“Du lịch sinh thái”(Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới ở Việt Nam và đã thu hút được sự quan tâm của nhiều lĩnh vực. Đây là một khái niệm rộng được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau. Đối với một số người, “Du lịch sinh thái” được hiểu một cách đơn giản là sự kết hợp ý nghĩa của hai từ ghép “Du lịch” và “sinh thái”. Tuy nhiên cần có góc nhìn rộng hơn, tổng quát hơn để hiểu du lịch sinh thái một cách đầy đủ. Trong thực tế khái niệm “Du lịch sinh thái” đã xuất hiện từ những năm 1800. Với khái niệm này mọi hoạt động du lịch có liên quan đến thiên nhiên như: tắm biển, nghỉ núi…đều được hiểu là du lịch sinh thái.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TIỂU LUẬN NGUYÊN LÝ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
DU LỊCH SINH THÁI ẢNH HƯỞNG ĐẾN BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH
HỌC
GVHD: T.S Trịnh Trường Giang
Thực hiện:
1/ Nguyễn Thị Tuyết Hồng 2/ Nguyễn Tuyết Phượng 3/ Trần Mộng Khanh
Tháng 11 năm 2017
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
• DLST: Du lịch sinh thái
• ĐDSH: Đa dạng sinh học
• ESAP: Uỷ ban Kinh tế Xã hội Châu Á Thái Bình Dương
• GDMT: Giáo dục môi trường HST: Hệ sinh thái
• IUCN: Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế
• KBT: Khu bảo tồn
• TNTN: Tài nguyên thiên nhiên
• TT DLST & GDMT: Trung tâm du lịch sinh thái và giáo dục môi trường UBND: Ủy ban nhân dân
• VQG: Vườn quốc gia
• VQGTC: Vườn quốc gia Tràm Chim WWF: Quỹ Quốc tế Bảo vệ thiên nhiên
Trang 3MỞ ĐẦU
ĐDSH là cơ sở quan trọng đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của các quốc gia Do vậy, bảo tồn ĐDSH đã trở thành vấn để được cả xã hội quan tâm, đặc biệt là tại các VQG và khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Tuy nhiên, trong những năm gần đây, trước sự tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, ĐDSH đã
và đang bị ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng Là quốc gia nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, thiên nhiên đã ban tặng cho Việt Nam nhiều loài sinh vật quý hiếm
và Việt Nam là một trong những quốc gia có trữ lượng đa dạng sinh học cao nhất thế giới
Bên cạnh lợi ích thu được thì phát triển du lịch cũng gây ra những tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học và công tác bảo tồn của VQG Để phát triển du lịch thì đòi hỏi phải tác động vào quá trình tự nhiên của hệ sinh thái,sự tác động này tạo ra những biến động bất thường trong xu hướng phát triển tự nhiên của các quy trình sinh thái, các áp lực của hoạt động DLST lên công tác bảo tồn của VQG cũng gia tăng Điều đó cho ta thấy, hoạt động du lịch và công tác bảo tồn có mối quan hệ qua lại hết sức gắn bó, mật thiết, tương hỗ lẫn nhau và nếu khai thác, phát triển hoạt động du lịch không hợp lý có thể sẽ là nguyên nhân làm suy giảm giá trị của các nguồn tài nguyên, suy giảm chất lượng môi trường và cũng có nghĩa là làm suy giảm hiệu quả của chính hoạt động du lịch
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Những ảnh hưởng của hoạt động DLST đến công tác bảo tồn tại và nâng cao hiệu quả của công tác bảo tồn ĐDSH tại VQG và khu bảo tồn
1 Tổng quan về du lịch sinh thái
1.1Khái niệm
“Du lịch sinh thái”(Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới ở Việt Nam và đã thu hút được sự quan tâm của nhiều lĩnh vực Đây là một khái niệm rộng được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau Đối với một số người, “Du lịch sinh thái” được hiểu một cách đơn giản là sự kết hợp ý nghĩa của hai từ ghép
“Du lịch” và “sinh thái” Tuy nhiên cần có góc nhìn rộng hơn, tổng quát hơn
Trang 4sinh thái” đã xuất hiện từ những năm 1800 Với khái niệm này mọi hoạt động
du lịch có liên quan đến thiên nhiên như: tắm biển, nghỉ núi…đều được hiểu là
du lịch sinh thái
