1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Sự phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam từ 1986 đến 2020

15 187 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 51,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận vận dụng học thuyết phát triển ba tầng trong kinh tế học để giải thích về các nhân tố đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong giai đoạn 19862020. Trong đó chỉ rõ vai trò của nhân tố nhà nước trong việc tạo dựng môi trường phát triển, nhân tố doanh nghiệp như là những nhà sáng tạo, phát minh của nền kinh tế, nhân tố về người lao động, vốn đầu tư và tài nguyên thiên nhiên

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN

KHOA LỊCH SỬ

Tiểu luận cuối kỳ Học phần: Sự phát triển kinh tế xã hội các nước Đông Nam Á

Đề tài:

TỪ HỌC THUYẾT PHÁT TRIỂN BA TẦNG

PHÂN TÍCH SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

CỦA VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2020

Giảng viên hướng dẫn TS Lý Tường Vân

Họ và tên sinh viên: Trần Đức Tâm

Hà Nội, 2021

Trang 2

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ADB Asian Development Bank (Ngân hàng Phát triển châu Á)

APEC Asia-Pacific Economic Cooperation (Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á

– Thái Bình Dương)

ASEAN Association of South East Asian Nations (Hiệp hội các Quốc gia Đông

Nam Á)

CPTPP Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific

Partnership (Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương)

EVFTA European Union – Vietnam Free Trade Agreement (Hiệp định Thương

mại tự do Việt Nam – EU)

GDP Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)

HĐBA Hội đồng bảo an

IMF International Monetary Fund (Quỹ Tiền tệ Quốc tế)

LHQ Liên Hợp Quốc

WB World Bank (Ngân hàng Thế giới)

WTO World Trade Organization (Tổ chức Thương mại Thế giới)

Trang 3

1 Giới thiệu về lý thuyết phát triển ba tầng

Lý thuyết phát triển ba tầng được đưa ra bởi học giả Lim Chong Yah, nhằm giải thích cho sự phát triển kinh tế khác nhau giữa các quốc gia Cụ thể, lý thuyết này gồm 3 phần: thuyết EGOIN, thuyết 3 chữ C và thuyết đường cong S (Lim, 2002, 416)

1.1 Thuyết EGOIN đề cập đến các nhân tố có tính quyết định đến sự phát triển của

nền kinh tế, đó là:

- E (entrepreneurship) là doanh nghiệp, được hiểu là khả năng của các doanh nghiệp trong việc vận hành, quản lý, tìm kiếm thị trường, sản xuất và cải tiến, Đây là nhân tố năng động, đóng vai trò nhà phát minh trong nền kinh tế

- G (goverment) là chính phủ, được hiểu là nhà lãnh đạo, đội ngũ quan chức và những cơ chế, chính sách, phương hướng Chính phủ là nhân tố quyết định hàng đầu, xây dựng và đảm bảo môi trường phát triển kinh tế, định hướng phát triển ở tầm vĩ mô

- O (ordinary labour) là lao động thông thường, được hiểu là trình độ, năng lực sản xuất, tạo ra giá trị của người lao động trong nền kinh tế Lao động này cần hiểu theo nghĩa rộng, từ lao động cơ bắp, thủ công đến lao động trí óc, ứng dụng kỹ thuật cao,

- I (investment) là sự đầu tư cho nguồn vốn vật chất, như cơ sở hạ tầng như cầu đường, sân bay, cảng biển, bệnh viện, trường học, nhà máy, cửa hàng, thiết bị công nghệ

- N (natural resource) là tài nguyên thiên nhiên, được hiểu gồm cả tài nguyên khoáng sản, nông lâm thủy sản, vị trí trí địa lý, tiềm năng thủy điện,

