Bải giảng Môi trường và phát triển bền vững cung cấp cho người học những kiến thức như: Những vấn đề cơ bản về môi trường; Phát triển bền vững; Môi trường và phát triển bền vững ở những vùng kinh tế - sinh thái cơ bản; Những khó khăn trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
BẢI GIẢNG HỌC PHẦN: MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
(Lưu hành nội bộ)
Thái nguyên, 2020
Trang 2CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MÔI TRƯỜNG
GV biên soạn: ThS Nguyễn Thị Tuyết, Khoa TN&MT
Mục tiêu:
- Cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về môi trường (khái niệm môi trường, phân loại môi trường, chức năng cơ bản của môi trường, suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, ) và mối quan hệ giữa môi trường và phát triển
- Sinh viên hiểu biết về các vấn đề môi trường đang là thách thức hiện nay trên Thế giới và Việt Nam
1.1 Khái niệm và phần loại môi trường
1.1.1 Khái niệm môi trường
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau xung quanh thuật ngữ “môi trường”
- Môi trường (MT) theo nghĩa rộng là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện
- Theo tác giả Hoàng Đức Nhuận: Môi trường bao gồm tất cả những gì bao quanh sinh vật, tất cả các yếu tố vô sinh, hữu sinh có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự sống, phát triển và sinh sản của sinh vật
- Theo tác giả Vũ Trung Tạng: Môi trường là một phần của ngoại cảnh, bao gồm các hiện tượng và các thực thể của tự nhiên, mà ở đó, cá thể, quần thể, loài, có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp bằng các phản ứng thích nghi của mình
- Định nghĩa về ‘‘môi trường“ được đưa ra trong Luật BVMT 2014 như sau:
“Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với
sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”
Đối với cơ thể sống thì “Môi trường sống” là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của cơ thể (Lê Văn Khoa) MT sống cũng có 2 nghĩa:
- Nghĩa rộng: MT sống là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống và sản xuất của con người như: Tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước,…
- Nghĩa hẹp: MT sống theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ
bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của
Trang 3trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư, quy định
1.1.2 Phân loại môi trường
Môi trường được phân thành 3 loại sau:
- Môi trường tự nhiên: Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật
lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng trọt, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú
- Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó là những luật
lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định, ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể,
- Môi trường nhân tạo: Bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên hoặc biến đổi theo làm thành những tiễn nghi trong cuộc sống
1.2 Các chức năng của môi trường
Hệ thống môi trường có 5 các chức năng cơ bản sau:
- Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật
- Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người
- Môi trường là nơi chứa đựng và đồng hóa các chất phế thải
- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người
- Chức năng bảo vệ con người và sinh vật
1.3 Quan hệ giữa môi trường và phát triển
Phát triển (hay chính là phát triển kinh tế, xã hội) là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người bằng phát triển sản xuất, cải thiện các quan hệ
xã hội và nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa Phát triển là mục tiêu trung tâm của mọi
Trang 4chính phủ, là nhiệm vụ chính trị của các quốc gia Mục tiêu của phát triển được cụ thể hóa bằng các chỉ tiêu kinh tế: tổng sản phẩm quốc gia (GNP), tổng sản phẩm quốc nội (GDP), lương thực, nhà ở, giáo dục và y tế
Môi trường và phát triển có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Môi trường có tác động cả mặt tích và tiêu cực lên môi trường và ngược lại (hình 1.1)
Hình 1.1 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển
1.4 Tài nguyên thiên nhiên
1.4.1 Khái niệm tài nguyên và tài nguyên thiên nhiên
* Khái niệm tài nguyên: Tài nguyên là tất cả các dạng vật chất, tri thức được sử dụng
để tạo ra của cải vật chất hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới cho con người
* Khái niệm tài nguyên thiên nhiên (TNTN)
TNTN là nguồn của cải vật chất nguyên khai được hình thành và tồn tại trong tự nhiên mà con người có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu trong cuộc sống
* Thuộc tính của TNTN
- TNTN phân bố không đồng đều
- Đại bộ phận TNTN có giá trị kinh tế cao được hình thành qua quá trình lâu dài của
tự nhiên và lịch sử
Vì TNTN có hai thuộc tính cơ bản này đã tạo nên tính quý hiếm, lợi thế phát triển của quốc gia giàu tài nguyên đồng thời vững tạo nên những sự xung đột, tranh chấp tài nguyên
1.4.2 Phân loại tài nguyên thiên nhiên
* Phân loại theo MT thành phần (hay gọi là Tài nguyên Môi trường)
Gồm các loại:
Môi trường Phát triển
Nguyên liệu, năng lượng
Phế thải đặc biệt, phế thải độc hại
