“Du lịch sinh thái”(Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới ở Việt Nam và đã thu hút được sự quan tâm của nhiều lĩnh vực. Đây là một khái niệm rộng được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau. Đối với một số người, “Du lịch sinh thái” được hiểu một cách đơn giản là sự kết hợp ý nghĩa của hai từ ghép “Du lịch” và “sinh thái”. Tuy nhiên cần có góc nhìn rộng hơn, tổng quát hơn để hiểu du lịch sinh thái một cách đầy đủ. Trong thực tế khái niệm “Du lịch sinh thái” đã xuất hiện từ những năm 1800. Với khái niệm này mọi hoạt động du lịch có liên quan đến thiên nhiên như: tắm biển, nghỉ núi…đều được hiểu là du lịch sinh thái.
Trang 1KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
-{ -TIỂU LUẬN MÔN: NGUYÊN LÝ TRONG QUẢN LÝ
TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
ĐỀ TÀI:
HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ NGUYÊN NHÂN
ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỪNG TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN - VĂN HÓA ĐỒNG NAI
GVHD: TS Trịnh Trường GiangHVTH: Phạm Cẩm Hồng
Lớp: Cao học Quản lý tài nguyên và Môi trường
Đồng Nai, tháng 10 năm 2017
Trang 2CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
1.1 Rừng 2
1.2 Vai trò của rừng: 2
1.3 Hiện trạng tài nguyên rừng tại Việt Nam 4
CHƯƠNG II HIỆN TRẠNG RỪNG TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN -VĂN HÓA ĐỒNG NAI 7
2.1 Tổng quan về Khu bảo tồn 7
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 7
2.1.2 Điều kiện tự nhiên 8
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 10
2.1.4 Mục tiêu và nhiệm vụ của Khu bảo tồn 11
2.2 Hiện trạng rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai 11
2.2.1 Hệ sinh thái rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới 11
2.2.2 Hệ sinh thái rừng kín nửa rụng lá 12
2.2.3 Hệ sinh thái rừng kín rụng lá 13
2.3 Tài nguyên thực vật rừng 14
2.3.1 Về nguồn gen thực vật quý hiếm 14
2.3.2 Thống kê các loài thực vật đặc hữu 15
2.4 Tài nguyên động vật rừng 16
2.4.1 Về nguồn gen động vật 16
2.4.2 Xét về nguy cấp quý hiếm có: 17
CHƯƠNG III NGUYÊN NHÂN ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÀI NGUYÊN RỪNG TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN - VĂN HÓA ĐỒNG NAI 19
3.1 Sự xâm lấn diện tích rừng 19
3.2 Sự xâm lấn của các loài ngoại lai 20
Trang 33.6 Năng lực quản lý 23
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 24 TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Trang 4International Union for Conservation
of Nature and Natural Resources
Liên minh Quốc tế Bảo tồnThiên nhiên và Tài nguyên Thiênnhiên
WWF World Wide Fund For Nature Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên
Khu bảo tồn
Khu Bảo tồn thiên nhiên – vănhóa Đồng Nai
Trang 5Bảng 1.3 Bảng biến động diện tích và độ che phủ của rừng Việt Nam (giai đoạn 1945 - 2016)
Bảng 2.1 Diện tích các loại rừng hiện có tại Khu bảo tồn
Bảng 2.4 Số loài động vật tại Khu bảo tồn
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
Rừng là tài nguyên quý giá của đất nước, rừng không những là cơ sở phát triểnkinh tế - xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái vô cùng quan trọng, rừng tham giavào quá trình điều hòa khí hậu, đảm bảo chu chuyển oxy và các nguyên tố cơ bảnkhác trên trái đất, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạnhán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của thiên tai, bảotồn nguồn nước và giảm ô nhiễm không khí Ngoài ra, rừng còn là nơi cung cấp môitrường sống cho các loài động, thực vật, cung cấp các cây thuốc, gỗ…cho conngười Tỷ lệ đất có rừng che phủ của một quốc gia là một chỉ tiêu an ninh môitrường quan trọng (diện tích đất có rừng đảm bảo an toàn môi trường của một quốcgia tối ưu là 45% tổng diện tích)
Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, là một trong những quốc gia
có tính đa dạng sinh học cao nhất thế giới Với sự đa dạng về chủng loại, phong phú
về thành phần động - thực vật rừng đã cung cấp lâm sản, thuốc chữa bệnh… chocon người Trong đó, Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai với hệ sinh tháiđặc trưng của vùng Đông Nam Bộ, là nơi lưu trữ, bảo tồn nhiều chủng loài độngthực vật quý hiếm, phong phú và đa dạng và đã được WWF (2001) xác định thuộctiểu vùng bảo tồn sinh thái khẩn cấp (khu vực SA5 – lưu vực sông Đồng Nai).Tuy nhiên, dưới sức ép của dân số, của các hoạt động kinh tế xã hội, các hoạtđộng sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp thì tính đa dạng của rừng ngày một mất đi,diện tích rừng ngày một suy giảm do nhiều nguyên nhân mà chủ yếu xuất phát từhoạt động của con người như xâm chiếm đất, chặt phá rừng, cháy rừng… Do vậy,việc đánh giá đúng hiện trạng rừng để xác định mức độ quan trọng của rừng, củacác hệ sinh thái đặc trưng tại rừng và những nguyên nhân làm suy giảm diện tích,chất lượng rừng là một trong vấn đề quan trọng Từ đó đưa ra các giải pháp bảo vệ,bảo tồn rừng, bảo tồn đa dạng sinh học nhằm đảm bảo cho sự phát triển môi trườngbền vững trong khu vực Xuất phát từ thực tiễn trên, học viên lựa chọn thực hiện đềtài “Hiện trạng tài nguyên rừng và nguyên nhân ảnh hưởng đến rừng tại Khu bảo
Trang 7tồn thiên nhiên văn hóa Đổng Nai và đưa ra những nguyên nhân chủ quan và kháchquan làm ảnh hưởng đến rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên – văn hóa Đồng Nai.
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Rừng
Rừng là quần xã sinh vật trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu Quần xãsinh vật phải có diện tích đủ lớn Giữa quần xã sinh vật và môi trường, các thànhphần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết để đảm bảo khác biệtgiữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác
Năm 1930, Morozov đưa ra khái niệm: rừng là một tổng thể cây gỗ, có mốiliên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khiquyển Rừng chiếm phần lớn bề mặt Trái Đất và là một bộ phận của cảnh quan địa
lý
Năm 1952, M.E Tcachenco phát biểu: rừng là một bộ phận của cảnh quan địa
lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinhvật Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnhhưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài
Năm 1974, I.S Mê lê khôp cho rằng: rừng là sự hình thành phức tạp của tựnhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu
Theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 thì rừng là một hệ sinh tháigồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tốmôi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phầnchính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên Rừng gồm rừng trồng và rừng tựnhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng
1.2 Vai trò của rừng:
Sự quan hệ của rừng và cuộc sống đã trở thành một mối quan hệ hữu cơ.Không có một dân tộc, một quốc gia nào không biết rõ vai trò quan trọng của rừngtrong cuộc sống
Rừng cung cấp gỗ làm nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp cũngnhư sinh hoạt hằng ngày Trong rừng có nhiều loài gỗ quý hiếm có giá trị về kinh tế
Trang 8như sao nhẹ, gỗ sưa, trầm hương, đàn hương, ván dài, gỗ Lim, gỗ Sếu,… Rừng còncung cấp gỗ phục vụ nhu cầu sinh hoạt của con người như xây dựng nhà cửa, chếtác các vật dụng trong nhà, cung cấp gỗ dùng để đốt, cung cấp nguyên liệu cho cácngành công nghiệp chế biến giấy, vải, ….
