Mục đích của đề tài là đánh giá và làm rõ và nhận diện những cơ hội và thách thức của sản phẩm gỗ xuất khẩu (XK) tỉnh Bình Định trong quá trình HNQT và FTAs, từ đó có những khuyến nghị các giải pháp để nâng cao năng lực cho sản phẩm gỗ XK ở tỉnh Bình Định trong thời gian tới. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA SẢN PHẨM GỖ XUẤT KHẨU Ở TỈNH BÌNH
ĐỊNH TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ GIA NHẬP
CÁC HIỆP HỘI THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI OPPORTUNITIES AND CHALLENGES OF EXPORT WOOD PRODUCTS IN BINH DINH PROVINCE IN THE INTERNATIONAL INTEGRATION AND PARTICIPATION OF THE NEW FREEDOM TRADE ORGANIZATIONS
NCS Lê Thị Thế Bửu PGS TS Trịnh Văn Sơn Trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế
Tóm tắt
Quá trình hội nhập quốc tế (HNQT) và gia nhập Hiệp hội tự do thương mại thế hệ mới (FTAs) trong những năm gần đây đã tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức cho các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, trong đó có sản phẩm gỗ xuất khẩu ở tỉnh Bình Định Vì vậy, việc
đánh giá và làm rõ và nhận diện những cơ hội và thách thức của sản phẩm gỗ xuất khẩu
(XK) tỉnh Bình Định trong quá trình HNQT và FTAs, từ đó có những khuyến nghị các giải pháp để nâng cao năng lực cho sản phẩm gỗ XK ở tỉnh Bình Định trong thời gian tới
Từ khóa: Hội nhập quốc tế, sản phẩm gỗ, tác động, xuất khẩu, Bình Định
Abstract
International economic integration and participation in FTAs has given the wood processing industry exporters in Binh Dinh many big opportunities such as expanding markets; Product restructuring; Opportunity to attract foreign direct investment; Opportunity to access new materials market, cheap; The opportunity to access modern science and technology; Opportunity to increase competitiveness At the same time, it brings many big challenges such as fierce competition; Non-tariff barriers; Challenges in processing technology and the challenge of financial capacity and management are also increasing That requires businesses to actively seize opportunities, actively change to adapt In addition, the wood association should further promote its supporting role in the wood processing industry in Binh Dinh
Key words: International Integration, wood products, impact, exports, Binh Dinh
Mở đầu
Hội nhập quốc tế và gia nhập FTAs là chủ trương nhất quán và là nội dung trọng tâm trong chính sách đối ngoại và hợp tác quốc tế của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình
đổi mới Với chủ trương đó, đất nước ta đã từng bước và chủ động hội nhập ngày càng sâu,
rộng vào nền kinh tế thế giới Quá trình HNQT và gia nhập FTAs là động thái tích cực, tạo
ra các cơ hội cho sự phát triển kinh tế - xã hội, làm gia tăng khả năng tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ; Tăng khả năng thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp từ bên ngoài; Thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế; Thúc đẩy quá trình tự do hoá thương mại, đầu tư, chuyển
giao công nghệ và càng thúc đẩy xu hướng toàn cầu hoá, quốc tế hoá Tuy nhiên, bên
Trang 2cạnh tạo cơ hội, mặt tích cực, quá trình HNQT và gia nhập FTAs cũng gặp không ít khó khăn, thách thức và tạo ra những tác động tiêu cực đối với nền kinh tế: Quá trình cạnh tranh trở nên gay gắt, nhiều doanh nghiệp (DN) có thể dẫn đến nguy cơ phá sản; Chính phủ
sẽ mất đi một nguồn thu ngân sách do phải cắt giảm thuế quan Đối với các nước nghèo sẽ thiếu tài chính và các nguồn lực khác cho việc chuyển đổi cơ cấu và phát triển kinh tế, dẫn
đến sự lệ thuộc; Có thể làm suy giảm các giá trị đạo đức truyền thống dễ bị xói mòn bởi
văn hoá ngoại lai
