1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ hội và thách thức của ngành giày dép Việt Nam trong bối cảnh hiệp định thương mại tự do Việt Nam - liên minh Châu Âu (EVFTA)

12 128 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 299,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này phân tích tình hình thương mại ngành giày dép của Việt Nam trong bối cảnh Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA). Bằng việc sử dụng các chỉ số thương mại và tính toán cơ cấu xuất, nhập khẩu các nhóm sản phẩm của ngành, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: EU là thị trường chính của hàng giày dép Việt Nam, tuy nhiên mức độ tập trung thương mại chỉ ở một vài thành viên EU như Đức, Pháp, Bỉ, và Anh. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA NGÀNH GIÀY DÉP VIỆT NAM

TRONG BỐI CẢNH HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM -

LIÊN MINH CHÂU ÂU (EVFTA) OPPORTUNITIES AND CHALLENGES FOR FOOTWEAR EXPORT

IN THE CONTEXT OF VIETNAM - EU FREE TRADE AGREEMENT

TS Phan Thanh Hoàn Trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế

Tóm tắt

Nghiên cứu này phân tích tình hình thương mại ngành giày dép của Việt Nam trong bối cảnh Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) Bằng việc

sử dụng các chỉ số thương mại và tính toán cơ cấu xuất, nhập khẩu các nhóm sản phẩm của ngành, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: EU là thị trường chính của hàng giày dép Việt Nam, tuy nhiên mức độ tập trung thương mại chỉ ở một vài thành viên EU như Đức, Pháp,

Bỉ, và Anh Lợi thế cạnh tranh của ngành rất cao ở hầu hết các nhóm sản phẩm phân theo

mã HS của ngành Bên cạnh đó, mức độ tập trung thương mại của ngành mới chỉ thể hiện

ở một số nhóm sản phẩm và thị trường nhất định Như vậy, Việt Nam có cơ hội gia tăng

xuất khẩu hàng giày dép trong khu vực EU Tuy nhiên, cơ hội này chỉ được tận dụng tối đa khi mà Việt Nam đảm bảo được quy tắc xuất xứ sản phẩm và đáp ứng các yêu cầu về chất lượng và kỹ thuật của đối tác Do đó, Việt Nam cần phải tăng cường năng lực sản xuất đầu vào, thay đối cơ cấu nhập khẩu của ngành nhằm thúc đẩy xuất khẩu, và nâng cao giá trị gia tăng của ngành

Từ khóa: EVFTA, giày dép, xuất khẩu, lợi thế cạnh tranh, Việt Nam, EU

Abstract

This study analyses the situation of Vietnam footwear industry in the context of Vietnam - EU Free Trade Agreement (EVFTA) By using the Trade Indicators and calculating/analysing the structure of footwear trade, the results indicate that: EU is the main market for Vietnam footwear, but the trade intensity is at high level only with some

EU members such as the Germany, France, Belgium, and UK Although the industry’s competitive advantage is very high for all groups of products classified under HS codes, it has been decreasing recently Vietnam has the opportunity to increase exports of footwear into the EU region However, Vietnam can only take full advantage of this opportunity when the country ensures the rules of origin of products as well as satisfies all the technical standards required by the agreement Thus, Vietnam needs to improve the production capacity of footwear inputs, change the import structure of the industry in order to promote exports, and increase the added value of footwear industry

Keywords: EVFTA, footwear, export, RCA, Vietnam, EU

Trang 2

1 Mở đầu

Trong một loạt Hiệp định thương mại tự do - FTA mà Việt Nam tham gia đàm phán đã và đang được hoàn tất, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp

định FTA Việt Nam - EU (EVFTA) được kỳ vọng sẽ tạo ra làn sóng hội nhập lần thứ hai

mạnh mẽ hơn đối với nền kinh tế Việt Nam Theo đó, những ngành hàng chủ lực của Việt Nam như giày dép được kỳ vọng sẽ là những ngành hàng được hưởng lợi nhiều nhất

Liên tục trong thời gian dài, EU là thị trường xuất khẩu chính, gắn với sự phát triển lâu dài, bền vững của ngành Da giầy Việt Nam Theo thống kê của EU, từ năm 1996, Việt Nam đã đứng vị trí thứ 3 trong số các nước xuất khẩu giầy dép nhiều nhất vào EU Gần