Rừng là nguồn dược liệu vô giá Rừng cung cấp cho con người nguồn nguyênliệu để làm thuốc chữa bệnh, phục hồi sức khỏe, các loại thuốc quý hiếm Tiềmnăng từ việc khai thác nguồn dược liệu quý hiếm từ rừng là rất lớn
Theo số liệu điều tra của Dự án “Điều tra tổng thể nguồn tài nguyên dược liệugiai đoạn 2007 - 2014” của Viện Dược liệu (2015), đã xác định được 70 loài/nhómloài cây dược liệu có tiềm năng khai thác với trữ lượng ước tính là 18.372 tấn/năm.Trong đó có 45/70 loài/nhóm loài có tiềm năng khai thác lớn với với số lượng hàngtrăm đến hàng nghìn tấn/năm như: Diếp cá (5.000 tấn), Cẩu tích (1.500 tấn), Lạctiên (1.500 tấn), Rau đắng đất (1.500 tấn), Ngũ gia bì chân chim (1.000 tấn), Thiênniên kiện, Bọ mắm khô (1.000 tấn), Bình vôi (800 tấn), Râu hùm (500 tấn), Cỏxước (500 tấn), Kê huyết đằng (500 tấn), Ngải cứu dại (300 tấn), Câu đằng (300tấn), Bách bộ (200 tấn), Hà thủ ô trắng (200 tấn), …
Rừng là một nhà máy sinh học tự nhiên, được ví như chiếc máy điều hòa khíhậu khổng lồ, giữ không khí trong lành, là lá phổi xanh của trái đất Ngoài vai tròsản xuất oxy và các hợp chất hữu cơ - cơ sở của sự sống động vật, quá trình quangtổng hợp của cây xanh là tác nhân chính làm cân bằng lượng CO2 được thải ra từcác quá trình phun trào núi lửa, phân hóa đá vôi, phân hủy xác động, thực vật và cáchoạt động sống của con người, giảm thiểu nguy cơ hiệu ứng nhà kính Đặc biệtngày nay khi hiện tượng nóng dần lên của trái đất do hiệu ứng nhà kính, vai trò củarừng trong việc giảm lượng khí CO2 là rất quan trọng
Rừng điều tiết nước, phòng chống lũ lụt, xói mòn Rừng có vai trò điều hòanguồn nước giảm dòng chảy bề mặt chuyển nó vào lượng nước ngấm xuống đất vàvào tầng nước ngầm Khắc phục được xói mòn đất, hạn chế lắng đọng lòng sông,lòng hồ, điều hòa được dòng chảy của các con sông, con suối (tăng lượng nước
Trang 9rừng có vai trò rất lớn trong việc chống cát di động ven biển, che chở cho vùng đấtbên trong nội địa, rừng bảo vệ đê biển, cải hóa vùng chua phèn, cung cấp gỗ, lâmsản.
Rừng bảo vệ độ phì nhiêu và bồi dưỡng tiềm năng của đất: ở vùng có đủ rừngthì dòng chảy bị chế ngự, ngăn chặn được nạn bào mòn, nhất là trên đồi núi dốc tácdụng ấy có hiệu quả lớn, lớp đất mặt không bị mỏng, mọi đặc tính lý hóa và vi sinhvật học của đất không bị phá hủy, độ phì nhiêu được duy trì Ước tính ở nơi rừng bịphá hoang trơ đất trống mỗi năm bị rửa trôi mất khoảng 10 tấn mùn/ha Đồng thờicác quá trình feralitic, tích tụ sắt, nhôm, hình thành kết von, hóa đá ong, lại tăngcường lên làm cho đất mất tính chất hóa lý, mất vi sinh vật, không giữ được nước,
dễ bị khô hạn, thiếu chất dinh dưỡng, trở nên rất chua, kết cứng lại, đi đến cằn cỗi,trơ sỏi đá
Rừng còn là nơi cư trú của rất nhiều các loài động vật, trong đó có nhiều loàiđộng vật quý hiếm nằm trong sách đỏ Việt Nam, các loài nguy cấp cần được bảo vệnhư Cu li nhỏ, Vượn má vàng, Voi, Khỉ mặt đỏ, Bò tót,… Động vật rừng nguồncung cấp thực phẩm, dược liệu, nguồn gen quý, hiếm da lông, sừng thú là nhữngmặt hàng xuất khẩu có giá trị
Rừng còn phát huy tác vai trò về mặt xã hội thông qua việc ổn định dân cư, tạonguồn thu nhập ổn định cuộc sống cho người dân, cung cấp các dịch vụ du lịchrừng, du lịch sinh thái, tạo cảnh quan cho việc thu giãn giải trí cho con người
1.3 Hiện trạng tài nguyên rừng tại Việt Nam
Năm 1945, diện tích rừng của Việt Nam ước tính có khoảng 14 triệu ha, với tỷ
