MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC VẬT LÝ TẠI TRƯỜNG THTHCS MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC VẬT LÝ TẠI TRƯỜNG THTHCS MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC VẬT LÝ TẠI TRƯỜNG THTHCS MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC VẬT LÝ TẠI TRƯỜNG THTHCS MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC VẬT LÝ TẠI TRƯỜNG THTHCS
Trang 1
IV MỤC LỤC
I ĐẶT VẤN ĐỀ trang 1
1 Lý do chọn SKKN trang 2
2 Đối tượng nghiên cứu trang 2
3 Đối tượng khảo sát thực nghiệm: trang 3
4 Phương pháp nghiên cứu trang 3
5 Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu: trang 3
II NỘI DUNG: trang 3
Trang 2SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC VẬT LÝ TẠI TRƯỜNG
dù phải khó khăn con người cũng vẫn cảm thấy thoải mái và đạt được hiệu quả cao.Trong hoạt động học tập, hứng thú có vai trò hết sức quan trọng, thực tế cho thấyhứng thú đối với các bộ môn của học sinh tỉ lệ thuận với kết quả học tập của các em
Vì vậy quá trình dạy và học tích cực đòi hỏi sự biến đổi không ngừng cả tư duy lẫn
hành động của người dạy và người học Trong quá trình đó không thể thiếu niềmđam mê khoa học Vật lý là môn khoa học mà khi học tốt môn này sẽ giúp các em có
tư duy tốt hơn để học tập các môn khác, là cơ sở để các em có hứng thú trong họctập
Môn vật lý vốn dĩ có sự cuốn hút kỳ lạ từ chính sự huyền ảo của các quy luật
tự nhiên Nhưng trong quá trình dạy và học, vì quá để tâm tới câu chữ, tới các định
lý, định luật hay rập khuôn theo sách giáo khoa mà chúng ta bỏ qua sắc màu tự nhiêncủa các hiện tượng Đôi khi thầy cô chỉ thông báo cho học sinh những kết luận mangtính áp đặt … chính vì vậy môn học đã trở nên khô cứng, tẻ nhạt thiếu hấp dẫn,không tạo được sự hứng thú, nghiên cứu tìm tòi ở học sinh Không chỉ riêng đối vớimôn Vật Lý mà bất kể các môn học khác việc tạo hứng thú học tập là vô cùng quantrọng Nó giúp giáo viên thấy được quan niệm của học sinh về môn vật lý để từ đóđiều chỉnh cách dạy, đồng thời tác động vào học sinh yêu môn học hơn
Tóm lại, vật lí là một môn khoa học đòi hỏi người giáo viên và học sinh phải nỗ lựchết mình mới đạt được kết quả như mong muốn Mỗi một người giáo viên ngoài kiếnthức bộ môn, kĩ năng sư phạm thì bản thân cần phải biết khơi dậy ở người học ýthức tự giác, tích cực hứng thú và say mê trong học tập Có như vậy mới phát huyvai trò chủ động của người học và nhằm thực hiện triệt để tinh thần đổi mới phươngpháp dạy học phổ thông làm cho mỗi tiết học sinh động hơn, thực tế hơn và cuốn húthơn
Trang 3Từ những lí do trên, tôi quyết định chọn một số “ Biện pháp tạo hứng thú cho học sinh trong tiết học Vật Lý tại trường TH-THCS ”.
2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp tạo hứng thú cho học sinh trong tiết học Vật Lý tại trường TH-THCS ”
3 ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT THỰC NGHIỆM:
- Qua kinh nghiệm thực tế trong quá trình giảng dạy
- Tham khảo các tài liệu, sách, báo có liên quan
- Khi phân tích xong, giáo viên phải đúc kết lại đưa ra kết luận tổng hợp nhất.Thâu tóm lại từng vấn đề, làm sao cho bản chất của vấn đề được bộc lộ rõ ràng nhất,
dễ hiểu nhất thì mới thu được kết quả cao trong giảng dạy
4.2 Phương pháp quan sát:
- Quan sát là việc con người sử dụng các giác quan để thu thập các giữ liệu, sốliệu
* Các dạng quan sát:
+ Quan sát toàn diện hay từng hoạt động
+ Sử dụng quan sát lâu dài hoặc trong một thời gian ngắn
+ Quan sát thăm dò hoặc đi sâu
+ Quan sát phát hiện và kiểm nghiệm
4.3 Phương pháp điều tra, tổng hợp
4.5 Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu:
- Các bài thực hành trong chương trình từ lớp 6 đến lớp 9
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/2020 đến tháng 3/2021
Trang 4B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Hứng thú Học tập môn vật lý: Là sự yêu thích, ham học, có cảm giác phấnchấn khi tiếp xúc môn học, phát triển tối đa trí tuệ, sức sáng tạo, tích cực tự nghiêncứu, tìm tòi dưới sự hướng dẫn của giáo viên giảng dạy
Là những thái độ có tính chất tích cực của học sinh, làm cho kết quả dạy học
có chất lượng, không gây căng thẳng
1.2 Đặc điểm của hứng thú.