Nhân tố EGO là nhân tố con người, đóng vai trò quyết định, thúc đẩy sự phát triển Nhân tố IN là tuy là những nhân tố thụ động, nhưng đóng vai trò rất quan trọng, là

cơ sở cho những định hướng phát triển, EGO cần phải thu hút, xây dựng tốt I và khai thác, tận dụng tốt N để có thể phát triển Xét riêng EGO, G là nhân tố cốt lõi, tạo điều kiện cho sự phát triển của E và O thông qua những cơ chế, chính sách

Trang 4

khuyến khích doanh nghiệp, những sự đầu tư vào giáo dục đào tạo, nâng cao chất lượng, bảo vệ quyền lợi của người lao động

Hoạc thuyết này chỉ ra vì sao có những quốc gia phát triển và kém phát triển Sự kém phát triển có trách nhiệm lớn của chính phủ (G), thường là do sở hữu một đội ngũ quan chức chất lượng kém, trì trệ và tham nhũng Bên cạnh đó là hệ thống pháp luật không chặt chẽ, những cơ chế chính sách chưa khuyến khích được sự phát triển của doanh nghiệp (E) và giải phóng được sức lao động của người dân (O) Những đầu tư vào cơ sở hạ tầng cũng như khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài hạn chế (I) Không khai thác tốt, gây lãng phí những nguồn tài nguyên sẵn có (N) Ngược lại, những quốc gia phát triển tận dụng tốt lợi thế sẵn có của mình, tích cực phát triển cơ sở hạ tầng, tạo môi trường đầu tư thuận lợi để thu hút nguồn vốn từ nước ngoài, cũng như tạo điều kiện kinh doanh lành mạnh cho doanh nghiệp trong nước, đồng thời quan tâm đến giáo dục, nâng cao tay nghề và đảm bảo đời sống người lao động

1.2 Thuyết ba chữ C là viết tắt của Circular Cumulative Causation (kết quả tích

lũy xoay vòng) Thuyết này cho rằng sự thịnh vượng có thể lan tràn đến những nơi khác và sự nghèo khó có xu hướng tạo thêm nghèo khó Vì vậy sự phát triển của quốc gia không thể chỉ xem xét trong bản thân quốc gia đó Sự tăng trưởng của nền kinh tế dựa trên 3 động cơ: động cơ trong nước, động cơ khu vực và động cơ toàn cầu Động cơ trong nước đóng vai trò quan trọng nhất, cũng là một chức năng của EGOIN Một quốc gia có sự phát triển nhất định mới có thể tiếp nhận nguồn lợi từ bên ngoài (cũng như chịu tác động suy thoái), qua cơ chế thị trường Sự tác động qua lại giữa trong nước, khu vực và toàn cầu tạo nên sự luân chuyển không ngừng

1.3 Thuyết đường cong S phân chia các nền kinh tế theo cơ sở là tốc độ tăng

trưởng và thu nhập bình quân trong nhiều năm Theo đó có 3 kiểu nền kinh tế:

- Kiểu con rùa: những nền kinh tế có thu nhập thấp và tốc độ tăng trưởng thấp Đây thường là các nền kinh tế tiền công nghiệp, có chỉ số tiết kiệm và chỉ số đầu tư thấp, trong khi tỷ lệ tăng dân số cao, là các xã hội tiêu dùng thấp, nền tảng tri thức hạn chế

Trang 5

- Kiểu con ngựa: những nền kinh tế có thu nhập trung bình và tốc độ tăng trưởng cao, thường là đang diễn ra quá trình công nghiệp hóa, chỉ số tiết kiệm và đầu tư đều cao, gia tăng dân số có kế hoạch, là các xã hôi tiêu dùng tầm trung và nền tảng tri thức ngày càng tiến bộ

- Kiểu con ngựa: những nền kinh tế có thu nhập cao và tốc độ tăng trưởng thấp, là các quốc gia hậu công nghiệp, chỉ số tiết kiệm và đầu tư đều thấp, gia tăng dân số thấp, là các xã hội tiêu dùng cao và nền tảng tri thức cao