Nhận thấy những tác động tích cực và tiêu cực trên của HNQT và FTAs, sau gần ba mươi năm (từ năm 1986 đến nay) Đảng, Nhà nước ta đã kiên định đường lối chủ động hội nhập quốc tế để phát huy những mặt tích cực của hội nhập, hạn chế những tiêu cực nhằm
đưa đất nước ta trở thành một cường quốc trong khu vực và trên thế giới
Bình Định là 1 trong 4 địa phương chế biến gỗ xuất khẩu (CBGXK) lớn của cả nước Hiện nay, trên địa bàn tỉnh hiện có 131 DN hoạt động chế biến gỗ và lâm sản Trong năm 2015, tổng giá trị xuất khẩu (XK) gỗ tăng đến 362,54 triệu USD, chiếm 53% tổng giá trị XK của toàn tỉnh; tăng 13,2% giá trị so với năm 2014 Sản phẩm gỗ Bình Định xuất khẩu chủ yếu sang các nước Châu Âu (chiếm 85%), Châu Đại Dương (7%), Bắc Mỹ (5% ), Châu Á (3%) và đến hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ Ngành chế biến gỗ XK ở tỉnh Bình
Định đã có nhiều đóng góp lớn cho xã hội, mang lại nguồn thu nhập cho đất nước, đặc biệt
là nguồn thu ngoại tệ, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động ở địa phương góp phần thúc
đẩy nền kinh tế phát triển, đem lại giá trị kim ngạch xuất khẩu cao Tuy nhiên, trong quá
trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, Việt Nam đang hội nhập sâu và rộng vào thị trường thế giới đã tạo ra nhiều cơ hội và không ít những khó khăn, thách thức cho các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, trong đó có sản phẩm gỗ xuất khẩu của tỉnh Bình Định Do đó,
việc đánh giá những “Cơ hội và thách thức của sản phẩm gỗ xuất khẩu ở Bình Định trong quá trình hội nhập quốc tế và tham gia FTAs” là nội dung hết sức cần thiết, nhằm
nhận diện những cơ hội và thách thức của sản phẩm gỗ xuất khẩu (XK) ở Bình Định trong bối cảnh HNQT và FTAs Từ đó, khuyến nghị các biện pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm gỗ XK tỉnh Bình Định trong thời gian tới
2 Lý luận cơ bản của vấn đề nghiên cứu
2.1 Hội nhập quốc tế
a Khái niệm
Lý thuyết về hội nhập kinh tế cho rằng, hội nhập kinh tế là quá trình gắn kết mang
tính thể chế giữa các nền kinh tế lại với nhau và lập luận rằng, các thị trường chung siêu
quốc gia với việc di chuyển tự do các nhân tố kinh tế giữa các nước sẽ tạo ra nhu cầu tự nhiên phải hội nhập sâu hơn, không chỉ về kinh tế, mà còn cả chính trị [1] Tuy nhiên cho
đến nay, vẫn chưa có khái niệm thống nhất nào về hội nhập kinh tế quốc tế
Gần đây, tác giả Đặng Đình Quý (2012) có đưa ra khái niệm hội nhập quốc tế như sau: “Hội nhập quốc tế (HNQT) là hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế, là quá trình chủ động chấp nhận, áp dụng và tham gia xây dựng các luật lệ và chuẩn mực quốc tế nhằm phục vụ tối đa lợi ích quốc gia, dân tộc” [6]
Trang 3b Bản chất
Có thể coi HNQT chính là một hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế Hợp tác quốc tế là quá trình các nước giao lưu hoặc hành động cùng nhau để đạt được một mục tiêu, lợi ích nào đó Có thể chia hợp tác quốc tế thành ba mức độ cơ bản: Một là trao đổi, tham vấn, phối hợp chính sách, triển khai hoạt động phối hợp và thực hiện các dự án chung; Hai là xây dựng, áp dụng luật lệ, chuẩn mực chung và Ba là điểm trùng giữa hợp tác quốc tế và HNQT Nói rộng ra, HNQT bao hàm việc chấp nhận, tham gia xây dựng và thực hiện các chuẩn mực quốc tế, bao gồm: Các thể chế, luật lệ, tập quán, nguyên tắc và tiêu chuẩn chung được chấp nhận rộng rãi Các chuẩn mực này có thể được hình thành từ quá trình hợp tác quốc tế, thông qua những hiệp định, thỏa thuận giữa các nhà nước hoặc các chuẩn mực, tập quán được đặt ra bởi các tổ chức, hiệp hội phi chính phủ được những tổ chức, cá nhân trên thế giới chấp nhận rộng rãi
2.2 Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTAs)
2.2.1 Khái niệm hiệp định thương mại tự do
Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia định nghĩa Hiệp định thương mại tự