lệ che phủ là 43% Năm 1976, diện tích rừng giảm còn khoảng 11,169 triệu ha.Theo De Koninck, Việt Nam trở thành nước có nạn phá rừng nhanh nhất trong sốcác nước Đông Nam Á với khoảng hai phần ba độ che phủ rừng bị mất đi trong giaiđoạn này, độ che phủ rừng đã giảm từ 43% vào năm 1943 xuống còn 29% vào năm
1991, tăng lên 33,2% vào cuối năm 1999 Ước tính rằng trong giai đoạn
1976-1990, mỗi năm diện tích phủ rừng tự nhiên của Việt Nam giảm trung bình 185.000
ha Theo FAO (2003a:133) xác định diện tích rừng vào năm 2000 là 9.819.000 ha
Trang 10(30,2% tổng diện tích đất đai) điều này cho thấy một sự gia tăng đáng kể về độ chephủ rừng từ cuối những năm 1980
Trong những năm gần đây, diện tích rừng ở nước ta có sự biến động liên tục,
tỷ lệ diện tích đất có rừng và độ che phủ của rừng ngày càng gia tăng Cụ thể từnăm 2012 đến năm 2016, diện tích rừng trồng và độ che phủ của rừng có sự giatăng, tuy nhiên diện tích rừng tự nhiên vẫn có sự giảm đi
Bảng 1.3 Bảng biến động diện tích và độ che phủ của rừng Việt Nam
(giai đoạn 1945 - 2016) Năm
Diện tích rừng (1000 ha)
Độ che phủ (%)
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Viện Điều tra, Quy hoạch rừng và Báo cáo
diễn biến rừng hàng năm của Cục Kiểm Lâm
Trang 11Biểu đồ diễn biến diện tích rừng qua các năm từ 1945 đến 2016 (đơn vị: ngàn ha)
1945 1976 1990 2000 2010 2016 0
Bắt đầu từ năm 1992, chính phủ Việt Nam đã có nhiều nỗ lực làm ổn định và
phục hồi độ che phủ rừng Năm 1998, Chương trình Tái trồng 5 triệu ha rừng được
triển khai với mục đích tăng độ che phủ rừng từ xấp xỉ 9 triệu ha (28% độ che phủ
rừng) lên 14,3 triệu ha (43% độ che phủ rừng) vào năm 2010 Trong số 5 triệu ha
rừng trồng thêm, 2 triệu ha sẽ là rừng sản xuất, 2 triệu ha sẽ là rừng phòng hộ và
rừng đặc dụng và 1 triệu ha sẽ là rừng cây lâu năm
Theo báo cáo tổng kết Dự án “Trồng mới 5 triệu ha rừng” và kế hoạch bảo
vệ và phát triển rừng giai đoạn 2001 – 2010 của Chính phủ Năm 2005, tổng trữ
lượng gỗ cả nước là 811,6 triệu m3 (chiếm 6,5% tổng trữ lượng gỗ) Đến năm 2010,
tổng trữ lượng gỗ của cả nước là 935,3 triệu m3 Trong đó, gỗ rừng tự nhiên chiếm
92,8% và 8,5 tỷ cây tre nứa, trữ lượng gỗ rừng trồng là 74,8 triệu m3 (chiếm 7,9%
tổng trữ lượng gỗ) So với năm 2006, trữ lượng gỗ của cả nước tăng được 123,7
triệu m3 (chiếm 15,24%) Tuy nhiên, chất lượng rừng của một số trạng thái rừng
giàu, trung bình, rừng ngập mặn thuộc rừng tự nhiên tiếp tục giảm Mục đích về
môi trường của chương trình này nhằm bảo vệ và phục hồi các chức năng của lưu
vực sông, giảm thiểu xói lở đất và tình trạng lưu lượng nước thất thường Mục đích
kinh tế của chương trình là phấn đấu để nâng cao vai trò của ngành rừng trong tăng
Trang 12trưởng kinh tế, nhằm đảm bảo đời sống cho các nhóm dân dễ bị tổn thương nhấttrong xã hội
CHƯƠNG II HIỆN TRẠNG RỪNG TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN -VĂN HÓA ĐỒNG NAI
2.1 Tổng quan về Khu bảo tồn
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Khu bảo tồn nằm ở phía Bắc sông Đồng Nai, thuộc địa bàn huyện Vĩnh Cửu,tỉnh Đồng Nai Đây là khu vực có diện tích rừng tự nhiên liền mạch rộng hơn150.000 ha, có nhiều cảnh quan đẹp với các hồ nước lớn bao quanh cùng với các ditích lịch sử, văn hóa tiêu biểu của cách mạng với địa danh nổi tiếng là Chiến khu Đ,trong đó căn cứ khu ủy miền Đông Nam Bộ, căn cứ Trung ương cục miền Nam vàkhu địa đạo Suối Linh, đã được Nhà nước cấp bằng chứng nhận là di tích lịch sửcấp Quốc gia
Trước năm 1975 Khu bảo tồn được gọi là Chiến Khu Đ, là căn cứ chống Mỹtrong thời kỳ chiến tranh Năm 1964-1969, Chiến khu Đ bị tàn phá bởi chất độc hóahọc (2,4 D; Dioxin), là khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất là sân bay Rang Rang,thảm thực vật rừng dọc theo đường 322 từ bờ sông Đồng Nai kéo dài đến suối Mã
