Trong đó, hai học thuyết tiêu biểu được nổi bật lên trong thời kỳ đó, đầu tiên là tư tưởng Đức trị được coi là hạt nhân của Nho giáo cũng như là tư tưởng của chính của Nho giáo Khổng Tử
Trang 1BỘ NỘI VỤ
H ỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA -
ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ THẠC SĨ
Đề tài:
TƯ TƯỞNG ĐỨC TRỊ CỦA KHỔNG TỬ VÀ
VI ỆC KẾT HỢP PHÁP TRỊ VỚI ĐỨC TRỊ TRONG QU ẢN LÝ NHÀ NƯỚC Ở NƯỚC TA
HI ỆN NAY
Điểm bằng
Trang 2M ỤC LỤC
Phần mở đầu 1
Phần nội dung 2
Chương 1: Lý luận chung về tư tưởn Đức trị của Khổng Tử 2
1.1 Nguồn gốc về sự ra đời của tư tưởng Đức trị của Khổng Tử 2
1.2 Khái niệm về tư tưởng Đức trị của Khổng Tử 4
1.3 N ội dung của tư tưởng Đức trị 5
Chương 2: Vận dụng và kết hợp tư tưởng pháp trị và đức trị trong Quản lý Nhà nước ở nước ta 7
2.1 Mối quan hệ giữa Đức trị và Pháp trị trong quản lý nhà nước 7
2.2 Kết hợp tư tưởng pháp trị và đức trị vào quản lý nhà nước ở nước ta hiện nay 8
Phần kết luận 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3Ph ần mở đầu
Nho giáo là một hệ thống tư tưởng đề cập đến nhiều lĩnh vực, nhiều mặt hiện thực của đời sống xã hội và con người Trong hệ thống Nho giáo bao gồm nhiều học thuyết, nhiều tư tưởng, nhiều nội dung: triết học, chính trị - xã hội, đạo đức, giáo dục…Những tư tưởng, những nội dung này đan xen, xâm nhập vào nhau trong một hệ thống tương đối hoàn chỉnh Trong đó, hai học thuyết tiêu biểu được nổi bật lên trong thời kỳ đó, đầu tiên là tư tưởng Đức trị được coi
là hạt nhân của Nho giáo cũng như là tư tưởng của chính của Nho giáo Khổng
Tử bên cạnh đó là tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử
Tư tưởng Đức trị của Khổng Tử là một trong những thành tựu lớn trong kho tàng tư tưởng của Trung quốc cổ đại nói riêng, nhân loại nói chung Hơn 2000 năm qua, tư tưởng đức trị không những chỉ chi phối đời sống chính trị, đạo đức, văn hóa của đất nước Trung Hoa mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều quốc gia trong khu vực Nhiều quan điểm của tư tưởng Đức trị đã dần trở thành tập quán, phong tục truyền thống và có ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều mặt của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị đến tư tưởng, văn hóa Do vậy, nó góp phần tạo nên truyền thống văn hóa Á Đông, trong đó có Việt Nam
Trong quản lý nhà nước ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi đầu trong
việc việc kết hợp tư tưởng quản lý Đức trị và Pháp trị, tư tưởng của Người là tư tưởng của sự kết hợp thống nhất, biện chứng giữa “đức trị” và “pháp trị”, luôn chú trọng giáo dục đạo đức, nhưng cũng không ngừng nâng cao vai trò, sức
mạnh của luật pháp từ đó làm cho quản lý nhà nước mới đạt được hiệu quả Vì vậy để làm rõ hơn về vấn đề trên, em xin chọn đề tài: “ Tư tưởng Đức trị của
Kh ổng Tử và việc kết hợp Pháp trị với Đức trị trong quản lý Nhà nước ở nước
ta hi ện nay”
Trang 4Ph ần nội dung Chương 1: Lý luận chung về tư tưởn Đức trị của Khổng Tử
1.1 Ngu ồn gốc về sự ra đời của tư tưởng Đức trị của Khổng Tử
Khổng Tử tên là Trọng Khâu, hiệu là Trọng Ni, người nước Lỗ xuất thân trong một gia đình quý tộc.Năm lên ba, Khổng Tử mồ côi cha, lớn lên phải làm
