; (2) the ability to organize; (3) operating capacity; (4) vision of leaders; (5) the ability to adapt and (6) the ability of risk management Due to semi-structured interviews and two round experts interviews, authors set up 33 indicators to measure factors and variables of effective project implementation

Key words: ODA capital, effective project implementation, the Delphi method

Trang 2

88

1 GIỚI THIỆU

Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) có vai trò quan trọng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội của các nước kém phát triển và đang phát triển ODA là nguồn bổ sung vốn đầu tư, tập trung vào việc phát triển kết cấu hạ tầng cơ sở và các mục tiêu phát triển dài hạn khác Theo tính toán của ngân hàng thế giới (WB) nếu có chính sách hợp lý thì 1% ODA làm tăng 0.5% GDP của các nước tiếp nhận

Do tính chất quan trọng của nguồn vốn ODA tới việc phát triển kinh tế xã hội của các nước tiếp nhận nên trong quá khứ đã có khá nhiều nghiên cứu khác nhau về vốn ODA (Hansen & Tarp, 2001; Karras, 2006; Nguyễn Ngọc Vũ, 2010; Hà Thị Thu, 2014) Các nghiên cứu từ các nước phát triển và các tổ chức quốc tế tập trung vào việc đánh giá tác động của ODA nên tổng thể nền kinh tế (Hansen & Tarp, 2001; Karras, 2006) Tại những nước đang phát triển như Việt Nam các nghiên cứu lại tập trung vào việc thu hút nguồn vốn ODA

từ các nhà tài trợ (Nguyễn Ngọc Vũ, 2010; Hà Thị Thu, 2014)

Mặc dù có khá nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực ODA, tuy nhiên các nghiên cứu thường tiếp cận ở khía cạnh vĩ mô (Hansen & Tarp, 2001; Karras, 2006) hoặc tập trung vào đánh giá khả năng thu hút và sử dụng vốn ODA (Nguyễn Ngọc Vũ, 2010; Hà Thị Thu, 2014) Theo khảo sát của chúng tôi các nghiên cứu đánh giá ở khía cạnh điều hành, triển khai các dự

án ODA khá thưa vắng và chủ yếu là những đánh giá có tính chất nghiệp vụ Những nghiên cứu xác định và thiết lập các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả và nhân tố ảnh hưởng tới kết quả thực hiện các dự án ODA còn khá thưa vắng Do đó, nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích, đánh giá thiết lập một mô hình đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả thực hiện các dự

án ODA ở khía cạnh triển khai và xây dựng các chỉ tiêu đánh giá cho từng nhân tố thông qua phương pháp phỏng vấn đa chuyên gia hai vòng

2 LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

2.1 Vốn ODA và kết quả thực hiện dự án ODA

Vốn ODA

Lịch sử ra đời của ODA bắt đầu sau chiến tranh thế giới thứ hai Để hỗ trợ đồng minh sau chiến tranh Mỹ thực hiện kế hoạch Marshall để tái thiết các nước sau chiến Đến những năm 1970 đề nghị các nước tài trợ dành 0.7% GNP để tạo nguồn hỗ trợ các nước nghèo

Theo Ngân hàng Thế giới (WB) ODA được xem là một phần của tài chính phát triển chính thức, trong đó yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng với vay ưu đãi phải chiếm ít nhất 25% Tại Việt Nam quy định về ODA được thực hiện qua nghị định NĐ 71/2001/NĐ-CP, theo đó ODA được coi là hoạt động hợp tác và phát triển giữa Việt Nam và các nhà tài trợ, bao gồm: (i) Chính phủ nước ngoài; (ii) Tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia Các hình thức cung cấp ODA bao gồm (a) ODA không hoàn lại, (b) ODA cho vay ưu đãi có yếu tố

không hoàn lại đạt ít nhất 25% Như vậy có thể khái quát khái niệm về ODA là “Nguồn vốn

vay hỗ trợ chính thức (ODA) là các nguồn vốn hỗ trợ của các tổ chức liên chính phủ, liên quốc gia hoặc chính phủ nước ngoài có tính chất ưu đãi có hoàn lại hoặc không hoàn lại, trong đó phần vốn hỗ trợ không hoàn lại phải chiếm ít nhất 25%”