Trang 5- Tài nguyên Môi trường đất: Tài nguyên đất nông nghiệp, đất rừng, đất đô thị, đất hiếm, đất cho công nghiệp
- Tài nguyên Môi trường nước: TN nước mặt, TN nước ngầm,…
- Tài nguyên Môi trường không khí: TN không gian, TN ngoài trái đất như mặt trăng,các hành tinh,…
- Tài nguyên sinh vật: TN thực vật, TN vi sinh vật, TN động vật, TN hệ sinh thái cảnh quan
- Tài nguyên khoáng sản: TN khoáng sản kim loại (mỏ sắt, chì, đồng,…), TN khoáng sản phi kim loại (dầu mỏ, than đá, khí đốt,…)
- Tài nguyên năng lượng: TN năng lượng địa nhiệt, TN năng lượng gió, TN năng lượng mặt trời, TN năng lượng sóng biển,…
* Phân loại theo mục đích sử dụng: TN nông nghiệp, công nghiệp, du lịch,
* Phân loại theo khả năng phục hồi của Tài nguyên
- Tài nguyên có khả năng phục hồi (tài nguyên có thể tái tạo): là tài nguyên mà thiên nhiên có thể tạo ra liên tục và được con người sử dụng lâu dài như: rừng, sông, hồ, độ phì nhiêu của đất,…Đây là tài nguyên không giới hạn
- Tài nguyên không có khả năng phục hồi: Gồm các khoáng vật (Pb, Si,…) hay nguyên – nhiên vật liệu (than, dầu mỏ, gas tự nhiên,….) được tạo thành trong suốt quá trình hình thành và phát triển của vỏ trái đất Những tài nguyên này có giới hạn về số lượng
1.4.3 Một số loại tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên đất có 5 chức năng cơ bản:
- Là MT để con người và sinh vật trên cạn sinh trưởng và phát triển
Trang 6- Là địa bàn cho các quá trình biến đổi và phân hủy các phế thải khoáng, hữu cơ
- Nơi cư trú cho các động và thực vật đất
- Địa bàn cho các công trình xây dựng
- Địa bàn để lọc nước và cung cấp nước
Toàn thế giới có tổng diện tích bề mặt là 510.065.284km2
trong đó bề mặt nước là 361.126.221 km2 và đất liền: 148.939.063 km2 Tài nguyên đất được sử dụng vào nhiều mục đích như: Đất trồng trọt và chăn nuôi, chăn thả, trang trại, đô thị, giao thông, VQG, hồ chứa nước, giải trí, quân sự và mục đích khác Trong đó đất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 12,6% Những loại đất xấu (hoang mạc, băng tuyết ) chiếm tới 40,5%
Việt Nam có tổng diện tích bề mặt TĐ là 33 triệu hecta Chỉ tiêu đến năm 2020, Việt Nam có diện tích đất nông nghiệp là 27.038,09, ha, đất phi nông nghiệp 4.780,24 ha và đất chưa sử dụng 1.310,36 ha Diện tích đất đang sử dụng là: 21% đất nông nghiệp, 33% đất lâm nghiệp, 8% đất chuyên dùng và 38% đất còn lại
b Tài nguyên nước
Nước là yếu tố chủ yếu của HST và có vai trò quan trọng trong các hoạt động kinh tế
- xã hội của loài người
- Nước là một tài nguyên tái tạo Trong cơ thể con người, nước chiếm 70% khối
lượng cơ thể con người
- Nước là một trong nhân tố quyết định chất lượng MT sống Ở đâu có nước ở đó có
sự sống Nước có những tính chất đặc trưng như tỷ trọng, nhiệt độ sôi, nhiệt bốc hơi, …
- Tài nguyên nước bao gồm: nước trong khí quyển, nước mặt, nước dưới đất, nước
biển và đại dương
Đặc điểm của nước vừa là tài nguyên vật liệu vừa là vật mang năng lượng, MT trung gian di chuyển vật chất dinh dưỡng (hòa tan, lơ lửng) Nước rửa sạch và pha loãng nhiều chất thải Nước rất biến động với nhạy cảm môi trường, dễ ô nhiễm và cạn kiệt.Tài nguyên
nước vừa là hữu hạn vừa là vô hạn
Trên thế giới trữ lượng nước là 1,45 tỷ km3
phân thành 3 nguồn nước chính: nước mưa, nước mặt và nước dưới đất Trong đó nước mặn chiếm 97%, nước ngọt chỉ chiếm 3% Nhưng trong 3% nước ngọt thì khoảng 76,3% ở thể băng, 13% nước ngầm, 0,7% là nước
mặt và còn lại là hơi nước)
Việt Nam tài nguyên nước cũng rất phong phú với hệ thống mạng lưới sông ngòi dày
đặc Việt Nam có 3 nhóm sông:
Trang 71 Nhóm hệ thống sông có thượng nguồn lưu vực nằm trong lãnh thổ Việt Nam
2 Hệ thống sông có trung và hạ lưu nằm trong lãnh thổ VN
3 Hệ thống sông có lưu vực nằm trong lãnh thổ Việt Nam
Tổng lượng dòng chảy hàng năm bằng tổng lượng dòng chảy thuộc phần phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam (chiếm 37%) cộng phần phát sinh từ nước láng giềng (63%) Sông MêKông, Sông Hồng-Thái Bình và sông Đồng Nai (chiếm 80% tổng lượng TN nước VN) Tuy nhiên, tài nguyên nước ở Việt Nam có tới 2/3 lượng nước chảy vào từ quốc gia thượng nguồn Nguồn nước nội sinh đánh giá thấp, tài nguyên nước phân bố không đồng đều và các con sông thường đầy nước mùa mưa nhưng khô cạn mùa khô Đây là những khó khăn của
nước ta vì vậy cần có biện pháp quản lý và bảo vệ tài nguyên nước hợp lý
Bảng 1.1 Nhóm sông chính ở Việt Nam STT Nhóm sông Sông Địa phận
Mã Lào, Sơn La,Thanh Hóa và ra biển Đông
MêKông TQ, Lào, Myanma, Thái Lan,
Campuchia, VN đổ ra biển đông
c Tài nguyên khoáng sản
- Khái niệm: Khoáng sản là thành tạo hóa lý tự nhiên được sử dụng trực tiếp trong công nghiệp hoặc có thể lấy ra từ chúng kim loại và khoáng vật dùng cho các ngành công nghiệp
- Trạng thái tồn tại:
+ Rắn (quặng, đá)
Trang 8+ Lỏng (dầu, nước khoáng)
+ Khí (khí đốt)
- Đặc trưng:
+ Là tài nguyên không tái tạo
+ Giá trị mang tính chất lịch sử - xã hội
+ Khai thác và sử dụng có ảnh hưởng đến MT
- Vai trò:
+ Tạo nên lợi tức kinh tế cho quốc gia
+ Nguồn nguyên, nhiên liệu quan trọng
+ Sự giàu có tài nguyên khoáng sản dảm bảo sự phát triển nhanh về KT-XH
- Phân loại tài nguyên khoáng sản:
Theo chức năng sử dụng, tài nguyên khoáng sản được chia thành 3 nhóm lớn:
+ Khoáng sản kim loại gồm: Nhóm khoáng sản sắt và hợp kim sắt, nhóm kim loại
cơ bản, nhóm kim loại quý hiếm, nhóm kim loại nhẹ, nhóm kim loại phóng xạ
+ Khoáng sản phi kim loại: Nhóm khoáng sản hóa chất và phân bón, nhóm nguyên liệu sứ, gốm, thủy tinh, Nhóm vật liệu xây dựng
+ Khoáng sản cháy: Than đá, dầu mỏ, khí đốt,…
Việt Nam nằm giữa hai vành đai khoán sản lớn của Thế giới đó là Thái Bình Dương
và Địa Trung Hải Việt Nam có các loại khoáng sản như: Than đá; Dầu mỏ (phân bố chủ yếu ở Vịnh Bắc Bộ, Cửu Long, Vịnh Thái Lan); Sắt (phân bố chủ yếu ở phía Tây Bắc dọc sông Hồng, phía Đông Bắc (tỉnh Thái Nguyên); Mỏ quặng Mn, Crom, Titan, Bauxit, Đồng, Niken, Kẽm, Chì, Vonfram,…
d Tài nguyên Môi trường không khí
Khí quyển là lớp vỏ ngoài cùng bao quanh trái đất, thường xuyên ảnh hưởng của vũ trụ, trước hết là môi trường.Khí quyển có vai trò quan trọng không chỉ đối với con người và còn đối với sinh vật Khí quyển cần cho hô hấp, cần cho quang hợp và tổng hợp nên các chất hữu cơ Vì vậy khí quyển được xem như một tài nguyên
Đặc trưng của tài nguyên không khí:
- Rất nhạy cảm với sự thay đổi nhỏ của môi trường
Trang 9- Quyền sở hữu chưa được phân định rõ ràng, mới phân định ranh giới bầu trời quốc gia
- Nhiều trường hợp là tài sản chung không biên giới
- Thành phần không khí luôn thay đổi
- Chịu tác động nhiều của biến đổi khí hậu
Việc sử dụng tài nguyên khí hậu phụ thuộc nhiều vào tính chất của các ngành kinh
tế và nhu cầu con người
- Trong nông nghiệp: khai thác điều kiện khí hậu giúp chọn được cây trồng, vật nuôi phù hợp
- Trong y học: nghiên cứu một số bệnh liên quan đến thời tiết để có kế hoạch phòng tránh, điều chị kịp thời
- Trong cây dựng: xây dựng tính đến yếu tố khí hậu để chọn vật liệu xây dựng, kiểu nhà phù hợp chống thiên tai, xây dựng các khu công nghiệp phù hợp với hướng gió để giảm thiểu ô nhiễm
- Các nghề khác: khai thác nguồn năng lượng mới như năng lượng mặt trời, năng lượng gió,…
1.5 Suy thoái, ô nhiễm môi trường và sự cố môi trường
1.5.1 Suy thoái môi trường
a Khái niệm (Luật BVMT 2014): Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất
lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật
Trong đó, thành phần môi trường được hiểu là các yếu tố tạo thành môi trường: không khí, nước, đất, âm thanh, ánh sáng, lòng đất, núi, rừng, sông, hồ biển, sinh vật, các hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác
b Nguyên nhân:
- Các nguyên nhân tự nhiên: Lũ lụt, hạn hán, động đất, sóng thần,…Khi xảy ra một thiên tai lớn có phá hủy hết mọi vật chất của môi trường đó hoặc do sự xâm lấn của những loài ngoại lai vào môi trường đó gây ra sự thoái hóa lâu dài
- Môi trường ô nhiễm: Các dạng ô nhiễm đất, nước, không khí,…đều có hại cho môi trường Ô nhiễm đất là suy giảm chất lượng và số lượng đất đai, ảnh hưởng trực tiếp đến
Trang 10ngành nông, lâm nghiệp Ô nhiễm nước làm suy giảm chất lượng nước, đặc biệt nguồn nước dùng trong sinh hoạt Ô nhiễm không khí làm ô nhiễm bầu không khí hô hấp và ảnh hưởng đến sức khỏe con người
- Mô hình phát triển chỉ nhằm vào tăng trưởng kinh tế tiến tới xây dựng một xã hội tiêu thụ Mô hình phát triển này sẽ tạo ra lượng rác thải lớn và hình thành nên nhiều bãi rác Bãi rác có nguy cơ lớn gây hại cho môi trường và người dân địa phương Các bãi rác tạo ra mùi hôi khi đốt cháy và gây ra sự xuống thoái môi trường rất lớn
- Bùng nổ dân số: Dân số tăng nhanh gây áp lực lên các nguồn tài nguyên thiên nhiên dẫn đến suy thoái môi trường
1.5.2 Ô nhiễm môi trường
a Khái niệm (Luật BVMT 2014): Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành
phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật
Hình 1.2 Mô hình ô nhiễm "yếu tố A” trong hệ thống môi trường
Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam: "Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mức, giới hạn cho phép, được quy định dùng làm căn cứ để quản lý môi trường"
Vì vậy, tiêu chuẩn môi trường có quan hệ mật thiết với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Hệ thống tiêu chuẩn môi trường là một công trình khoa học liên ngành, nó phản ánh trình độ khoa học, công nghệ, tổ chức quản lý và tiềm lực kinh tế - xã hội có tính đến dự báo phát triển
Trang 11b Nguồn gây ô nhiễm môi trường: Có thể là các nguồn tự nhiên như hoạt động núi
lửa, thiên tai, lũ lụt, bão,…hoặc các hoạt động nhân tạo của con người như công nghiệp,
nông nghiệp, giao thông vận tải,…
c Các dạng ô nhiễm: Gồm có ô nhiễm đất, nước, không khí, biển và đại dương, ô
nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm CTR và đặc biệt “Ô nhiễm trắng - túi nilon” đang là vấn đế đáng
báo động hiện nay
* Ô nhiễm môi trường nước:
Sự ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước gây ảnh hưởng đến hoạt động sống bình thường của con người và sinh vật Việc thải các chất thải hoặc nước thải vào MT nước sẽ gây ô nhiễm về vật lý, hóa học, sinh học và phóng xạ