đây, Việt Nam đã vươn lên vị trí nhà xuất khẩu lớn thứ hai sau Trung Quốc Trong hơn 12

tỷ USD giầy dép xuất khẩu năm 2015 thì riêng xuất khẩu sang EU đạt 6 tỷ USD, tăng 27%, chiếm gần 50% tổng kim ngạch xuất khẩu Xuất khẩu của Việt Nam vào EU chủ yếu tập trung ở mặt hàng giầy da chất lượng cao và giầy thể thao cho các thương hiệu của Mỹ và

EU

Từ năm 2014, giầy dép của Việt Nam vào EU chính thức được hưởng ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) với tất cả các mặt hàng Tuy nhiên GSP là chương trình ưu đãi có thời hạn và kèm theo những điều kiện nhất định Khi EVFTA có hiệu lực cũng là thời điểm Việt Nam kết thúc thời gian được hưởng ưu đãi theo Quy chế GSP Theo cam kết, EVFTA hấp dẫn hơn với đa phần các dòng thuế giảm về 0% (trong vòng 7 năm), tạo đà tốt hơn cho xuất khẩu giầy dép vào EU, mức tăng trưởng có thể từ 20 - 30% [1]

Đối với mặt hàng giày dép, EVFTA sẽ giảm thuế nhập khẩu từ mức trên 12% về

0% theo lộ trình 7 năm Với việc hưởng mức thuế suất thấp, giá cả sản phẩm sau khi nhập khẩu sẽ giảm đáng kể, tăng tính cạnh tranh so với các đối thủ Trong khi đó, đối thủ lớn nhất của Việt Nam là Trung Quốc vẫn chưa có FTA riêng với EU hay thuộc diện được hưởng GSP mới của EU Hiện nay, Việt Nam đứng thứ hai trên thế giới về số lượng sản xuất giày dép sau Trung Quốc Đây là lợi thế lớn của Việt Nam

Tuy nhiên, xuất khẩu giày dép sang thị trường EU suy giảm mạnh Tình trạng này xuất phát từ những bất ổn chính trị trong khối đã tác động tới tâm lý tiêu dùng Những thị trường khác ngoài EU tuy vẫn giữ mức tăng trưởng tốt nhưng không đủ bù cho sự suy giảm tại thị trường EU [1]

Vì vậy, việc phân tích cơ hội và thách thức của ngành giày dép trong bối cảnh thực thi EVFTA có ý nghĩa quan trọng trong trong việc khuyến nghị các chính sách nhằm khai thác tối ưu cơ hội và giảm thiểu rủi ro xuất khẩu sang thị trường EU, góp phần thúc đẩy ngành giày dép Việt Nam trong thời gian tới

2 Phương pháp nghiên cứu

Để phân tích thực trạng và cơ hội của ngành giày dép Việt Nam trong EVFTA,

nghiên cứu này tập trung phân tích xuất khẩu giày dép theo các nhóm mã ngành HS và

đánh giá cơ hội xuất khẩu dựa vào các chỉ số thương mại (Trade Indicators) đó là: Chỉ số

lợi thế so sánh biểu hiện (Revealed Comparative Advantage - RCA) nhằm đánh giá lợi thế

so sánh của các nhóm hàng giày dép; Chỉ số Hướng tăng trưởng thị trường (Growth

Trang 3

Orientation of Markets-GOM) nhằm xác định tiềm năng thương mại của ngành giày dép

giữa Việt Nam với các nước EU; và Chỉ số tập trung thương mại (Trade Intensity Index -

TII) nhằm xác định mức độ tập trung xuất khẩu của Việt Nam vào các thị trường EU so với

mức trung bình của thế giới[3][8] Trên cơ sở những phân tích đó, nghiên cứu sẽ đề xuất các giải pháp giúp Việt Nam nắm bắt các cơ hội để đẩy mạnh xuất khẩu giày dép sang thị trường EU tiềm năng

Chỉ số lợi thế so sánh biểu hiện (RCA) của một sản phẩm được đo bằng tỷ trọng xuất khẩu của sản phẩm đó trong xuất khẩu của quốc gia so với tỷ trọng xuất khẩu của sản phẩm đó trong xuất khẩu của thế giới, và được tính toán như sau:

RCA ij = (x ij / X it ) / (x wj / X wt ) Trong đó:x ij và x wj là giá trị kim ngạch xuất khẩu của sản phẩm j của quốc gia i và

thế giới; x it và X wtlà tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia ivà thế giới Nếu RCA lớn hơn