Hector Ceballos-lascurain (1987) đã đưa ra khái niệm: “DLST là du lịch tới những khu vực thiên nhiên còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá”
Honey (1999) mở rộng khái niệm DLST: “là du lịch tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra tác hại và với quy mô nhỏ nhất Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trường, nó trực tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho người dân địa phương và nó khuyến khích tôn trọng các giá trị văn hóa và quyền con người”
Hiệp hội DLST quốc tế nhấn mạnh DLST: “DLST là việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện được phúc lợi cho người dân địa phương”
Có rất nhiều định nghĩa khác về DLST trong đó Buckley (1994) đã tổng quát như sau: “Chỉ có du lịch dựa vào thiên nhiên, được quản lý bền vững , hỗ trợ bảo tồn, và có giáo dục môi trường mới được xem là du lịch sinh thái” Như vậy DLST là hoạt động du lịch không chỉ đơn thuần là du lịch ít tác động đến môi trường tự nhiên mà là du lịch có trách nhiệm với môi trường tự nhiên,
có tính giáo dục và diễn giải cao về tự nhiên, có đóng góp cho hoạt động bảo tồn và đem lại lợi ích cho cộng đồng địa phương
Tổng cục du lịch Việt Nam, ESCAP, WWF, IUCN đã đưa ra định nghĩa
về DLST ở Việt Nam: “DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”
Tóm lại du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, phát triển dựa vào những giá trị hấp dẫn của thiên nhiên và văn hóa bản địa; lợi nhuận thu từ hoạt động du lịch sẽ đóng góp cho công tác bảo tồn và nâng cao đời sống cho nhân dân địa phương; đồng thời phổ biến một số kiến thức cơ
Trang 5bản về sinh thái học cho khách du lịch, từ đó nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của mọi người
1.2Đặc trưng của DLST
DLST là một dạng của hoạt động du lịch, vì vậy nó cũng bao gồm tất cả các đặc trưng cơ bản của hoạt động du lịch nói chung:
Tính đa ngành: Đa dạng nguồn lực như sự hấp dẫn về cảnh quan thiên nhiên, giá trị lịch sử, văn hoá, cơ sở hạ tầng - cơ sở vật chất kĩ thuật và các dịch vụ đính kèm Thu nhập du lịch đưa lại nguồn lợi cho nhiểu ngành như: điện, nước, nông sản, hàng hoá,…
Tính đa thành phần: Bao gồm nhiều đối tượng khác nhau tham gia vào hoạt động du lịch như: khách du lịch, cán bộ - nhân viên du lịch, cộng đồng địa phương, tổ chức chính phủ và phi chính phủ, các tổ chức tư nhân
Tính đa mục tiêu: Thể hiện việc đưa lại lợi ích và hiệu quả trên nhiều mặt như: bảo tồn thiên nhiên, văn hoá lịch sử Nâng cao ý thức du lịch cho mọi thành viên trong xã hội
Tính liên vùng: Thể hiện sự thiết kế các tuyến du lịch liên vùng, liên kết quốc tế
Tính thời vụ: Thể hiện tính phụ thuộc của sự biến thiên lượng cung cầu
du lịch vào tính mùa của thời tiết, khí hậu
Tính xã hội Thể hiện mọi thành phần trong xã hội đều tham gia vào hoạt động du lịch
Tính giáo dục cao về môi trường DLST được xem là chiếc chìa khoá nhằm cân bằng giữa mục tiêu phát triển du lịch với việc bảo vệ môi trường Góp phần bảo tồn các nguồn TNTN và duy trì tính đa dạng sinh học Thu hút
sự tham gia của cộng đồng địa phương có tác dụng lớn trong việc giáo dục du khách bảo vệ các nguồn tài nguyên và môi trường, góp phần nâng cao nhận thức và làm tăng nguồn thu nhập cho cộng đồng địa phương
1.3Những nguyên tắc phát triển DLST
Có hoạt động giáo dục nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường, qua đó tạo ý thức tham gia và nỗ lực bảo tồn
Trang 6Đây là một nguyên tắc cơ bản của hoạt động DLST, nó tạo ra sự khác biệt
rõ rang giữa DLST với các loại hình dựa vào thiên nhiên khác Khi du khách đến với nơi tham quan sẽ có sự hiểu biết sâu sắc hơn về môi trường tự nhiên, về những đặc điểm sinh thái của khu vực và văn hóa bản địa Từ đó sẽ làm thay đổi thái độ của khách du lịch được thể hiện tích cực hơn trong việc bảo tồn và phát triển những giá trị về tự nhiên, sinh thái và văn hóa khu vực