Sự ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo: Nguồn tự nhiên là do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt,…Nguồn nhân tạo chủ yếu nước thải từ vùng dân cư, khu CN, hoạt động bón phân và phun thuốc trừ sâu trong nông nghiệp,…
Các thông số đánh giá ô nhiễm môi trường nước gồm có:
- Các thông số vật lý (pH, độ màu, độ đục, chất rắn tổng số, độ dẫn điện, độ axit, độ kiềm, độ cứng)
- Các thông số hoá học (DO, BOD, COD, NH4
+, NO3 -, NO2 -, P, CO2, SO4
, Cl-, các hợp chất phenol, hoá chất bảo vệ thực vật (BVTV), lignin, kim loại năng)
2 Các thông số sinh học (E.Coli, Coliform, Streptococus feacalis, tổng số vi khuẩn kỵ khí và háo khí) Bệnh dịch liên quan: tả, lỵ trực khuẩn, thương hàn, phó thương hàn, tiêu chảy trẻ em, viêm gan siêu vi trùng (có thể truyền qua sò, hến), giun chỉ, sán ruột, giun gan, sốt rét, sốt xuất huyết,
Một số tác nhân gây ô nhiễm không khí bao gồm:
- SO2: Gây mưa axit ảnh hưởng đến HST, giảm chức năng hô hấp, viêm phế quản mãn tính và ảnh hưởng đến các công trình xây dựng, di tích lịch sử văn hóa
Trang 12- NOx: Gây mưa axit và hiện tượng khói mù quang hóa ảnh hưởng đến thực vât (gây cháy lá cây có hoa) và ảnh hưởng sức khỏe con người (chảy nước mắt và viêm phế quản)
- CFCs (dung môi máy lạnh, bình xịt, ): Gây hiệu ứng nhà kính và thủng tầng ôzôn
- CO (đốt cháy không hoàn toàn nhiên liệu) : Nhiễm độc hô hấp
- CO2 ( núi lửa phun, đốt nhiên liệu): Gây hiện tượng hiệu ứng nhà kính
- Amiăng (công nghiệp luyện kim và xây dựng) : Gây ung thư phổi
- Hoá chất BVTV (vùng trồng trọt) : Nhiễm độc thần kinh, hại gan, thận, biến đổi di truyền
- Hydrôcacbua thơm đa vòng (đốt xăng dầu, sơn, chất thơm): Gây ung thư
- Chất phóng xạ (nổ hạt nhân, điện hạt nhân, bệnh viện, phòng thí nghiệm) : gây ổn thương tế bào và cơ chế di truyền
- Vi trùng, vi rút : Gây lao, bạch hầu, tụ cầu, cúm
- Tiếng ồn : Đo bằng deciben (dB) gây ảnh hưởng hiệu quả làm việc, nghỉ ngơi và sức khỏe con người
Tác nhân gây ô nhiễm đất:
- Các tác nhân gây ô nhiễm: phân bón vô cơ, hoá chất BVTV, chất phóng xạ, kim loại nặng, nhiều loại vi trùng và ký sinh trùng (trực khuẩn lỵ, phảy, khuẩn tả,trực khuẩn thương hàn và phó thương hàn, giun đũa, giun xoắn, giun móc, nấm ăn da, uốn ván, bại liệt, viêm màng não, sốt phát ban, viêm cơ tim, viêm não trẻ sơ sinh)
1.5.3 Sự cố môi trường, tai biến môi trường
a Sự cố môi trường
- Khái niệm: Sự cố môi trường là những thiệt hại không mong đợi xảy ra bởi các quá trình tai biến vượt quá ngưỡng an toàn của hệ thống môi trường
Trang 13Theo Luật BVMT 2014: Sự cố môi trường là sự cố xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng
- Biểu hiện:
Các sự cố môi trường có thể do:
+ Bão, lũ, lụt, hạn hán, động đất, trượt đất, sụt lở đất, núi lửa phun, mưa axit, mưa
đá, biến động khí hậu và thiên tai khác;
+ Hỏa hoạn, cháy rừng, sự cố kỹ thuật gây nguy hại về môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng
+ Sự cố trong tìm kiếm thăm dò, khai thác, vận chuyển khoáng sản, dầu khí, sập hầm
lò, phụt dầu, tràn dầu, vỡ đường ống dẫn dầu, dẫn khí, đắm tàu, sự cố tại cơ sở lọc hóa dầu
và các cơ sở công nghiệp khác;
+ Sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử, nhà máy sản xuất, tái chế nhiên liệu hạt nhân, kho chứa chất phóng xạ
+ Các sự cố có thể gồm loại cấp diễn: Xảy ra nhanh, mạnh và đột ngột như động đất, cháy rừng, lũ lụt (nhanh chóng kết thúc và được xen kẽ bằng một khoảng thời gian dài bình yên không sự cố)
+ Sự cố trường diễn: Xảy ra chậm chạp, trường kỳ, từ từ như nhiễm mặn, sa mạc hoá, (thường diễn ra liên tục, trường kỳ)
b Tai biến môi trường
Quá trình tai biến là những quá trình gây hại vận hành trong hệ thống môi trường, đó
là một đặc tính vốn có, phản ánh tính nhiễu loạn, tính bất ổn định của bất cứ hệ thống môi trường nào
Quá trình tai biến môi trường gồm ba giai đoạn:
• Giai đoạn nguy cơ (hay hiểm hoạ): Các yếu tố gây hại tồn tại trong hệ thống,
nhưng chưa phát triển gây mất ổn định Hệ thống môi trường luôn luôn có 2 tính chất:
- Tính chống chịu: Tạo ra khả năng của hệ thống chịu được các hành động phát triển của con người Tính chống chịu đồng thời cũng là tính tự điều khiển của môi trường
- Tính bất ổn định, còn gọi là tính bất trắc, tạo ra các quá trình tai biến
Trang 14• Giai đoạn phát triển: Các yếu tố tai biến tập trung lại, gia tăng, tạo trạng thái mất
ổn định nhưng chưa vượt qua ngưỡng an toàn của hệ thống môi trường
• Giai đoạn sự cố môi trường: Quá trình tai biến vượt qua ngưỡng an toàn, gây thiệt
hại cho con người (sức khoẻ, tính mạng, sản nghiệp) Những sự cố gây thiệt hại lớn được gọi là tai hoạ, lớn hơn nữa được gọi là thảm hoạ môi trường
Phân loại tai biến:
- Tai biến xảy ra trong phấn hệ sinh thái tự nhiên, được gọi là tai biến sinh thái (trong
đó chú ý đến tai biến sinh học) Tai biến sinh học là quá trình phổ biến nhất, do đó hay gặp nhất trong đời sống hằng ngày Ví dụ:
+ Các ổ dịch địa phương: Sốt rét, dịch hạch, sán lá phổi, sốt xuất huyết,
+ Nuôi trồng thiếu tính toán các loài đã bị biến nạp di truyền (ví dụ: giống ngô không nảy mầm)
+ Mất cân bằng loài do đưa vào hệ một loài lạ có tính cạnh tranh cao (ví dụ ốc bươu vàng); Lấy ra khỏi hệ một vài loài khiến cho một vài loài còn lại trong hệ bùng phá thành dịch hại (ví dụ dịch chuột, )