do (FTA) là một Hiệp ước thương mại giữa hai hoặc nhiều quốc gia
Theo đó, các nước sẽ tiến hành theo lộ trình việc cắt giảm và xóa bỏ hàng rào thuế quan cũng như phi thuế quan nhằm tiến tới việc thành lập một khu vực mậu dịch tự do Theo thống kê của Tổ chức thương mại thế giới có hơn 200 FTA có hiệu lực[16] Các FTA
có thể được thực hiện giữa hai nước riêng lẻ hoặc có thể đạt được giữa một khối thương mại và một quốc gia như FTA Liên minh Châu Âu-Chi Lê, hoặc FTA ASEAN-Trung Quốc[16] Còn theo quan điểm truyền thống, FTA là hiệp định hợp tác kinh tế được ký kết giữa ít nhất hai nước, nhằm cắt giảm các hàng rào thương mại, cụ thể là thuế quan, quota nhập khẩu (và các hàng rào phi thuế quan khác), đồng thời thúc đẩy thương mại hàng hóa
và dịch vụ giữa các nước này với nhau Một trong các đặc điểm quan trọng của FTA
“truyền thống” là các thành viên của FTA không có biểu thuế quan chung trong quan hệ thương mại với các nước bên ngoài FTA Các FTA điển hình theo khái niệm này là: FTA ASEAN (AFTA); FTA Trung Âu (CEFTA),…
2.2.2 Đặc điểm của Hiệp định tự do thương mại thế hệ mới (FTAs)
Thuật ngữ “thế hệ mới” hoàn toàn mang tính tương đối, được sử dụng để nói về
các FTA có phạm vi toàn diện, vượt ra ngoài khuôn khổ tự do hóa thương mại hàng hóa, như: FTA Việt Nam-EU (EVFTA); Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP); Hiệp
định Đối tác thương mại và đầu tư xuyên Đại Tây Dương (T-TIP);các hiệp định thành lập
EU; FTA Bắc Mỹ (NAFTA); Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR); các FTA ASEAN+1; FTA Australia-Hoa Kỳ (AUSFTA);… Các FTAs nói trên được coi là “mới” vì
3 đặc điểm sau đây:
Một là, một số FTAs (FTA “thế hệ mới”) nêu trên bao gồm cả các nội dung vốn
được coi là “phi thương mại” như lao động, môi trường, cam kết phát triển bền vững và
quản trị tốt, …Vấn đề tiêu chuẩn lao động và vấn đề môi trường đã từng được đưa ra khỏi Chương trình nghị sự Thương mại toàn cầu kể từ Hội nghị Seattle của WTO năm 1999, bởi các nước đang phát triển lúc đó tỏ ra nghi ngại rằng liệu đây có phải là những “hàng rào bảo hộ mới”?[14] Nhưng, thực tế cho thấy: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, vấn đề bảo đảm
Trang 4quyền lợi của người lao động ngày càng được coi trọng trên cơ sở coi người lao động là người trực tiếp làm ra các sản phẩm trong thương mại quốc tế, nên trước hết họ phải được bảo đảm các quyền, lợi ích và các điều kiện lao động cơ bản Đây là cách tiếp cận của các FTAs và đang trở thành một xu thế trong những năm gần đây trên thế giới Việc đưa nội dung về lao động vào các FTAs còn nhằm bảo đảm môi trường cạnh tranh công bằng giữa các bên trong quan hệ thương mại Hiện nay, tiến trình toàn cầu hóa đã tạo ra một thị trường lao động trên toàn thế giới và biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng, buộc cả các nước phát triển và các nước đang phát triển phải cùng nhau nỗ lực thực hiện những “chuẩn mực thương mại mới ”trong các FTAs Các FTAs không đưa
ra tiêu chuẩn riêng về lao động và môi trường, mà chỉ khẳng định lại các tiêu chuẩn lao
động của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), và các tiêu chuẩn môi trường và phát triển bền
vững của Liên hợp quốc (UN)
Hai là, nếu so với các FTA trước đây và các hiệp định của WTO, thì các FTAs bao
gồm các nội dung mới hơn như đầu tư, cạnh tranh, mua sắm công, thương mại điện tử, khuyến khích sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ, hỗ trợ kỹ thuật cho các nước
đang phát triển cũng như dành thời gian chuyển đổi hợp lý để nước đi sau có thể điều
chỉnh chính sách theo lộ trình phù hợp với trình độ phát triển của mình, …
Ba là, các nội dung đã có trong các FTA trước đây và các hiệp định của WTO, nay