Bảo vệ môi trường và duy trì HST
Cũng như nhiều loại hình khác, DLST cũng có nhiều những tác động đến môi trường và tự nhiên Với loại hình du lịch khác bảo vệ môi trường không phải
là yếu tố được ưu tiên hàng đầu thì đối với DLST đây là một trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng cần tuân thủ bởi vì:
Việc bảo vệ môi trường là mục tiêu hoạt động chính của DLST Sự tồn tại của DLST gắn với môi trường tự nhiên và các HST điển hình Sự xuống cấp của môi trường, sự suy thoái của các HST đồng nghĩa với sự đi xuống của các hoạt động DLST
Với nguyên tắc này, hoạt động DLST sẽ được quản lý chặt chẽ giảm thiểu tác động với môi trường, đồng thời một phần thu nhập từ hoạt động DLST sẽ được đầu tư cho việc tiến hành các giải pháp bảo vệ môi trường và duy trì sự phát triển của HST
Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng
Đây được xem là một nguyên tắc quan trọng, bởi các giá trị văn hóa bản địa là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời các giá trị môi trường của HST ở một nơi cụ thể Sự xuống cấp hay thay đổi tập tục của cộng đồng địa phương dưới tác động nào đó sẽ làm mất đi sự cân bằng sinh thái vốn có của khu vực, vì vậy sẽ làm thay đổi HST đó Hậu quả của quá trình nầy sẽ tác động trực tiếp đến HST Vì vậy, việc bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng địa phương có ý nghĩa quan trọng và là nguyên tắc hoạt động của DLST
Tạo cơ hội có việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu hướn tới của DLST Nếu các loại hình du lịch khác ít quan tâm đến vấn đề này thì hoạt động DLST được coi là một vấn đề được quan tâm và dành một phần đáng kể lợi nhuận từ hoạt động của mình để góp phần cải thiện cuộc sống của địa phương
Trang 7DLST luôn hướng tới việc huy động tối đa sự quan tâm của người dân địa phương như: đảm nhiệm vai trò hướng dẫn viên, đáp ứng chổ nghỉ cho khách… Thông qua đó tạo them việc làm và tăng thu nhập cho người dân địa phương Từ đó người dân ít phụ thuộc vào việc khai thác thiên nhiên, đồng thời họ sẽ nhận thấy được lợi ích của việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Từ đó sẽ làm giảm đi sức ép của cộng đồng địa phương đối với môi trường, họ chính là người bảo vệ trung thành các giá trị tự nhiên
1.4 Mối quan hệ DLST và cộng đồng địa phương
Những yếu tố thu hút sự quan tâm của khách du lịch với cộng đồng địa phương rất đa dạng như: yếu tố văn hóa, di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật, tập quán sản xuất… Khi có khách du lịch đến thăm cộng đồng địa phương lại cung cấp các dịch vụ như: chỗ nghỉ ngơi, các dịch vụ khác… tuy nhiên mối quan hệ này là song phương, khi du lịch phát triển nó mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương như:
Tạo việc làm trực tiếp trong ngành du lịch và các ngành hỗ trợ khác
- Thu ngoại tệ làm đa dạng hóa nền kinh tế địa phương
- Tạo động lực cải tạo cơ sở hạ tầng, giao thông, thông tin liên lạc, các cơ sở y tế…
- Tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa người dân địa phương và du khách, góp phần nâng cao dân trí, cải thiện nhận thức, tạo mối quan hệ xã hội ngày càng tiến bộ
Tuy nhiên dù là loại hình du lịch nào nếu phát triển không đúng nguyên tắc đều gây tác động tiêu cực Du lịch có thể góp phần vào quá trình phát triển và kém phát triển, làm tăng them khoảng cách giữa người giàu và người nghèo
Tạo ra sự phụ thuộc nặng nề vào hoạt động du lịch, làm nảy sinh bất ổn về tài chính, làm đảo lộn đời sống kinh tế xã hội Gây ra sự quá tải đối với cơ sở vật chất kỹ thuật
Như vậy bất kì một loại hình du lịch nào cũng có những mặt tác động tiêu cực nếu không có một định hướng phát triển đúng đắn Do đó hiểu và nắm về mặt
lý luận của DLST là một vấn đề quan trọng trước khi bắt tay vào thiết kế một kế
Trang 8hoạch phát triển DLST cho một vùng cụ thể.