+ Việc sử dụng thuốc BVTV gây bùng phát các loài thích nghi có khả năng gây hại
do các loài này trở nên quen với môi trường ô nhiễm (ví dụ tảo độc, rầy nâu )
+ Vũ khí sinh hoá : Đạn pháo có vi trùng dịch hạch, bom có vi khuẩn than,
+ Khai thác quá mức (phá rừng, đánh cá bằng chất nổ, )
c Giải pháp ứng xử sự cố môi trường
Ứng xử sự cố môi trường chỉ là giải quyết tình thế Quá trình ứng xử tai biến gồm hai cách tiếp cận:
- Cách tiếp cận nhằm vào tai biến, để giảm thiểu thiệt hại, giảm mức độ nghiêm trọng của tai biến, để giúp cho cộng đồng "tránh xa hiểm hoạ"
- Cách tiếp cận nhằm vào cộng đồng với mục tiêu là giảm độ nhạy cảm tai biến của cộng đồng, tức là tăng sức chống chịu, giúp cho cộng đồng "sống cùng tai biến"
Trang 15Hình 1.3 Hai cách tiếp cận ứng xử sự cố môi trường 1.6 An ninh, an toàn môi trường và tỵ nạn môi trường
An ninh môi trường: Là trạng thái mà một hệ thống môi trường có khả năng đảm
bảo điều kiện sống an toàn của con người cư trú trong hệ thống đó Thuật ngữ "an ninh"
thường được hiểu theo quy mô rộng, thường là ở mức quốc gia, khu vực hay quốc tế
Một hệ thống môi trường bị mất an ninh có thể do các nguyên nhân tự nhiên (thiên tai) hoặc do các hoạt động của con người (khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, thải chất độc vào môi trường gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, suy giảm đa dạng sinh học, ) hoặc phối hợp tác động của cả hai nguyên nhân trên Trạng thái an ninh của riêng phân hệ sinh thái tự nhiên được gọi là an ninh sinh thái, do đó an ninh sinh thái là một khía cạnh của
an ninh môi trường
An toàn môi trường: Trong phạm vi các địa phương hẹp, người ta thường dùng thuật ngữ an toàn môi trường
VD: Ví dụ rò rỉ phóng xạ từ một bệnh viện, cháy một khu rừng, một trận lũ quét tại một huyện, một trận dịch tả do ô nhiễm nước tại một địa phương, một trận ngộ độc thức ăn
do ô nhiễm thực phẩm tại một xí nghiệp, thường được coi là thuộc phạm vi "an toàn môi trường" Những sự kiện lớn hơn như suy thoái tầng ôzôn, hiệu ứng nhà kính, sa mạc hoá diện rộng, thuộc lĩnh vực "an ninh môi trường" Tuy nhiên, cũng rất khó phân định rạch ròi giới hạn giữa "an ninh" và "an toàn"
Tỵ nạn môi trường: Là việc con người buộc phải rời nơi ở truyền thống của mình
tạm thời hay vĩnh viễn do sự huỷ hoại môi trường gây nguy hiểm cho cuộc sống của họ
Nguyên nhân của tỵ nạn môi trường là sự tổ hợp của một số yếu tố sau:
- Không có đất canh tác, mất đất cư trú;
Trang 16- Suy giảm đa dạng sinh học;
- Biến động khí hậu và những hiện tượng thời tiết cực đoan;
- Áp lực dân số;
- Suy dinh dưỡng và dịch bệnh;
- Nghèo đói;
- Quản lý nhà nước kém hiệu quả
Ty nạn môi trường là chỉ thị, là thước đo của sự mất ổn định, phản ánh sự quản lý kém hiệu quả và là một trong những nguyên nhân dẫn đến xung đột Các yếu tố ẩn dấu đằng sau hiện tượng tỵ nạn môi trường là đa diện, phức tạp, thường liên kết tác động là rất khó tách bạch riêng rẽ
1.7 Dân số, nghèo khổ và môi trường
1.7.1 Dân số và môi trường
Dân số thế giới hiện nay đã đạt gần 8 tỷ người Một số quốc gia đông dân nhất thế giới gồm có Ấn Độ, Trung Quốc, Mỹ, Indonesia, Brazil, Dân số tăng nhanh gây áp lực đến môi trường do đông dân, nghèo đói, di dân, thậm chí là sự tiêu dùng quá mức của cư dân nước công nghiệp tạo nên một xã hội tiêu thụ và đồng nghĩa với xả thải lớn vào môi trường
Tác động của dân số đến môi trường phản ánh qua công thức:
I=P.C.T
Trong đó: P - Số dân ;
C - Tiêu thụ tài nguyên bình quân trên đầu người
T - Công nghệ (quyết định mức tác động của mỗi đơn vị tài nguyên được tiêu thụ)
1.7.2 Nghèo khổ và môi trường
Trang 17Chỉ số đánh giá nghèo khổ có nghèo thu nhập, nghèo toàn diện, nghèo nhân văn và nghèo đa chiều Chỉ số nghèo đa chiều được đánh giá thông qua các yếu tố thu nhập, tuổi thọ, y-tế, giáo dục và điều kiện sống
Quan hệ giữa nghèo khổ và môi trường bao gồm các mặt sau đây
- Các cộng đồng nghèo phụ thuộc nhiều vào các nguồn tài nguyên, trở nên dễ bị tổn
thương do những biến động của thiên nhiên và xã hội
- Thiếu vốn đầu tư sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, cho văn hóa giáo dục và các dự
án cải tạo môi trường
- Khai thác tài nguyên quá mức, huỷ diệt tài nguyên
- Mô hình phát triển chỉ tập trung vào tăng trưởng kinh tế và xây dựng một xã hội tiêu thụ
- Góp phần bùng nổ dân số
1.8 Những vấn đề môi trường toàn cầu
1.8.1 Hiệu ứng nhà kính và Biến đổi khí hậu
Hiệu ứng nhà kính là hiện tượng nóng dần lên của khí quyển bao quanh Trái đất do sự hấp thụ bức xạ Mặt trời một cách có chọn lọc bởi một số chất khí như CO2, CH4, CFCs,
SO2, hơi nước, N2O, O3 tầng đối lưu…Các khí này cho phép bức xạ sóng ngắn của Mặt trời xuyên qua khí quyển nhưng lại ngăn cản bức xạ sóng dài từ mặt đất phát ra Kết quả là khí quyển bị nóng lên
Khí quyển TĐ đang có xu hướng nóng dần lên Nguyên nhân chủ yếu của sự biến đổi này là sự gia tăng đáng kể lượng khí nhà kính từ hoạt động của con người Trong 4 loại khí nhà kính được phát thải vào khí quyển (CO2, CH4, N2O, NOx) thì CO2 đóng vai trò quan trọng nhất
Các biểu hiện của biến đổi khí hậu:
- Sự nóng lên của khí quyển và TĐ nói chung
- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho MT sống của con người
và các sinh vật trên TĐ
- Sự dâng cao mực nươc biển do tan băng dẫn tới sự ngập úng của các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển
Trang 18- Mưa lụt gia tăng ở vùng biển trong khi sa mạc hóa tăng cường ở những vùng nằm sâu trong lục địa
- Dịch bệnh tăng lên do nóng, ẩm
- Sự thay đổi năng suất sinh học của HST,…
1.8.2 Suy giảm tầng ozôn
Trong tầng bình lưu của khí quyển trái đất ở độ cao 18-40 km có một lớp giàu ozôn gọi là tầng ozôn Tầng ozôn có vai trò cực kỳ quan trọng đối với đời sống sinh vật trái đất vì
nó có khả năng hấp thụ toàn bộ năng lượng bức xạ cực tím của Mặt Trời với bước sóng 2900Ao - 2200 Ao có tác động hủy diệt mọi sinh vật trên TĐ
Quá trình tổng hợp và phân hủy ozôn trong khí quyển vô cùng phức tạp Sự tổng hợp ozôn theo phản ứng:
O2 + O + M O3 + M Điều kiện hình thành tầng ozôn là: nhiệt độ thấp (phản ứng dịch chuyển về bên phía hình thành ozôn) và nồng độ oxy đủ lớn Nồng độ ozôn thay đổi theo ngày và theo mùa Nồng độ vào buổi chiều cao hơn buổi sáng Nồng độ ozôn cao nhất vào mùa xuân và thấp nhất vào mùa thu
Năm 1991 đã phát hiện tầng ozôn ở bầu trời Nam Cực bị thủng một lỗ rộng 24km2 Ôzôn có thể bị phá hủy bởi các nguyên tử clo, flo hay brôm trong bầu khí quyển Các nguyên tố này có trong một số hợp chất bền nhất định, đặc biệt là chlorofluorocacbon (CFC), đi vào tầng bình lưu và được giải phóng bởi các tia cực tím
Quan trọng nhất là các nguyên tử clo được tạo thành như thế sẽ trở thành chất xúc tác hủy diệt các phân tử ôzôn trong một chu kỳ khép kín Trong chu kỳ này, một nguyên tử clo tác dụng với phân tử ôzôn, lấy đi một nguyên tử ôxy (tạo thành ClO) và để lại một phân
tử ôxy bình thường Tiếp theo, một ôxy nguyên tử tự do sẽ lấy đi ôxy từ ClO và kết quả cuối cùng là một phân tử ôxy và một nguyên tử clo, bắt đầu lại chu kỳ
Hậu quả khi ôzôn bị suy giảm là tia vũ trụ sẽ chiếu xuống trái đất nhiều gây ung thư
da, đục thủy tinh thể, ức chế hệ thống miễn dịch ở người và sự sinh trưởng của thực vật (hạn chế quang hợp), giảm thực vật phù du biển từ đó làm giảm lượng hải sản
1.8.3 Mưa axit
Mưa axít là hiện tượng mưa mà nước mưa có độ pH dưới 5,6 do một số chất khí có
tính axit hòa tan trong nước mưa tạo thành
Trang 19Nguyên nhân do trong khí quyển có chứa nhiều chất ô nhiễm có tính axit như SO2,
NOx, HCl Chúng được phát sinh chủ yếu từ các hoạt động nhân tạo do quá trình đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch (trong các ngành công nghiệp, nhà máy nhiệt điện, khí thải từ các phương tiện giao thông vận tải,…) và một phần từ các quá trình diễn ra trong tự nhiên (núi lửa, cháy rừng, phân hủy sinh học,…)
1.8.4 Ô nhiễm xuyên biên giới gia tăng
- Lan truyền mưa axit, ô nhiễm theo các dòng sông xuyên biên giới gia tăng
- Lan truyền thủy triều đỏ, thủy triều đen trên biển và đại dương
- Tăng độ phóng của nước biển do đổ chất thải hạt nhân và tai nạn tàu ngầm hạt nhân
1.8.5 Xuất khẩu chất thải độc hại
Quá trình xây dựng và thực thi các tiêu chuẩn môi trường không đồng đều trên toàn thế giới và sự phát triển nhanh của nền kinh tế thị trường Ở Phương Tây người tiêu dùng có nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao với ngành công nghiệp sạch, dẫn tới quy trình xử lý, cất giữ, thải bỏ chất thải độc hại ngày càng nghiêm ngặt Chi phí và sự thiếu bãi chôn lấp ngày càng tăng Các nước nghèo thì đất đai rộng lớn và tiểu chuẩn ít ngặt nghèo hơn
Việc xuất khẩu chất độc hại vào các nước nghèo dưới dạng hợp đồng và chuyển giao bất hợp pháp thông quan các công ty tư nhân cũng như chính phủ Để có thể giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm từ các chất thải độc hại này, các quốc gia cần có các biện pháp như cấm nhập khẩu chất thải độc hại hoặc nếu nhập khẩu thì việc nhập khẩu chất thải độc hại phải đưa ra được bằng chứng về khả năng giải quyết chất thải đặc thù
1.8.6 Sự gia tăng dân số
Dân số gia tăng sẽ có tác động đến tài nguyên, chất lượng cuộc sống, nảy sinh nhiều vấn đế môi trường như ô nhiễm, rác thải,…
Dân số tác động đến tài nguyên đất: Tài nguyên đất đang bị suy giảm hiện nay và nó trở nên bức xúc hơn tại các nước đang phát triển do sức ép về dân số và kỹ thuật canh tác không phù hợp, khai thác quá sức phục hồi
Dân số và tài nguyên rừng: Dân số gia tăng dẫn đến thu hẹp diện tích rừng do khai thác gỗ, phá rừng làm rẫy, mở đường giao thông, tàn phá hệ sinh thái,…Rừng bị tàn phá khiến cho bề mặt đất rửa trôi hằng năm, thiên tai lũ lụt xảy ra thường xuyên
Trang 20Dân số và tài nguyên nước: Làm giảm bề mặt ao, hồ, sông, suối Làm ô nhiễm các nguồn nước do chất thải, làm thay đổi chế độ thủy văn dòng chảy (do phá rừng, xây đập,…)
1.8.7 Suy giảm đa dạng sinh học
a Vai trò của đa dạng sinh học
Giá trị kinh tế trực tiếp: Cho tiêu thụ và cho sản xuất
Giá trị không sử dụng cho tiêu thụ:
- Khả năng sản xuất của HST, bảo vệ tài nguyên đất và nước, điều hòa khí hậu, phân
hủy các chất thải, mối quan hệ giữa các loài, nghỉ ngơi và du lịch sinh thái, giáo dục và
khoa học, quan trắc môi trường,…