Kết quả thực hiện dự án ODA

Trang 3

89

Các quan niệm liên quan đến kết quả hay hiệu quả thường tập trung vào so sánh giữa lợi ích và chi phí của dự án.Trong thực tế, các dự án kinh doanh các nhà kinh doanh tập trung nhiều vào lợi ích có tính chất tài chính, được lượng hóa qua các chỉ tiêu tài chính dự án Tuy nhiên, các tiếp cận như vậy thường không phù hợp với các dự án ODA do tính chất đặc trưng của các dự án ODA tập trung vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội, nâng cao phúc lợi cộng đồng mà không chỉ là vấn đề tài chính

Trong lĩnh vực kinh doanh ngoài vấn đề tài chính các nhà kinh doanh cũng xem xét cả những chỉ tiêu kết quả khác như mức tăng trưởng, thị phần hay các mục tiêu phát triển sản phẩm/dịch vụ Những quan niệm này xuất phát từ những nghiên cứu cho rằng kết quả hay hiệu quả là việc đạt được các mục tiêu chiến lược đặt ra (Cyer & March, 1992; Hult và cộng

sự, 2004, Keh và cộng sự, 2007) Vận dụng quan niệm này cũng có thể xem kết quả thực hiện

là của dự án ODA là việc đạt được các mục tiêu chiến lược đặt ra trong mối tương quan với giới hạn ngân sách và thời gian thực hiện

Đối với một dự án ODA có nhiều bộ phận tham gia khác nhau ở giai đoạn triển khai

Do đó, đánh giá kết quả cũng khác nhau giữa các bộ phận nhưng có thể xem kết quả thực hiện

là tổng hợp của các kết quả của từng bộ phận.Trụ cột của dự án là các vấn đề về chất lượng, tiến độ, chi phí và những mục tiêu khác Do đó, trong nghiên cứu này chúng tôi định nghĩa:

“Hiệu quả dự án sử dụng vốn ODA là việc đạt được các mục tiêu của tất cả các bộ phận tham

gia triển khai dự án, đạt được các mục tiêu chiến lược của từng bộ phận về chất lượng công việc, chi phí, tiến độ và các mục tiêu khác”

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả dự án ODA

Đánh giá hiệu quả dự án ODA có thể tiếp cận theo cả hai hướng là tác động vĩ mô tới nền kinh tế, ngành hay ở cấp độ vi mô của từng dự án Với cách tiếp cận ở khía cạnh triển khai dự án thông qua các nghiên cứu trong lĩnh vực kinh doanh chúng tôi xác định có sáu nhân tố chính ảnh hưởng tới hiệu quả dự án là (1) Năng lực tài chính; (2) Khả năng tổ chức; (3) Năng lực điều hành; (4) Tầm nhìn chiến lược của lãnh đạo; (5) Năng lực thích ứng và (6) Quản trị rủi ro Trong đó:

- Năng lực tài chính: Là nguồn lực tài chính phục vụ dự án, là khả năng tạo tiền, lưu

chuyển tài chính đảm bảo khá năng thanh toán khi thực hiện công việc Việc đảm bảo năng lực tài chính tốt là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới kết quả thực hiện Điều này đã được kiểm chứng qua các nghiên cứu trong kinh doanh (Baral, 2005; Kouser và cộng sự, 2011) Cũng giống như vậy, đối với dự án ODA thì năng lực tài chính của dự án cũng là một nhân tố đảm bảo tính hiệu quả của dự án

- Khả năng tổ chức: Là khả năng về phối hợp, gắn kết các hoạt động triển khai để đạt

được mục tiêu đặt ra Chất lượng của việc tổ chức, phối hợp được xem là một nhân tố có ảnh hưởng tới kết quả thực (Becker & Gerhart, 1996) Ngoài ra chất lượng kết nối các hoạt động cũng có ảnh hưởng tới kết quả thực hiện (Walter và cộng sự, 2006) Năng lực tổ chức còn có tác động tới việc quản trị khủng hoảng (Grewal & Tansuhaj, 2001)

- Năng lực điều hành: Là khả năng điều hành của lãnh đạo với các đơn vị cấp dưới

Việc điều hành tốt của lãnh đạo truyền cảm hứng cho nhân viên, tạo ra sự gắn kết và kiểm soát thực hiện công việc Trong mối quan hệ với chất lượng thực hiện công việc năng lực điều

