Mục đích của bài viết này đó là nhận diện những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những lúng túng trong việc thực hiện tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội và đề xuất những giải pháp, kiến nghị để hóa giải chúng. Để hiểu rõ hơn mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết của bài viết này.
Trang 1HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN, XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
INTERNATIONAL ECONOMIC INTEGRATION AND CORPORATE SOCIAL
RESPONSIBILITY OF SEAFOOD EXPORTING AND PROCESSING
ENTERPRISES IN VIETNAM
PGS.TS Nguyễn Thị Minh Nhàn Trường Đại học Thương mại Tóm tắt
Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng trở thành xu thế tất yếu của nền kinh tế hiện đại
Bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế, là quá trình xây dựng các sân chơi chung và áp dụng
các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế Thực hiện trách
nhiệm xã hội là một "luật chơi" của hội nhập kinh tế quốc tế đối với doanh nghiệp chế biến ,
xuất khẩu thủy sản Trong thời gian qua, các doanh nghiệp chế biến , xuất khẩu thủy sản Việt
Nam đã dành nhiều nỗ lực thích ứng với "luật chơi" đó góp phần đưa thủy sản trở thành mặt
hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta Mặc dù vậy, những lúng túng đã bộc lộ từ quá trình hội
nhập nhanh; từ ma trận các tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội dày đặc, phức tạp; và từ chính các
yếu tố nội tại của các doanh nghiệp (nhận thức của nhà quản trị, người lao động, tiềm lực tài
chính ) Những lúng túng này đã trở thành lực cản quá trình ra biển lớn của các doanh
nghiệp chế biến , xuất khẩu thủy sản Việt Nam Mục đích của bài viết này đó là nhận diện
những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những lúng túng trong việc thực hiện tiêu chuẩn TNXH
và đề xuất những giải pháp, kiến nghị để hóa giải chúng
Từ khóa: Hội nhập kinh tế quốc tế; Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; Doanh nghiệp chế
biến, xuất khẩu thủy sản
Abstract
In the modern economy, international economic integration can be seen as the
inevitable trend The fundemental of international economic integration is the process of
building rules that can be implimented within the framework of the institutions or international organizations Implementing corporate social responsibility is one of the “rule”
of international economic integration for seafood exporting and processing enterprises of
Vietnam In recent years, seafood exporting and processing enterprises of Vietnam have made
a lot of effort to adapt to “the rule”, which contributes to the success of seafood sector in
Vietnam’s economy However, some weaknesses were revealed from faster integration process; from the matrix of complex social responsibility standards; and from the internal
elements of the business (the perception of managers, employees, financial resources )
These limitations have been seen as the obstacle for seafood exporting and processing
enterprises of Vietnam in the implementation of CSR standards and prpose some solution for
those enterprises is the main purpose of this research
Keywords: International economic integration; corporate social responsibility; seafood
exporting and processing enterprises.
Trang 21 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Lý thuyết về hội nhập kinh tế quốc tế và lý thuyết về trách nhiệm xã hội (TNXH) ra đời vào thập niên 50 của thế kỷ XX, nhưng phải đến đầu cuối những năm 90, những nghiên cứu về những chủ đề n ày mới được thực hiện ở Việt Nam Đây là những lý thuyết mang tính thời sự, dành được nhiều sự quan tâm của học giả