- Tham quan, nơi sống của một loài đặc biệt
- Tất cả các loài đều có quyền tồn tại, tất cả các loài đều quan hệ với nhau, Con
người phải chịu trách nhiệm như những người quản lí trái đất Thiên nhiên có những giá trị tinh thần và thẩm mỹ vượt xa giá trị kinh tế của nó, đa dạng sinh học là cốt lõi để xác định
nguồn gốc sự sống
b Nguyên nhân:
- Khai thác tài nguyên sinh học quá mức;
- Chuyển đổi các khu vực hoang dã sang vùng nông nghiệp;
- Xây dựng cơ sở hạ tầng và biến thành hoặc biến thành vùng trơ trụi;
- Sự du nhập các loài ngoại lai;
- Sự thay đổi khí hậu toàn cầu
c Hậu quả:
Mất dần nguồn tài nguyên quý giá (lương thực, thực phẩm, dược liệu, gen, tiện nghi
môi trường,…) Chống chịu các tái biến sinh thái ngày càng gia tăng,…
1.9 Những vấn đề môi trường bức xúc ở VN (thảo luận)
- Biến đổi khí hậu
- Suy thoái đất
- Tài nguyên và môi trường nước
- Môi trường biển
- Tài nguyên rừng
Trang 21- Đa dạng sinh học
- Môi trường đô thị
- Môi trường công nghiệp
- Môi trường nông thôn và nông nghiệp
- Sự cố môi trường
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Môi trường là gì? Nêu các chức năng của hệ thống môi trường
2 Trình bày khái niệm tài nguyên thiên nhiên và các cách phân loại tài nguyên thiên nhiên
2 Trình bày các khái niệm ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường, an ninh và an toàn môi trường
3 Thảo luận những vấn đề môi trường toàn cầu và ở Việt Nam
Trang 222.1 Khái niệm Phát triển bền vững
- Trong cuốn sách “Tương lai chung của chúng ta” PTBV được định nghĩa là sự
phát triển đáp ứng những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của thế hệ tương lai trong việc đáp ứng nhu cầu của họ
- Trong cuốn “Hãy cứu lấy trái đất” (1991) thì PTBV được định nghĩa là sự nâng
cao chất lượng cuộc sống con người trong lúc đang tồn tại, trong khuôn khổ đảm bảo các hệ thống sinh thái
- Lê Thạc Cán cho rằng “PTBV là sự sử dụng tài nguyên thiên nhiên, trong điều kiện môi trường hiện có để thoả mãn nhu cầu của các thế hệ con người đang sống, nhưng phải đảm bảo cho các thế hệ tương lai những điều kiện tài nguyên và môi trường cần thiết để họ
có thể sống tốt hơn ngày nay”
Phát triển là một quá trình bao gồm nhiều thành tố khác nhau: kinh tế, kỹ thuật, xã hội, chính trị, văn hóa và không gian Mỗi thành tố ấy lại là một quá trình tiến hóa, nhằm biến một xã hội nông nghiệp - "phụ thuộc” vào thiên nhiên thành một xã hội công nghiệp hiện đại - "ít phụ thuộc" vào thiên nhiên Ở phần lớn các khu vực trên thế giới, thực tế đã ngày càng chứng tỏ phát triển là sự tiến hành đồng thời những cuộc tiến hóa trên 4 bình diện: kinh tế, không gian, xã hội chính trị và văn hoá, có nghĩa là:
Trang 23Hình 2.1 Vòng luẩn quẩn của mô hình phát triển không bền vững
2.2 Các nguyên tắc và yêu cầu của Phát triển bền vững
2.2.1 Các nguyên tắc của phát triển bền vững
- Nguyên tắc về sự uỷ thác của nhân dân
Nguyên tắc này yêu cầu chính quyền phải hành động để ngăn ngừa các thiệt hại môi trường xảy ra ở bất cứ đâu, bất kể đã có hoặc chưa có các điều luật quy định về cách ứng xử các thiệt hại đó Nguyên tắc này cho rằng, công chúng có quyền đòi chính quyền với tư
cách là tổ chức đại diện cho họ phải có hành động ứng xử kịp thời các sự cố môi trường
- Nguyên tắc phòng ngừa
Ở những nơi có thể xảy ra các sự cố môi trường nghiêm trọng và không đảo ngược được, thì không thể lấy lý do là chưa có những hiểu biết chắc chắn mà trì hoãn các biện pháp ngăn ngừa sự suy thoái môi trường Về mặt chính trị, nguyên tắc này rất khó được áp dụng, và trên thực tế nhiều nước đã cố tình quên Việc chọn lựa phương án phòng ngừa nhiều khi bị gán tội là chống lại các thành tựu phát triển kinh tế đã hiện hình trước mắt và
luôn luôn được tụng xưng, ca ngợi theo cách hiểu của tăng trưởng kinh tế
- Nguyên tắc bình đẳng giữa các thế hệ
Đây là nguyên tắc cốt lõi của phát triển bền vững, yêu cầu rõ ràng ràng, việc thoả mãn nhu cầu của thế hệ hiện nay không được làm phương hại đến các thế hệ tương lai thoả mãn nhu cầu của họ Nguyên tắc này phụ thuộc vào việc áp dụng tổng hợp và có hiệu quả
các nguyên tắc khác của phát triển bền vững
- Nguyên tắc bình đẳng trong nội bộ thế hệ
Trang 24Con người trong cùng thế hệ hiện nay có quyền được hưởng lợi một cách bình đẳng trong khai thác các nguồn tài nguyên, bình đẳng chung hưởng một môi trường trong lành
và sạch sẽ Nguyên tắc này được áp dụng để xử lý mối quan hệ giữa các nhóm người trong cùng một quốc gia và giữa các quốc gia Nguyên tắc này ngày càng được sử dụng nhiều hơn trong đối thoại quốc tế Tuy nhiên, trong phạm vi một quốc gia, nó cực kỳ nhạy cảm đối với
các nguồn lực kinh tế - xã hội và văn hoá
- Nguyên tắc phân quyền và uỷ quyền
Các quyết định cần phải được soạn thảo bởi chính các cộng đồng bị tác động hoặc bởi các tổ chức thay mặt họ và gần gũi nhất với họ Các quyết định cần ở mức quốc gia hơn