* Hứng thú và nhu cầu có quan hệ mật thiết nhưng có sự khác nhau:
- Nhu cầu hướng vào đối tượng nhằm đáp ứng sự thoả mãn do đó có sự bãohoà và có tính chu kỳ
- Hứng thú chủ yếu hướng vào nhận thức, tìm tòi, sáng tạo, thưởng thức nêntính thích thú say mê của nó dường như là vô tận
- Nhiều nhà hoạt động khoa học, văn hoá, văn nghệ, sáng chế đã cặm cụi làmviệc suốt đời nên đã quên cả bản thân, quên cả thời gian Nhiều người tuyên bố “Nếutôi có hai cuộc đời tôi vẫn tiếp tục công việc này”
- Mỗi khi người ta có hứng thú say mê với hoạt động nào đó thì bản thân hoạtđộng ấy đã trở thành nhu cầu quan trọng của chủ thể Cũng nhiều khi hoạt động đểđáp ứng một phần nhu cầu trước mắt rồi sau chính hoạt động đó trở nên hấp dẫnthành hứng thú của chủ thể
* Người ta chia hứng thú ra thành: Hứng thú trực tiếp và hứng thú gián tiếp
- Hứng thú trực tiếp có ý nghĩa là chủ thể tích cực tham gia trực tiếp vào hoạtđộng sáng tạo
Ví dụ: HS chơi game từ ngày nay qua ngày khác không biết mệt, nhạc sĩ đam
mê sáng tác, ca sĩ say mê biểu diễn không ngại khổ để tập luyện, cầu thủ say mê đábóng…
- Hứng thú gián tiếp: Là chủ thể hướng vào thưởng thức kết quả hoạt động
Ví dụ: Có người say mê tiểu thuyết đọc suốt thâu đêm, có người yêu thích
bóng đá đến nỗi cảm thấy đau khổ, thất vọng khi đội tuyển mình yêu thích thuacuộc
Trang 5Như vậy, khó có thể nói rằng loại hứng thú nào mãnh liệt hơn, có điều hứng thú trựctiếp hoạt động sáng tạo đòi hỏi phải có sự kiên trì, sáng tạo.
1.3 Biểu hiện của hứng thú học tập.
- Hứng thú biểu hiện ở sự tập trung cao độ, ở sự say mê; hấp dẫn bởi nội dunghoạt động ở bề rộng và bề sâu của hứng thú
- Hứng thú học tập môn vật lý biểu hiện cả ở trong và ngoài giờ học:
+ Ở trong giờ học: Biểu hiện của hứng thú là chăm chỉ nghe giảng, xây dựngbài, hăng hái phát biểu ý kiến
+ Ngoài giờ học: Các em tìm đọc thêm các sách tham khảo môn vật lý, tìmhiểu các hiện tượng vật lý ngoài đời sống, tìm cách giải thích theo kiến thức đã học
- Tổ chức những buổi tham quan du lịch, các ảnh vật hiện tượng tự nhiên cũngtạo hứng thú học tập cho học sinh
Những biểu hiện của hứng thú học tập của mỗi học sinh về môn vật lý, ở mỗilớp, mỗi lứa tuổi là khác nhau Tuy nhiên nếu chịu khó quan sát ta có thể nhận biếtđược, bởi các em thường bộc lộ cảm xúc, tình cảm ra bên ngoài nên rất dễ nhậnbiết
- Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng hiệu quả của hoạtđộng nhận thức, tăng sức làm việc, sự sáng tạo vì thế: Cùng với nhu cầu hứng thú làmột trong nhân tố của hệ thống động lực nhân cách cụ thể
- Hứng thú là một trong những nhân tố quan trọng: có thể khẳng định rằng tạomột hứng thú trong một tiết học, giờ học vật lý là đã tạo được 80% sự thành côngcủa giờ học
Có hứng thú học thì khả năng tiếp thu bài của học sinh được tăng lên; chấtlượng học tập được nâng lên rõ rệt; hứng thú học tập chi phối sự thành công hay thấtbại của bài giảng
Như vậy, người giáo viên gây được hứng thú với học sinh thì đó là một thuậnlợi cho môn dạy của mình Chất lượng dạy học tăng lên rõ rệt Nó tích cực đối vớitất cả các môn học
Trang 6Học sinh sẽ biết coi trọng tất cả các môn học, có sự đầu tư, phân chia thời gianhợp lý để kết quả học tập của mình có sự đồng đều, không coi nhẹ môn phụ hay mônchính nào cả Khi các em có sự phát triển đồng đều, như vậy sẽ tạo điều kiện để pháttriển nhân cách của các em.