Về chủ đề hội nhậ p kinh tế quốc tế có thể k ể đến những tác phẩm tiêu biểu như :
Balassa Bela (1961), The Theory of Economic Integration, Richard D Irwin Inc., Homewood, Illinois; Jacob Philip E & Toscano (ed.) (1964), The Integration of Political Communities, Philadelphia, Lippincott; Buzan Barry (1988), “The Southeast Asian Security Complex”, Contemporary Southeast Asia, tập 10, số 1, tháng 7/1988; Bộ Ngoại giao (2002), Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hóa: Vấn đề và giải pháp, NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn XuânThắng chủ biên (2007), Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế đối với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, NXB Khoa
học xã hội, Hà Nội, tháng 7, trang 21-24; Phạm Quốc Trụ (2010), “Thực trạng hội nhập kinh
tế quốc tế của Việt Nam những năm qua và triển vọng những năm tới”, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế số 1 (80); Đặng Đình Quý (2013), Bàn thêm về khái niệm “hội nhập quốc tế” của Việt Nam trong giai đoạn mới
Các nghiên cứu về chủ đề trách nhiệm xã hội (TNXH) có thể kể đến một số công trình
tiêu biểu như: Fredman Milton (1970), “The social responsibility of business is to increase its profit”, New York Times; Carroll Archie (1999), “Corporate Social Responisbility - Evolution of a definitional construct”, Business Society; Wright Patrick (2005), “Corporate Social Responsibility: Strategic Implications”, Journal Management Studies; Nigel Twose và
Tara Rao (2003), “Báo cáo về trách nhiệm xã hội ở Việt Nam”; Diana Hierbaek Nymann (2005), “Corporate Social Responsibility – Developing Occupational Health as Vocational Training in Viet Nam”; Charlotta Undén (2007), “Multilnational Corporation and Spillovers
in Vietnam – Adding Corporate Social Responsibility; Nguyễn Đình Cung và Lưu Minh Đức (2010), “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – CSR: một số vấn đề lý luận và yêu cầu đổi mới trong quản lý nhà nước đối với CSR ở Việt Nam”
Nhìn chung, các nghiên cứu này đều thể hiện: Hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu lớn của thời đại ngày nay; là nền tảng hết sức quan trọng cho sự tồn tại bền vững của hội nhập trong các lĩnh vực khác; là quá trình một quốc gia tham gia các hoạt động chung của cộng đồng quốc tế theo các nguyên tắc, chuẩn mực mà cộng đồng quốc tế thừa nhận Không ít công trình nêu trên cũng khẳng định , trong hội nhập kinh tế quốc tế hàng rào thuế quan dần được dỡ bỏ, nhưng hàng rào kỹ thuật thương mại lại được dựng lên trong đó gồm tiêu chuẩn TNXH
và TNXH là một vấn đề mang tính toàn cầu và hiện đã và đang là một phần của “luật chơi” trong nền kinh tế thế giới
Kế thừa những sản phẩm khoa học nêu trên, tác giả đã thực hiện nghiên cứu chuyên
sâu về hội nhập kinh tế quốc t ế và thực hiện tiêu chuẩn TNXH quốc tế của doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản (DN CB, XK TS) Việt Nam như một bổ sung có ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn
Trang 32 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế (International integration)
Theo Béla Balassa (1961), h ội nhập kinh tế là việc gắn kết mang tính thể chế giữa các nền kinh tế lại với nhau dựa trên nguyên tắc chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực và tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế có thể diễn ra theo nhiều mức độ thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa nền kinh tế theo những hình thức khác nhau, từ đơn phương, song phương đến