1 thì quốc gia I được coi là có lợi thế so sánh về sản phẩm j so với thế giới ngược lại, RCA nhỏ hơn 1 biểu thị bất lợi (không có lợi thế so sánh) của quốc gia I về sản phẩm j

Chỉ số Hướng tăng trưởng thị trường (Growth Orientation of Markets-GOM): Chỉ

số này dùng để đo lường tiềm năng tăng trưởng của một ngành hàng xuất khẩu bằng việc

so sánh tốc độ tăng trưởng của ngành hàng của một quốc gia so với thế giới GOM được tính theo công thức sau:

Trong đó: x là giá trị xuất khẩu của sản phẩm k từ quốc gia i sang quốc gia j; t 1

t 2 là thời gian bắt đầu và kết thúc trong kỳ tính toán.GOM có giá trị từ -∞ đến ∞ GOM

càng lớn biểu thị tiềm năng tăng trưởng xuất khẩu sản phẩm k giữa hai quốc gia càng cao

và ngược lại

Chỉ số tập trung thương mại (TII) được dùng để xác định mức độ tập trung thương

mại của một quốc gia đối với một thị trường cụ thể TII được đo bằng tỷ trọng xuất khẩu của quốc gia tại một thị trường trong tương quan với tỷ trọng xuất khẩu của thế giới vào thị trường đó TII được tính theo công thức sau:

TII = (x ij / X it ) / (x wj / X wt ) Trong đó: x ij và x wj là giá trị xuất khẩu của quốc gia i và của thế giới sang quốc gia j; Xit và X wt là tổng giá trị xuất khẩu của quốc gia i và của thế giới sang quốc gia j TII lớn hơn (nhỏ hơn) 1 biểu thị quan hệ thương mại song phương giữa quốc gia ivà j tập trung

(không tập trung), hay nói cách khác là quan trọng hơn (không quan trọng) so với quan hệ thương mại giữa quốc gia với thế giới

Bên cạnh sử dụng các chỉ số thương mại, nghiên cứu sử dụng danh mục phân loại hàng hóa theo mã HS để xác định nguồn gốc và cơ cấu đầu vào sản xuất của ngành giày dép Theo đó, nhóm hàng giày dép được thống kê dựa trên mã hàng được quy định trong Danh mục hài hòa mô tả mã hóa hàng hóa, phiên bản năm 2012 (Danh mục HS 2012) bao gồm các danh mục hàng hóa trong chương 64[7] Mã HS (HS Code) là mã số dùng để phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu trên toàn thế giới theo Hệ thống phân loại hàng hóa do Tổ chức Hải quan thế giới WCO phát hành có tên là “Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng

Trang 4

hóa” (HS - Harmonized Commodity Description and Coding System) Hệ thống hài hòa

mô tả và mã hóa hàng hóa HS hiện đang phân loại trên 98% hàng hóa trong thương mại quốc tế và phiên bản mới nhất có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2012 Hiện tại có hơn 200 qụốc gia, vùng lãnh thổ cũng nhự các tổ chức quốc tế như Phòng Thống kê Liên hợp quốc

và Tổ chức thương mại thế giới sử dụng Danh mục HS

Nguồn số liệu về thương mại ngành giày dép sử dụng trong nghiên cứu này được trích xuất từ cơ sở dữ liệu United Nations Comtrade Database [6]

3 Kết quả nghiên cứu

Thị trường hàng giày dép trong EU

Hiện tại, khối các nước EU đang chiếm gần 50% tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam và có xu hướng giảm dần qua 3 năm (bảng 1) Riêng năm 2015 đã có hơn 6 tỷ USD xuất khẩu giày dép của Việt Nam vào các nước EU Trong đó, Đức hiện chiếm 26,36%, Pháp chiếm 15,96%, Bỉ, Anh, Ý cũng chiếm khoảng 30% Tốc độ tăng trưởng kim ngạch XNK qua 3 năm 2013-2015 vào các thị trường này đều trên 20%, nhiều thị trường có mức tăng đến 50% Vì vậy, có thể nói EU là thị trường quan trọng nhất của ngành giày dép Việt Nam trong hiện tại và tương lai

Bảng 1 Kim ngạch xuất, nhập khẩu và tỷ trọng thị trường hàng giày dép

của Việt Nam 2013-2015

2013 2014 2015 Country Triệu

Triệu

Triệu

Tăng trưởng (%)