1.5 Phát triển hứng thú của học sinh:
* Muốn học sinh hứng thú say mê hoạt động nào thì đối tượng của nó chứađựng những nội dung phong phú, hấp dẫn mới mẻ, càng tìm tòi học hỏi sáng tạo,càng phát hiện trong hoạt động nhiều cái mới mẻ, cái hay có giá trị
* Những nội dung sinh hoạt nghèo nàn đơn điệu không thể gây hứng thú chohọc sinh được Lúc đó người ta phải dùng những kích thích bên ngoài tác động đểtích cực hoá hoạt động của học sinh
* Cần tạo điều kiện cho hoạt động sáng tạo của học sinh:
- Có điều kiện vật chất kỹ thuật tương ứng với hoạt động sáng tạo
- Tạo không khí, môi trường hoạt động sôi nổi, lôi cuốn học sinh tham gia
II CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Ngành giáo dục và đào tạo đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nghiêncứu chất lượng giảng dạy và đào tạo nhằm thực hiện thành công nghị quyết số 29theo lộ trình năm học 2021-2022, ngành giáo dục và đào tạo thực hiện chương trìnhgiáo dục phổ thông mới, dạy học sách giáo khoa mới vật lý 6, các trường THCSđang tích cực chuẩn bị các điều kiện về mọi mặt Một trong những nội dung quantrọng đó là đổi mới mạnh mẽ phương pháp, hình thức tổ chức dạy học tích cực, chútrọng phương pháp năng lực, phẩm chất…
Khuyến khích tạo điều kiện cho học sinh chủ động thời gian trong các hoạtđộng học, đó là sự hứng thú đối với môn học Đòi hỏi người giáo viên làm sao khích
lệ được niềm yêu thích môn học, hứng thú với các hoạt động và kiến thức môn học
đó Có như vậy thì việc tiếp thu kiến thức mới dễ dàng, chất lượng học tập sẽ cảithiện
Thực tế việc đổi mới phương pháp hoạt động dạy học ở bộ môn vật lý nóichung cũng như môn vật lý nói riêng tại đơn vị trường TH-THCS còn có những hạnchế nhất định, vì vậy chưa tạo được hứng thú cho học sinh do nhiều nguyên nhânkhác nhau Song có thể được đánh giá tập trung vào một số nguyên nhân chủ yếusau:
+ Việc giao nhiệm vụ thiếu cụ thể cho cá nhân học sinh, nhóm, tổ
+ Học sinh chưa biết cách tìm đọc các tài liệu liên quan đến các đơn vị kiếnthức của mỗi bài học
+ Từ kiến thức bài học các em chưa tìm thấy mối liên hệ với các hoạt độngthực tế của cuộc sống, các hiện tượng gần gũi với các em
+ Việc thực hiện các thí nghiệm vật lý trong một số giờ học chưa thực manglại hiệu quả (vì thiếu cơ sở vật chất, trường không có đồ dùng dạy học) + Giáo viên còn nặng nề trong việc truyền thụ kiến thức, chưa lồng ghép cáctrò chơi…
Trang 7Từ những nguyên nhân trên chúng ta nhận thấy vô hình dung giáo viên bị áplực trong công tác tổ chức các hoạt động (hầu như các hoạt động đó chỉ thực hiệntrong các tiết thao giảng chuyên đề hoặc thao giảng cụm trường) dẫn đến học sinhchưa tìm thấy niềm đam mê, hứng thú học tập trong mỗi tiết học nói chung và mônvật lý nói riêng Đối với môn khoa học thực nghiệm như Vật lí, có thể nói: “Trăm
nghe không bằng một thấy; trăm thấy không bằng một làm” Nếu không có sự trải
nghiệm trong thực tế thì sự lĩnh hội kiến thức không thể sâu sắc và bền chặc được
Bản thân tôi được phân công nhiệm vụ giảng dạy trực tiếp 4 khối môn vật lýtôi đã có nhiều trăn trở làm thế nào để môn học của mình có nhiều học sinh yêuthích và có kết quả tốt nhất Vì vậy tôi đã áp dụng một số biện pháp sau:
II BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:
1 Biện pháp 1: Sau mỗi tiết học giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh về những nội dung liên quan đến kiến thức bài học hôm sau:
- Mục đích: Định hướng những nội dung kiến thức, những nhiệm vụ mà cá
nhân học sinh hoặc nhóm học sinh phải chuẩn bị cho bài mới Từ đó tạo tâm thế choviệc tiếp nhận sẵn sàng kiến thức
- Cách làm: Giáo viên xác định kiến thức trọng tâm của bài học học vànhững nhiệm vụ học sinh cần giải quyết để giao nhiệm vụ cho cá nhân hoặc nhóm
- Tác dụng: Qua tiết học các em được hướng dẫn tốt thì các em chủ động vàhoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
2 Biện pháp 2: Giới thiệu và hướng dẫn tìm hiểu tài liệu có liên quan đến bài học.
- Mục đích: Để mở rộng kiến thức, học sinh sẽ hiểu biết nhiều, làm cho các
em hứng thú hơn
- Cách làm: Tôi đã định hướng cho học sinh tìm hiểu những kiến thức của bài
học liên quan đến các nhà Bác học vật lý nổi tiếng như về cuộc đời, hoặc những phátminh liên quan đến kiến thức
- Tác dụng: Hầu hết các em thực hiện được nhiệm vụ thông qua sách báo,những câu chuyện vui cũng như những câu nói nổi tiếng về nhà bác học, các emthích thú tìm hiểu và thích trình bày vấn đề đó trước tập thể
Ví dụ như:
* Ở lớp 6 khi dạy bài “ Đòn bẩy”, giáo viên có thể giới thiệu sơ nét về
Acsimet và câu nói nổi tiếng của ông “Hãy cho tôi một điểm tựa tôi sẽ nâng bổngTrái Đất lên”
hoặc * Khi dạy bài : “ Trọng lượng”, giáo viên kể về NiuTơn, về chuyện quả táo
rơi trúng đầu ông
Trang 8* Khi dạy bài “ Áp suất khí quyển”, kể về Torixenli và việc chế tạo khí áp kế liên
quan đến việc dự báo thời tiết trong cuộc sống;
* Khi dạy bài Lực đẩy Acsimet kể câu chuyện của ông về việc phát hiện ra lực đẩy
của chất lỏng lên các vật nhúng chìm trong đó và câu chuyện “ Acsimet và chiếcvương niệm”
Hoặc yêu cầu học sinh tìm hiểu bí ẩn về “Biển chết” Tại sao con người hoàn toàn cóthể nổi bồng bềnh trên mặt biển?
*Khi dạy bài: Gương cầu lõm: GV kể câu chuyện Nhà bác học Acsimet dùng
gương cầu lõm để đốt cháy chiếc thuyền của giặc
Trang 9*Khi dạy bài: Đo thể tích của vật rắn không thấm nước: kể câu chuyện cân voi
của Trạng Lường Lương Thế Vinh
3 Biện pháp 3: Liên hệ kiến thức được học với các hiện tượng thực tiễn cuộc sống:
- Mục đích: của biện pháp là thấy được ý nghĩa của việc học
- Cách làm: Với mỗi đơn vị kiến thức bài học khác nhau tôi đã lựa chọn
những hiện tượng gần gũi với đời sống hằng ngày các em từng gặp, từng chứng kiến
để liên hệ vào kiến thức bài học, hoặc lấy những hiện tượng thực tế đặt câu hỏi nêuvấn đề vào bài mới gây kích thích, hứng thú cho học sinh
- Tác dụng: Từ đó học sinh vận dụng được kiến thức vào thực tế cuộc sống
Như vậy hứng thú học tập là thái độ đặc biệt của học sinh đối với đối tượngcủa hoạt động học tập, vì sự cuốn hút về mặt tình cảm và ý nghĩa thiết thực của nótrong đời sống cá nhân Ví dụ:
* Khi dạy bài: “ Sự bay hơi và ngưng sự tụ’’
Vào muà hè chúng ta thường hay ăn chè có đá, mặc dù cốc chè không bị nứtnhưng khi ta cầm vào cốc thì thấy ướt, hãy giải thích hiện tượng đó?