Đà dài 35km cũng đã bị hủy diệt bởi chất độc này
Năm 1975, sau khi thống nhất đất nước, một lần nữa thảm thực vật rừng bịxâm hại nặng nề do việc thành lập lâm trường Mã Đà với mục tiêu khai thác gỗphục vụ cho nền kinh tế quốc dân Năm 1982, sau thời gian khai thác vốn rừng gầnnhư cạn kiệt, lâm trường Mã Đà từ mục tiêu khai thác chuyển sang mục tiêu phụchồi rừng Lâm trường tiến hành trồng rừng với một số loài cây như Dầu rái, SaoĐen, Giá Tỵ Đến 1995, rừng bị cấm khai thác và tự phục hồi
Năm 1996, UBND tỉnh Đồng Nai ban hành quyết định giao cho lâm trường
Mã Đà, Vĩnh An và Hiếu Liêm quản lý, bảo vệ rừng, làm nhiệm vụ khai thác vàtrồng rừng cây nguyên liệu giấy nhằm bảo tồn và ngừng việc khai thác từng tựnhiên
Trang 13Ngày 02/12/2003, UBND tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định số4679/2003/QĐ.UBT về việc thành lập khu dự trữ thiên nhiên huyện Vĩnh Cửu trên
cơ sở sát nhập các lâm trường Hiếu Liêm, Mã Đà và một phần của lâm trường VĩnhAn
Năm 2006, UBND tỉnh Đồng Nai sáp nhập thêm trung tâm quản lý di tíchChiến khu Đ và đổi tên thành Khu bảo tồn thiên nhiên và di tích Vĩnh Cửu Đếngiữa năm 2008, UBND tỉnh Đồng Nai quyết định sáp nhập Ban quản lý rừng phòng
hộ Vĩnh An vào khu bảo tồn
Khu bảo tồn được thành lập trên cơ sở đổi tên Khu bảo tồn thiên nhiên và ditích Vĩnh Cửu theo Quyết định số 2208 ngày 27/8/2010 của UBND tỉnh Đồng Nai.Sau nhiều lần sát nhập, hiện nay tổng diện tích tự nhiên của Khu bảo tồn là100.303,8 ha
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
2.1.2.1 Vị trí đị lý
Khu bảo tồn nằm tại tọa độ 11008’ – 11051’ vĩ độ Bắc và 106090’– 107023kinh độ Đông, nằm trên địa bàn các xã Phú Lý, Mã Đà, Hiếu Liêm, thị trấn Vĩnh Anthuộc huyện Vĩnh Cửu và xã Đăk Lua của huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
Khu bảo tồn nằm về phía Bắc tỉnh Đồng Nai, phía Tây giáp tỉnh Bình Dương,
phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước Cách thành phố Hồ Chí Minh 70 km và cách thànhphố Biên Hòa khoảng 40 km (nằm cạnh nhà máy Thủy điện Trị An)
2.1.2.3 Địa hình
Trang 14Khu bảo tồn phần địa hình chuyển tiếp từ cao nguyên Bảo Lộc xuống địa hìnhbán bình nguyên, hình thành dạng địa hình đồi và đồng bằng Trong đó, địa hình đồiphân bố ở các xã phía Bắc: xã Mã Đà, xã Phú Lý, xã Hiếu Liêm (chiếm 86.115hatương đương 78,86%) và được hình thành từ đá phiến sét, đá bazan và phù sa cổ,địa hình đồng bằng chiếm 7.478 ha (6,85%) phát triển trên trầm tích Holocence.
2.1.2.4 Khí hậu
Khu bảo tồn nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, nền nhiệt caoquanh năm với nhiệt độ bình quân từ 25ºC đến 27ºC, ẩm độ 80% đến 82%, lượngmưa từ 2.000mm đến 2.800mm kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 tập trung 85% tổnglượng mưa, mùa khô kéo dài 6 tháng chiếm 10% đến 15% tổng lượng mưa Do vậy,tính đa dạng sinh học của Khu bảo tồn tương đối cao do yếu tố khí hậu và địa hìnhmang lại, thêm vào đó là Hồ thủy điện Trị An điều hòa khí hậu thuận lợi cho sự pháttriển của thảm thực vật ở phần phía Nam Nhìn chung, đây là một trong những khuvực tập trung tính đa dạng sinh học ở Đông Nam bộ
2.1.2.5 Diện tích tự nhiên
Khu bảo tồn có tổng diện tích quản lý 100.303,8 ha, gồm diện tích quy hoạchrừng đặc dụng (vùng lõi) là 60.933,0 ha và diện tích vùng đệm là 6.970.8 ha và diệntích hồ Trị An 32.400 ha Trong đó bao gồm 66.036,9 ha đất có rừng và 1.866,9hađất trồng quy hoạch cho lâm nghiệp
Bảng 2.1 Diện tích các loại rừng hiện có tại Khu bảo tồn
Trang 15STT Trạng thái rừng Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2016.