2 Sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2020 nhìn từ lý thuyết phát triển ba tầng

Lý thuyết phát triển ba tầng chỉ ra vai trò của các nhân tố EGOIN trong sự phát triển, ba động lực tăng trưởng lớn và xác định một nền kinh tế nằm ở đâu trong nấc thang phát triển Đối với trường hợp của Việt Nam, bên cạnh những đặc thù, lý thuyết phát triển ba tầng có thể giải thích cho những thành tựu và hạn chế trong công cuộc phát triển của quốc gia này

2.1 Một số nét chính trong tiến trình phát triển của Việt Nam giai đoạn 1986-2020

Năm 1986 là mốc quan trọng đánh dấu sự thay đổi của nền kinh tế Việt Nam, từ vận hành quan liêu, bao cấp dưới sự chỉ huy của nhà nước, chuyển sang nền kinh tế hàng hóa vận hành theo cơ chế thị trường, có sự điều tiết của nhà nước Sự thay đổi này đã phát huy nội lực của các thành phần kinh tế trong nước, giải phóng sức lao động trong nhân dân Quyết định đổi mới không những giải quyết được tình hình khủng hoảng kinh tế mà còn đạt được những thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực Trải qua 35 năm đổi mới, GDP của Việt Nam đã tăng hơn 10 lần [19] Tỷ lệ nghèo giảm từ 58,1% năm 1993 [17] xuống còn 2,75% vào cuối năm 2020 [18]

Sự phát triển của Việt Nam gắn với sự hội nhập quốc tế Giai đoạn 1986-200, Việt Nam giải quyết các vấn đề tồn tại với các nước láng giềng, nước lớn và từng bước hội nhập quốc tế Năm 1991, Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc Năm 1993, Việt Nam nối lại quan hệ tín dụng với các định chế tài chính quốc tế IMF, WB, ADB Năm 1995, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN Cùng năm

Trang 6

này, Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Mỹ, đến năm 2000, hai nước ký kết hiệp định thương mại Việt – Mỹ Năm 1998, Việt Nam gia nhập diễn đàn APEC Giai đoạn 2000-2020, Việt Nam tiếp tục hội nhập quốc tế sâu rộng Năm 2007, Việt Nam chính thức gia nhập WTO Việt Nam trở thành ủy viên không thường trực của HĐBA LHQ giai đoạn 2008-2009 và chủ tịch ASEAN năm 2010 Việt Nam tích cực tham gia vào cộng đồng quốc tế, góp phần xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015, hiệp định CPTPP Năm 2020, Việt Nam một lần nữa đảm nhận cương vị chủ tịch luân phiên của ASEAN và HĐBA LHQ

2.2 Nhân tố G - Vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành của Chính phủ trong phát triển kinh tế ở Việt Nam

Lý thuyết phát triển ba tầng chỉ ra vai trò tối quan trọng của nhân tố G trong phát triển kinh tế Đối với trường hợp Việt Nam, do đặc thù của một quốc gia theo thể chế một đảng lãnh đạo, nhân tố G lại càng quan trọng Nhân tố G ở Việt Nam cần được hiểu là cả đảng cầm quyền và chính phủ, bởi hai lực lượng này gắn bó chặt chẽ với nhau

Nhân tố G thể hiện vai trò cốt lõi của mình ở việc tạo dựng môi trường phát triển, duy trì ổn định vĩ mô, đưa ra định hướng phát triển và tạo ra những đột phá chiến lược Ví dụ, trước năm 1986, những sai lầm trong chính sách, thiếu thực tế trong đường lối và bảo thủ trì trệ trong tư duy đã dẫn đến tình trạng khủng hoảng trầm trọng về kinh tế Nhưng cũng chính nhân tố G lại khởi xướng công cuộc đổi mới từ Đại hội VI (1986) Quyết định đó cân nhắc trên cơ sở tình hình quốc tế chuyển biến phức tạp, có chiều hướng bất lợi, khủng hoảng kinh tế trong nước nghiêm trọng, nhưng có những điểm sáng ở các mô hình thí điểm kinh tế tại địa phương Đảng Cộng sản đã thể hiện quyết tâm thay đổi tư duy của chính mình, không những để phát triển mà còn để bảo vệ sự tồn vong của chế độ và của đất nước