được xử lý sâu sắc hơn trong các FTAs, như thương mại hàng hóa, bảo vệ sức khỏe động
vật và thực vật trong thương mại quốc tế, thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ (IPR) (với “TRIPS cộng” và “TRIPS siêu cộng”), tự vệ thương mại, quy tắc xuất xứ, minh bạch hóa và chống tham nhũng, giải quyết tranh chấp giữa Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài (ISDS), … Như vậy, nếu so sánh với các hiệp định của WTO, thì các FTAs chính là các hiệp định “WTO cộng”, với những nội dung trước đây từng bị từ chối, thì nay lại cần thiết phải chấp nhận, bởi bối cảnh thương mại quốc tế đã thay đổi
2.3 Tác động của hội nhập quốc tế và Hiệp hội tự do thương mại thế hệ mới đến sản phẩm xuất khẩu
- Tác động đối với tiến trình tự do hóa thương mại toàn cầu, khu vực và mỗi quốc gia: Các FTA được cho là làm tăng cơ hội kinh doanh, do quá trình giảm/loại bỏ các rào
cản thuế quan và phi thuế quan, tạo cơ hội mới cho xuất khẩu và cơ cấu lại thị trường; tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế Về mặt kinh tế các FTA dường như đang được phóng đại quá mức, việc các FTA mang đến sự gia tăng hay giảm sút phúc lợi kinh tế hiện chưa thể khẳng định Khó khăn lớn nhất do các FTA chính là tăng sức ép cạnh tranh cho toàn bộ nền kinh tế quốc gia, khu vực và toàn cầu Về mặt xã hội, cạnh tranh tăng lên khi tham gia FTA có thể làm một số doanh nghiệp ở các nước đang phát triển, trước hết là các DN nhà nước, các DN có công nghệ sản xuất lạc hậu rơi vào tình trạng khó khăn, kéo theo đó là khả năng thất nghiệp trong một bộ phận lao động
- Tác động đối với hệ thống pháp luật của các thành viên: Các FTA đòi hỏi các
thành viên phải thực hiện rà soát toàn bộ hệ thống pháp luật của nước mình, trước hết là các lĩnh vực thương mại, đầu tư, IPR, cạnh tranh, lao động, đấu thầu, thương mại điện tử, môi trường, giải quyết tranh chấp,… Điều đó góp phần tích cực cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật giúp các thành viên cải thiện môi trường pháp lý và kinh doanh như: Bảo
Trang 5vệ nhà đầu tư trong nước và nước ngoài khỏi sự can thiệp trái pháp luật; Tạo “sân chơi” công bằng cho DN nhà nước và DN tư nhân; Thuận lợi hóa các thủ tục hải quan; Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong kinh doanh; Thuận lợi hóa việc công nhận các tiêu chuẩn sản phẩm; Mở cửa thị trường mua sắm công cho các DN FDI từ các thành viên của FTA; Minh bạch hóa hoạt động các cơ quan nhà nước; Bảo hộ IPR của cá nhân, các DN ở Việt Nam và nước ngoài Tuy nhiên, những lĩnh vực pháp luật nêu trên đều là những lĩnh vực mới và khó đối với Việt Nam và các nước đang phát triển, khó khăn lớn nhất đối với các nước
đang phát triển luôn là vấn đề thực thi pháp luật
- Tác động đối với thể chế, chính sách của các thành viên các FTA: Đòi hỏi các
thành viên phải thực hiện rà soát toàn bộ hệ thống chính sách kinh tế - xã hội, văn hóa nhằm thực hiện minh bạch chính sách, cải cách hành chính, cải cách tư pháp Xử lý mối quan hệ giữa thương mại quốc tế với những vấn đề vốn được coi là “phi thương mại”, “các giá trị xã hội”, như: thương mại và quyền con người, bảo vệ người lao động trong thương mại quốc tế, thương mại và môi trường, thương mại và văn hóa, thương mại và an ninh, bảo đảm an toàn thực phẩm, phát triển bền vững, minh bạch chính sách, quyền tự do Internet,… theo hướng chuyển từ “đối thoại giữa những người khiếm thính” sang thỏa hiệp
đàm phán Song, với những điều kiện đặt ra trên các FTA “thế hệ mới” sẽ giúp Việt Nam
kiện toàn, cải thiện hơn nữa bộ máy nhà nước theo hướng đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường trách nhiệm, kỉ luật, kỉ cương của công chức nhà nước, từ đó hỗ trợ tiến trình
đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế Đặc biệt, việc hoàn thiện và tăng
cường công tác bảo hộ IPR sẽ mở ra cơ hội thu hút đầu tư vào những lĩnh vực có hàm lượng tri thức cao Tuy nhiên, các FTA “thế hệ mới” tiềm ẩn nhiều hệ quả quan trọng không chỉ đối với hệ thống pháp luật của các thành viên mà còn liên quan tới các chính sách xã hội, văn hoá, kinh tế Bên cạnh đó,các tiêu chuẩn cao về quản trị minh bạch và hành xử vô tư của bộ máy nhà nước, sẽ đặt ra những thách thức lớn cho các cơ quan nhà nước, Chính phủ sẽ phải thực hiện chính sách đầy khó khăn đê cân bằng giữa thương mại quốc tế với những vấn đề “phi thương mại”
3 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp chính như sau:
- Phương pháp tiếp cận thu thập thông tin: Phương pháp này là sự khởi đầu của quá
trình tiếp xúc với đối tượng nghiên cứu, là sự đi trước của tư duy trước khi bắt tay thực hiện những thao tác cụ thể của quá trình thu thập thông tin Bước tiếp theo, tác giả tiến hành thu thập thông tin qua các cách tiếp cận hệ thống có cấu trúc; tiếp cận tất nhiên và ngẫu nhiên; tiếp cận lịch sử và logic; tiếp cận cá biệt và so sánh; Qua đó, tác giả hình thành nên cơ sở
sở lý luận nền tảng cho nghiên cứu này Tài liệu thu thập thông tin của tác giả bao gồm các văn bản pháp luật, các báo cáo của sở công thương tỉnh Bình Định về ngành chế biến gỗ xuất khẩu, các bài báo khoa học, các công trình nghiên cứu có liên quan,
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Mục đích là tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn
đề, nắm bắt những nội dung người đi trước đã làm, không mất thời gian lặp lại những công
việc người đi trước đã thực hiện Nội dung phân tích có thể bao gồm: phân tích nguồn, phân tích nội dung và tổng hợp tài liệu
Trang 6- Phương pháp tiếp cận logic: Từ việc nghiên cứu, thu thập các dữ liệu, thông tin
thông qua tài liệu, sách báo hoặc các phương tiện thông tin đại chúng để xây dựng các khung nghiên cứu của về cơ hội và thách thức của sản phẩm gỗ xuất khẩu tỉnh Bình Định trong quá trình hội nhập quốc tế và tham gia các FTAs Qua đó, kết quả nghiên cứu là quá trình phần tích đầy đủ và có logic về cơ hội và thách thức của sản phẩm gỗ xuất khẩu của tỉnh Bình Định trong tình hình hiện tại
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Hội nhập kinh tế quốc tế đã tác động đến
mọi mặt đời sống xã hội của mọi quốc gia Tuy nhiên, để đánh giá hội nhập quốc tế và FTAs của Việt Nam sẽ tạo ra những cơ hội cũng như thách thức gì cho hoạt động xuất khẩu của một nhóm sản phẩm chủ lực của một địa phương, cụ thể là sản phẩm gỗ xuất khẩu tỉnh Bình Định Để giải quyết vấn đề đặt ra này, bài viết vận dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp cho đề tài này
4 Kết quả nghiên cứu
4.1 Tổng quan về đặc điểm của tỉnh và ngành chế biến gỗ xuất khẩu ở tỉnh Bình Định
4.1.1 Số lượng doanh nghiệp
Theo số liệu thống kê Sở Công thương ở tỉnh Bình Định với các mốc thời gian năm
2005, 2010 và năm 2015, số lượng các doanh nghiệp (DN) chế biến gỗ ở tỉnh Bình Định có nhiều sự thay đổi: Cụ thể, năm 2005 có 79 DN, với số vốn dưới 10 tỷ đồng (chiếm 35%); sau
5 năm (2010), số lượng DN đã tăng lên 171 DN, trung bình hàng năm tăng 21,3%, trong đó quy mô về nguồn vốn dưới 10 tỷ đồng có 86 DN (chiếm 50%) Trong 5 năm tiếp theo (2010-2015) số lượng DN chế biến gỗ lại giảm từ 171 DN năm 2010 xuống còn 131 DN năm 2015, tương ứng với mức giảm trung bình hằng năm là 5%, trong đó có 71 DN có vốn dưới 10 tỷ
đồng (chiếm 54,2%) Nguyên nhân của sự sụt giảm này là do tác động của cuộc khủng hoảng
kinh tế thế giới làm cho số lượng đơn hàng giảm, nên các DN quy mô nhỏ, năng lực tài chính yếu không thể trụ vững được trên thị trường, dẫn đến phá sản
79
170 131
Năm 2005
