1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nguy cơ tái diễn đột quỵ trước khi phẫu thuật bóc tách nội mạc động mạch cảnh: Nghiên cứu ANSYSCAP

10 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 4,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu nguy cơ nhồi máu tái diễn cùng bên ở ngày 90 sau khi bị mù thoáng qua, tắc động mạch võng mạc, cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua, hoặc nhồi máu não nhỏ ở bệnh nhân hẹp mạch cảnh 50-99% trước khi phẫu thuật bóc tách nội mạc động mạch cảnh, với sự nhấn mạnh vào 14 ngày đầu.

Trang 1

Cơ sở: phẫu thuật bóc tách nội mạc động mạch cảnh làm

giảm nguy cơ nhồi máu não cùng bên nhiều hơn nếu được

thực hiện trong vòng hai tuần sau triệu chứng bệnh lý mạch

máu não khi so với thời điểm thực hiện muộn hơn hai tuần

sau khi biểu hiện triệu chứng Tuy nhiên, lợi ích bổ sung có

thể nhận được nếu phẫu thuật bóc tách nội mạc động mạch

cảnh được thực hiện sớm hơn thời điểm hai tuần

Mục tiêu: nghiên cứu nguy cơ nhồi máu tái diễn cùng bên

ở ngày 90 sau khi bị mù thoáng qua, tắc động mạch võng

mạc, cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua, hoặc nhồi máu

não nhỏ ở bệnh nhân hẹp mạch cảnh 50-99% trước khi

phẫu thuật bóc tách nội mạc động mạch cảnh, với sự nhấn

mạnh vào 14 ngày đầu

Phương pháp: nghiên cứu thuần tập tiến cứu trên 230 bệnh

nhân có hẹp mạch cảnh 50-99% có triệu chứng (phân độ

theo North American Symptomatic Carotid Endarterectomy

Trial), được đánh giá trước khi phẫu thuật bóc tách nội mạc

động mạch cảnh Trong số này, 183 bệnh nhân được phẫu

thuật bóc tách nội mạc động mạch cảnh; Thời gian trung

bình trước khi can thiệp là 29 ngày 93% bệnh nhân dùng

thuốc hạ áp và 90% dùng thuốc hạ mỡ máu

Kết quả: Nguy cơ tái diễn nhồi máu não cùng bên trước

khi phẫu thuật bóc tách nội mạc động mạch bằng 5,2%

(n=12) trong vòng hai ngày, 7,9% (n=18) trong vòng

bảy ngày, 11,2% (n=25) trong vòng 14 ngày, và 18,6%

(n=33) trong vòng 90 ngày sau biến cố hiện thời Nguy

cơ tái diễn nhồi máu não cùng bên sẽ cao hơn nếu biến cố

hiện tại là đột quỵ, (P=0,015;HR: 12,4) hoặc cơn thiếu

máu não cục bộ thoáng qua (HR 10,2; P=0,026) so với

biến cố mù thoáng qua

Bàn luận: Nguy cơ tái diễn nhồi máu não cùng bên cao

trong những ngày đầu sau biến cố hiện tại Nhiều đột quỵ

tái diễn có thể tránh được nếu phẫu thuật bóc tách nội mạc

động mạch cảnh được thực hiện ngay trong ngày đầu sau

biến cố hiện tại

Từ khóa: Khai thông động mạch cảnh, hẹp động mạch cảnh, nguy cơ, đột quỵ.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nguy cơ tái diễn nhồi máu não cùng bên giảm đi với phẫu thuật bóc tách nội mạc động mạch cảnh (CEA) ở các bệnh nhân hẹp mạch cảnh có triệu chứng từ 50-99% [1] Nếu CEA được thực hiện trong vòng hai tuần kể từ khi có triệu chứng tổn thương mạch máu não thì nguy cơ tuyệt đối giảm 18,5% Tuy nhiên, khả năng giảm nguy cơ tuyệt đối sẽ kém đi khi kéo dài thời gian trì hoãn thực hiện CEA kể từ lúc có triệu chứng mạch máu não [1]

Trong quần thể có nhiều nguyên nhân đột quỵ khác nhau, nguy cơ đột quỵ sau cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua (TIA) hoặc đột quỵ nhẹ cao trong vài ngày đầu sau biến cố [2,3], và tăng cao nếu nguyên nhân

là bệnh lý động mạch lớn [4,5] Đặc biệt, nếu nguyên nhân là hẹp động cảnh cùng bên [6] thì nguy cơ tái diễn đột quỵ trong vòng 14 ngày tăng cao gấp năm lần so với các nguyên nhân khác[7] Nguy cơ đột quỵ tái diễn trong vòng vài ngày do hẹp mạch cảnh được báo cáo dao động từ 13-23% ở ngày 14 [8-11] Tuy nhiên, chỉ có một trong

số các nghiên cứu này bao gồm các phân tích đột quỵ tái diễn cùng bên kể từ biến cố hiện tại-cho phép so sánh những phát hiện chính của các nghiên cứu North American

Nguy cơ tái diễn đột quỵ trước khi phẫu thuật bóc tách nội mạc động mạch cảnh: nghiên cứu ANSYSCAP

Risk of recurrent stroke before carotid endarterectomy: The ANSYSCAP study

E P Johansson 1* , C Arnerlöv 2 , and P Wester 1

Translated by Dr Trần Viết Lực Revised by Prof Lê Văn Thính

Correspondence: Elias Johansson*, Department of Public Health and

Clinical Medicine, Umeå University, 901 87 Umeå, Sweden.

E-mail: elias.johansson@medicin.umu.se

1 Department of Public Health and Clinical Medicine, Umeå Stroke

Centre, Umeå University, Umeå, Sweden

2 Department of Surgical and Perioperative Sciences, Umeå University,

Umeå, Sweden

Conflict of interest: None declared.