lụng rất vất vả để nuôi mẹ, nhưng ông rất ham học Năm 19 tuổi, ông lấy vợ và làm một chức quan nhỏ coi kho Năm 22 tuổi, ông mở lớp dạy học Học trò gọi ông là Khổng Phu Tử, hay gọi tắt là Khổng Tử Ông đã từng giữ chức Tổng trưởng Bộ Hình Sau đó, Khổng Tử từ quan về nhà dạy học và xây dựng nên hệ
tư tưởng của mình
Khổng Tử là một nhà tư tưởng, nhà triết học, nhà giáo dục và nhà chính trị nổi
tiếng Trung Hoa Các bài giảng và triết lý của ông có sức ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống và tư tưởng của các dân tộc Đông Á Tiền đề xuất phát trong quan niệm của các nhà đức trị là họ đều thống nhất ở quan niệm con người là thiện, có lòng nhân, từ đó cho rằng đức la công cụ quản lý cùng với phương pháp quản lý
cơ bản là nêu gương và giáo hóa
1.1.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội
Lĩnh vực kinh tế:
Xã hội Trung Quốc đến thời Xuân Thu – Chiến Quốc, công cụ lao động chuyển từ thời đồ đồng sang công cụ bằng sắt đã xuất hiện, đưa lực lượng sản
xuất lên trình độ cao hơn Việc thay thế công cụ bằng đồng sang sử dụng công
cụ bằng sắt lúc này ngày càng trở nên phổ biến và sự mở rộng quan hệ trao đổi sản phẩm lao động trong nền sản xuất thủ công nghiệp ngày càng trở nên chuyên nghiệp hơn, rất nhiều ngành nghề đã được mở ra như nghề rèn, nghề mộc, nghề đúc…Điều này đã tạo nên sự cách biệt giữa những người làm nông nghiệp ở vùng nông thôn với những người làm nghề buôn bán ở khu vực thành thị, bắt đầu có sự phân hóa giữa tầng lớp quý tộc với những người làm nghề buôn bán ở khu vực thành thị, bắt đầu có sự phân hóa giữa tầng lớp quý tộc với những
người được coi là hèn mọn, tiểu nhân trong xã hội
Trên cơ sở phát triển của nông nghiệp và thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng phát triển hơn trước, tiền tệ đã xuất hiện Đây là thời kỳ khởi sắc của nền kinh tế thương nghiệp Trong thời kỳ này, ở Trung Quốc xuất hiện nhiều thành thị
thương nghiệp buôn bán, xuất nhập nhộn nhịp ở các nước Hán, Tề, Tần, Sở
Trang 5Thành thị đã có một cơ sở kinh tế tương đối độc lập, từng bước tách ra khỏi thành thị, thị tộc của quý tộc và dần trở thành những đơn vị, khu vực kinh tế của
tầng lớp địa chủ mới lên
Lĩnh vực chính trị - xã hội:
Sự biến động trong lĩnh vực kinh tế đã ảnh hưởng, tác động to lớn đến các mặt
của lĩnh vực chính trị - xã hội Nó làm xuất hiện một cục diện mới trong xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu – Chiến Quốc, đó là tình trạng các nước chư hầu nổi lên lấn át địa vị và quyền lực của nhà Chu Sự phát triển của sức sản xuất, kinh
tế phát triển đã tác động mạnh mẽ đến hình thức sở hữu ruộng đất và kết cấu giai tầng của xã hội Nhiều tầng lớp mới xuất hiện và ngày càng khẳng định vị trí của mình Mới, cũ cùng đan xen tồn tại Mỗi tầng lớp luôn đại diện cho những lợi ích riêng của mình Do đó, những mâu thuẫn giữa các giai tầng được hình thành
và ngày càng phát triển, đặc biệt là mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị với giai cấp nông dân và các tầng lớp bị thống trị khác
Trong bối cảnh đó, luân lý, đạo đức xã hội rơi vào tình trạng băng hoại, khủng
hoảng sâu sắc Mọi giá trị, chuẩn mực, đạo đức bị đảo lộn, trật tự, kỷ cương xã