Năm 2010
Năm 2015
Số lượng doanh nghiệp CBGXK tỉnh Bình Định qua
3 mốc thời gian
(Nguồn: Sở Công thương Bình Định)
Biểu đồ 1: Số lượng doanh nghiệp CBGXK tỉnh Bình Định năm 2005, 2010, 2015
Trang 74.1.2 Cơ cấu sản phẩm gỗ xuất khẩu ở tỉnh Bình Định
Sản phẩm gỗ XK tỉnh Bình Định khá đa dạng, song xét về cơ cấu sản phẩm thì sản phẩm gỗ ngoài trời chiếm tỷ trọng lớn nhất (53,02%) giá trị kim ngạch XK sản phẩm gỗ Bình Định là tỉnh có khối lượng gỗ xuất XK lớn của cả nước, nhưng phần lớn các DN sản xuất, chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh chủ yếu vẫn là gỗ ngoài trời (ngoại thất) chiếm tỷ trọng lớn so với các loại sản phẩm gỗ khác Trong những năm qua, dưới tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành gỗ XK tỉnh Bình Định, đặc biệt là sản phẩm gỗ ngoại thất, dẫn đến có nhiều DN đã đóng cửa hoặc phá sản Trước thực trạng đó, Hiệp hội gỗ và lâm sản Bình Định (FPA) đã xây dựng chiến lược theo hướng đa dạng hóa sản phẩm, tăng tỷ trọng sản phẩm đồ nội thất, mỹ nghệ, giảm tỷ trọng
đồ gỗ ngoại thất và mở rộng thị trường tiêu thụ và chú trọng phát triển thị trường nội địa
Trong cơ cấu sản phẩm gỗ XK, dăm gỗ cũng chiếm tỷ trọng lớn thứ hai, với 24,25% giá trị kim ngạch XK Dăm gỗ là sản phẩm “ăn sổi”, giá trị gia tăng trong sản phẩm thấp, nhưng sản phẩm này vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu sản phẩm gỗ XK tỉnh Bình Định Nguyên do của thực trạng này là có đến 54,2% DN CBGXK tỉnh Bình Định có quy mô nhỏ, năng lực tài chính thấp nên lựa chọn sản phẩm chính là dăm gỗ Tuy nhiên,
do tỷ suất lợi nhuận của sản phẩm sơ chế dăm gỗ thấp, lại là sản phẩm ngày càng khan hiếm và có sự cạnh tranh nguồn nguyên liệu đầu vào so với các nhóm sản phẩm khác nên FPA đã khuyến khích các doanh nghiệp chuyển hướng SX và hạn chế XK dăm gỗ kể từ năm 2015 Tiếp đến, chiếm tỷ trọng lớn thứ 3 trong cơ cấu sản phẩm gỗ XK ở tỉnh Bình
Định là sản phẩm đồ gỗ nội thất với tỷ trọng (9,35%) Trong những năm gần đây khi gỗ
ngoại thất gặp khó ở đầu ra sản phẩm, các DN CBGXK tỉnh Bình Định cùng sự khuyến khích của FPA đã chuyển hướng sang SX đồ gỗ nội thất Song, sự thay đổi này chưa mạnh dẫn đến nên tỷ trọng đóng góp của sản phẩm nội thất, gỗ nguyên liệu, viên nén gỗ và các sản phẩm gỗ khác trong tổng kim ngạch XK chưa cao: Gỗ nguyên liệu (chiếm 6,3%), viên nén gỗ (chiếm 4,69%), nhóm sản phẩm gỗ khác (chiếm 1,88%) và bột gỗ (chiếm 0,5%) có
tỷ trọng thấp trong tổng giá trị kim ngạch XK sản phẩm gỗ tỉnh Bình Định
53.02
9.35
24.25
6.30
0.50 4.69 1.88
0.00
10.00
20.00
30.00
40.00
50.00
60.00
Sản phẩm
gỗ ngoài trời (%)
Sản phẩm
gỗ nội thất (%)
Dăm gỗ (%)
Gỗ nguyên liệu (%)
Bột gỗ (%) Viên nén
gỗ (%)
Sản phẩm khác (%)
Cơ cấu sản phẩm gỗ xuất khẩu tỉnh Bình Định năm
2015
(Nguồn: Sở Công thương Bình Định)
Biểu đồ 2: Cơ cấu sản phẩm gỗ xuất khẩu tỉnh Bình Định năm 2015
Như vậy, có thể nói sản phẩm gỗ XK tỉnh Bình Định đa dạng, nhiều chủng loại, nhưng sản chủ yếu là gỗ ngoài trời, dăm gỗ Nhìn vào cơ cấu sản phẩm gỗ XK tỉnh Bình
Trang 8Định, chúng ta thấy giá trị tăng thêm từ các sản phẩm không lớn: Sản phẩm gỗ ngoài trời
chủ yếu gia công nên giá trị thu về không nhiều, dăm gỗ lại là sản phẩm sơ chế nên giá trị tăng thêm không cao, các sản phẩm khác cũng tương tự; Sản phẩm đồ gỗ nội thất giá trị tăng thêm cao, nhưng tỷ trong lại thấp
4.2 Cơ hội và thách thức của sản phẩm gỗ xuất khẩu ở Bình Định trong quá trình Hội nhập quốc tế và gia nhập Hiệp hội thương mại tự do thế hệ mới (FTAs)
4.2.1 Quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam
Trước 1986, Hội nhập quốc tế của Việt Nam chủ yếu ở khối Cộng đồng kinh tế Châu Âu (SEV) thuộc Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu Tuy nhiên, từ khi thực hiện chính sách đổi mới kinh tế (Đại hội Đảng lần thứ VI), Việt Nam đã mở rộng quan hệ hợp tác với các nước, tăng cường trao đổi thương mại, thu hút đầu tư nước ngoài,