DOI: 10.1111/j.1747-4949.2012.00790.x

Trang 2

Symptomatic Carotid Endarterectomy Trial

(NASCET) và European Carotid Surgery Trial (ECST) Nghiên cứu này bị hạn chế bởi cỡ mẫu nhỏ [9]

*Trong số 17 bệnh nhân này (5 bệnh nhân chuyển đến và 12 bệnh nhân tại chỗ), và bốn bệnh nhân (một bệnh nhân chuyển đến và ba tại chỗ) được thu nhận vì họ không thích hợp do tái diễn nhồi máu não cùng bên quá nặng; Trong khi 13 bệnh nhân bị loại do họ có vẻ không thích hợp đối với CEA; và do vậy; không được thực hiện đánh giá trước mổ

Các bệnh nhân được chuyển đến 423

Khám tại Trung tâm Đột quỵ Umea 349

Có triệu chứng và

thích hợp với CEA 5

Do tái diễn đột quỵ

cùng bên 1

38 bệnh nhân hẹp mạch cảnh 50-99%

27 bệnh nhân không có triệu chứng và

không thích hợp với CEA

5 bệnh nhân rút lui

852 không có bệnh mạch máu não

97 nguyên nhân chảy máu

72 đột quỵ hệ tuần hoàn phía sau

338 không thích hợp với CEA

10 thăm khám động mạch cảnh thực hiện gần đây, ngoài nghiên cứu này

16 khám bệnh-cho về nhà theo dõi

36 nguyên nhân khác

2 Bệnh nhân từ chối

77 bệnh nhân hẹp mạch cảnh 50-99% đến khám lại

86 bệnh nhân không có triệu chứng hẹp động mạch cảnh

Thu nhận vào nghiên cứu 186

Quần thể nghiên cứu 230

Các bệnh nhân tại chỗ 2208

Khám sàng lọc động mạch cảnh 785

Thu nhận vào nghiên cứu 44

685 bệnh nhân hẹp mạch cảnh 50-99%

47 Hẹp mạch cảnh không triệu chứng

Có triệu chứng và không thích hợp với CEA*12

Do tái diễn đột quỵ cùng bên 3

Hình 1: Mô tả sơ lược các bệnh nhân được chuyển đến (bên trái) và bệnh nhân tại chỗ (bên phải)

Trang 3

MỤC TIÊU

Mục tiêu của nghiên cứu này là nghiên

cứu tiến cứu nguy cơ tái diễn nhồi máu não

cùng bên sau khi bị TIA hoặc đột quỵ nhẹ

trước khi làm CEA ở những bệnh nhân bị

hẹp mạch cảnh 50-99% có triệu chứng đã

được dùng thuốc dự phòng

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Quần thể nghiên cứu, khẳng định chẩn

đoán, và lựa chọn bệnh nhân

Phạm vi thu nhận đối tượng của nghiên

cứu này là North Health Care Region of

Sweden (quần thể 877 000) Bệnh nhân nhồi

máu não hoặc TIA thuộc hệ tuần hoàn phía

trước được khám sàng lọc bằng siêu âm, CT

mạch, chụp mạch cộng hưởng từ hoặc chụp

mạch kinh điển để tìm hẹp mạch cảnh nếu

CEA có thể khả thi Bệnh nhân bị hẹp mạch

cảnh từ 50-99% được chuyển đến Trung

tâm Đột quỵ Umea của bệnh viện Đại học

Bắc Thụy Điển để đánh giá trước can thiệp

Trung tâm đột quỵ Umea là trung tâm duy

nhất có loại can thiệp này dành cho 11 bệnh

viện khác Tất cả các bệnh nhân thích hợp

đối với CEA được đánh giá trước mổ bao

gồm siêu âm lại lần hai, siêu âm tim, khám

lâm sàng bởi một bác sỹ nội và một bác sỹ

chuyên khoa thần kinh

Để thu nhận bệnh nhân dành cho nghiên

cứu Additional Neurological Symptoms

before Surgery of the Carotid Arteries-một

nghiên cứu tiến cứu, chúng tôi chẩn đoán

xác định 423 bệnh nhân được chuyển đến

Trung tâm Đột quỵ Umea để đánh giá trước

mổ trong khoảng thời gian từ 1 tháng 8 năm

2007 đến 31 tháng 12 năm 2009 Tất cả bệnh

nhân không đến được trung tâm Umea sẽ

được theo dõi để tìm nguyên nhân họ không

tới được trung tâm Hơn nữa, chúng tôi kiểm

tra tất cả 2208 bệnh nhân vào trung tâm đột

quỵ Umea để khẳng định các bệnh nhân của

bệnh viện bị hẹp mạch cảnh có triệu chứng

từ 50-99% thích hợp đối với CEA (hình 1)

Từ quần thể đã được chẩn đoán xác định, chúng tôi thu nhận tiến cứu các bệnh nhân hẹp mạch cảnh 50-99% mới có triệu chứng gần đây (trong vòng 6 tháng) để đưa vào đánh giá Tiêu chuẩn lựa chọn là bệnh nhân phải thích hợp làm CEA, được khẳng định bằng các đánh giá

trước phẫu thuật (n=226) hoặc đáng lẽ đã phải

thực hiện thủ thuật này trước khi một đột quỵ tái diễn nặng xảy ra làm cho việc thực hiện

CEA không còn ý nghĩa (n=4) Ba bệnh nhân

bị thu nhận hai lần do họ bị nhồi máu cùng bên mới lâu hơn sáu tháng kể từ khi họ tham gia nghiên cứu lần đầu tiên: hai bệnh nhân được đề nghị làm CEA ngay từ lần đầu tham gia nghiên cứu nhưng thủ thuật chỉ được thực hiện từ lần thứ hai, bệnh nhân thứ ba được thực hiện CEA ngay từ lần đầu và phẫu thuật tạo hình mạch cảnh ở lần thứ hai tham gia nghiên cứu Tổng cộng, 227 bệnh nhân (230 trường hợp) được thu nhận vào nghiên cứu Tham khảo bảng 1 về các yếu tố ban đầu

Các thông số đăng ký

Tất cả các triệu chứng mạch máu não xảy

ra trong vòng 6 tháng trước và 90 ngày sau khi biến cố mạch máu não hiện tại được đăng

ký Dữ liệu về các triệu chứng được đăng ký dựa trên bệnh sử trong lần nhập viện đầu tiên, đánh giá trước mổ, và lần nhập viện để thực hiện CEA của bệnh nhân Định khu của triệu chứng trước hết dựa trên biểu hiện của triệu chứng chứ không dựa vào chẩn đoán hình ảnh Bên cạnh điều này, ở bệnh nhân theo dõi, một nghiên cứu viên (E.J.) sẽ theo dõi tất cả bệnh nhân bằng thư điện tử sau 45 ngày và sau sáu tháng Nếu có biến cố mới hoặc nếu không

có câu trả lời trong vòng một tháng, chúng tôi

sẽ hỏi thêm qua điện thoại Các biến chứng của phẫu thuật sẽ được ghi lại cho tới ngày 30 sau CEA 96% bệnh nhân có dữ liệu theo dõi trực tiếp ở thời điểm 14 ngày sau biến cố hiện tại, 91% có số liệu ở ngày 30 và 87% ở ngày 90 Tất

cả bệnh nhân được theo dõi trực tiếp hoặc qua thư điện tử và điện thoại cho tới ngày thứ 30 sau CEA hoặc 90 ngày sau biến cố hiện tại