Trang 4

90

Câu hỏi nghiên

Phỏng vấn bán cấu trúc

Đánh giá đa chuyên gia hai vòng

Hiệu chỉnh bằng thảo luận nhóm

hành có ảnh hưởng tới kết quả thực hiện hay hiệu suất của tổ chức (Krasnikov & Jaynchandran, 2008)

- Tầm nhìn lãnh đạo: Là khả năng dự báo, viễn kiến của lãnh đạo đối với công việc

mà đơn vị mình thực hiện.Tầm nhìn của lãnh đạo được xem như khía cạnh ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của tổ chức (Porter, 2009) Tầm nhìn của lãnh đạo được xem như một phần của năng lực quản trị tổ chức (AIM, 2013) Đối với các dự án ODA cũng vây, tầm nhìn của lãnh đạo tại từng đơn vị triển khai có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện công việc Lãnh đạo

có chiến lược, tầm nhìn sẽ dễ dàng triển khai công việc nhờ khả năng bám sát công việc, tìm

ra các rủi ro và có phương án dự phòng cho rủi ro có thể gặp phải

- Khả năng thích nghi: Là khả năng mà tổ chức và phối hợp định dạng lại các nguồn

lực để đáp ứng những thay đổi của môi trường (Sapienza và các cộng sự, 2006; Zhou & Li, 2010) Khả năng thích nghi ảnh hưởng tới khả năng tồn tại và phát triển của các tổ chức kinh doanh (Zhou & Li, 2010) Tương tự như vậy đối với các dự án ODA, các đơn vị có khả năng thích nghi có thể ứng phó với tính trạng giải ngân chậm, vấn đề đạt tiến độ hay chất lượng công việc gặp kháo khăn Khả năng thích nghi giúp cho bộ máy tổ chức thích ứng linh hoạt với những thay đổi từ bên ngoài

- Khả năng quản trị rủi ro: Là việc dự đoán và ứng phó với các rủi ro xảy ra khi thực

hiện dự án (Ward & Chaman, 2003; Larson & Gray, 2011; Schoroeder và cộng sự, 2011) Quản trị rủi ro của dự án có thể thực hiện thông qua việc dự đoán được khả năng xảy ra bất trắc cho dự án, từ đó có các quyết định thực hiện phù hợp nhằm tránh hoặc giảm thiểu thiệt hại có thể mang lại cho dự án Ngoài vấn đề dự đoán rủi ro trong trường hợp chưa xảy ra sự

cố, quản trị rủi ro còn được thể hiện qua các kế hoạch đối phó với các sự cố đã xảy ra, tổ chức chấp nhận rủi ro này và có các cách khắc phục tối ưu nhất giúp đảm bảo hiệu quả của dự án đang thực hiện

3 MÔ HÌNH, DỮ LIỆU VÀ PHƯƠN PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Quy trình thực hiện nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu được tham khảo và phát triển từ các quy trình phát triển mô hình

và thang đo nghiên cứu từ Cresswell (2009), Chu & Hwang (2008), Nguyễn Đình Thọ (2011)

với bốn bước bao gồm: (1) xác định câu hỏi nghiên cứu; (2) xác định khoảng trống nghiên cứu; (3) phát triển mô hình nghiên cứu và (4) thiết lập các thang đo cho các nhân tố trong mô hình (hình)

Hình 1 Quy trình nghiên cứu

Trang 5

91

Trong đó:

Bước 1: Xác định câu hỏi nghiên cứu Xuất phát từ thực tế các dự án sử dụng vốn

ODA đều được đánh giá tiền khả thi, khả thi trước khi đi vào triển khai Câu hỏi nghiên cứu đặt ra là làm thế nào xác định được các nhân tố chính tác động tới hiệu quả dự án ở khía cạnh triển khai Đo lường những nhân tố này bằng những chỉ tiêu như thế nào ? Điều này đặt ra yêu cầu về việc cần thiết phải xây dựng một mô hình xác định các nhân tố chính yếu đến hiệu quả thực hiện dự án ODA