Đức 1.276,9 26,59 1.525,9 26,13 1.606,9 26,36 125,85 Pháp 645,3 13,44 822,0 14,08 973,2 15,96 150,81

Bỉ 602,6 12,55 809,3 13,86 822,6 13,49 136,51 Anh 563,6 11,74 596,3 10,21 714,4 11,72 126,75

Tây Ban Nha 356,6 7,43 455,4 7,80 355,3 5,83 99,63

Hà Lan 265,1 5,52 261,6 4,48 278,1 4,56 104,90

CH Slovakia 197,5 4,11 261,6 4,48 214,0 3,51 108,34

Ba Lan 134,4 2,80 193,8 3,32 190,2 3,12 141,50

CH Séc 87,3 1,82 127,1 2,18 117,4 1,93 134,52 Đan Mạch 46,7 0,97 48,4 0,83 61,5 1,01 131,66 Thụy Điển 42,9 0,89 41,2 0,71 49,6 0,81 115,66 Phần Lan 49,8 1,04 50,6 0,87 44,8 0,73 89,92 Ai-len 26,2 0,55 27,7 0,47 29,5 0,48 112,69 Slovenia 16,5 0,34 24,6 0,42 24,8 0,41 150,61

Hy Lạp 16,1 0,33 23,4 0,40 23,6 0,39 146,99

EU khác 25,6 0,53 33,9 0,58 34,0 0,56 132,99

Trang 5

Tổng EU 4.801,5 100,00 5.839,1 100,00 6.096,0 100,00 126,96 Thế giới

(tỷ lệ % EU/Thế giới) 8.721,9 55,05 10.690,5 54,62 12.438,8 49,01 142,62

Nguồn: tính toán từ UN comtrade

Về phân loại sản phẩm theo mã HS [2], số liệu ở bảng 2 cho thấy: giày dép có đế ngoài bằng cao su, plastic, da thuộc (mã HS 6403) chiếm tỷ trọng chủ yếu, trên 40% tổng kim ngạch XK giày dép của Việt Nam vào các nước EU Điều này phản ánh đúng thực tế

là Việt Nam đang chủ yếu thực hiện công đoạn cuối của sản phẩm giày dép (may hoặc gia công) Đối với nhóm giày dép khác, đáng chú ý là nhóm giày dép làm bằng da tổng hợp và vật liệu dệt (HS 6404) chiếm 36% kim ngạch XK giày dép năm 2015; các bộ phận của giày (HS 6406) chiếm 2,1%; giày dép khác (HS 6405) chiếm khoảng 1% Tốc độ tăng trưởng của các nhóm hàng trong 3 năm gần đây này khá cao, trên 20%, tuy nhiên mức độ tăng của các nhóm sản phẩm chênh lệch nhau khá lớn

Bảng 2 Kim ngạch và tỷ trọng xuất khẩugiày dép phân theo nhóm hàng

của Việt Nam trong EU

2013 2014 2015 Nhóm sản phẩm Mã

Tăng trưởng (%)

Giày, dép không thấm

nước có đế ngoài và mũ

bằng cao su hoặc plastic,

Các loại giày, dép khác

có đế ngoài và mũ bằng

cao su hoặc plastic

6402 1.042,3 21,71 1.264,9 21,66 1.268,7 20,81 121,72

Giày, dép có đế ngoài

bằng cao su, plastic, da

thuộc hoặc da tổng hợp

và mũ giày bằng da

thuộc

6403 2.240,2 46,66 2.579,3 44,17 2.431,0 39,88 108,52

Giày, dép có đế ngoài

bằng cao su, plastic, da

thuộc hoặc da tổng hợp

và mũ giày bằng vật liệu

dệt

6404 1.350,6 28,13 1.804,8 30,91 2.209,1 36,24 163,56

Giày, dép khác 6405 42,6 0,89 41,8 0,72 54,6 0,90 128,29 Các bộ phận của giày,

dép (kể cả mũi giày đã

hoặc chưa gắn đế trừ đế

ngoài); …

6406 121,1 2,52 144,0 2,47 128,1 2,10 105,81

Tổng cộng 4.801,5 100,00 5.839,1 100,00 6.096,0 100,00 126,96

Nguồn: tính toán từ UN comtrade

Trang 6

Lợi thế cạnh tranh hàng giày dép - RCA

RCA của ngành giày dép được tính cho từng nhóm sản phẩm phân theo mã HS (4 chữ số) được trình bày ở Biểu đồ 1 Số liệu ở biểu đồ cho thấy, tất cả các nhóm sản phẩm của ngành giày dép đều có RCA lớn hơn 1 rất nhiều, nghĩa là Việt Nam có lợi thế cạnh tranh rất lớn trên thị trường EU vềngành hàng này Trong đó các nhóm sản phẩm như Các loại giày, dép có đế ngoài và mũ bằng cao su hoặc plastic, mã HS từ 6402-6405, có RCA >