hội ngày thêm rối loạn, thiết chế chính trị, lễ nghĩa nhà Chu bị vi phạm và phá
hoại nghiêm trọng Đây được coi là thời kỳ “Lễ hoại nhạc tan”, cảnh bề tôi giết vua, con hại cha, anh em, vợ chồng bất hòa, chia lìa thường xuyên xảy ra, Thiên
hạ trở nên “vô đạo”, trật tự, lễ nghĩa, cương thường của xã hội bị đảo lộn, các
mối quan hệ giữa con người với con người bị biến dạng
Xã hội Trung Quốc vào thời kỳ này trở nên hết sức rối ren, chiến tranh, thiên tai,
lũ lụt… thường xuyên xảy ra, một bên là sự khốn cùng của tầng lớp lao động nghèo với một bên là sự giàu có của tầng lớp phong hầu kiến địa Nhân dân thường xuyên phải sống trong cảnh đói rét, khổ đau Trong khi đó, thế lực cầm quyền luôn tìm cách để gây thanh thế, cho nên thường xuyên diễn ra các cuộc chiến tranh
Trước thực trạng xã hội như vậy, đã đặt ra một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn cấp bách là phải thiết lập một hệ thống tư tưởng cũng như những nguyên tắc đạo đức, luân lý mới phù hợp với yêu cầu của thời đại để đưa xã hội tiến lên
1.1.2 Tiền đề tư tưởng
Trang 6Tư tưởng Đức trị của nho giáo Khổng Tử là sự kế thừa và tiếp thu những yếu tố, tính chất trong tư tưởng chính trị, đạo đức, tôn giáo của Trung Quốc từ trước đến bấy giờ, nhất là dưới thời nhà Chu
V ề tôn giáo: Nhà Chu cho rằng, trời là lực lượng có uy quyền tối cao,
tuyệt đối và do vậy, vì nhà Ân không những không biết vâng “mệnh trời” mà còn hành động trái với “mệnh trời” nên bị trời trừng phạt và để cho nhà Chu thay thế nhà Ân cai trị dân Khổng Tử nói riêng và Nho giáo nói chung tiếp nhận
yếu tố duy tâm thần bí và phản động trong tư tưởng tôn giáo trên đây làm một trong những nội dung của tư tưởng trị nước, để ràng buộc con người, nhằm tạo
ra những con người luôn suy nghĩ, hành động theo ý trời, mệnh trời
V ề chính trị: Tư tưởng chính trị chủ yếu của giai cấp quý tộc Chu là
“Nhân dân”, “Hưởng dân” và “Trị dân”
V ề đạo đức: Tư tưởng đạo đức của nhà Chu lấy hai chữ Đức và Hiếu làm
nòng cốt Xuất phát từ quan niệm tôn giáo về trời – người hợp nhất, nhà Chu cho rằng, tổ tiên của mình là bậc Tiên vương do luôn có đức mà được sánh cùng thượng đế, nhận được “mệnh trời” mà “hưởng nước”, “hưởng dân” Do vậy, các vua sau phải thành kính cái đức đó, mà giữ gìn và bồi đắp nó để con cháu được thừa hưởng lâu dài Hiếu là nhớ ơn tổ tiên, là phải luôn giữ gìn và làm sáng tỏ khuôn phép của tổ tiên để lại, có như vậy, mới nhận được mệnh trời mà được hưởng nước, hưởng dân mãi mãi Chính điều này, một phần giúp chúng ta cắt nghĩa vì sao, ở Nho giáo, đạo đức và chính trị gắn chặt với nhau, coi đạo đức còn là một trong những công cụ, phương tiện chính trị chủ yếu nhất của nhà vua, của người cầm quyền trong việc trị dân, trị nước, bình thiên hạ
1.2 Khái ni ệm về tư tưởng Đức trị của Khổng Tử
Đường lối Đức trị là một trong những nội dung cơ bản nhất trong học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo Trong Nho giáo, học thuyết chính trị và học thuyết đạo đức quan hệ chặt chẽ với nhau, chính trị và đạo đức gắn chặt với nhau Khổng Tử đặc biệt đề cao đạo đức trong trị nước, coi đó là công cụ và phương tiện hữu hiệu nhất để hoàn thiện con người và ổn định, hoàn thiện xã hội, đưa xã hội từ “vô đạo” thành “hữu đạo”