Bước 2: Xác định khoảng trống nghiên cứu Dựa trên câu hỏi nghiên cứu chúng tôi

xem xét các tài liệu nghiên cứu liên quan Qua xem xét các tài liệu về chủ đề vốn ODA cho thấy các tác giả nghiên cứu trước tập trung chủ yếu vào việc đánh giá ở khía cạnh ảnh hưởng

vĩ mô của ODA tới nền kinh tế, và những nghiên cứu nhằm thu hút và sử dụng vốn ODA mà thiếu vắng những nghiên cứu có hệ thống xác định các nhân tố và chỉ tiêu đánh giá những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn ODA

Bước 3: Phát triển mô hình nghiên cứu.Việc thiếu vắng các nghiên cứu có tính hệ

thống về các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn ODA ở khía cạnh triển khai đặt ra yêu cầu cần thiết phải thiết lập một mô hình nghiên cứu Để thiết lập mô hình nghiên cứu chúng tôi sử dụng phỏng vấn chuyên gia bằng các câu hỏi phi cấu trúc Qua thảo luận với 10 chuyên gia trong ngành chúng tôi xác định được sáu nhân tố chính ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn ODA là (1) năng lực tài chính; (2) khả năng tổ chức; (3) năng lực điều hành; (4) tầm nhìn của lãnh đạo; (1) khả năng thích nghi và (6) khả năng quản trị rủi ro

Bước 4: Thiết lập các thang đo cho từng nhân tố trong mô hình Chúng tôi sử dụng

phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc để thu được một bộ thang đo nháp ban đầu thông qua phương pháp chọn mẫu bão hòa thông tin Tiếp theo các thang đo nháp được đánh giá bằng phương pháp đa chuyên gia qua hai vòng phỏng vấn và cuối cùng được đánh giá hiệu chỉnh lại qua những người có kinh nghiệm tham gia vào các dự án sử dụng vốn ODA

3.2 Chọn mẫu khảo sát

Do đấy là một nghiên cứu định tính bước đầu nên chúng tôi sử dụng phương pháp lấy mẫu lý thuyết với quy tắc “bão hòa thông tin“ cho cả phần phát triển mô hình và xây dựng các thang đo cho từng nhân tố (hình 2)

S i-1 S i

S

S3 S2

S1

Dữ liệu

phát

triển lý

thuyết

Số phần từ lấy mẫu

Trang 6

92

Hình 2 Mô tả lấy mẫu nghiên cứu

Các lấy mẫu được diễn đạt như sau: Đầu tiên chúng tôi lập hai danh sách các chuyên gia tham gia nghiên cứu Danh sách đầu tiên gồm 15 chuyên gia dự kiến tham gia chính thức, danh sách thứ hai gồm 5 chuyên gia dự phòng cho trường hợp có chuyên gia ở danh sách một có lý do không thể tham gia nghiên cứu Các chuyên gia sẽ lần lượt được tiến hành phỏng vấn bằng thảo luận tay đôi (với phần phát triển mô hình), phỏng vấn bán cấu trúc (xây dựng thang đo nháp) Như mô tả trong hình 2, mỗi chuyên gia được phỏng vấn về các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả

dự án ODA ở khía cạnh triển khai và đưa ra những chỉ tiêu đánh giá cho từng nhân tố Giả sử chuyên gia đầu tiên đưa ra một tập hợp các nhân tố, chuyên gia thứ hai đưa ra một tập hợp khác

và trong hai tập hợp này có những chỉ tiêu giống nhau Chúng tôi tiến hành phỏng vấn đến khi có

ba người liên tiếp không đưa ra được những chỉ tiêu mới từ những người trước đó thì dừng lại và điểm dừng này được xem như điểm “bão hòa thông tin“

3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu

Dữ liệu phỏng vấn được biên tập và tiến hành phân tích qua các bước như sau:

Đối với bước phát triển mô hình và các thang đo nháp, các ý kiến đưa ra sẽ được sàng lọc và thảo luận bởi nhóm nghiên cứu để đánh giá ý nghĩa, sự trùng lắp giữa các chuyên gia Kết quả tác giả có một bộ thang đo nháp ban đầu về những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả dự