1.5DLST bền vững
DLST bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi đó vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên và phát triển du lịch trong tương lai Phát triển DLST bền vững cần có sự cân bằng giữa các mục tiêu kinh tế (tăng GDP), xã hội ( sức khỏe, văn hóa cộng đồng ) và môi trường (bảo tồn tài nguyên môi trường) trong khuôn khổ các nguyên tắc và các giá trị đạo đức
2 Đa dạng sinh học
2.1 Khái niệm về đa dạng sinh học:
Hiện nay có rất nhiều khái niệm về đa dạng sinh học: Theo Công ước về đa dạng sinh học năm 1992 (Việt Nam ký ngày 16 tháng 11 năm 1994) thì: “Đa dạng sinh học có nghĩa là tính (đa dạng) biến thiên giữa các sinh vật sống của tất cả các nguồn bao gồm các hệ sinh thái tiếp giáp, trên cạn, biển, các hệ sinh thái thủy vực khác và các tập hợp sinh thái mà chúng là một phần Tính đa dạng này thể hiện ở trong mỗi loài, giữa các loài và các hệ sinh học”
Ngoài ra đa dạng sinh học còn được định nghĩa: “Đa dạng sinh học là toàn bộ
đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng sinh thái, cũng như những tác động tương
hỗ giữa chúng, trong một vùng xác định, tại một thời điểm xác định” (Di Castri, 1995)
Qua những định nghĩa trên ta có thể thấy được sự đa dạng sinh học là sự đa dạng về nguồn gen, đa dạng về loài và đa dạng về hệ sinh thái Đa dạng sinh học được phân thành ba cấp độ như sau:
Thứ nhất: Đa dạng sinh học ở cấp độ loài gồm tất cả các sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động, thực vật và các loài nấm
Thứ hai: Ở cấp độ quần thể đa dạng sinh học bao gồm sự khác biệt về gen các loài, khác biệt về gen giữa các quần thể sống cách ly nhau về địa lý cũng như khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể
Thứ ba: Đa dạng sinh học còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã
mà trong đó các loài sinh sống và các hệ sinh thái, nơi mà các loài cũng như các
Trang 9quần xã sinh vật tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau
2.2 Đa dang sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học trên thế giới.