Trang 4

Người ta ghi lại các bệnh tim mạch trước

đây hoặc hiện tại, tình trạng lipid máu, các

thuốc điều trị hiện thời (sau khi điều chỉnh

trong quá trình đánh giá sau phẫu thuật), và

mức độ hẹp mạch cảnh cả hai bên

Tuổi của bệnh nhân được chia thành ba

nhóm (<65, 65-74, ≥75 tuổi), và mức độ hẹp

mạch cảnh bên biểu hiện triệu chứng được

chia thành hai nhóm (50-69%, 70-99%), vì đây

là nhóm tuổi và mức độ hẹp được sử dụng

nhiều trong các thử nghiệm ngẫu nhiên quy

mô lớn Loại biến cố hiện tại được chia thành

đột quỵ, tắc động mạch võng mạc, TIA, mù

thoáng qua

CÁC ĐỊNH NGHĨA

Đột quỵ được xác định theo định nghĩa

của Tổ chức Y Tế Thế giới [13] TIA cũng

được xác định theo cùng định nghĩa như đột

quỵ nhưng thời gian tồn tại ngắn hơn 24 giờ

Tắc động mạch võng mạc và mù thoáng qua

được xác định khi mù một mắt mà không có

nguyên nhân rõ ràng nào khác ngoài nguồn gốc mạch máu, kéo dài trên dưới 24 giờ

 Kết quả chính, sự tái diễn nhồi máu não cùng bên, được xác định là nhồi máu não cùng bên (bao gồm cả tắc động mạch võng mạc) xảy ra sau biến cố hiện tại, nhưng trước khi làm CEA (loại trừ đột quỵ trong khi làm phẫu thuật) và

 Biến cố hiện tại được định nghĩa là triệu chứng cuối cùng của bệnh mạch máu não trước khi bệnh nhân tìm kiếm sự chăm sóc y tế

Các quy trình

Phân độ hẹp mạch cảnh được dự tính để lặp lại phương pháp phân độ của NASCET Trở thành thường quy, một bác sỹ siêu âm có kinh nghiệm sẽ làm siêu âm lần thứ hai cho các bệnh nhân được chuyển tới bệnh viện đại học Umea Mảng xơ vữa được phát hiện trong B-mode với sự thay đổi của tốc độ dòng chảy được phân loại theo các tiêu chuẩn đã

Bảng 1: Các yếu tố ban đầu của toàn thể bệnh nhân nghiên cứu Đánh giá tại thời điểm đánh giá trước mổ

Toàn bộ quần thể nghiên cứu

Số lượng =230(%)

Số liệu bị bỏ qua Nữ

Tuổi, trung bình (SD, dao động), năm

Hẹp mạch cảnh 50-69% bên có triệu chứng

Hẹp mạch cảnh 70-99% bên có triệu chứng

Biến cố hiện tại là đột quỵ

Biến cố hiện tại là tắc động mạch võng mạc

Biến cố hiện tại là TIA

Biến cố hiện tại là mù thoáng qua

Nhồi máu cơ tim trước đây

Cơn đau thắt ngực hiện tại

Huyết áp tâm thu≥140 và/hoặc huyết áp tâm trương≥ 90mmHg

Tiểu đường

Hiện đang hút thuốc

Phân loại TOAST [12]: động mạch lớn

Phân loại TOAST [12]: không rõ nguyên nhân*

Các loại thuốc chống đông hoặc chống ngưng tập tiểu cầu†

Các loại thuốc hạ áp

Các loại thuốc hạ mỡ máu

Cholesterol toàn phần, trung bình (SD), mmol/l

LDL-Cholesterol‡, trung bình (SD), mmol/l

HDL Cholesterol, trung bình (SD), mmol/l

83(36) 71,0 (7,7; 48-86)

54 (23)

176 (77)

96 (42) 12(5)

70 (30)

52 (23)

46 (20)

36 (16)

148 (64)

61 (27)

41 (19)

202 (88)

28 (12)

229 (99,6)

214 (93)

208 (90) 4,7 (1,1) 2,7 (1,1) 1,24 (0,42)

0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 1 10 0 0 0 0 0 6 6 6

*Bên cạnh bệnh lý động mạch lớn, các bệnh nhân này phải có đủ các tiêu chuẩn đối với thuyên tắc từ tim (n=19) hoặc tắc động mạch nhỏ (n=9)

[12]

†Một bệnh nhân, các thuốc chống đông hoặc thuốc chống ngưng tập tiểu cầu bị chống chỉ định tại thời điểm đánh giá trước phẫu thuật do chảy máu tiêu hóa

‡10 bệnh nhân, LDL không được phòng xét nghiệm tính do nồng độ triglyceride >4mmol/l; cholesterol toàn phần-HDL được dùng ở ba bệnh nhân SD: độ lệch chuẩn; TIA: Cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua; LDL: low density lipoprotein; HDL: high density lipoprotein

Trang 5

được công bố [14] Hầu hết bệnh nhân được

chụp cắt lớp vi tính, một số được chụp cộng

hưởng từ và chụp mạch cổ điển theo quyết

định của bác sỹ điều trị 25 trong tổng số 73

bệnh nhân được làm cả siêu âm mạch cảnh và

chụp mạch Mức độ hẹp mạch cảnh bên biểu

hiện triệu chứng khác nhau tùy theo phương

pháp chẩn đoán hình ảnh Mức độ hẹp mạch

cảnh đã được thầy thuốc lấy làm căn cứ sẽ được sử dụng trong nghiên cứu 18 trong số

25 bệnh nhân này, mức độ hẹp cao hơn CEA được thực hiện theo kỹ thuật tiêu chuẩn Phương pháp ghép sẽ được dùng cho các mạch máu có đường kính nhỏ, kỹ thuật tạo shunt sẽ được dùng nếu áp lực đầu sau dưới 500mmHg hoặc khi bệnh nhân đã bị tắc

Hình 2: Nguy cơ nhồi máu não tái diễn cùng bên trong vòng 90 ngày sau biến cố Do phẫu thuật bóc tách nội mạc động mạch cảnh (CEA) được sử

dụng làm yếu tố giám sát Các đột quỵ trong khi phẫu thuật bị loại trừ và các bệnh nhân chỉ nằm trong khoảng thời gian có nguy cơ trước khi làm CEA.

Hình 3: Nguy cơ tái diễn đột quỵ cùng bên trong vòng hai; bảy; 14 và 90 ngày sau biến cố trong mỗi nhóm Các số liệu được rút ra từ phân tích

Kaplan-Meier Do phẫu thuật bóc tách nội mạc động mạch cảnh (CEA) được sử dụng làm yếu tố giám sát Các đột quỵ trong khi phẫu thuật bị loại trừ và các bệnh nhân chỉ nằm trong khoảng thời gian có nguy cơ trước khi làm CEA.