án ODA

Để đánh giá tính tin cậy của các khía cạnh đo lường đưa ra cho các nhân tố tác giả tiếp tục sử dụng phương pháp Delphi đa chuyên gia phỏng vấn hai vòng (Chu & Hwang, 2008) Đây được xem là một phương pháp đánh giá định tính khá chính xác để đánh giá tính nhất quán và mức độ quan trọng của các chỉ tiêu đo lường cho từng nhân tố khó định lượng (Hwang và cộng sự, 2006; Chu & Hwang, 2008) Phương pháp Delphi phỏng vấn hai vòng được mô tả như sau:

Vòng 1: Tác giả lựa chọn và thành lập một nhóm gồm 7 chuyên gia (được lấy

từ danh sách 20 chuyên gia ban đầu) Tất cả những chuyên gia này đều là những chuyên gia

có kinh nghiệm, có sự am hiểu về hoạt động đầu tư sử dụng vốn ODA Các chuyên gia được lấy ý kiến về mức độ quan trọng của từng chỉ tiêu đánh giá trong mỗi nhân tố trong mô hình Mức độ quan trọng của từng chỉ tiêu được đánh giá trên thang điểm 5 Trong đó 1 là hoàn toàn không quan trọng, 2 là không quan trọng, 3 là bình thường, 4 là quan trọng và 5 là rất quan trọng Tiêu chuẩn để lựa chọn chỉ tiêu dựa vào quy tắc về điểm đánh giá trung bình của các chuyên gia, mức độ đồng nhất ý kiến của các chuyên gia (tỷ lệ khác biệt ý kiến) (bảng 1)

Vòng 2: Những chỉ tiêu có sự khác biệt ý kiến lớn nhưng vẫn nằm trong vùng

chấp nhận về mức độ quan trọng sẽ được tiến hành đánh giá ở vòng thứ hai ở một thời điểm khác (sau vòng phỏng vấn thứ nhất 03 tuần) để đánh giá tính nhất quán trong các kết quả của từng chuyên gia Quy tắc lực chọn chỉ tiêu cuối cùng dựa vào điểm đánh giá của hai vòng và tính đồng nhất ý kiến của từng chuyên gia giữa các vòng (bảng 1)

Trang 7

93

Bảng 1Tiêu chuẩn lựa chọn thang đo đánh giá

Điểm đánh giá chỉ tiêu >= 3.5 và mức

khác biệt ý kiến không vượt quá 15%

Chấp nhận chỉ tiêu và không thảo luận chi tiết

Điểm đánh giá chỉ tiêu > = 3.5 và mức

Điểm đánh giá trong khoảng 2.5 - 3.5 và

Chấp nhận nếu tỷ lệ thay đổi

ý kiến ở vòng 2 nhỏ hơn 15%

Điểm đánh giá trong khoản 2.5 - 3.5 và

Nguồn: Tác giả xây dựng dựa trên tham khảo từ Chu & Hwang (2008)

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả đánh giá với sáu nhóm chỉ tiêu ảnh hưởng tới hiệu quả dự án ODA và chỉ tiêu hiệu quả từ các chuyên gia thu được 36 chỉ tiêu đánh giá cho bảy nhân tố lớn Trong đó có 4 chỉ tiêu về đánh giá hiệu quả, 5 chỉ tiêu về đánh giá năng lực tài chính; 6 chỉ tiêu về khả năng

tổ chức; 7 chỉ tiêu về năng lực điều hành; 4 chỉ tiêu về tầm nhìn của lãnh đạo; 6 chỉ tiêu về khả năng thích nghi và 4 chỉ tiêu về khả năng quản trị rủi ro (bảng 2) Kết quả qua hai vòng đánh giá chúng tôi giữ lại 33 và loại đi 3 chỉ tiêu có mức độ đánh giá thấp và tính nhất quan không cao bao gồm chỉ tiêu ORG6 (có khả năng giám sát thực hiện công việc ở từng bộ phận)

ở nhân tố khả năng tổ chức; chỉ tiêu OPE7 (lãnh đạo đối xử công bằng với các bộ phận làm việc) ở chỉ tiêu năng lực điều hành và chỉ tiêu RIS4 (đơn vị nhận dạng được các nguy cơ đối với công việc thực hiện) ở nhân tố khả năng quản trị rủi ro (bảng 2):

Trang 8

94

Trang 9

95

Trang 10

96

Ngày đăng: 26/10/2021, 15:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w