10 Đây cũng là nhóm sản phẩm chiếm tỷ trọng chính trong xuất khẩu giày dép của Việt Nam Đối với nhóm sản phẩm là các bộ phận dùng để sản xuất giày dép (mã HS 6406), lợi thế cạnh tranh cũng lớn hơn 1 Điều này đúng với thực tế là hiện nay Việt Nam đã nội địa hóa được trên 50% sản phẩm giày dép, do vậy, nhóm phụ kiện giày dép đang có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới Đây là dấu hiệu tích cực của ngành giày dép, thể hiện Việt Nam đang dần dần chủ động được trong việc sản xuất hai nhóm sản phẩm này nhằm

đáp ứng nhu cầu đầu vào của ngành

Biểu đồ 1 Lợi thế cạnh tranh biểu hiện (RCA) của các nhóm sản phẩm giày dép 2013-2015

Đi sâu vào từng mã sản phẩm cụ thể, số liệu ở bảng 3 cho biết RCA của từng sản

phẩm và xu hướng biến động qua 3 năm gần đây Nhìn chung, mặc dù có lợi thế cạnh tranh cao nhưng hầu hết các mã sản phẩm đều có RCA giảm dần qua thời gian, đặc biệt là ở những mã sản phẩm chiếm tỷ trọng cao trong xuất khẩu của ngành như: 640411, 640399,

640419, 640299 Điều này chứng tỏ hàng giày dép của Việt Nam đang mất dần tính cạnh tranh do chi phí sản xuất tăng cao và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thế giới về ngành này

Trang 7

Bảng 3 Chỉ số Lợi thế cạnh tranh biểu hiện (RCA) của ngành giày dép Việt Nam

2013-2015

trọng* 2013 2014 2015

Giày, dép thể thao, giày tennis, giày bóng rổ, giày

thể dục, giày luyện tập và các loại tương tự 640411 23.17 38.41 38.2 32.62 Các loại giày, dép khác có đế ngoài và mũ bằng

cao su hoặc plastic - Loại khác 640219 2.60 28.15 24.85 18.02 Giày, dép có đế ngoài bằng cao su, plastic, da

thuộc hoặc da tổng hợp và mũ giày bằng da thuộc -

Loại khác

640399 27.65 22.61 22.03 18.02

Giày, dép có đế ngoài bằng cao su, plastic, da

thuộc hoặc da tổng hợp và mũ giày bằng vật liệu

dệt - Loại khác

640419 13.05 19.3 19.58 17.41

Các loại giày, dép khác có đế ngoài và mũ bằng

cao su hoặc plastic - Loại khác 640299 13.64 20.95 20.61 16.62 Các loại giày, dép khác có đế ngoài và mũ bằng

cao su hoặc plastic - Giàycổ cao quá mắt cá chân 640291 4.26 16.78 15.56 13.62 Giày, dép có đế ngoài bằng cao su, plastic, da

thuộc hoặc da tổng hợp và mũ giày bằng da thuộc -

Giày cổ cao quá mắt cá chân

640391 11.09 15.88 16.94 13.38

Mũ giày và các bộ phận của chúng, trừ miếng lót

bằng vật liệu cứng trong mũ giày 640610 1.64 11.7 11.25 8.61 Giầy, dép, ghệt và các sản phẩm tương tự; các bộ

phận của các sản phẩm trên - Loại khác 640590 0.50 4.49 7.18 8.14 Giày, dép có đế ngoài bằng cao su, plastic, da

thuộc hoặc da tổng hợp và mũ giày bằng da thuộc -

Loại khác

640319 0.94 13.22 11 7.28

Giày ống trượt tuyết, giày ống trượt tuyết việt dã

và giày ống gắn ván trượt 640312 0.01 1.9 1.96 5.16 Giày, dép có đai hoặc dây gắn mũ giày với đế bằng