Hiện nay, trên thế giới sự đa dạng sinh học thể hiện rõ nhất ở vùng nhiệt đới Vùng nhiệt đới chỉ chiếm 15% diện tích bề mặt trái đất nhưng chiếm tới 78% tổng số loài sinh vật trên hành tinh Cho đến nay đã có 90.000 loài sinh vật đã được xác định ở vùng nhiệt đới, trong lúc toàn bộ vùng ôn đới Bắc Mỹ và Châu Âu - Á chỉ có 50.000 loài
Đến nay, người ta đã thống kê số lượng loài sinh vật trên thế giới được mô
tả theo nhóm phân loại Trên thế giới đã có 1.730.341 loài động vật, thực vật được mô tả Nhưng theo dự đoán của các nhà phân loại học sự đa dạng loài trên thế giới là rất lớn Số loài hiện đang sống trên trái đất khoảng 10 triệu loài (nhưng
có lẽ đạt tới 30 triệu), còn số loài chết đi (tuyệt chủng) để lại hoá thạch trong các địa tầng phải tới 100 lần lớn hơn các loài hiện sống
Mỗi loài sinh vật đều có một chức năng nhất định trên trái đất cho dù chúng có lợi, không có lợi, thậm chí có hại đối với con người thì chúng ta vẫn cần phải bảo tồn vì những giá trị vốn có của nó Bảo tồn đa dạng sinh học còn tạo điều kiện duy trì các nguồn tài nguyên sinh vật, bao gồm những nguyên liệu để sản xuất những sản phẩm khác nhau, cũng như chức năng sinh thái tự nhiên của thế giới sinh vật
Vai trò của sinh vật, trước hết là giá trị kinh tế của chúng Chúng cung cấp lương thực, thực phẩm, rau màu để nuôi sống con người hơn hai triệu năm qua Vấn đề an toàn lương thực cho con người trên hành tinh hiện nay rất nan giải Con người chỉ có thể giải quyết được nạn đói protein khi và chỉ khi biết sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học.Đa dạng sinh học cung cấp cho con người nhiều loài vật nuôi và cây trong trong các quần xã sinh vật
Gỗ, củi từ những khu rừng tự nhiên cung cấp trên 60% giá trị xuất khẩu ở nhiều nước trong vùng nhiệt đới Đặc biệt là Indonexia gỗ là nguồn thu nhập kinh
tế đứng hàng thứ hai của nước này
Trang 10Đa dạng sinh học hình thành nên các quần xã, đỉnh cực trong các Hệ sinh thái, hình thành các chuỗi thức ăn và lưới thức ăn phong phú, thiết lập sự cân bằng của các hệ sinh thái tự nhiên
Hiện nay trên thế giới, hiện tượng làm mất các hệ sinh thái tự nhiên và làm mất các loài đang hàng ngày, hàng giờ xảy ra Mỗi năm, trái đất mất đi khoảng 2000 loài động vật, thực vật, nghĩa là mất đi hơn 10% số loài đã được mô tả Nếu như các thế kỷ trước đây bình quân cứ vài chục năm mới có một loài bị tuyệt chủng, thì những năm của thập niên chín mươi, người ta tính ra rằng cứ bình quân 7 phút
có một loài bị tuyệt chủng Đặc biệt các loài có ích như chim, ếch ăn sâu bọ…
Ở Đông Nam Á, họ hàng hoang dại của các loại cây như: chôm chôm, xoài, mẵng cầu và nhiều loài cây ăn quả đang bị thu hẹp diện tích Cà phê là một trong những cay có giá trị nhất trong rừng núi cao ở Tây nam Etiopia đã mất 90% sống giống loài và suy giảm sản lượng
Nhiều loài động vật có ích, có nguồn gen quý hiếm đang bị thu hẹp vùng phân bố, số lượng cá thể và mất dần nguồn gen Chẳng hạn như heo vòi, hươu sao, tê giác, bò rừng…
Đa dạng sinh học là nguồn dược liệu vô tập Hiện con người mới chỉ biết được 5% giá trị tiềm ẩn về nguồn dược liệu của đa dạng sinh học Trước đây, nguồn dược liệu con người sử dụng hoàn toàn phụ thuộc và thiên nhiên Ngày nay, mặc dù khoa học phát triển đến đỉnh cao nhưng vẫn chưa điều chế thuốc chữa những bệnh hiểm nghèo thay thế cho nguồn dược liệu tự nhiên Ở các nước phương Đông và Việt Nam, việc phòng bệnh, chữa bệnh thì y học cổ truyền còn đóng vai trò quan trọng Theo một số nhà y học, hầu như tất các các loài thực vật đều có tác dụng chữa bệnh mà hiện nay con người chưa hề biết đến
Vai trò của đa dạng sinh học trong kinh tế du lịch rất lớn, nhất là du lịch sinh thái Trên thế giới hiện nay, xu hướng du lịch sinh thái đang phát triển mạnh thông qua việc tham quan các Vườn Quốc gia và các khu bảo tồn
Các vườn Quốc gia, các khu bảo tồn cho phép giữ gìn quần thể của các loài như bảo tồn các quá trình hệ sinh thái sao cho chúng ở trạng thái không bị nhiễu loạn Đồng thời, đây cũng là nơi phục vụ cho mục đích giáo dục, nghiên cứu khoa học và tham quan giải trí… cho đến những năm đầu thế kỷ XXI, thế giới có