Trước năm 1986, Việt Nam theo đuổi chính sách phát triển công nghiệp nặng theo

mô hình Liên Xô – Đông Âu, nhưng từ năm 1986, nông nghiệp và công nghiệp nhẹ được chú trọng hơn, giải quyết nhu cầu bức thiết khi đó bằng ba chương trình lớn về lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Sau khi trải qua công cuộc đổi mới được một vài năm, thu được một số thành tựu, năm 1994, Đảng Cộng

Trang 7

sản lại trở lại với mục tiêu công nghiệp hóa, nhưng không phải là phát triển công nghiệp nặng theo tư duy cũ, mà là công nghiệp hóa – hiện đại hóa Chủ trương này được nêu lên nhất quán qua các văn kiện đại hội, nhưng thường phải điều chỉnh để mục tiêu phù hợp hơn với thực tế [9]

Một vấn đề khác đối với nhân tố G ở Việt Nam là những tồn dư của tư duy trì trệ, quan liêu Điều này dẫn đến sự nở ra của lao động trong khu vực nhà nước, khiến

bộ máy trở nên cồng kềnh và hoạt động kém hiểu quả [7] Trong nhiệm kỳ

2016-2020, Chính phủ đã đẩy mạnh việc tinh giảm biên chế và xây dựng chính phủ điện

tử, nhằm nâng cao hiểu quả hoạt động của chính phủ, giảm chi ngân sách nhà nước, tiến tới sử dụng ngân sách một cách hiệu quả và ngăn tình trạng lãng phí nhân lực Nạn tham nhũng, lãng phí là vấn đề tồn tại thường xuyên và gây nhiều bức xúc trong dư luận Việc phòng chống tham nhũng, lãng phí được nêu ra từ lâu, nhưng tình trạng tham nhũng vẫn diễn ra Đến tháng 2/2013, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng được Bộ Chính trị thành lập [4], hoạt động phòng chống tham nhũng ngày càng có tổ chức và đi vào chiều sâu Tuy vậy, phải đến nhiệm kỳ 2016-2020, hoạt động phòng chống tham nhũng mới đạt được những kết quả tích cực, xử lý nhiều vụ án được dư luận quan tâm và củng cố niềm tin trong nhân dân Tháng 11/2018, Luật Phòng, chống tham nhũng được Quốc hội thông qua, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc phòng chống tham nhũng [11]

Một thành tựu nổi bật của Chính phủ Việt Nam là những nỗ lực quyết liệt trong phòng chống dịch bệnh Covid-19 từ đầu năm 2020 đến nay Thành quả phòng chống dịch đã tạo điều kiện cho Việt Nam giữ vững ổn định tình hình chung, tiếp tục thu hút đầu tư nước ngoài, là một trong số ít những nền kinh tế duy trì tăng trưởng dương trong bối cảnh đại dịch toàn cầu Thành quả này của Việt Nam được quốc tế đánh giá cao, nhiều tổ chức toàn cầu nâng mức tín nhiệm của Việt Nam [15]

Bên cạnh vai trò cốt lõi của mình, nhân tố G còn thể hiện vai trò đối với các nhân tố khác trong tổng thể EGOIN Bàn đến sự đóng góp của các nhân tố còn lại trong sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam giai đoạn 1986-2020, không thể không nhắc đến tác động của nhân tố G đối với các nhân tố này