Có mũ giày bằng vật liệu dệt 640520 0.28 7.44 4.22 2.96 Giày ống trượt tuyết, giày ống trượt tuyết việt dã

và giày ống gắn ván trượt 640212 0.11 3.31 2.65 2.12

Đế ngoài và gót giày, bằng cao su hoặc plastic 640620 0.10 0.92 1.36 1.56

Có mũ giày bằng da thuộc hoặc da tổng hợp 640510 0.11 0.33 0.63 1.41 Giày cổ cao quá mắt cá chân nhưng không qua đầu

Ghi chú : *Tỷ trọng của nhóm sản phẩm trong tổng kim ngạch

xuất khẩu giày dép năm 2015 Nguồn: tính toán từ UN comtrade

Trang 8

Hướng tăng trưởng thị trường ngành hàng giày dép - GOM

Để thấy rõ hơn hướng tăng trưởng ngành giày dép của Việt Nam trong thị trường

EU, chỉ số GOM được tính toán cho cho cả ngành trên thị trường EU Kết quả GOM của ngành năm 2015 được thể hiện ở Biểu đồ 2 Nhìn chung tốc độ tăng trưởng xuất khẩu giày dép vào thị trường EU là cao hơn so với chỉ tiêu này của thế giới Điều này phù hợp với thực tế là Việt Nam một trong những nhà xuất khẩu hàng đầu của thế giới ngành hàng này

Đối với từng thị trường cụ thể, những thị trường trong EU nằm ở góc trên bên phải

và trái biểu đồ biểu thị Việt Nam đã và đang xuất khẩu nhiều hơn thế giới vào thị trường

EU Đó cũng chính là những thị trường chính trong xuất khẩu giày dép của Việt Nam Như vậy tiềm năng tăng trưởng của ngành vào những thị trường này sẽ khó có thể cao hơn nữa, cho dù thuế quan cắt giảm sau khi EVFTA có hiệu lực.Đối với những thị trường nằm ở góc dưới bên phải biểu đồ như : Anh, Tây Ban Nha, Croatia, Lithuania… thì xuất khẩu của Việt Nam vẫn đang còn ở mức thấp, thậm chí là âm, trong tương quan với tăng trưởng dương của thế giới trong xuất khẩu vào những thị trường này Điều này có thể được xem là những thị trường tiềm năng đối với giày dép của Việt Nam trong thời gian tới Đối với những thị trường như Ai-len và Malta, tăng trưởng xuất khẩu của ngành đều âm đối với cả Việt Nam và thế giới Kết quả này phản ánh hai trạng thái: một là nhu cầu nhập khẩu hạn chế, và hai là đang có cản trở đối với giày dép nhập khẩu từ bên ngoài Vì vậy, cần xem xét

kỹ lưỡng những chính sách thương mại đối với ngành tại các quốc gia này để có chiến lược xâm nhập thị trường hiệu quả

Nguồn: tính toán từ UN comtrade

Biểu đồ 2 Hướng tăng trưởng thị trường (GOM) của XK giày dép

tại thị trường EU giai đoạn 2013-2015

Trang 9

Tập trung thương mại hàng giày dép - TII

Chỉ số tập trung thương mại dùng để đo lường mức độ tập trung của luồng thương mại hàng hóa của một nước tại một thị trường nào đó TII cho biết liệu xuất khẩu của quốc gia sang một thị trường có nhiều hơn xuất khẩu của thế giới vào thị trường đó hay không Kết quả tính toán TII của các nhóm sản phẩm ngành giày dép Việt Nam đối với các thị trường EU được trình bày ở bảng 4 Số liệu TII cho thấy hàng giày dép Việt Nam tập trung chủ yếu ở thị trường Bỉ, Pháp, Đức, Slovenia, và Slovakia Điều này có nghĩa là xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang những thị trường nói trên cao hơn mức độ xuất khẩu giày dép của thế giới vào chính những thị trường đó Như vậy, những thị trường còn lại trong EU vẫn còn cơ hội lớn cho giày dép Việt Nam bởi TII đang còn thấp Có đến 13 thành viên của

EU có TII nhỏ hơn 1 và thậm chí gần bằng 0 Kết quả này cho thấy tiềm năng lớn cho xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang EU khi EVFTA có hiệu lực