đa phương, tiểu khu vực/vùng, khu vực, liên khu vực và toàn cầu Một nước có thể đồng thời tham gia vào nhiều tiến trình hội nhập với tính chất, phạm vi và hình thức khác nhau, song về
cơ bản phải trải qua các bước hội nhập từ thấp đến cao bao gồm: (i) Thỏa thuận thương mại
ưu đãi (PTA); (ii) Khu vực mậu dịch tự do (FTA); (iii) Liên minh thuế quan (CU); (iv) Thị
trường chung; (v) Liên minh kinh tế - tiền tệ
2.1.2 Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility)
Thuật ngữ này chính thức xuất hiện trong các nghiên cứu cách đây hơn 50 năm, khi H.R.Bowen công bố cuốn sách của mình với nhan đề "Social responsibilities of the Businessmen" (1953), nhằm mục đích tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các doanh nghiệp làm tổn hại đến cho xã hội Tuy nhiên từ đó đến nay thuật ngữ "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp" đang được hiểu theo nhiều cách khác nhau, có góc nhìn thiên về kinh tế hoặc xã hội hay cả góc nhìn bao hàm cả các khía cạnh kinh tế, xã hội Một số người xác định “Trách nhiệm xã hội hàm ý nâng hành vi của doanh nghiệp lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kỳ vọng xã hội đang phổ biến” (Prakash, Sethi,
1975, tr.58-64) Một số người khác hiểu “TNXH của doanh nghiệp bao gồm sự mong đợi của xã hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất định” (Archie B Carroll, 1979),…Cũng có quan điểm cho rằng TNXH là nghĩa vụ bắt buộc, song cũng có quan điểm cho rằng TNXH mang tính tự nguyện, cũng có quan điểm
TNXH bao hàm cả hai mặt: vừa có tính bắt buộc, vừa có tính tự nguyện
Nhóm phát triển kinh tế tư nhân của Hội đồng DN vì sự phát triển bền vững – World Business Council for Sustainable Development (WBCSD) thuộc WB (2002) đứng đầu là Nigel Twose đã đưa ra khái niệm được sử dụng rộng rãi : “Trách nhiệm xã hội là cam kết của doanh nghiệp đối với đạo đức kinh doanh và đóng góp vào phát triển kinh tế bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động và gia đình họ, cộng đồng địa phương và xã hội nói chung”
2.1.3 Khái niệm doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản
D oanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản là các doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện một hay một số công đoạn của quá
tr ình làm biến đổi động, thực vật dưới nước có giá trị kinh tế thành những sản phẩm hoặc hàng hóa có thể đem bán nhằm mục đích sinh lời
Trang 4Khái niệm này chỉ ra rằng: Doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản (DN CB, XK TS) tồn tại dưới các loại hình khác nhau như: DN tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần thực hiện một hay một số công đoạn của chuỗi giá trị sản xuất và xuất khẩu mặt hàng thủy sản Chuỗi giá trị đó bắt đầu từ công đoạn tạo nguyên liệu (được thực hiện bằng cách nuôi trồng/khai thác/nhập khẩu) đến công đoạn chế biến (tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng, phụ liệu, phế liệu, thành phẩm, bán thành phẩm ), sau đó các sản phẩm đó được xuất khẩu trực tiếp hay gián tiếp để bán cho người tiêu dùng ở nội địa hay nước ngoài Do sự phân công xã hội, không phải DN nào cũng có mặt trong tất cả các công đoạn của chuỗi giá trị đó mà tùy thuộc điều kiện mà DN lựa chọn công đoạn tham gia hay
một phần của chuỗi giá trị đó
2.2 Thực hiện trách nhiệm xã hội - "luật chơi" của hội nhập kinh tế quốc tế đối với
doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản
Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng trở thành xu thế tất yếu của nền kinh tế hiện đại
Bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế , là quá trình xây dựng các sân chơi chung và áp dụng các luật chơi chung Các luật chơi chung là những điều kiện đối với t hương mại quốc tế giữa các quốc gia thành viên và thực hiện TNXH là một trong những luật chơi đó Doanh nghiệp CB, XK TS hoạt động trong bối cảnh hội nhập quốc tế có rất nhiều tiêu chuẩn liên quan đến thực hiện TNXH để lựa chọn Trong đó, các tiêu chuẩn theo chương trình cấp chứng chỉ cho DN được các nhà nhập khẩu trên các thị trường lớn (như: Mỹ, châu Âu, Nhật Bản )
sử dụng làm cơ sở thực hiện thương mại quốc tế Có thể kể đến như:
(i) Nhóm các tiêu chuẩn về thực hiện TNXH
BSCI (Business Social Compliance Initiative): Bộ tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ TNXH trong kinh doanh, hướng đến đảm bảo sự tuân thủ các tiêu chuẩn xã hội và môi trường cụ thể
ISO 26000: Là một tiêu chuẩn quốc tế của Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế đưa ra hướng dẫn về TNXH Bộ tiêu chuẩn hướng dẫn các DN với tất cả loại hình kinh doanh thông qua mọi vấn đề về TNXH và những việc cần được thực hiện nhằm đáp ứng các yêu cầu này Thông qua việc cung cấp cho các DN vô số những hướng tiếp cận các vấn đề xã hội và môi trường, ISO 26000 thúc đẩy sự phát triển bền vững trên phạm vi toàn cầu
ASC (Aquaculture Stewardship Council): Là chương trình dán nhãn và c hứng nhận hàng đầu thế giới đối với thủy sản được nuôi có trách nhiệm ASC sẽ là một tổ chức toàn cầu làm việc với các nhà nuôi trồng thủy sản, nhà chế biến thuỷ sản, các công ty bán lẻ và dịch vụ thực phẩm, các nhà khoa học, các nhóm bảo tồn và công chúng để khuyến khích sự lựa chọn thuỷ sản tốt nhất về môi trường và xã hội
MSC (Marine Stewardship Council): Do Hội đồng quản lý biển ban hành, đây là một trong số các loại nhãn hiệu sinh thái được chú trọng trên thế giới, nó giúp chứng nhận các ngành ngư nghiệp bền vững Sản phẩm thủy sản sử dụng nhãn MSC đảm bảo được khai thác
từ một ngư trường bền vững, được quản lý tốt và được khai thác một cách có trách nhiệm
BAP (Best Aquaculture Practices): Là một tiêu chuẩn trách nhiệm, tiêu chuẩn môi trường và xã hội, tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc cho các trang trại và trại sản xuất giống tôm, cá rô phi và cá da trơn cũng như các nhà máy chế biến thủy sản Tiêu
Trang 5chuẩn BAP đề cao tính cộng đồng và quan hệ của nhân viên, bảo tồn đa dạng sinh học của đất, quản lý nước, ma túy và quản lý hóa chất
Hình 1: Vị trí của tiêu chuẩn TNXH của doanh nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế
(ii) Nhóm các tiêu chuẩn về quản lý chất lượng sản phẩm thủy sản
HACCP (Hazard Analysis and Critical Control Points): Là một hệ thống kiểm soát các mối nguy hiểm và rủi ro cho an toàn thực phẩm trong suốt quá trình chế biến Hệ thống HACCP đã chứng minh được khả năng kiểm soát và giảm thiểu được những rủi ro cho an toàn thực phẩm trong tất cả các công đoạn chế biến, kể từ lúc bắt đầu là nguyên vật liệu cho đến những bước cuối cùng như đóng gói, lưu kho, bảo quản và phân phối sản phẩm
GLOBAL GAP (Global Good Agricultural Practices): Là tiêu chuẩn tập trung vào quản lý chất lượng, an toàn và truy nguồn gốc trong lĩnh vực nông nghiệp
IFS (International Food Standard): Là tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế, do Gobal Food Safety Initiative (GFSI) ban hành Các yếu tố chính của IFS bao gồm: Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm; Thực hành nuôi trồng tốt/thực hành sản xuất tốt/thực hành thương mại tốt; Hệ thống HACCP
SQF 1000/2000CM (Safe Quality Food): Là hệ thống quản lý và phòng ngừa những rủi ro bao gồm các kết quả của việc thực hiện và vận hành kế hoạch SQF nhằm bảo đảm cho
an toàn và chất lượng trong doanh nghiệp thực phẩm
