Mục tiêu nghiên cứu Phân tích thực trạng xuất khẩu mặt hàng gạo của Công ty Lương thựcThanh Nghệ TĨnh từ năm 2007 đến 2010, từ đó đưa ra các giải pháp nhằmđẩy mạnh xuất khẩu gạo của Công
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, xuất khẩu làmột ngành nghề được đánh giá cao trong việc mang lại nguồn ngoại tệ khôngnhỏ cho quốc gia, góp phần to lớn vào sự nghiệp phát triển đất nước Bêncạnh đó, với khí hậu nhiệt đới gió mùa thích hợp cho cây lúa, cộng thêm đấtđai màu mỡ và giá nhân công rẻ, đã giúp gạo trở thành mặt hàng xuất khẩu cóthế mạnh của Việt Nam Từ đó đưa nước ta đứng thứ hai thế giới về xuất khẩumặt hàng này Việc phát triển nghề trồng lúa và có những biện pháp hỗ trợcho các doanh nghiệp xuất khẩu mà đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩugạo, để nước ta giữ vững vị trí xuất khẩu trên thương trường quốc tế là vấn đềluôn được nhà nước xem trọng
Thêm vào đó, từ khi Việt Nam gia nhập WTO đến nay, tuy đã tạo ranhiều cơ hội nhưng cũng có không ít thách thức cho các doanh nghiệp trongnước Phải tự đổi mới để thích nghi với những thay đổi trong môi trường kinhdoanh là vấn đề đã và đang được các công ty hết sức quan tâm, Công tyLương thực Thanh Nghệ Tĩnh cũng không nằm ngoài xu thế đó Tuy nằmtrong ngành nghề xuất khẩu được nhà nước khuyến khích, giúp đỡ nhưngCông ty vẫn không chủ quan trước những khó khăn và thách thức Nâng caokhả năng cạnh tranh và tạo uy tín trên thương trường luôn là mục tiêu đượcCông ty chú trọng và từng bước thực hiện trong thời gian qua Vì những lý dotrên, cùng với thời gian thực tập tại Công ty, thiết nghĩ việc nghiên cứu đề tài
“Thực trạng và giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu gạo tại Công ty Lương thực Thanh Nghệ Tĩnh” đó có những giải pháp, kịp thời xây dựng
chiến lược phát triển Công ty tốt hơn trong tương lai Góp phần vào côngcuộc xây dựng đất nước giàu đẹp
Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích thực trạng xuất khẩu mặt hàng gạo của Công ty Lương thựcThanh Nghệ TĨnh từ năm 2007 đến 2010, từ đó đưa ra các giải pháp nhằmđẩy mạnh xuất khẩu gạo của Công ty trong thời gian tới
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại Công Lương thực Thanh NghệTĩnh Các số liệu trong đề tài chủ yếu được cung cấp từ nội bộ Công ty
1
Trang 2Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công ty xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản,
thực phẩm nhưng chiếm phần lớn và chủ đạo là gạo Nên đề tài chủ yếunghiên cứu sâu về thực trạng xuất khẩu mặt hàng gạo của Công ty
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Thu thập số liệu:
(1) Các số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách quan sát thực tế, phỏngvấn ban lãnh đạo, công nhân viên,… Riêng các số liệu về đối thủ cạnh tranhthì được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng câu hỏi
(2) Các số liệu thứ cấp được tổng hợp thông qua các bảng kế toán, báocáo tài chính, những biên bản hợp đồng của nhà mới với công ty tham khảocác tài liệu liên quan trên Internet, sách, báo, tạp chí, cục thống kê,…
+ Phương pháp xử lý số liệu:
(1) Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp: các số liệu từ các bảngbáo cáo tài chính, kế toán được so sánh qua các năm, phân tích tại sao và tổnghợp để đưa ra nhận xét
(2) Phương pháp thống kê: thống kê các bảng biểu, số liệu từ đó rút racác kết luận, các xu hướng để đánh giá tình hình hoạt động của nhà máy
(3) Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến chuyên gia để tìmhướng giải quyết
Bố cục đề tài
Kết cấu của bài báo cáo ngoài phần mở đầu và kết luận, được chia làm