Phân theo nhóm sản phẩm, phần lớn các thị trường có mức độ tập trung xuất khẩu cao các nhóm sản phẩm ngành giày dép như Giày, dép có đế ngoài bằng cao su, plastic, da thuộc hoặc da tổng hợp (HS 6402-6405) Trong đó, Đức có TII cao ở mã HS 6401, Bỉ HS

6405, Phần Lan HS 6406, Hà Lan HS 6405

Bảng 4 Chỉ số Tập trung thương mại (TII) năm 2015 của ngành giày dép Việt Nam

trong EU

Mã HSHà Lan Ba Lan Thổ Nhĩ Kỳ Romania CH Slovakia Slovenia Tây Ban Nha Thụy Điển Anh

Ghi chú: TII > 1, biểu thị mức độ tập trung thương mại cao

Nguồn: tính toán từ UN comtrade

Trang 10

Cơ cấu nhập khẩu sản phẩm trung gian hàng giày dép

Trong các nhóm sản phẩm của ngành giày dép phân theo mã HS, các sản phẩm thuộc mã HS 6406 được xem là sản phẩm đầu vào, hoặc trung gian của ngành Để xác định

được mức độ nội địa hóa của ngành, cơ cấu các thị trường nhập khẩu sản phẩm trung gian

cho giày dép được trình bày ở bảng 5

Số liệu ở bảng 5 cho thấy hầu hết các nhóm sản phẩm đầu vào như mũi, đế, gót giày có tỷ trọng nhập khẩu chủ yếu từ thị trường Trung Quốc Trong những sản phẩm này chỉ có các bộ phận khác của giày dép có tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc ít nhất nhưng cũng chiếm hơn 40% Thực tế cho thấy, theo Hiệp hội Giày dép Việt Nam, giày dép Việt Nam đang yếu ở khâu sản xuất nguyên phụ liệu, trong khi Hiệp định EVFTA quy định sản phẩm xuất khẩu phải có tỷ lệ nội địa hóa từ 40% trở lên mới được hưởng thuế suất ưu đãi Trường hợp, phải nhập đầu vào thì chỉ nhập từ Hàn Quốc mới được hưởng ưu đãi Trong khi các nước đang cung cấp đầu vào chủ yếu cho giày dép Việt Nam lại là Trung Quốc, Indonesia, Hồng Kông, và các nước châu Á khác

Bảng 5 Tỷ trọng nhập khẩu sản phẩm trung gian hàng giày dép

của Việt Nam năm 2015 Top 5 thị trường nhập khẩu (% trong tổng kim ngạch nhập khẩu) Nhóm sản phẩm

1 2 3 4 5

Trung Quốc Sri Lanka Hàn Quốc Châu Á

(khác) Hồng Kông

Mũ giày và các bộ phận của

chúng, trừ miếng lót bằng vật

liệu cứng trong mũ giày

Trung Quốc Hồng Kông Hàn Quốc Châu Á

(khác) Indonesia

Đế ngoài và gót giày, bằng cao

su hoặc plastic

Trung Quốc Mỹ Hàn Quốc Hồng Kông Châu Á

(khác)

Các bộ phận của giày, dép -

Loại khác

Thị trường đầu vào được hưởng ưu đãi trong EVFTA

Nguồn: tính toán từ UN comtrade

Như vậy, bất cập lớn nhất của giày dép Việt Nam trong chuỗi cung ứng chính là khâu cung ứng nguyên, phụ liệu đầu vào Ngoài vấn đề về nguyên phụ liệu đầu vào, giày dép Việt Nam xuất khẩu sang EU còn phải đối diện một số vấn đề sau: (i) hàng rào phi thuế quan và những tiêu chuẩn kỹ thuật để có thể xuất khẩu sang thị trường châu Âu Sẽ có những yêu cầu rất quan trọng từ phía châu Âu đối với các DN Việt Nam, đó là các yêu cầu

về tuân thủ môi trường, trách nhiệm xã hội của DN, những nỗ lực về phòng chống tham nhũng; (ii) Thị trường trong nước trên 90 triệu dân với sức mua ngày càng tăng chưa được tập trung khai thác; (iii) Hình thức gia công ngày càng tăng mạnh, áp lực giảm giá sẽ đè nặng lên các DN trong nước không đủ năng lực sản xuất ; và (iv) Năng suất lao động thấp

và phải tuân thủ các tiêu chuẩn về lao động do Tổ chức Lao động quốc tế quy định và được cam kết trong EVFTA [5]

Ngày đăng: 26/10/2021, 14:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w