ISO 22000: ISO 22000:2005 là tiêu chuẩn về hệ thống quản lý an toàn thực phẩm nằm trong bộ tiêu chuẩn ISO 22000 do tổ chức ISO ban hành vào tháng 09/2005
ISO 9001: Là tiêu chuẩn về hệ thống quản lý chất lượng
HALAL: Khi tổ chức xây dựng và đáp ứng theo tiêu chuẩn Halal, tổ chức có hệ thống quản lý an toàn thực phẩm có thể tạo ra môi trường làm việc giảm thiểu rủi ro liên quan an toàn thực phẩm, sản phẩm được tạo ra an toàn, nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và yêu cầu luật pháp của người hồi giáo trong và ngoài nước
SẢN PHẨM THỦY SẢN BỀN VỮNG
- Sản phẩm có chất lượng
- Môi trường không bị nguy hại
- Người lao động được đảm bảo quyền, lợi ích
- Cam kết với đối tác được đảm bảo
NHÀ NHẬP KHẨU
NGƯỜI TIÊU DÙNG
DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN, XUẤT KHẨU THỦY SẢN
TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
- Sân chơi chung: Thị trường quốc tế mở rộng, cạnh tranh cao
- Luật chơi chung: Thuế quan ưu đãi; Hàng rào kỹ thuật; An toàn vệ sinh thực phẩm
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Trang 6(iii) Các tiêu chuẩn liên quan đến TNXH đối với môi trường
ISO 14000: Là bộ tiêu chuẩn quốc tế về Hệ thống quản lý môi trường có thể giúp cho
DN duy trì một cách bền vững, vừa đảm bảo đáp ứng những yêu cầu của Luật pháp về môi trường vừa thể hiện thiện chí của Ban lãnh đạo, đặc biệt là cam kết của mọi thành viên trong
đó về việc bảo vệ môi trường và ngăn ngừa ô nhiễm
ISO 50000: Là tiêu chuẩn về hệ thống quản lý liên quan đến năng lượng Đây là tiêu chuẩn mang tính chất tự nguyện, tập trung vào việc quản lý liên quan đến năng lượng, tiết kiệm năng lượng
Các tiêu chuẩn quốc tế nêu trên được công bố bởi các tổ chức khác nhau, song theo đánh giá các chuyên gia của Bureau Veritas Cetification, các tiêu chuẩn đều đề cao đến phát triển bền vững và yêu cầu bắt buộc người khai thác, nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thủy sản phải thực hiện nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng, giảm thiểu tác động xấu đến môi trường, đảm bảo quyền và lợi ích của người lao động
Bên cạnh các tiêu chuẩn quốc tế, để giải quyết khó khăn cho người sản xuất cũng như xây dựng thương hiệu cho ngành thủy sản nội địa, các quốc gia có nghề nuôi trồng thủy sản phát triển trên thế giới đã xây dựng và tiến hành chứng nhận các tiêu chuẩn quốc gia riêng như: Thái Lan có ThaiGAP, Trung Quốc có ChinaGAP, Đài Loan có TaiwanGAP,
Ma-lai-xi-a có MMa-lai-xi-alMa-lai-xi-aysiMa-lai-xi-a AquMa-lai-xi-afrMa-lai-xi-am CertificMa-lai-xi-ation Scheme (SPLAM),…và Việt Nam có VietGAP
2.3 Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến thực hiện trách nhiệm xã hội của doa nh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản
Nhà quản trị doanh nghiệp là người đứng đầu, chịu trách nhiệm về các hoạt động của
DN và có tầm quan trọng trong các quyết định của DN Quan điểm, nhận thức của nhà quản trị DN sẽ ảnh hưởng lớn tới việc ra bất cứ quyết định của DN trong đó có những quyết định liên quan đến việc thực hiện TNXH của DN Do đó họ cần phải nhận thức đúng đắn vấn đề này và chuyển hóa thành kế hoạch hành động và tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch này một cách nghiêm túc Việc triển khai thực hiện TNXH đòi hỏi trước hết người lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp phải có tâm, có tầm nhìn và kiến thức về TNXH cũng như năng lực quản lý điều hành việc thực hiện, phải có tổ chức khoa học, hợp lý bên cạnh tổ chức bộ máy doanh nghiệp đảm bảo tinh, gọn, hiệu quả với những quy trình giá trị khoa học
2.3.1 Khả năng tài chính của doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản
Để thực hiện tốt TNXH DN CB, XK TS cần phải đầu tư một khoản kinh phí không hề nhỏ Mặc dù nhiều khoản kinh phí nằm trong danh mục chi phí của doanh nghiệp (chi phí tiền lương, thưởng trả cho NLĐ, chi phí trang bị máy móc hiện đại, tiết kiệm năng lượng, chi phí
xử lý rác thải,…) nhưng để thực sự làm tốt TNXH của mình, đặc biệt là để tăng thêm các lợi ích cho các bên liên quan như NLĐ, nhà cung ứng, khách hàng, cộng đồng xã hội thì DN CB,
XK TS cần phải có “hầu bao” đủ lớn Do vậy các DN, tập đoàn lớn thì sẽ có nhiều điều kiện hơn để thực hiện tốt hơn TNXH của DN mình Tuy nhiên các DN CB, XK nhỏ và vừa vẫn hoàn toàn có thể đầu tư, chi trả cho các khoản kinh phí thực hiện TNXH của mình khi biết linh hoạt và lựa chọn các mục tiêu thực hiện TNXH phù hợp trong từng giai đoạn khác nhau
Trang 72.3.2 Nhận thức của người lao động doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản
Người lao động vừa là chủ thể tham gia vào quá trình này vừa là đối tượng thực hiện TNXH của DN Do vậy NLĐ trong DN CB, XK TS phải có nhận thức đầy đủ và đúng đắn về những vấn đề liên quan đến thực hiện TNXH của DN Bởi lẽ chỉ khi có nhận thức đúng đắn họ mới có thể có những hành động đúng đắn Nhìn từ khía cạnh chủ thể của quá trình thực hiện TNXH của DN, một sản phẩm, dịch vụ của DN CB, XK TS muốn có chất lượng tốt trước hết đòi hỏi phải có NLĐ có trình độ chuyên môn, kỹ thuật tốt và nghiêm chỉnh chấp hành các quy định, yêu cầu về chất lượng sản phẩm, song trình độ chuyên môn chưa đủ mà ý thức trách nhiệm của NLĐ trong sản xuất và cung ứng sản phẩm cho thị trường; nhất là đội ngũ kiểm tra, giám sát chất lượng sản phẩm cao mới đảm bảo sản xuất và xuất xưởng các sản
phẩm tốt Nhìn từ khía cạnh đối tượng tiếp nhận việc thực hiện TNXH của DN, người lao động trong DN CB, XK TS cũng cần nhận thức được đầy đủ quyền, lợi ích và trách nhiệm của mình khi tham gia cống hiến sức lao động cho DN Việc này sẽ đảm bảo cho quá trình thực hiện TNXH của DN với người lao động trong DN diễn ra một cách tốt đẹp từ đó thúc đẩy sự phát triển của quan hệ lao động lành mạnh trong DN
Hiệp hội là các tổ chức tập hợp, thống nhất các DN CB, XK TS theo chuỗi giá trị nhằm mục đích mang lại hiệu quả tối ưu cho từng công đoạn sản xuất, mang lại lợi ích cho từng DN thành viên Ngoài chức năng đại diện cho các thành viên, bảo vệ quyền lợi của các thành viên, hiệp hội cũng đề ra các tiêu chuẩn về thực hiện TNXH đối với các DN CB, XK
TS thành viên của mình Bên cạnh đó, hiệp hội cũng tăng cường giám sát việc thực hiện hệ thống quản lý và tiêu chuẩn chất lượng, an toàn lao động , vệ sinh an toàn thực phẩm tác động tới môi trường của các DN này Các hiệp hội có vai trò quan trọng trong việc phổ biến, tuyên truyền và tổ chức cho các DN CB, XK TS cam kết thực hiện các quy định về thực hiện TNXH, đồng thời cũng có các biện pháp xử lý vi phạm tiêu chuẩn của hiệp hội
3 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Dữ liệu nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng kết hợp dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp được thu thập bằng nhiều phương pháp khác nhau nhằm phản ánh một cách khách quan và đa chiều về nguyên nhân khiến cho việc tuân thủ tiêu chuẩn TNXH quốc tế còn hạn chế
Dữ liệu thứ cấp được thu thập tổng hợp từ nghiên cứu của các tổ chức, cơ quan như: Tổng cục Hải Quan ; Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP); Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) và các nghiên cứu đơn lẻ của các tác giả về xuất khẩu thủy sản Việt Nam
Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ phương pháp điều tra bằng bản hỏi Điều tra được thực hiện với đối tượng điều tra là những nhà quản trị, người lao động, đối tác của 33 DN CB,