Tư tưởng Đức trị là những quan điểm về đường lối trị nước, quản lý xã hội dựa
trên cơ sở những chuẩn mực đạo đức Đó là hệ thống những chuẩn mực, những nguyên tắc, quy phạm đạo đức để điều chỉnh hành vi của con người trong, các
mối quan hệ xã hội, nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích cá nhân và lợi ích
Trang 7cộng đồng Đức trị phản ánh nhu cầu và lợi ích xã hội của giai cấp thống trị, được biểu hiện dưới hình thức những quy định và những đánh giá trên cơ sở xác
lập những giá trị luân lý, được mọi người thừa nhận và chấp hành một cách tự giác Trên cơ sở đó, Nho giáo cũng khẳng định tính đúng đắn của quan niệm chính danh định phận trong xã hội, đề ra những nguyên tắc, tiêu chí làm chuẩn mực để người cầm quyền nhận thức đạo lý, giáo hóa hành vi, điều chỉnh hoạt động của mọi người
1.3 N ội dung của tư tưởng Đức trị
1.3.1 Vai trò của đạo đức theo quan niệm của Khổng Tử
Th ứ nhất, đạo đức và thi hành đạo đức là tiền đề, điều kiện quan trọng nhất để
hình thành và hoàn thiện đạo đức của con người, góp phần to lớn vào việc củng
cố, duy trì trật tự, kỷ cương và sự ổn định của xã hội
Th ứ hai, đạo đức là công cụ, phương tiện chủ yếu nhất, hữu hiệu nhất của giai
cấp thống trị trong việc cai trị và quản lý xã hội
Th ứ ba, cũng cần phải nhấn mạnh một vấn đề chủ yếu trong học thuyết đạo đức
Nho giáo nói chung, quan niệm của Nho giáo về vai trò của đạo đức, của đường
lối Đức trị nói riêng là, những vai trò trên của đạo đức đối với xã hội và con người chỉ trở thành thực tế là chủ yếu phụ thuộc vào nhà vua, người cầm quyền
có đạo đức và luôn tu dưỡng, thi hành đạo đức
Trong học thuyết đạo đức của Nho giáo Khổng Tử, đạo đức và tu dưỡng đạo đức gắn liền với nhau Muốn có đạo đức và luôn có đạo đức phải thường xuyên
tu dưỡng đạo đức
1.3.2 Cai trị theo “Nhân, Lễ, Chính danh”
Nhân và Lễ là hai phạm trù trung tâm và cơ bản nhất trong tư tưởng đức trị nói riêng và của học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo nói chung, đó còn là biện pháp để thi hành đường lối đức trị Trong Nho giáo Khổng Tử, Nhân, Lễ, Chính danh là thống nhất với nhau trong tư tưởng đức trị, trong việc thực thi đường lối đức trị Trong đó Nhân là nội dung, là hạt nhân của Lễ, còn Lễ là hình thức thể hiện của Nhân và trên bình diện chính trị, sự thống nhất của Nhân và Lễ là Chính danh
Trang 8Nhân là một phạm trù trung tâm của tư tưởng đạo đức, tư tưởng đức trị Nhân bao gồm hai nghĩa, nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa hẹp, Nhân là một phẩm
chất đạo đức cụ thể, cơ bản, nền tảng của con người, nó là chuẩn mực đạo đức
để con người tự tu dưỡng và hoàn thiện nhân cách của mình Theo nghĩa rộng, Nhân bao gồm mọi đức cần có khác của con người Nói một cách khác, mọi đức khác của con người như Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, Hiếu, Trung v.v., đều biểu hiện cụ
thể của đức Nhân
L ễ cũng là một phạm trù đạo đức, một chuẩn mực đạo đức Lễ được nhìn nhận
chủ yếu từ phương diện chính trị, Ở phương diện này, Lễ lại bao gồm nhiều nội dung cơ bản khác nhau nhưng thống nhất với nhau Trước hết, Lễ là phạm trù