là mức quốc tế, mức địa phương hơn là mức quốc gia Đây là nguyên tắc cơ bản nhằm kiểm soát sự uỷ quyền của các hệ thống quy hoạch ở tầm quốc tế, nhằm cổ vũ quyền lợi của các địa phương về sở hữu tài nguyên, về nghĩa vụ đối với môi trường và về các giải pháp riêng của họ, áp lực ngày càng lớn đòi hỏi sự uỷ quyền ngày càng tăng Tuy nhiên, cần phải hiểu cho đúng rằng địa phương chỉ là một bộ phận của các hệ thống rộng lớn hơn chứ không được thực thi chức năng một cách cô lập Thường thì các vấn đề môi trường có thể phát sinh ngoài tầm kiểm soát địa phương, ví dụ như sự ô nhiễm “ngược dòng" của nước láng giềng hay cộng đồng lân cận Trong trường hợp đó, nguyên tắc uỷ quyền cần được xếp
xuống thấp hơn các nguyên tắc khác
- Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
Người gây ô nhiễm phải chịu mọi chi phí ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm, phải nội
bộ hóa tất cả các chi phí môi trường nảy sinh từ các hoạt động của họ, sao cho các chi phí này được thể hiện đầy đủ trong giá cả của hàng hóa và dịch vụ mà họ cung ứng Tuy nhiên,
sẽ không tránh khỏi trường hợp là, nếu áp dụng nguyên tắc này quá nghiêm khắc thì sẽ có xí nghiệp công nghiệp bị đóng cửa Cộng đồng có thể cân nhắc, vì trong nhiều trường hợp, các phúc lợi có được do có công ăn việc làm nhiều khi còn lớn hơn các chi phí cho vấn đề sức khoẻ và môi trường bị ô nhiễm Do đó, cơ chế áp dụng nguyên tắc này cũng cần linh hoạt
và trong nhiều trường hợp phải tạo điều kiện về thời gian để các doanh nghiệp thích ứng
dần dần với các tiêu chuẩn môi trường
- Nguyên tắc người sử dụng phải trả tiền
Khi sử dụng hàng hóa hay dịch vụ, người sử dụng phải trang trải đủ giá tài nguyên cũng như các chi phí môi trường liên quan tới việc chiết tách, chế biến và sử dụng tài
nguyên
2.2.2 Yêu cầu của PTBV
Trang 25a Phân hệ kinh tế
- Giảm dần mức tiêu phí năng lượng và các tài nguyên khác qua công nghệ tiết kiệm
và thay đổi lối sống;
- Thay đổi nhu cầu tiêu thụ không gây hại đến đa dạng sinh học và môi trường;
- Bình đẳng trong tiếp cận các nguồn tài nguyên, mức sống, dịch vụ y tế và giáo dục;
- Xóa đói, giảm nghèo tuyệt đối;
- Công nghệ sạch và sinh thái hoá công nghiệp (tái chế, tái sử dụng, giảm thải, tái tạo năng lượng đã sử dụng)
b Phân hệ xã hội - nhân văn
- Ổn định dân số;
- Phát triển nông thôn để giảm sức ép di dân vào đô thị
- Giảm thiểu tác động xấu đến môi trường do đô thị hoá;
- Nâng cao học vấn, xoá mù chữ;
- Bảo vệ đa dạng văn hoá;
- Bình đẳng giới, quan tâm tới nhu cầu và lợi ích giới;
- Tăng cường sự tham gia của công chúng vào các quá trình ra quyết định của các
nhà quản lý, hoạch định chính sách
c Phân hệ tự nhiên
- Sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên không tái tạo;
- Phát triển không vượt quá ngưỡng chịu tải của hệ sinh thái;
- Bảo vệ đa dạng sinh học;
- Bảo vệ tầng ôzôn;
- Kiểm soát và giảm thiểu phát xả khí nhà kính;
- Bảo vệ chặt chẽ các hệ sinh thái nhạy cảm
- Giảm thiểu xả thải, khắc phục ô nhiễm (nước, không khí, đất, lương thực thực
phẩm), cải thiện và khôi phục môi trường những khu vực ô nhiễm
2.3 Các mục tiêu của Phát triển bền vững (định hướng 2030- Liên hiệp quốc)
Mục tiêu 1: Xóa nghèo
Trang 26Thế giới vẫn còn có 836 triệu người sống ở mức nghèo Cứ 5 người có 1 người sống với dưới 1,25 USD/ngày Mục tiêu đặt ra đến năm 2030 sẽ xoá nghèo hoàn toàn cho tất cả mọi người ở mọi nơi
Mục tiêu 2: Xóa đói
Hiện cứ 9 người thì có 1 người không có đủ thức ăn Đến năm 2030 sẽ xóa đói và đảm bảo tất cả mọi người, đặc biệt là những người nghèo và những người dễ bị tổn thương, bao gồm cả trẻ sơ sinh, được tiếp cận với nguồn thức ăn đầy đủ, dinh dưỡng và an toàn trong cả năm
Mục tiêu 3: Đảm bảo cuộc sống khỏe mạnh và nâng cao phúc lợi
LHQ đặt mục tiêu chấm dứt các đại dịch HIV/AIDS, lao phổi, sốt rét và các bệnh nhiệt đới bị lơ là, chống lại các bệnh về gan, các bệnh liên quan đến nước và các bệnh truyền nhiễm khác vào năm 2030
Mục tiêu 4: Đảm bảo giáo dục chất lượng
Hiện có 57 triệu trẻ em không được đến trường Mục tiêu đến năm 2030 tất cả các trẻ
em hoàn thành giáo dục bậc tiểu học và trung học cơ sở miễn phí, công bằng và chất lượng
Mục tiêu 5: Đạt được bình đẳng giới và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái
LHQ đặt mục tiêu xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và trẻ em gái ở mọi nơi Đồng thời loại bỏ tất cả các hình thức bạo lực đối với tất cả phụ nữ và trẻ em gái trong các lĩnh vực công cộng và tư nhân
2030 cũng là năm LHQ hướng tới (6) Đảm bảo việc Tiếp cận nguồn nước sạch và cải thiện các điều kiện vệ sinh cho tất cả mọi người Đồng thời cũng(7) Đảm bảo việc Tiếp cận năng lượng với giá cả hợp lý, tin cậy
Để làm được điều đó, LHQ chú trọng việc (8) Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, tạo việc làm và công việc tốt cho tất cả mọi người Cùng với đó là (9) Xây dựng cơ sở
hạ tầng vững chắc, đẩy mạnh công nghiệp hóa và bền vững, khuyến khích đổi mới
Mục tiêu 10: Giảm bất bình đẳng trong mỗi quốc gia và giữa các quốc gia
Đến năm 2030, dần dần đạt được và duy trì tốc độ tăng trưởng thu nhập ở mức cao hơn mức trung bình quốc gia cho 40% dân số có thu nhập thấp nhất
Ngoài ra, 2030 cũng sẽ là năm chứng kiến (11) Các thành phố trở nên an toàn, vững chắc và bền vững, đồng thời triển khai (12) Các chương trình 10 năm nhằm hướng tới Các
mô hình tiêu dùng và sản xuất bền vững