ký kết nhiều hiệp định song phương, đa phương liên quan đến hội nhập quốc tế:
Tháng 10/1993, Việt Nam đã thiết lập quan hệ bình thường với IMF, WB, ADB
Các nhà tài trợ quốc tế thông qua Câu lạc bộ Paris và Câu lạc bộ London đã cam kết cho Việt Nam vay ưu đãi và thảo luận việc xóa các khoản nợ cho Việt Nam
Tháng 12/1994, Việt Nam đã gửi đơn xin gia nhập WTO và tháng 01/1995 WTO chính thức nhận đơn xin gia nhập của Việt Nam để tiến hành đàm phán cụ thể
Tháng 10/1994, Việt Nam gửi đơn xin gia nhập ASEAN và tháng 7/1995 nước ta
đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN, chấp nhận các nguyên tắc, quy định của tổ
chức kinh tế khu vực này Sự kiện này được coi là một bước đột phá về hành động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Ngày 22/11/2015, các nhà Lãnh đạo ASEAN đã ký tuyên bố Kuala Lumpur chính thức thành lập Cộng đồng ASEAN Việc tham gia ASEAN đã thiết thực tạo ra môi trường hòa bình, ổn định cải thiện môi trường luật pháp trong nước, tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, cũng như làm cơ sở, tiền đề giúp Việt Nam tham gia các khuôn khổ hợp tác song phương và đa phương khác
Tháng 6/1996, Việt Nam tham gia thành lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) ASEM là diễn đàn đối thoại không chính thức theo nguyên tắc đồng thuận, cùng nỗ lực tạo dựng một mối quan hệ đối tác mới toàn diện giữa Á - Âu vì sự tăng trưởng mạnh mẽ hơn của hai khu vực
Tháng 11/1998, Việt Nam đã chính thức được kết nạp và trở thành thành viên
APEC APEC là diễn đàn kinh tế đầu tiên trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương bao
gồm 21 nền kinh tế thành viên của 4 lục địa, đại diện cho hơn 1/3 dân số trên thế giới (khoảng 2,5 tỷ người), chiếm trên 50% GDP và khoảng 47% thương mại thế giới APEC
được thành lập nhằm mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong các nền kinh tế thành
viên, tăng cường tinh thần cộng đồng và các mối liên hệ trong khu vực vì sự thịnh vượng của nhân dân toàn khu vực
Ngày 13/7/2000, Chính phủ Hoa Kỳ và Việt Nam đã ký Hiệp định thương mại song phương (BTA) tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy quan hệ kinh tế - thương mại giữa hai nước Đồng thời, năm 2001 Việt Nam ký Hiệp định Thương mại hàng hóa Việt Nam - Hoa
Kỳ đã tạo ra nhiều cơ hội cho các DN Việt Nam trong XK hàng hóa của Việt Nam, tạo cơ
Trang 9hội tốt cho nhập khẩu công nghệ hiện đại và nguyên liệu đầu vào chất lượng cao, thu hút vốn đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ
Đánh dấu quá trình mở cửa kinh tế, chủ động hội nhập sâu, rộng vào khu vực và thế giới là việc kết thúc 11 năm đàm phán song phương, đa phương, quyết định kết nạp Việt Nam vào WTO ngày 7/11/2006 và chính thức có hiệu lực vào 07/1/2007, Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức thương mại lớn nhất thế giới hiện nay Kết quả này đã đánh dấu sự hội nhập toàn diện của Việt Nam vào kinh tế thế giới Việt Nam đã tiến hành nhiều cải cách chính sách kinh tế, thương mại, đầu tư đồng bộ, hợp
lý theo hướng minh bạch và tự do hóa hơn, góp phần quan trọng cho vỉêc xây dựng một nền kinh tế thị trường hoàn thiện cho Việt Nam
Theo thông tin từ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), tính đến tháng 11/2016, Việt Nam đã tham gia thiết lập 18 FTAs với hơn 60 quốc gia và nền kinh tế trên thế giới, trong đó 8 FTA do ta chủ động tham gia ngoài khuôn khổ nội khối ASEAN hoặc với nước đối tác của ASEAN Điều đáng ghi nhận là Việt Nam đã hoàn tất đàm phán
để ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) Hiệp định này được kỳ vọng