chỉ tôn ti, trật tự, kỷ cương của xã hội mà mọi người, mọi giai cấp trong xã hội
phải học, phải tuân theo Thứ hai, Lễ là những chuẩn mực, những quy tắc,
những yêu cầu có tính bắt buộc, ràng buộc đối với mọi hành vi, ứng xử của con người trong các mối quan hệ xã hội cũng như trong các hoạt động khác của con người Dù Lễ được nhìn nhận với nhiều nội dung như thế nào đi chăng nữa, song điều cơ bản mà Nho giáo quan tâm là mọi người, mọi giai cấp phải tôn
trọng, giữ gìn, học tập và hành động đúng lễ
Chính danh là một phạm trù, một nội dung cơ bản của tư tưởng đức trị, là một trong những biện pháp chính trị để thi hành đường lối đức trị, lễ trị Chính danh
lần đầu tiên được Khổng Tử đặt ra Ông yêu cầu là phải đặt đúng tên sự vật và
gọi sự vật bằng đúng tên của nó sao cho “danh” đúng với thực chất của sự vật Trong tư tưởng đức trị, Chính danh là yêu cầu mỗi người cần phải có một phẩm
chất tương xứng với địa vị xã hội của mình và phải suy nghĩ, hành động đúng với ấy, không được tranh giành địa vị và bổn phận của người khác, giai cấp khác, nếu không xã hội sẽ loạn Xuất phát từ việc cho rằng, trong xã hội, mỗi người, mỗi đẳng cấp đều có vị trí và bổn phận riêng của mình, các nhà Nho đều
khẳng định rằng, để loại bỏ tình trạng rối loạn, để duy trì trật tự, kỷ cương và sự
ổn định của xã hội thì điều có ý nghĩa tiên quyết là phải thực hành biện pháp Chính danh
Như vậy, Nhân, Lễ, Chính danh trong tư tưởng đức trị của Khổng TỬ không chỉ
là những nội dung mà còn là những biện pháp chính trị để thực hiện đường lối đức trị, nhằm mục đích duy trì, bảo vệ trật tự, kỷ cương của chế độ phong kiến
và phục vụ những yêu cầu, lợi ích của giai cấp thống trị xã hội mà thôi
Trang 9Chương 2: Vận dụng và kết hợp tư tưởng pháp trị và đức trị trong Quản lý Nhà nước ở nước ta
2.1 M ối quan hệ giữa Đức trị và Pháp trị trong quản lý nhà nước
Về mặt bản chất, “đức trị” và “pháp trị” đều là hai mặt của một thể thống
nhất, một bản thể duy nhất không tách rời Việc đề cao đức trị hay pháp trị trong
trị quốc an dân cũng đều mang tính phiến diện, không đầy đủ Đạo đức và pháp
luật phản ánh bản chất nhà nước và nhu cầu xã hội Pháp luật là công cụ của giai
cấp thống trị sử dụng để quản lý xã hội thông qua bộ máy nhà nước Vì thế, pháp luật và nhà nước luôn mang bản chất của giai cấp thống trị Chế độ xã hội khác nhau sẽ quy định bản chất của hệ thống luật pháp khác nhau, qua đó trực
tiếp hoặc gián tiếp phản ánh các chuẩn mực đạo đức của xã hội
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, chỉ những nhà lãnh đạo nào thực sự phối hợp
một cách nhuần nhuyễn được cả hai trường phái tư tưởng “đức trị” và “pháp trị” thì mới có thể đưa đất nước dưới sự quản lý của họ trở nên ổn định và mạnh mẽ Các vị vua hiền, chúa thánh minh ở Phương Đông, Trung Quốc và Việt Nam,
những người được coi là rất thành công trong sự nghiệp trị nước đều đã kết hợp được cả đức trị lẫn pháp trị, vừa biết tôn Nho, vừa biết trọng Pháp Điều này cũng không ngoại lệ ở phương Tây Điển hình như, Platon luôn chủ trương phải thống nhất đạo đức với một nền chính trị trong sạch, lấy quan niệm về một người cầm quyền có đức tạo cơ sở cho một nhà nước lành mạnh Ông đặc biệt quan tâm đến vấn đề về con người, về đạo đức của con người, nhưng ông cũng