- Vì ly đựng nước đá có nhiệt độ thấp do đó các hơi nước có trong không khíxung quanh ly nước đá gặp lạnh thì xảy ra hiện tượng ngưng tụ thành nước và đọnglại, bám lên thành ngoài của ly nước đá
Trang 10* Khi dạy bài: “sự nở vì nhiệt của chất rắn”
- Khi đi khám răng, bác sĩ thường hay khuyên chúng ta không nên ăn thức ănquá nóng hoặc quá lạnh?
- Vì nếu chúng ta ăn thức ăn quá nóng hoặc quá lạnh thì răng của chúng ta sẽ
bị nở ra hoặc co lại vì nhiệt nhiều dẫn đến hỏng men răng
* Khi dạy bài: Lực ma sát
Khi đếm tiền một số người thường có thói quen chấm tay vào lưỡi để làm ướtngón tay Tại sao người ấy lại làm như vậy? Việc làm này có mất vệ sinh không?Khắc phục bằng cách nào?
- Làm tăng lực ma sát giữa tay và tờ tiền để dễ đếm hơn Làm thế rất nguy hiểm vìtiền có nhiều vi khuẩn do di chuyển từ người này sang người kia Khắc phục bằngcách để cốc nước nhỏ bên cạnh và nhúng tay vào nước khi đếm
* Khi dạy bài ‘‘ Đối lưu- Bức xạ nhiệt’’
GV : Ngồi gần lò sưởi, bếp than, bóng đèn điện
em cảm thấy nóng
Vậy sự nhiệt truyền đã qua con đường nào?
Trong ngọn lửa than, bóng đèn điện có 1 loại
bức xạ nhiệt không nhìn thấy (tia hồng ngoại)
Chính tia này đã truyền tải nhiệt năng đến ta
GV: Vào các ngày trời nắng, nếu sờ tay vào yên xe, bạn cảm thấy yên xe nóng hơncác bộ phận khác, tại sao? (yên xe thường có màu tối nên hấp thụ bức xạ nhiệt tốt,
mà phía dưới yên xe đc làm bằng xốp hút nhiệt và giữ nhiệt nên yên xe nóng hơn các
bộ phận khác)
* Khi dạy bài : “Sự cân bằng lực - quán tính”
GV: Khi ngồi xe đạp, xe máy, ô tô, nếu
phanh gấp chúng ta lại cứ bị ngã người về
phía trước mà không bị ngã người về phía
sau?
- Do quán tính Lúc đầu xe đang
chuyển động theo 1 hướng( trước) Xe đột
Trang 11ngột dừng lại do quán tính nên chúng ta vẫn tiếp tục chuyển động nên theo xu hướngngã về phía trước
4 Biện pháp 4: Hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm vật lý với đồ dùng tự làm
- Mục đích : Đổi mới năng lực thực hành sáng tạo cho người học
Qua quan sát hoạt động của học sinh, học sinh rất thích thú với các hoạt độngthí nghiệm, đặt biệt là khi được giao nhiệm vụ với những thí nghiệm tự khám phá, tựtạo ra đồ dùng thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền (tận dụng đồ dùng trong gia đình)
- Cách làm : Tôi sẽ gợi ý cho học sinh những vật liệu đơn giản và hướng dẫn
cách làm thí nghiệm
- Tác dụng : Học sinh rất thích thú với kết quả thí nghiệm và thấy được mặc
dù kết quả không thành công
* Khi dạy bài: ‘‘Áp suất chất lỏng-Bình thông nhau” Chế tạo ‘Bình thông
nhau’ bằng đồ dùng tự làm dạy phần khởi động với :
+ Ba vỏ chai nước bằng nhựa như nhau
+ Ống dẫn bằng nhựa trong
+ Nước có pha màu
+ Thước nhựa
* Khi dạy bài: ‘‘Áp suất chất khí” Chế tạo đồ dùng tự làm dạy phần khởi
động chỉ với 1 chai nhựa, 1 hộp sữa
* Khi dạy bài: ‘‘ Bài sự nổi” Chế tạo đồ dùng tự làm dạy phần khởi động chỉ
với 2 lá nhôm