tạo ra một khuôn khổ thương mại toàn diện, có chất lượng cao Việc tham gia vào Hiệp
định TPP sẽ giúp Việt Nam nắm bắt và tận dụng tốt hơn các cơ hội do quá trình hội nhập
kinh tế khu vực đem lại, đồng thời Việt Nam có thêm điều kiện, tranh thủ hợp tác quốc tế
để phục vụ chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, triển khai chiến lược hội nhập quốc tế nói
chung và chiến lược đối ngoại ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương nói riêng
4.2.2 Cơ hội, thách thức của sản phẩm gỗ xuất khẩu tỉnh Bình Định trong quá trình hội nhập quốc tế và FTAs
Với việc tham gia nhiều tổ chức thương mại và ký nhiều hiệp định thương mại với nhiều quốc gia, cộng đồng kinh tế trên thế giới đã cho thấy sự hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng Với phạm vi FTA và quy mô của các tổ chức thương mại quốc tế
mà Việt Nam là thành viên khá rộng và toàn diện, trong 3 - 5 năm tới sẽ chạm đến các dấu mốc quan trọng của nhiều Hiệp định và dần tiến đến tự do hóa thuế quan hầu hết các mặt hàng nhập khẩu với các đối tác thương mại chính Ngoài ra, việc ký kết 2 Hiệp định và tuyên bố kết thúc 2 Hiệp định quan trọng TPP và Việt Nam - EU sẽ tạo ra những cơ hội cũng như nhiều thách thức cho nền kinh tế của Việt Nam, trong đó có sản phẩm gỗ xuất
khẩu của cả nước nói chung và Bình Định nói riêng trong thời giai tới
a Cơ hội
Thứ nhất, Cơ hội mở rộng thị trường
Một trong những nội dung quan trọng của các Hiệp định thương mại song và đa phương là thực hiện các cam kết cắt giảm thuế quan, hoàn thiện hệ thống quản lý hải quan theo tiêu chuẩn quốc tế và cắt giảm hàng rào thuế quan đã tạo ra tác động tích cực đến hoạt
động xuất nhập khẩu của Việt Nam Do đó, hội nhập kinh tế quốc tế tạo cơ hội lớn nhất
cho kinh tế Việt Nam nói chung và sản phẩm gỗ xuất khẩu tỉnh Bình Định nói riêng về mở rộng thị trường nhờ cắt giảm thuế, dỡ bỏ rào cản thương mại để tham gia sâu hơn vào
chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu Trong thời gian tới, khi các cam kết FTA bước vào
giai đoạn cắt giảm sâu, đặc biệt các FTA với Hoa Kỳ, EU có hiệu lực sẽ thúc đẩy xuất
Trang 10khẩu mạnh hơn, đem đến nhiều cơ hội mở rộng thị trường cho gỗ xuất khẩu của Việt Nam,
đồng thời giúp đa dạng hóa thị trường nhập khẩu, tránh phụ thuộc vào các thị trường
nguyên liệu truyền thống
23
31
39
66
74
0
10
20
30
40
50
60
70
80
Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015
Số lượng thị trường XK của sản phẩm gỗ Bình Định
(Nguồn: Sở Công thương Bình Định)
Biểu đồ 3: Thị trường tiêu thụ sản phầm gỗ XB Bình Định, giai đoạn 2009-2015
Nếu xét ở thời kỳ đầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là gia nhập ASEAN,
kinh tế Việt Nam nói chung và Bình Định nói riêng có cơ hội rộng mở, nhưng chưa thật sự
chuyển biến mạnh mẽ Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, khi Việt Nam tham gia ngày
càng sâu và rộng vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đã tác động mạnh mẽ đến cả hệ
thống nền kinh tế nói chung và đối với ngành chế biến gỗ XK trong nước và các địa
phương nói riêng Ở Bình Định, thị trường xuất khẩu sản phẩm gỗ này càng mở rộng, nếu
năm 2009 sản phẩm gỗ XK tỉnh Bình Định chỉ đến với 12 quốc gia trên thế giới, thì năm
2013 lên đến 39 quốc gia và đến năm 2015 con số thị trường tiêu thụ tăng lên đến 74 quốc
gia Tốc độ tăng số lượng tiêu thụ sản phẩm gỗ XK ở Bình Định ở các quốc gia giai đoạn
2009-2015 bình quân là 29,67% năm Việc mở rộng và tăng trưởng về thị trường tiêu thụ
sản phẩm gỗ XK Bình Định như trên là kết quả tác động tích cực từ cơ hội về hội nhập
kinh tế quốc tế
Bảng 1: Giá trị xuất khẩu sản phẩm gỗ Bình Định giai đoạn 2012-2015
(ĐVT: Triệu USD)
Thị trường xuất khẩu 2012 2013 2014 2015 Tăng BQ (%)