Hai ngày sau biến cố Bảy ngày sau biến cố 14 ngày sau biến cố 90 ngày sau biến cố

Trang 6

mạch cảnh bên đối diện Tất cả phẫu thuật

được thực hiện dưới sự gây mê toàn bộ Một

bác sỹ chuyên khoa thần kinh thăm khám cho

bệnh nhân trước, và trong vòng ba ngày (dao

động từ 2-4 ngày) sau phẫu thuật để phát

hiện các biến chứng thần kinh Hai trường

hợp được thực hiện phẫu thuật tạo hình động

mạch và không có biến chứng do phẫu thuật

Hai trường hợp này cũng được bổ sung vào

số bệnh nhân thực hiện CEA để phân tích

Thống kê

Nguy cơ tái diễn nhồi máu não cùng bên

sau biến cố hiện tại được tính toán theo

phương pháp phân tích Kaplan-Meier kèm

theo logrank test và phương pháp phân tích

hồi quy đa biến Cả hai sử dụng CEA là yếu

tố giám sát Trong phân tích hồi quy, mức

độ hẹp mạch cảnh không được đánh giá do

đường cong cắt ngang đường cong

Kaplan-Meier Hơn nữa, tuổi được phân tích thành

các nhóm, không như một biến không liên

tục, do tuổi gia tăng không tỷ lệ thuận với

sự thay đổi của nguy cơ Các nhóm nguy cơ

đối với sự tái diễn nhồi máu não cùng bên

bao gồm tuổi, giới, mức độ hẹp mạch cảnh,

và loại biến cố mạch máu hiện tại Phân tích

thăm dò và tương quan ngẫu nhiên cũng

được thực hiện đối với các nhóm khác như

đã nêu cụ thể trong phần kết quả Nếu thích hợp, chúng tôi dùng test khi bình phương, Mann-Whitney-U test, và Kruskal – Wallis test để kiểm tra sự khác biệt giữa các nhóm

Chúng tôi chọn giá trị P=0,05 làm ngưỡng có

ý nghĩa thống kê Chúng tôi sử dụng phần mềm thống kê PASW 18.0

Đạo đức nghiên cứu

Quy trình của nghiên cứu này được Hội đồng Y đức địa phương kiểm tra Do nghiên cứu hoàn toàn chỉ mang tính quan sát nên không cần có sự chấp thuận của Hội đồng Ngày bắt đầu, kết thúc của nghiên cứu, và cỡ mẫu nghiên cứu được quyết định trước khi nghiên cứu bắt đầu và dựa trên kinh nghiệm của chúng tôi về một nghiên cứu hồi cứu [15] Nghiên cứu được đăng ký tại http://www clinicaltrials.gov (NCT 00514592) trước khi được công bố

Phẫu thuật bóc tách nội mạc động mạch cảnh không được phép trì hoãn vì bất kỳ lý

do nào liên quan tới nghiên cứu này Ngược lại, chúng tôi muốn giảm thời gian trì hoãn

từ khi có biến cố hiện thời tới lúc làm phẫu thuật càng nhiều càng tốt thông qua các thông tin cho các bác sỹ thực hành và các bản hướng dẫn điều trị của khu vực

KẾT QUẢ

Nguy cơ tái diễn nhồi máu não cùng bên

Nguy cơ tái diễn nhồi máu não cùng bên trong vòng 90 ngày sau biến cố mạch máu hiện tại, trước khi làm CEA, bằng 18,6%

(n=33) Nguy cơ tái diễn nhồi máu não cùng bên bằng 5,2% (n=12) trong vòng hai ngày, 7,9% (n=18) trong vòng bảy ngày, và 11,2% (n=25) trong vòng 14 ngày sau biến cố

hiện tại Tham khảo hình 2 về đường cong Kaplan-Meier của nguy cơ tái diễn nhồi máu não cùng bên trước khi làm CEA trong vòng

90 ngày sau biến cố hiện tại Ở 28 bệnh nhân, nhồi máu não tái diễn cùng bên là biến cố đầu tiên xảy ra sau đợt tai biến hiện thời,

Bảng 2: Thời gian trì hoãn làm CEA và nguy cơ của phẫu thuật Tỷ

lệ bệnh nhân làm phẫu thuật CEA và nguy cơ của phẫu thuật trong

vòng 30 ngày sau phẫu thuật, phân loại theo thời gian từ khi đột quỵ

tới lúc làm CEA

Thời gian từ khi

biến cố* tới lúc

làm CEA

Số lượng (%) Đột quỵ khi phẫu thuật hoặc tử

vong trong vòng 30 ngày, số lượng (%)†

0-7 ngày 10(5) 1(10,0)

8-14 ngày 26(14) 1(3,8)

15-30 ngày 62(34) 2(3,2)

31-89 ngày 63(34) 2(3,2)

≥ 90 ngày 22(12) 1(4,5)

Tổng cộng 183(100) 7(3,8)

*triệu chứng cuối cùng của bệnh mạch não trước khi bệnh nhân tìm

kiếm hỗ trợ y tế

†P=0,93 đối với sự khác biệt giữa năm nhóm và P=0,295 đối với sự

khác biệt giữa nhóm 0-7 ngày và bốn nhóm khác gộp lại (test khi

bình phương)

Trang 7

trong khi năm bệnh nhân khác bị ít nhất một

lần TIA cùng bên hay mù thoáng qua trước

khi tái diễn nhồi máu não cùng bên Có ba

bệnh nhân bị tái phát không cùng bên, hai

bệnh nhân bị đối bên và một ở hệ tuần hoàn

phía sau Trong cả ba trường hợp này, động

mạch cảnh đối bên không bị hẹp ở mức

50-100% Điện tim hiện tại và tiền sử bệnh nhân

không có rung nhĩ Không có chảy máu não

Nguy cơ tái diễn nhồi máu não cùng bên

khác nhau trong bốn nhóm biến cố mạch máu

(P=0,027, logrank test) Nguy cơ sẽ cao hơn

nếu biến cố mạch máu hiện tại là TIA (nguy cơ

trong 14 ngày đầu bằng 15,1%) hoặc đột quỵ

(nguy cơ trong 14 ngày đầu bằng 13,8%) và

nguy cơ sẽ thấp hơn nếu biến cố là mù thoáng

qua (nguy cơ trong 14 ngày đầu bằng 1,9 %)