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Trên địa bàn của Khu bảo tồn có 3 cụm dân cư lâu đời hình thành 3 xã Mã Đà,
xã Phú Lý, xã Hiếu Liêm Trong đó, xã Hiếu Liêm tiếp giáp với khu vực phía Bắc(Khu vực quan trọng bảo tồn đa dạng sinh học), xã Mã Đà (tiếp giáp với hồ Trị An)
và xã Phú Lý (vùng tiếp giáp giữa La Ngà và Vĩnh Cửu)
Trong những năm qua, tình hình kinh tế xã hội khu vực Khu bảo tồn có nhiềuchuyển biến tích cực: xã Phú Lý đã chuyển đổi cơ cấu kinh tế phát triển hoạt độngdịch vụ, cư dân chuyển hướng đi làm ở các khu công nghiệp trong tỉnh, đáng chútrọng là diện tích cây lâu năm tăng (diện tích xoài tăng 28,94 ha; cao su tăng 12 ha
từ sự chuyển đổi giảm 120 ha điều), người dân đã chú trọng sản xuất tăng thu nhập
từ chuyển đổi vật nuôi cây trồng hoặc chuyển sang làm ở các khu công nghiệp đãgiảm áp lực lên đất rừng và tài nguyên sinh học; xã Hiếu Liêm cũng là những cưdân lâu đời nhưng sau thời gian canh tác, việc trồng mì trên đất lateric có chiềuhướng giảm năng suất, dịch vụ khó phát triển, cư dân chuyển sang chăn nuôi vớikhuynh hướng phát triển chăn nuôi hươu, nai là một mô hình mới tạo hướng mởcho vùng đất nghèo này; đối với xã Mã Đà do tiếp cận với thị trấn Vĩnh An nêndịch vụ thương mại phát triển Phát triển trồng rau màu ở quy mô nhỏ nên đời sống
cư dân còn nghèo
2.1.4 Mục tiêu và nhiệm vụ của Khu bảo tồn
Khu bảo tồn được thành lập với mục tiêu bảo tồn sinh cảnh rừng và cảnh
Trang 16quan tự nhiên để tạo ra Khu bảo tồn thiên nhiên là nơi cư trú cho các loài động vậthoang dã., khôi phục hệ sinh thái rừng cây họ Dầu thuộc lưu vực sông Đồng Nai.Bảo tồn di tích lịch sử và văn hoá nhằm giáo dục truyền thống cách mạng cho cácthế hệ sau Phục vụ nghiên cứu khoa học, tuyên truyền giáo dục bảo vệ môi trường
và phát triển du lịch sinh thái
2.2 Hiện trạng rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai
Khu bảo tồn có hệ sinh thái rừng cây tự nhiên tiêu biểu cho tỉnh Đồng Nai, lưuvực sông Đồng Nai và miền Đông Nam Bộ Khu bảo tồn hiện là nơi có diện tíchrừng tự nhiên, diện tích phân bố cây tự nhiên lớn nhất của miền Đông Nam Bộ vàlưu vực sông Đồng Nai Ngoài ra rừng của Khu bảo tồn còn có chức năng quantrọng là phòng hộ trực tiếp cho hồ Trị An, góp phần tái tạo sự cân bằng sinh thái chovùng trọng điểm phát triển kinh tế phía Nam, đồng thời là nơi có tiềm năng rất lớn
để phát triển du lịch sinh thái
Đây là Khu bảo tồn lớn nhất miền Đông Nam Bộ, là nơi phân bố của 3 hệ sinhthái rừng: hệ sinh thái rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới, hệ sinh thái rừng kín nửarụng lá, hệ sinh thái rừng tre nứa Các hệ sinh thái rừng trên, hình thành nên nhiềusinh cảnh thực vật và là nơi cư trú của nhiều loài động vật hoang dã
2.2.1 Hệ sinh thái rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới
Đây là hệ sinh thái điển hình của vùng miền Đông Nam Bộ Trong Khu bảotồn hệ sinh thái rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới có diện tích lớn nhất, khoảng43.800 ha, phân bố chủ yếu ở các xã: Mã Đà, Hiếu Liêm và thị trấn Vĩnh An với cáccây ưu thế là: họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Sim(Myrtaceae), họ Thị (Ebenaceae), Kiểu rừng này hiện có 10 xã hợp thực vậtchính nằm trong 2 kiểu phụ là: kiểu phụ miền thực vật và kiểu phụ thứ sinh nhântác
Xét về kiểu phụ miền thực vật, Khu bảo tồn có loài cây gỗ như: Họ Dầu thì có
02 loại chiếm ưu thế là Dầu song nàng (Dipterocarpus dyeri) và Chai (Shoreathorelii); họ Bồ Hòn có đặc trưng chi Trường (Xerospermum); họ Sim có đặc trưng
Trang 17(Rubiaceae) có đặc trưng là chi Gáo (Nauclea); họ Cỏ roi ngựa (Verbanaceae) cóđặc trưng là chi Bình linh (Vitex); họ Bứa (Clusiaceae) có đặc trưng là chi Bứa(Garcinia).