XK TS tại một số địa phương có thế mạnh (Bến Tre, Cần Thơ, An Giang, Cà Mau, Đồng Tháp) Phù hợp với quy mô, quỹ thời gian và nguồn kinh phí việc lấy mẫu thuận tiện đã được áp dụng Tổng số phiếu điều tra phát ra là 580, thu về 481 phiếu trong đó 477 phiếu hợp lệ Mặc dù mẫu điều tra so với đối tượng khảo sát là rất khiêm tốn, nhưng qua xử lý dữ liệu, chúng tôi nhận thấy những kết quả có được rất tương đồng với ý kiến của các chuyên gia Dữ liệu sơ cấp sau khi thu thập được đã được xử lý bằng phương pháp thống kê để cung cấp
Trang 8thông tin đánh giá về các vấn đề thực tế
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu là kết quả tổng hợp của phương pháp nghiên cứu bao gồm: Phương pháp thu thập dữ liệu (là các phương pháp: Nghiên cứu tài liệu; Điều tra xã hội học; Chuyên gia); Phương pháp xử lý dữ liệu (là các phương pháp: Thống kê; So sánh, phân tích, tổng hợp)
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Giới thiệu khái quát về tình hình hội nhập kinh tế quốc tế và xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
Nhìn lại lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam từ năm 1995 đến 2015, nước ta đã hội nhập ngày càng sâu và toàn diện vào nền kinh tế thế giới Theo Bộ Công Thương, tính đến tháng 5/2015, Việt Nam đã ký và tham gia 9 Hiệp định Thương mại tự do (FTA), trong đó có 6 Hiệp định mang tính khu vực, 3 Hiệp định Thương mại tự do còn lại là Hiệp định song phương với Nhật Bản, Chile và Hàn Quốc Ngoài ra, Việt Nam cũng đã chủ động tìm kiếm cơ hội đàm phán với các đối tác thương mại và đầu tư thông qua các hiệp định thương mại tự do như: Hoa Kỳ, Chi-lê, Liên minh Hải quan (Nga, Belarus, Kazakhstan) và EU; Hiệp định Đối tác chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (TPP); Hiệp định với EU (EVFTA)
Thuỷ sản đang trở thành một trong những mặt hàng chủ lực có giá trị xuất khẩu lớn nhất nước ta Sự phát triển mạnh mẽ của ngành thủy sản đã đưa Việt Nam trở thành nước đứng đầu thế giới về sản lượng xuất khẩu cá tra; đứng thứ ba về sản lượng tôm Tính đến nay, sản phẩm thủy sản nước ta đã có mặt tại 156 quốc gia và vùng lãnh thổ với thị trường chính là
EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc Xuất khẩu thủy sản trong suốt giai đoạn 1995-2014 vẫn phát triển theo chiều rộng Theo VASEP, năm 2014 tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 7.836 triệu USD, tăng 16,74% so với năm 2013 Năm 2014 kim ngạch xuất khẩu thủy sản chiếm 25,39% tổng kim ngạch XK toàn ngành nông nghiệp và 2,65% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn quốc (xem Hình 2)
Nguồn: Tính toán từ số liệu Tổng cục Hải quan và VASEP qua các năm Hình 2: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam giai đoạn 2009 - 2014
Thông qua FTAs, lộ trình miễn trừ thuế quan đối với hầu hết các hoạt động thương mại sẽ giúp mang lại lợi thế so sánh cho Việt Nam nói chung và các DN CB, XK thuỷ sản nói riêng so với các đối thủ cạnh tranh Cũng nhờ FTAs, mở ra thị trường rộng lớn cho DN CB,
XK thủy sản, xu hướng gia công hàng thuỷ sản cũng đang chuyển dịch mạnh mẽ vào Việt Nam, góp phần tăng thị phần, việc làm và kim ngạch cho quốc gia Với uy tín về VSATTP,
7836
0
5000
10000
Triệu USD
Trang 9chất lượng hàng hóa và công nghệ chế biến tiên tiến, nhiều tập đoàn và quốc gia đã chuyển các loại nguyên liệu thủy sản đặc thù (cá hồi, cá tuyết ) để thuê các DN Việt Nam gia công cho họ Tuy nhiên, các DN CB, XK thuỷ sản cũng gặp phải những khó khăn khi hội nhập Đặc biệt việc cắt giảm thuế nhập khẩu các loại nguyên liệu thuỷ sản tạo áp lực cạnh tranh cho ngư dân và các sản phẩm thuỷ sản của DN ngay trên sân nhà Một thách thức lớn khác trên thương trường quốc tế là các nước yêu cầu khắt khe hơn về ATVSTP, các hàng rào kỹ thuật, trách nhiệm xã hội Ở ba thị trường lớn EU, Mỹ, Nhật Bản thì Việt Nam là một trong ba nước đứng đầu về số vụ bị từ chối nhập khẩu sản phẩm thủy sản