Tắc động mạch võng mạc (nguy cơ trong 14

ngày đầu bằng 8,3%) không khác biệt đáng

kể so với các nhóm khác, với số lượng trường

hợp quá ít để có ý nghĩa thống kê (n=12)

Chúng tôi thấy không có khác biệt đáng kể

giữa các giới (P=0,29, logrank test), các nhóm

tuổi (P=0,21, logrank test), hoặc mức độ hẹp

mạch (P=0,66, logrank test) (hình 3) Loại biến

cố hiện tại là biến duy nhất làm thay đổi nguy

cơ tái diễn nhồi máu não cùng bên trong phân

tích hồi quy đa biến Sau khi điều chỉnh đối

với giới, nhóm tuổi và mức độ hẹp mạch thì

hazard ratio đối với sự tái diễn nhồi máu não

cùng bên bằng 12,3 (P=0,015) đối với đột quỵ

và 11,9 (P=0,017) đối với TIA khi so với mù

thoáng qua Sau khi điều chỉnh đối với giới,

nhóm tuổi, mức độ hẹp mạch, tiền sử nhồi

máu cơ tim, cơn đau thắt ngực hiện tại, các

bệnh lý thần kinh ngoại vi, các thuốc hạ áp,

các thuốc hạ mỡ máu thì hazard ratio hầu

như không thay đổi, bằng 12,4 (P=0,015) đối

với đột quỵ và 10,2 (P=0,026) đối với TIA khi

so với mù thoáng qua

Thời gian trì hoãn từ khi có biến cố mạch

máu tới lúc làm CEA

131 bệnh nhân (57%) tìm kiếm sự hỗ trợ

cùng ngày với biến cố mạch máu và 43 bệnh

nhân (19%) tìm trợ giúp y tế vào ngày hôm sau biến cố Thời gian trì hoãn trung bình từ khi có biến cố tới lúc làm CEA bằng 29 ngày Không có bệnh nhân nào được làm CEA trong vòng 24 giờ sau biến cố mạch máu Một bệnh nhân được làm CEA trong vòng hai ngày sau biến cố 20% (36/183) bệnh nhân được làm CEA trong vòng hai tuần sau biến cố (bảng 2)

Sử dụng test nonparametics, chúng tôi thấy không có sự khác biệt về thời gian trì hoãn thực hiện CEA kể từ khi có biến cố giữa các

giới (P=0,997), nhóm tuổi (P=0,82), loại biến

cố (P=0,14) nếu bệnh nhân nhập viện tại địa phương hoặc được chuyển đến (P=0,10), ngày

vào nghiên cứu (chia thành từng khoảng thời

gian nửa năm, P=0,55), và một xu hướng trì

hoãn ngắn hơn đối với nhóm hẹp từ 50-69% động mạch cảnh (24 ngày) so với 30 ngày của nhóm hẹp từ 70-99% động mạch cảnh

(P=0,062) Thời gian trì hoãn trung bình giữa

tìm sự hỗ trợ y tế và CEA sẽ dài hơn đáng kể nếu bệnh nhân tìm sự hỗ trợ y tế > một ngày

sau biến cố hiện tại (42,5 ngày, n=45) so với

nhóm tìm kiếm sự trợ giúp y tế cùng ngày

với biến cố (26,0 ngày, n=106) hoặc ngày hôm sau biến cố (26,5 ngày, n=32, P=0,011) Sự trì

hoãn này của bệnh nhân không ảnh hưởng gì

tới nguy cơ tái diễn nhồi máu não cùng bên, P=0,45 (phân tích Kaplan-Meier tương quan

ngẫu nhiên, logrank test)

Lựa chọn bệnh nhân cho phẫu thuật CEA

183 bệnh nhân được làm CEA trong nghiên cứu CEA được thực hiện ở nam (84%) nhiều

hơn nữ (71%, P=0,018, test khi bình phương)

47 bệnh nhân không làm CEA; trong đó 17 bệnh nhân được đánh giá CEA mang lại rất ít lợi ích và nguy cơ do phẫu thuật được coi cao hơn lợi ích mang lại ở năm bệnh nhân Chín bệnh nhân từ chối làm CEA Bảy bệnh nhân không thể làm CEA hay phẫu thuật tạo hình động mạch vì lí do kỹ thuật CEA không có

ý nghĩa ở chín bệnh nhân: do suy giảm nhận

thức (n=1), hoặc tái diễn đột quỵ nặng (n=6), hoặc biến cố hiện tại là đột quỵ nặng (n=2);