Xét về kiểu phụ thứ sinh nhân tác (do hoạt động khai thác gỗ, củi kiệt quệ củacon người hình thành), chiếm diện tích khá lớn – khoảng 7,6% diện tích của khubảo tồn, tập trung ở khu vực thị trấn Vĩnh An và xã Mã Đà Hiện nay chủ yếu là cây
gỗ ưa sáng sinh trưởng nhanh, giá trị kinh tế thấp Các chi thực vật chiếm ưu thế là:Trường (Xerospermum); Trâm (Syzygium); Máu chó (Knema); Bình linh (Vitex);Quần đầu (Polyalthia); Thị (Diospyros); Bằng lăng (Lagerstroemia); Chai (Shorea);Gáo (Neonauclea); Lồ ô (Bambusa procera); Keo lá tràm (Acacia auriculaeformis);
cỏ tranh (Imperata cylindrica)
2.2.2 Hệ sinh thái rừng kín nửa rụng lá
Trong Khu Bảo tồn, hệ sinh thái rừng kín nửa rụng lá chiếm khoảng 15,7%diện tích, đứng thứ hai sau rừng kín thường xanh, phân bố tập trung hoặc phân tán ở
cả 3 khu vực: thị trấn Vĩnh An, xã Mã Đà và xã Hiếu Liêm với các họ ưu thế: Tử vi(Lythraceae), họ Trôm (Sterculiaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Sim(Myrtaceae), họ Xoài (Anacardiaceae), họ phụ Tre (Bambusoideae)
Trong đó có kiểu phụ miền thực vật chiếm diện tích khoảng 6,5% diện tích củakhu bảo tồn, phân bố thành những láng nhỏ phân tán ở cả 3 khu vực nêu trên chủyếu là cây Bằng lăng ổi (Lagerstroemia calyculata) già cỗi, thường bị bộng, giá trị
sử dụng thấp Kiểu phụ thứ sinh nhân tác do hoạt động khai thác của con người, vớidiện tích khá lớn, chiếm khoảng 8,5% diện tích của khu bảo tồn, tập trung chủ yếu ởphía Bắc thị trấn Vĩnh An, chủ yếu là cây Lười ươi
2.2.3 Hệ sinh thái rừng kín rụng lá
Hệ sinh thái rừng kín rụng lá bao gồm:
Kiểu phụ miền thực vật thân thuộc với khu hệ thực vật Malaysia – Indonexia,phân bố thành láng dầu nhỏ trên đất xám phù sa cổ thường ngập nước và mùa mưa
ở khu vực xã Hiếu Liêm Hiện nay quần hợp thực vật này chỉ còn lại những câychồi, có kích thước nhỏ Cây Dầu lông (Dipterocarpus intricalus) là cây gỗ lớn rụng
Trang 18lá mùa khô, thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) có tổ thành số lượng cá thể loài trên90% chiếm tầng ưu thế sinh thái của lâm phần.