Trang 8

2.3 Nhân tố E – động lực của nền kinh tế

Nhân tố E là doanh nghiệp, ở đây nhấn mạnh đến yếu tố doanh nghiệp vận hành theo cơ chế thị trường, chứ không phải về hình thức là doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp nhà nước Tuy vậy cần phải thừa nhận rằng, dù từ năm 1986, Việt Nam thừa nhận cơ chế thị trường, nhưng phần lớn các doanh nghiệp nhà nước lại không thực sự vận hành theo cơ thế này, mà dựa vào sự nâng đỡ, o bế của nhà nước, dẫn đến kinh doanh không hiệu quả, thua lỗ thường xuyên và tốn kém ngân sách để duy trì

Đối với doanh nghiệp tư nhân cũng phải trải qua một thời gian dài để được thừa nhận và đánh giá đúng vai trò, cũng phản ánh nhận thức của nhân tố G đối với nhân

tố E - Năm 1986, nghị quyết Đại hội mới bắt đầu thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần

- Đến Đại hội VII, kinh tế tư nhân được thừa nhận: “Kinh tế tư bản tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành, nghề

mà luật pháp không cấm”

- Đại hội VIII tiếp tục khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân Đại hội IX xác định:

“Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài”

- Trong nhiệm kỳ Đại hội X đã thông qua “Quy định đảng viên làm kinh tế tư nhân”

- Đại hội XI xác định cần: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh

tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế”

- Đại hội XII bên cạnh khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, đã nhấn mạnh “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế” [3]

- Đại hội XIII nói rõ cần xóa bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi

để phát triển kinh tế tư nhân, xác định mục tiêu cụ thể: phấn đấu đến năm 2025 có khoảng 1,5 triệu doanh nghiệp, đóng góp khoảng 55% GDP và đến năm 2030 có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp, đóng góp vào GDP đất nước đạt 60 - 65% [14]

Thực tế từ nhiều năm qua, đội ngũ doanh nghiệp đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển của nền kinh tế, hiện nay đã đóng góp khoảng 42-43% GDP Tuy vậy chất

Trang 9

lượng doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam còn hạn chế, 96% là các doanh nghiệp vừa

và nhỏ, chỉ có 2% là doanh nghiệp vừa và 2% là doanh nghiệp lớn [6] Việc phát triển doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng không chỉ với kinh tế trong nước mà còn góp phần xây dựng thương hiệu quốc gia trên trường quốc tế Sự mở rộng đầu tư kinh doanh của Viettel hay mục tiêu phát triển những ngành công nghiệp ô tô của Vingroup là những nỗ lực đáng ghi nhận

2.4 Nhân tố O – người lao động.

Việt Nam luôn nêu cao và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động, đó là một trong những lý tưởng đã sinh ra nhà nước Việt Nam hiện đại Nhưng không phải lúc nào những quyết định của nhà nước cũng phù hợp và đem lại lợi ích tốt nhất cho người lao động Phải đến sau năm 1986, năng lực sản xuất trong nhân dân mới thực sự được giải phóng và những mục tiêu về ấm no, hạnh phúc mới trở nên khả quan

Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong phát triển con người Tỷ lệ người biết chữ luôn ở mức rất cao Tính đến năm 2020, tỷ lệ người biết chữ trong

độ tuổi từ 15 đến 60 của cả nước đạt 97,85% [12] Người Việt Nam cũng được đánh giá là có những phẩm chất tốt như cần cù, chịu khó, tiếp thu nhanh Ở xã hội Việt Nam, việc học rất được coi trọng, điều này vừa là một truyền thống, vừa là điểm chung của các quốc gia chịu ảnh hưởng Nho giáo khi niềm tin vào khả năng tiến thân nhờ học vấn là rất phổ biến Giáo dục ở Việt Nam cũng có xu hướng ưu tiên các ngành khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, một di sản từ thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội theo quan điểm phát triển công nghiệp nặng, nhưng lại là một tiền đề tốt để Việt Nam nỗ lực theo đuổi cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Về y tế, Việt Nam đã triển khai bảo hiểm y tế tới 87% dân số, cao hơn mức trung bình của thế giới Tuổi thọ trung bình được nâng cao từ 70,5 năm 1990 lên 76,3 năm 2016 [20] Việc tiêm vaccine phòng các bệnh được triển khai qua chương trình tiêm chủng mở rộng từ thập niên 80, cho đến năm 2012 đã thanh toán bệnh bại liệt, khống chế bệnh sởi, giảm tỷ lệ viêm gan B, bạch hầu, ho gà và nhiều căn bệnh khác Đây là những kết quả đáng ghi nhận trong chăm sóc sức khỏe toàn dân [13] Tại Đại hội XIII, Đảng Cộng sản đã nhấn mạnh việc đặt nhân tố con người, an ninh con người làm trung tâm của mọi hoạt động [5]