Trang 8

Mặc dù hai bệnh nhân này không làm CEA

do biến cố hiện tại là đột quỵ nặng, nhưng

họ vẫn được cho là thích hợp đối với CEA và

do vậy vẫn được thu nhận vào nghiên cứu

Trong phân tích thăm dò, chúng tôi phát

hiện nguy cơ tái diễn nhồi máu não tái phát

cùng bên bằng 11,8% (2/17, khoảng tin cậy

95%:0,0-26,3%) đối với những bệnh nhân có

lợi ích mang lại từ phẫu thuật CEA quá thấp,

20% (1/2 CI 95%0,0-53,3%) đối với những

bệnh nhân được coi có nguy cơ do phẫu thuật

cao hơn lợi ích mang lại và 0% đối với chín

bệnh nhân từ chối thực hiện CEA Chúng tôi

không phân tích 16 bệnh nhân còn lại Những

bệnh nhân này không thực hiện CEA do nguy

cơ tái diễn nhồi máu não cùng bên không phải

là một yếu tố ngăn cản thực hiện CEA

Các biến chứng của phẫu thuật

Bảy bệnh nhân (3,8%) bị đột quỵ (một thể

bất kỳ) trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật

CEA, không ai tử vong Chúng tôi không thấy

có sự khác biệt đáng kể về nguy cơ của phẫu

thuật giữa những khoảng thời gian trì hoãn

khác nhau từ lúc bị đột quỵ tới khi làm CEA,

nhưng lực thống kê của chúng tôi bị hạn chế

(bảng 2) Hơn nữa, bảy bệnh nhân (3,8%) bị

TIA trong vòng 30 ngày sau CEA Tổng cộng,

14 bệnh nhân (7,7%) bị đột quỵ hoặc TIA

trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật Sáu bệnh

nhân bị các biến chứng nặng nề khác

THẢO LUẬN

Phát hiện chính của nghiên cứu này là dù

≥90% bệnh nhân được điều trị các thuốc hạ

huyết áp, hạ mỡ máu, chống ngưng tập tiểu

cầu và chống đông rất cập nhật nhưng nguy

cơ tái diễn nhồi máu não cùng bên vẫn cao,

4,8% trong vòng hai ngày, 7,9% trong tuần

đầu và 11,2% trong vòng hai tuần đầu sau tai

biến hiện thời

Độ mạnh của nghiên cứu

Nghiên cứu này thực hiện đánh giá sau

mổ, không phải tại cơ sở phẫu thuật nơi chỉ

những bệnh nhân thực hiện CEA mới được thu nhận Cơ sở thực hiện nghiên cứu cho phép lấy cả những bệnh nhân không làm CEA, trong một số trường hợp do nhồi máu não cùng bên tái diễn quá nặng Chúng tôi chỉ thu nhận những bệnh nhân đủ sức khỏe để thực hiện đánh giá trước mổ hoặc bệnh nhân vẫn đủ sức khỏe trước khi bị nhồi máu não tái diễn cùng bên rất nặng Chúng tôi thu nhận các bệnh nhân nhồi máu với nhiều nguyên nhân khác nhau Chúng tôi mô tả các liệu pháp điều trị nội khoa cập nhật ở >90% bệnh nhân (bảng 1) Cho nên, quần thể nghiên cứu đại diện biểu hiện lâm sàng của những trường hợp hẹp mạch cảnh có triệu chứng từ 50-99%

So sánh với các nghiên cứu tương tự trước đây

Câu hỏi chính đặt ra trong nghiên cứu này là liệu chúng ta sẽ thu được thêm lợi ích hay không nếu thực hiện CEA rất sớm, ví dụ sớm hơn hai tuần kể từ khi đột quỵ Đối với việc thảo luận như thế này, cần phải đánh giá cùng loại kết quả, nhồi máu não tái diễn cùng bên, như trong các nghiên cứu NASCET

và ECST Mặc dù thiết kế nghiên cứu và các phát hiện của chúng tôi tương tự như một số nghiên cứu trước đây [8-11], nhưng đây là nghiên cứu thứ hai trình bày các dữ liệu về nguy cơ nhồi máu tái diễn cùng bên từ khi

bị đột quỵ tới lúc làm CEA[9] Nghiên cứu thứ nhất thu nhận 32 bệnh nhân và là loại phân tích phụ [9], trong khi đó nghiên cứu này thu nhận 239 bệnh nhân và là loại phân tích chính trên thuần tập

Một sự so sánh quan trọng khác là tính tương đồng trong tất cả các kết quả của chúng tôi với những bệnh nhân trong nhóm điều trị nội khoa của nghiên cứu NASCET

do chúng tôi mô tả nhiều hơn các thuốc dự phòng cấp hai cập nhật [8,16] Điều này có thể gợi ý dự phòng bằng thuốc có thể ít hiệu quả trong giai đoạn cấp đối với các bệnh nhân hẹp mạch cảnh có triệu chứng-đối ngược với các nghiên cứu khác gần đây [17,18] Tuy

Trang 9

nhiên, sự so sánh giữa nghiên cứu NASCET

và các phát hiện của chúng tôi chỉ là sự đối

chứng với lịch sử Hơn nữa, hiện thời, dữ

liệu của chúng tôi mới giới hạn ở dự phòng

bằng thuốc được dùng tại thời điểm đánh

giá trước phẫu thuật chứ không phải tại thời

điểm bị đột quỵ Nghiên cứu thêm về chủ đề

này có thể sẽ làm sàng tỏ vấn đề này

Chúng tôi phát hiện những bệnh nhân bị

biến cố mạch máu hiện thời dưới dạng mù

thoáng qua sẽ có nguy cơ nhồi máu tái diễn

cùng bên thấp Điều này ngụ ý những bệnh

nhân này có thể được đánh giá và thực hiện

CEA một cách an toàn trong một khoảng

thời gian chậm hơn những bệnh nhân bị đột

quỵ hoặc TIA Mặc dù điều này phù hợp

với kết quả của các nghiên cứu trước đây là

mù thoáng qua gây ra nguy cơ đột quỵ thấp

hơn [1,19], nhưng sự suy luận này cần được

khẳng định trong các nghiên cứu khác nữa

với số lượng bệnh nhân lớn hơn Elisawiz và

cộng sự đã phát hiện nguy cơ nhồi máu não

tái diễn cùng bên cao hơn nếu biến cố mạch

máu là TIA, chứ không phải đột quỵ (các

bệnh nhân có biến cố võng mạc bị loại khỏi

phân tích) [8,19] Sự không nhất quán trong

các kết quả của chúng tôi có thể do sự khác

biệt trong việc lựa chọn biến cố mạch máu

Tương tự như phân tích này trong nhóm điều

trị nội khoa của nghiên cứu NASCET, chúng

tôi không phát hiện khác biệt nào có ý nghĩa

thống kê giữa các nhóm tuổi, giới, hoặc mức

độ hẹp mạch cảnh bên có triệu chứng [8] Tuy

nhiên, việc tính toán tương quan ngẫu nhiên

dựa trên kết quả của chúng tôi đã cho thấy

chúng tôi chỉ có thể loại trừ một số khác biệt

về ý nghĩa lâm sàng giữa các nhóm

Diễn giải

Các nghiên cứu NASCET và ECST đã

chứng minh rõ ràng CEA thực hiện trong

vòng hai tuần sau đột quỵ sẽ làm giảm nguy

cơ nhiều hơn so với CEA thực hiện lâu hơn

hai tuần [1] Trong nghiên cứu này, phần lớn

các trường hợp tái diễn nhồi máu não cùng

bên xảy ra trong vòng hai tuần đầu tiên sau biến cố mạch máu đã diễn ra ngay trong hai ngày đầu Phần lớn các trường hợp tái diễn nhồi máu não cùng bên có thể ngăn ngừa được bằng CEA sớm vì 92% (33/36) tất cả các trường hợp tái diễn đột quỵ trong nghiên cứu này đều cùng bên Số liệu của chúng tôi ủng hộ cho sự lưu ý CEA cần được thực hiện trong những ngày đầu sau đột quỵ

Tuy nhiên, CEA thực hiện sớm như vậy chỉ có giá trị nếu các nguy cơ do phẫu thuật không quá cao Trong một bản tổng quan hệ thống, nguy cơ đột quỵ hoặc tử vong trong phẫu thuật đối với CEA thực hiện trong vòng 24 giờ sau khi biểu hiện triệu chứng cuối cùng bằng 4,2% Tuy nhiên, chỉ có 343 trường hợp thực hiện CEA được phân tích [20] Quá ít bệnh nhân được phân tích cũng

là một điều gây rắc rối vì nguy cơ của phẫu thuật bằng 13,0% đối với CEA thực hiện trong vòng 6 giờ so với nguy cơ bằng 1,7%

nếu CEA thực hiện sau 6 giờ (P<0,001) [21]