nhấn mạnh vai trò của luật pháp và coi đó là thứ có vai trò quan trọng thứ hai
sau đạo đức (Les lois - Những đạo luật - Platon)
Khổng Tử lấy đạo nhân làm gốc, lấy hiếu, lễ nhạc làm nội dung cơ bản cho sự giáo hóa; tin tưởng vào sự giáo dục sẽ làm cho cái nhân tăng lên và các hình phạt sẽ giảm nhẹ đến mức có thể Ai cho rằng Khổng Tử là người bác bỏ hình
luật thì người đó chưa hiểu đúng đắn về ông Ông không chủ trương loại bỏ nó
mà chỉ coi đó là một biện pháp cần thiết để ngăn ngừa, cần thiết phải có, nếu không bất đắc dĩ thì không nên dùng đến
Có thể thấy những bậc lãnh đạo kiệt xuất đều là những người nắm vững, vận
dụng thành công trong sự kết hợp giữa luật pháp với đạo đức, giữa pháp trị và đức trị
Trang 102.2 K ết hợp tư tưởng pháp trị và đức trị vào quản lý nhà nước ở nước ta
hi ện nay
Trong thực tiễn quản lý nhà nước ở nước ta hiện nay, thì Nhà nước luôn đề cao
việc vận dụng cả 2 tư tưởng pháp trị và đức trị một cách linh hoạt vào các hoạt động quản lý của mình, nhưng vấn đề vận dụng như thế nào sao cho phù hợp với hoàn cảnh, văn hóa, điều kiện thì lại là một điều luôn luôn cần được nghiên cứu, tìm tòi Việc vận dụng không phải là sao chép y nguyên học thuyết mà phải cần
có sự chọn lọc, kế thừa và phát huy
Với tư tưởng Đức trị:
Đảng và Nhà nước cần không ngừng xây dựng, chăm lo, đảm bảo cho sự
phồn vinh của đất nước, ấm no cho nhân dân Việc đề ra các đường lối, chủ trương, chính sách phải phù hợp với hoàn cảnh của đất nước, nguyện vọng của nhân dân Công tác xây dựng, chỉnh đốn đội ngũ Đảng viên luôn phải được chú
trọng, lựa chọn được những con người có đủ sức, đủ tài vào trong bộ máy lãnh đao, quản lý đất nước Các chính sách nhằm phát triển kinh tế, nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần cho nhân dân được đề ra và không ngừng phát triển,
cải cách sao cho phù hợp như đường lối đổi mới đất nước, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách giáo dục, chính sách đầu tư, các chính sách hỗ trợ người nghèo, ban hành hệ thống văn bản Pháp luật phù hợp, sửa đổi, bổ sung luật vì lợi ích chung của toàn bộ quốc gia… Các công việc của Nhà nước đã thể hiện tư tưởng lấy dân làm trọng, tất cả vì lợi ích của quốc gia,
thể hiện đạo đức của những người lãnh đạo Nhà nước ta, tinh thần nhân văn, nhân đạo sâu sắc, rõ nét Vai trò, địa vị của người phụ nữ ngày càng được công
nhận Bình đẳng xã hội đang dần được hình thành và trở nên la một cơ sở cho
sự phá triển xã hội cũng như con người toàn diên Như Bác Hồ đã từng dạy bảo
việc gì có lợi cho dân thi phải cố gắng làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết
sức tránh Niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước đang ngày càng được củng cố
Các nhà lãnh đạo của đất nước nỗ lực hết mình để đam bảo cho đất nước phát triển bằng những hướng dẫn, chỉ đạo Nhân dân ta cũng không ngừng phát huy
những nét đạo đức tốt đẹp, để cùng Nhà nước xây dựng một xã hội tốt đẹp Nhân dân ta có một tinh thần yêu nước vô cùng lớn lao Điều này không chỉ được biểu hiện trong chiến tranh, khi nước nhà bị lâm nguy, mà ngay cả trong