Trang 10

Lao động của Việt Nam cũng có xu hướng chuyển dịch tích cực Năm 2020, tỷ trọng lao động trong khu vực nông lâm ngư nghiệp là 31,6%, công nghiệp – xây dựng là 31,7% và dịch vụ là 36,7% Tuy vậy, tỷ lệ lao động có trình độ còn thấp, chỉ có 24,1% lao động là đã qua đào tạo có bằng, chứng chỉ từ sơ cấp trở lên [16] Vấn đề già hóa dân số cũng tiềm ẩn nguy cơ suy giảm tăng trưởng Năm 2020, Việt Nam có 11,4 triệu người từ 60 tuổi trở lên, chiếm 11,86% tổng dân số, chỉ số già hóa tăng từ 35,9% vào năm 2009 lên 48,8% vào năm 2019, tốc độ già hóa là nhanh chưa từng thấy [1] Đây đều là những trở ngại lớn của Việt Nam trong nỗ lực đưa nền kinh tế phát triển, thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình

2.5 Nhân tố IN – Nguồn vốn vật chất và ba chữ C động lực tăng trưởng

Việt Nam có một số lợi thế về điều kiện tự nhiên, như đường bờ biển dài, vị trí địa

lý thuận lợi, tiềm năng du lịch khá hấp dẫn Tài nguyên khoáng sản đa dạng nhưng trữ lượng không lớn Trữ lượng thủy điện đã khai thác gần hết, trong khi nhu cầu năng lượng cho phát triển đất nước vẫn rất lớn Nông sản là một lợi thế, những mặt hàng như gạo, cà phê, hồ tiêu, trái cây, là những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Những thực tế đó quy định Việt Nam có thế mạnh về nông nghiệp và dịch vụ, để phát triển toàn diện, cần phải phát triển từ thế mạnh

Giống như hầu hết các quốc gia Đông Nam Á, Việt Nam có nền kinh tế hướng ngoại, sự thịnh vượng phụ thuộc đáng kể vào xuất khẩu Việt Nam thiệt thòi hơn các quốc gia khác do bắt đầu công cuộc phát triển kinh tế khá muộn vì chiến tranh

và bao vây, cấm vận, chi phí cho những hậu quả sau chiến tranh cũng tốn kém Vì vậy, việc tạo dựng môi trường đầu tư lành mạnh và thu hút vốn đầu tư, vốn khoa học kỹ thuật từ nước ngoài là vô cùng quan trọng

Việc mở cửa nền kinh tế, thu hút vốn đầu tư và đẩy mạnh hội nhập quốc tế có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển Đối với yêu cầu này, nhân tố G – chính phủ Việt Nam đã tỏ ra rất tích cực trong việc tạo ra những đột phá về hội nhập quốc tế sâu rộng Cho đến năm 2020, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 189/193 nước thành viên của LHQ, là thành viên chủ động, tích cực của hơn 70 tổ chức khu vực

và quốc tế Tham gia hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trong nhiều lĩnh vực, có quan hệ đầu tư và thương mại với 230 thị trường [8] Gần đây là hiệp định EVFTA có hiệu lực mở ra cơ hội cho hàng hóa của Việt Nam tại thị trường châu

Ngày đăng: 26/10/2021, 02:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w