Do vậy, nguy cơ của phẫu thuật có thể phụ thuộc vào thời điểm kể từ lúc có biến cố

Do người ta còn phần nào chưa chắc chắn liệu CEA thực hiện trong vòng vài ngày có làm tăng nguy cơ của phẫu thuật, cho nên không thể kết luận được CEA thực hiện trong vòng vài ngày sau biến cố mạch máu mang lại lợi ích nhiều hơn CEA thực hiện trong vòng hai tuần mặc dù nghiên cứu này đã làm rõ điểm lưu ý này Cho nên, các nghiên cứu để kiểm chứng nguy cơ trong phẫu thuật của CEA thực hiện trong vòng vài ngày sau biến

cố cần được cho phép thực hiện

Hạn chế của nghiên cứu

Có ít nhất ba hạn chế của nghiên cứu này Thứ nhất và chính yếu nhất, không thu nhận nhóm nào thực hiện CEA trong vòng 24 giờ

Ba trong số sáu bệnh nhân không được thực hiện CEA do đột quỵ tái diễn quá nặng là các bệnh nhân tại chỗ, nhưng chỉ có 19% bệnh nhân trong nghiên cứu là bệnh nhân tại chỗ Cho nên, có thể chúng tôi đã bỏ qua một số bị

Trang 10

đột quỵ tái diễn nặng (và do vậy không được

chuyển đi nữa) trước khi họ được chuyển tới

bệnh viện nghiên cứu Cho nên, nguy cơ tái

diễn nhồi máu não cùng bên có thể phần nào

không được đánh giá đúng mức trong nghiên

cứu này Tuy nhiên, những nguy cơ chưa được

đánh giá đúng mức lại ủng hộ luận điểm của

nghiên cứu này, đó là nguy cơ đột quỵ tái diễn

cao ở những bệnh nhân hẹp mạch cảnh có triệu

chứng đã biện hộ cho các nghiên cứu thêm để

làm sáng tỏ liệu CEA có nên được thực hiện

trong vòng 24 giờ sau biến cố hay không Thứ

ba, khi các bệnh nhân đã được thực hiện CEA,

họ không còn nằm trong khoảng thời gian

nguy cơ nữa Điều này là một yếu tố gây nhiễu

tiềm tàng của việc định hướng không rõ ràng

TÓM TẮT

Nguy cơ tái diễn nhồi máu não cùng bên

cao trong vòng hai tuần đầu sau khi bệnh

nhân tìm kiếm hỗ trợ y tế cho biểu hiện TIA

hoặc đột quỵ nhẹ gây ra bởi hẹp động mạch

cảnh từ 50-99% Khả năng làm giảm nguy cơ

của CEA sẽ tăng lên nếu nó được thực hiện

trong những ngày đầu, thay vì trong vòng

một hoặc hai tuần đầu sau biến cố hiện thời

LỜI CẢM ƠN

Các tác giả xin cảm ơn sự hỗ trợ của nhân

viên trong Trung tâm Đột quỵ Umea và các

bệnh viện đã chuyển bệnh nhân trong quá

trình thu thập số liệu Nghiên cứu này được

hỗ trợ bởi Quỹ Tim-Phổi Thụy Điển, Hội Đột

quỵ Thụy Điển, Quỹ Đột quỵ Bắc Thụy Điển,

Quận Västerbotten, và Khoa Y Đại học Umea

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Rothwell PM, Eliasziw M, Gutnikov SA, Warlow CP, Barnett

HJM Endarterectomy for symptomatic carotid stenosis in

relation to clinical subgroups and timing of surgery Lancet

2004; 363:915–24.

2 Rothwell PM, Warlow CP Timing of TIAs preceding stroke Time

window for prevention is very short Neurology 2005; 64: 817–20.

3 Coull AJ, Lovett JK, Rothwell PM, Oxford Vascular Study

Population based study of early risk of stroke after transient

ischaemic attack or minor stroke: implications for public

education and organisation of services BMJ 2004; 328:326.

4 Lovett JK, Coull AJ, Rothwell PM Early risk of recurrence

by subtype of ischemic stroke in population-based incidence

studies Neurology2004; 62:569–73.

5 5 Ois A, Gomis M, Rodriguez-Campello A et al Factors associated

with a high risk of recurrence in patients with transient ischemic

attack or minor stroke Stroke 2008; 39:1717–21.

6 Sheehan OC,Kyne L,Kelly LA et al Population-based study of

ABCD2 score, carotid stenosis, and atrial fibrillation for early stroke prediction after transient ischemic attack: the North

Dublin TIA study Stroke 2010; 41:844–50.

7 Marnane M, Ni Chroinin D, Callaly E et al Stroke recurrence

within the time window recommended for carotid

endarterectomy Neurology 2011; 77:738–43.

8 Eliasziw M, Kennedy J, Hill MD, Buchan AM, Barnett HJM, North American Symptomatic Carotid Endarterectomy Trial (NASCET) Group Early risk of stroke after a transient ischemic

attack in patients with internal carotid artery disease CMAJ

2004; 170:1105–9.

9 Fairhead JF,Mehta Z, Rothwell PM Population-based study of delays in carotid imaging and surgery and the risk of recurrent

stroke Neurology 2005; 65:371–5.

10 Blaser T, Hofmann K, Buerger T, Effenberger O, Wallesch CW, GoertlerM Risk of stroke, transient ischemic attack, and vessel occlusion before endarterectomy in patients with symptomatic

severe carotid stenosis Stroke 2002; 33:1057–62.

11 Ois A, Cuadrado-Godia E, Rodríguez-Campello A, Jimenez-Conde J, Roquer J High risk of early neurological recurrence in

symptomatic carotid stenosis Stroke 2009; 40:2727–31.

12 Adams HP Jr, Bendixen BH,Kappelle JL et al.Classification

of subtype of acute ischemic stroke Definitions for use in a multicenter clinical trial TOAST Trial of Org 10172 in Acute

Stroke Treatment Stroke 1993; 24:35–41.

13 Aho K,Harmsen P,Hatano S,Marquardsen J, Smirnov VE, Strasser

T Cerebrovascular disease in the community: results of aWHO

collaborative study Bull World Health Organ 1980; 58:113–30.

14 Hansen F, Bergqvist D, Lindblad B, Lindh M, Mätzsch T, Länne T Accuracy of duplex sonography before carotid

endarterectomy – a comparison with angiography Eur J Vasc

Endovasc Surg 1996; 12:331–6.

15 Johansson EP,Wester P.Delay from symptoms to carotid

endarterectomy J Intern Med 2008; 263:404–11.