Kiểu phụ thứ sinh nhân tác do hoạt động xây dựng của con người có diện tíchnhỏ, khoảng 0,3% diện tích Khu bảo tồn, được trồng trên đất xám phù sa cổ khuvực xã Mã Đà Về cấu trúc rừng chỉ có một tầng cây gỗ giá tỵ (Tectona grandis) làcây gỗ lớn, rụng lá toàn bộ vào mùa khô, thuộc họ Cỏ Roi ngựa (Verbenaceae); Câybụi, thảm tươi có phân bố rải rác không đều ở tầng dưới tán
Ngoài ra còn có kiểu trảng cây bụi: chiếm 4.190 ha phân bố rãi rác trên khắpKhu bảo tồn Đây là kiểu thứ sinh sau khai thác kiệt,đất hoang trống, một số loàitiên phong ưa sáng chiếm lĩnh như Thành ngạnh, Cò ke, Lòng Máng, Thầu Tấu vàmột số loài tái sinh từ kiểu rừng cũ có điều kiện phát triển như Vừng, Trường, Chòimòi, Săng đen, Lọ nồi, Máu chó Các ưu hợp được tìm thấy có: ưu hợp cỏ tranh(Imperata cylindrica) gồm Chi Sầm (Memecylon) và Chi Mua (Melastoma)
Kiểu rừng hổn giao gỗ - lồ ô có diện tích 10.551 ha phân bố chủ yếu ở phía BắcKhu bảo tồn giáp với VQG Cát Tiên, kết cấu rừng gồm có cây gỗ và tre nứa mọc hỗngiao Một phần nhỏ ở tiểu khu 125 khu vực Hiếu Liêm Cấu trúc rừng gồm 3 tầng:tầng trên cùng là các loài cây gỗ rừng giàu trước kia còn sót lại, gồm có Cầy (Irvingiamalayana), Gáo (Neonauclea sp), Ươi (Scaphium macropodium)….; tầng tiếp theo làcây gỗ mọc hỗn giao với Lồ ô (Bambusa procera), Tre gai (Bambusa bambos), Nứa(Bambusa schizostachyoides) như Máu chó (Knema sp), Săng đen (Diospyrosvenosa), Trường (Xerospermum noronnhianum)…; tầng cây bụi và thảm tươi gồmcác loài Chiếc tam lam (Barringtonia macrostachya), Lý (Syzygium jambos), Mật cật(Licuala spinosa)…
Kiểu rừng tre, nứa thuần loại: chiếm khoảng 15 ha, phân bố tại xã Phú Lý Đặctrưng của kiểu rừng này chủ yếu là Lồ ô (Bambusa procera) và Nứa (Bambusaschizostachyoides) Trong đó, Lồ ô chiếm diện tích lớn Lồ ô có giá trị lớn về kinh
tế, là nguyên liệu để đan lát các đồ dùng, trong gia đình, vật liệu xây dựng, nguyênliệu giấy, thực phẩm…
Trang 19Đối với diện tích rừng hỗn giao và rừng tre nứa thuần loài, Khu bảo tồn đangthực hiện Dự án “Quy hoạch, phục hồi, phát triển và khai thác sử dụng bền vữngvùng nguyên liệu Tre, Lồ ô, Mây sợi giai đoạn 2015-2025” nhằm xác định nhữngbiện pháp lâm sinh thích hợp để mở rộng diện tích, nâng cao năng suất và chất lượng,phục vụ kế hoạch khai thác sử dụng bền vững Tre, Lồ ô, Mây sợi tại Khu bảo tồn giaiđoạn 2016-2020 Qua đó, tạo thêm nhiều công ăn việc làm, ổn định sinh kế người dânđịa phương.
2.3 Tài nguyên thực vật rừng
Tài nguyên thực vật rừng tại Khu bảo tồn có giá trị khoa học về bảo tồn nguồngen và bảo tồn thiên nhiên như: nguồn gen hệ thực vật di cư; nguồn gen thực vật cổxưa, những nguồn gen quý hiếm, đặc hữu có nguy cơ bị tiêu diệt đang sinh sống
2.3.1 Về nguồn gen thực vật quý hiếm
Tại khu Bảo tồn đã phát hiện và định danh được 1.552 loài, trong đó:
Có 11 loài thực vật thuộc 10 chi, 05 họ, 05 bộ là loài quý hiếm (thuộc nhómIIA) có tên trong danh lục các loài quý hiếm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CPngày 30/3/2006 của Chính phủ Trong 10 loài thực vật thuộc nhóm quý, hiếm trênthì các loài Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa); Cẩm lai Bà Rịa (Dalbergia bariensis) vàDáng hương trái to (Pterocarpus macrocarpus), Huỳnh đường (Dysoxylum loureiriPierre), Trai lý (Fagraea fragrans) là 05 loài cây gỗ lớn có giá trị về mặt kinh tếnhất Hiện nay, số lượng cá thể phân bố trong tự nhiên còn lại khá phổ biến tại Khubảo tồn
Theo sách Đỏ Việt Nam tại Khu bảo tồn có 36 loài thực vật thuộc 32 chi, 23
họ, 19 bộ là loài quý, hiếm có tên trong danh mục các loài quý, hiếm của sách ĐỏViệt Nam, 2007 Trong đó, có loài Vên vên (Anisoptera costata) và Dầu song nàng(Dipterocarpus dyeri) là 02 loài cây gỗ lớn thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) thườngchiếm lĩnh tầng ưu thế sinh thái của rừng, có ý nghĩa to lớn trong cấu trúc của hệsinh thái rừng cây họ Dầu của kiểu rừng kín nửa rụng lá và rụng lá ẩm nhiệt đớithuộc lưu vực sông Đồng Nai, đặc trưng của vùng Đông Nam bộ nói chung và củaKhu bảo tồn nói riêng