4.2 Tình hình tuân thủ các tiêu chuẩn thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản Việt Nam
Theo cam kết Chính phủ Việt Nam, thì 3/4 tổng sản lượng nuôi cá tra của cả nước đáp ứng tiêu chuẩn ASC của Quỹ quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) đưa ra Điểm đáng chú ý nhất trong tiêu chuẩn ASC là đòi hỏi trách nhiệm với cộng đồng và môi trường của DN Do vậy, thực hiện và đạt tiêu chuẩn ASC, trại nuôi cá tra phải nằm trong vùng qui hoạch quốc gia và địa phương; lựa chọn khu vực nuôi và quản lý sao cho hạn chế tối đa ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, những người cùng sử dụng chung môi trường và nguồn gen của quần đàn cá tra tự nhiên Phát triển và vận hành trại nuôi một cách có trách nhiệm với xã hội, đảm bảo môi trường sống và sức khỏe con người
Ở phạm vi DN, đạt chứng nhận tiêu chuẩn quốc tế cũng là điều kiện cần nếu DN CB,
XK TS muốn duy trì thị trường xuất khẩu thủy sản Do đó, thời gian qua các DN đã bắt đầu quan tâm đến việc triển khai các hoạt động để đạt chứng nhận theo các tiêu chuẩn quốc tế này Tùy thuộc vào thị trường mục tiêu, thị trường hiện tại mà DN CB, XK TS cung cấp sản phẩm và căn cứ vào yêu cầu của thị trường đó mà các DN lựa chọn tiêu chuẩn cần đạt chứng nhận Với các thị trường trọng yếu của DN CB, XK TS Việt Nam hiện nay các tiêu chuẩn TNXH các DN đạt chứng nhận đó là BAP, ASC, MSC và các tiêu chuẩn QLCL như: ISO
22000, HACCP, Global GAP, IFS, BRC (xem Bảng 1) Thực tế cho thấy, do một DN CB,
XK thủy sản có nhiều thị trường khác nhau nên việc một DN hiện phải áp dụng cùng một lúc
5 - 6 tiêu chuẩn trở nên bình thường và có xu hướng còn tiếp tục tăng về mặt số lượng trong thời gian tới khi thị trường tiếp tục được mở rộng
Trang 10Bảng 1: Ý kiến về tình trạng áp dụng các tiêu chuẩn TNXH DN CB, XK TS
STT Tiêu chuẩn thực hiện
TNXH
Chưa biết chưa áp Biết,
dụng
Không
áp dụng
Chuẩn
bị áp dụng
Đã áp dụng
1000/2000CM
Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra của tác giả và cộng sự
Cho thấy vẫn còn tỉ lệ không nhỏ những nhà quản trị chưa biết đến các tiêu chuẩn quan trọng này Một số tiêu chuẩn mặc dù rất quan trọng đối với việc thực hiện TNXH nhưng
do yêu cầu của thị trường xuất khẩu, cũng như tính trùng lặp với các tiêu chuẩn khác (như: ISO 26000) nên các DN không lựa chọn hay không quan tâm không biết có tỉ lệ cao Tiêu chuẩn Viet GAP là một tiêu chuẩn hiện các DN áp dụng còn thấp và nhiều nhà quản trị chưa biết tới, nhưng trong tương lai gần tỉ lệ này chắc chắn sẽ được cải thiện đáng kể
Lợi ích từ việc được cấp chứng nhận các tiêu chuẩn TNXH trong XK thủy sản là rất lớn, song thực tế việc này cũng là những rào cản không nhỏ đối với các DN CB, XK TS:
- Sự phát triển quá nhiều bộ tiêu chuẩn chứng nhận độc lập như trên đã tạo ra áp lực quá lớn đối với người nuôi trồng thủy sản Các thị trường nhập khẩu thủy sản đưa ra rất nhiều đòi hỏi về tiêu chuẩn quốc tế, khiến DN “bối rối” trong việc quyết định tiêu chuẩn áp dụng
- Việc tuân thủ các quy chuẩn này thường làm tăng chi phí sản xuất, dẫn đến các sản
phẩm đạt chuẩn có giá thành cao hơn so với sản phẩm được sản xuất theo cách truyền thống,
từ đó làm giảm tính cạnh tranh Ví dụ, để có được chứng nhận MSC của Hội đồng Bảo tồn biển quốc tế thì phải có 100.000 USD cho lần chứng nhận đầu với thời hạn 1 năm, và 12.000