16 Barnett HJ, Taylor DW, Eliasziw M et al Benefit of carotid endarterectomy in patients with symptomatic moderate or severe stenosis North American Symptomatic Carotid Endarterectomy

Trial Collaborators N Engl J Med 1998; 339:1415–25

17 Rothwell PM, Giles MF, Chandratheva A et al Effect of urgent treatment of transient ischaemic attack and minor stroke on early recurrent stroke (EXPRESS study): a prospective

population-based sequential comparison Lancet 2007; 370:1432–42

18 Lavallée PC,Meseguer E, Abboud H et al A transient ischaemic attack clinic with round-the-clock access (SOS-TIA): feasibility

and effects Lancet Neurol 2007; 6:953–60

19 Benavente O, Eliasziw M, Streifler JY et al Prognosis after transient monocular blindness associated with carotid-artery

stenosis N Engl J Med 2001; 11:1084–90

20 Rerkasem K, Rothwell PM Systematic review of the operative risks of carotid endarterectomy for recently symptomatic stenosis in relation to the timing of surgery Stroke 2009; 40:e564–72

21 Goodney PP, Likosky DS, Cronenwett JL Factors associated with stroke or death after carotid endarterectomy in Northern New England J Vasc Surg 2008; 48:1139–45.

Ngày đăng: 25/10/2021, 15:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Rothwell PM, Eliasziw M, Gutnikov SA, Warlow CP, Barnett HJM. Endarterectomy for symptomatic carotid stenosis in relation to clinical subgroups and timing of surgery. Lancet 2004; 363:915–24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lancet
2. Rothwell PM, Warlow CP. Timing of TIAs preceding stroke. Time window for prevention is very short. Neurology 2005; 64: 817–20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Neurology
3. Coull AJ, Lovett JK, Rothwell PM, Oxford Vascular Study. Population based study of early risk of stroke after transient ischaemic attack or minor stroke: implications for public education and organisation of services. BMJ 2004; 328:326.by subtype of ischemic stroke in population-based incidence studies. Neurology2004; 62:569–73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BMJ "2004; 328:326.by subtype of ischemic stroke in population-based incidence studies. "Neurology
5. 5 Ois A, Gomis M, Rodriguez-Campello A et al. Factors associated with a high risk of recurrence in patients with transient ischemic attack or minor stroke. Stroke 2008; 39:1717–21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: et al". Factors associated with a high risk of recurrence in patients with transient ischemic attack or minor stroke. "Stroke
6. Sheehan OC,Kyne L,Kelly LA et al. Population-based study of ABCD2 score, carotid stenosis, and atrial fibrillation for early stroke prediction after transient ischemic attack: the North Dublin TIA study. Stroke 2010; 41:844–50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: et al". Population-based study of ABCD2 score, carotid stenosis, and atrial fibrillation for early stroke prediction after transient ischemic attack: the North Dublin TIA study. "Stroke
7. Marnane M, Ni Chroinin D, Callaly E et al. Stroke recurrence within the time window recommended for carotid endarterectomy. Neurology 2011; 77:738–43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: et al". Stroke recurrence within the time window recommended for carotid endarterectomy. "Neurology
8. Eliasziw M, Kennedy J, Hill MD, Buchan AM, Barnett HJM, North American Symptomatic Carotid Endarterectomy Trial (NASCET) Group. Early risk of stroke after a transient ischemic attack in patients with internal carotid artery disease. CMAJ 2004; 170:1105–9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: CMAJ
9. Fairhead JF,Mehta Z, Rothwell PM. Population-based study of delays in carotid imaging and surgery and the risk of recurrent stroke. Neurology 2005; 65:371–5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Neurology
10. Blaser T, Hofmann K, Buerger T, Effenberger O, Wallesch CW, GoertlerM. Risk of stroke, transient ischemic attack, and vessel occlusion before endarterectomy in patients with symptomatic severe carotid stenosis. Stroke 2002; 33:1057–62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stroke
11. Ois A, Cuadrado-Godia E, Rodríguez-Campello A, Jimenez- Conde J, Roquer J. High risk of early neurological recurrence in symptomatic carotid stenosis. Stroke 2009; 40:2727–31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stroke
12. Adams HP Jr, Bendixen BH,Kappelle JL et al.Classification of subtype of acute ischemic stroke. Definitions for use in a multicenter clinical trial. TOAST. Trial of Org 10172 in Acute Stroke Treatment. Stroke 1993; 24:35–41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: et al".Classification of subtype of acute ischemic stroke. Definitions for use in a multicenter clinical trial. TOAST. Trial of Org 10172 in Acute Stroke Treatment. "Stroke
13. Aho K,Harmsen P,Hatano S,Marquardsen J, Smirnov VE, Strasser T. Cerebrovascular disease in the community: results of aWHO collaborative study. Bull World Health Organ 1980; 58:113–30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bull World Health Organ
14. Hansen F, Bergqvist D, Lindblad B, Lindh M, Mọtzsch T, Lọnne T. Accuracy of duplex sonography before carotid endarterectomy – a comparison with angiography. Eur J Vasc Endovasc Surg 1996; 12:331–6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Eur J Vasc "Endovasc Surg
15. Johansson EP,Wester P.Delay from symptoms to carotid endarterectomy. J Intern Med 2008; 263:404–11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Intern Med
16. Barnett HJ, Taylor DW, Eliasziw M et al. Benefit of carotid endarterectomy in patients with symptomatic moderate or severe stenosis. North American Symptomatic Carotid Endarterectomy Trial Collaborators. N Engl J Med 1998; 339:1415–25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: N Engl J Med
17. Rothwell PM, Giles MF, Chandratheva A et al. Effect of urgent treatment of transient ischaemic attack and minor stroke on early recurrent stroke (EXPRESS study): a prospective population- based sequential comparison. Lancet 2007; 370:1432–42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lancet
18. Lavallée PC,Meseguer E, Abboud H et al. A transient ischaemic attack clinic with round-the-clock access (SOS-TIA): feasibility and effects. Lancet Neurol 2007; 6:953–60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lancet Neurol
19. Benavente O, Eliasziw M, Streifler JY et al. Prognosis after transient monocular blindness associated with carotid-artery stenosis. N Engl J Med 2001; 11:1084–90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: N Engl J Med
20. Rerkasem K, Rothwell PM. Systematic review of the operative risks of carotid endarterectomy for recently symptomatic stenosis in relation to the timing of surgery. Stroke 2009;40:e564–72 Khác
21. Goodney PP, Likosky DS, Cronenwett JL. Factors associated with stroke or death after carotid endarterectomy in Northern New England. J Vasc Surg 2008; 48:1139–45 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w