2 chương chính:
Phần 1: Tổng quan về Công ty Lương thực Thanh Nghệ Tĩnh
Phần 2: Thực trạng và giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu
gạo tại Công ty Lương thực Thanh Nghệ Tĩnh
2
Trang 3PHẦN 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY LƯƠNG THỰC
THANH NGHỆ TĨNH
1.1 Tổng quan về Công ty Lương thực thanh Nghệ Tĩnh
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty Lương Thực Thanh Nghệ Tĩnh là một doanh nghiệp nhà nước,trực thuộc Tổng công ty Lương thực Miền Bắc
Công ty Lương Thực Thanh Nghệ Tĩnh hoạt động theo cơ chế thitrường có sự quản lý của nhà nước, có đầy đủ tư cách pháp nhân Công ty cóvốn điều lệ hoạt động riêng, có bộ máy và điều hành được Tổng Công tyLương Thực Miền Bắc phê chuẩn công ty có con dấu và tài khoản riêng
Mã số thuế: 2900523461
Địa chỉ: Số 58 Lê Lợi-Tp Vinh-Tỉnh Nghệ An
Quá trình hình thành của công ty gắn liền với sự biến động về mặt tổchức của 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh
Khoảng thời gian từ 1951 đến 1975 ở 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, HàTĩnh tồn tại 3 Công ty Lương thực riêng đáp ứng nhu cầu lương thực cho3tỉnh
Khoảng thời gian từ 1976 đến 1991 thực hiện chủ trương sắp nhập tỉnhNghệ An, Hà Tĩnh thành tỉnh Nghệ Tĩnh Chi lương thực 2 tỉnh được sắp nhậpthành Sở Lương thực Nghệ Tĩnh
Đáp ứng nhu cầu đòi hỏi từ cơ chế bao cấp trước đây sang cơ chế tựhạch toán Từng bước tiến dàntừ cơ chế nhà nước đơn thuần về lương thựcsang cơ chế hạch toán kinh doanh, có sự quản lý của Nhà nước Từ năm 1987đến 1991 chuyển đổi Sở Lương thực Nghệ Tĩnh thành liên hiệp Công tyLương thực Nghệ Tĩnh Cùng thời điểm này ở thanh Hóa cũng chuyển đổi SởLương thực Thanh Hóa thành liên hiệp Công ty Lương thực Thanh Hóa
Khoảng thời gian từ 1991 đến 1994 thực hiện nghị định của Quốc hội
về việc chia Nghệ Tĩnh thành Nghệ An và Hà Tĩnh
Ngày 30-8-1991 UBND Tỉnh Nghệ Tĩnh ra quyết định số 1548/UB-QĐchia tách liên hiệp Công ty Lương thực Nghệ Tĩnh thành liên hiệp Công tyLương tực Nghệ An và liên hiệp Công ty Lương thục Hà Tĩnh
Đất nước chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tếthị trường có sự quản lý của Nhà nước Việc sắp xếp lại các DNNN nóichung, các DN kinh doanh nói riêng theo QĐ của Chính phủ là vấn đề cấp
3
Trang 4bách Từ Q2/1992 các liên hiệp Công ty Lương thực Thanh Hóa, Nghệ An,
Hà Tĩnh chuyển thành các Công ty Lương thực
Khoảng thời gian từ 1995 đến 2002 Ngày 24-5-1995 Thủ tướng Chínhphủ có quyết định số 322/TTg về việc thành lập Tổng Công ty Lương thựcMiền Bắc địa bàn từ Thừa Thiên Huế trở ra, như vậy Công ty Lương thực cáctỉnh Thanh Hóa , Nghệ An, Hà Tĩnh chuyển thành các cong ty Lương thực
Khoảng thời gian từ 2002 đến nay thưc hiện quyết định số TTg ngày 14-10-2002 Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án tổng thểsắp xếp đổi mới DNNN thuộc tổng Công ty Lương thực Miền Bắc giai đoạn2002-2005 ngày 16-10-2002 Bộ trưởng bộ Nông nghiệp và phát triển nôngthôn ký quyết định số 4358/QĐ/BNN-TCCB thành lập Công ty Lương thựcThanh Nghệ Tĩnh trên cơ sở sát nhập các Công ty Lương thực Thanh Hóa,Nghệ An, Hà Tĩnh
895/QĐ-1.1.2 Ngành nghề kinh doanh
- Thu mua, bảo quản, chế biến, bán buôn bán lẻ, dự trữ lưu thông lươngthực, nông sản, thực phẩm
- Xuất nhập khẩu lương thực, nông sản và cung ứng các loại vật tư thiết
bị chuyên dùng cho sản xuất kinh doanh của ngành nông nghiệp và côngnghiệp thực phẩm
- Liên doanh liên kết với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước trongcác lĩnh vực sản xuất, kinh doanh dịch vụ
- Thiết kế và xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng
- Dịch vụ vận tải, khách sạn
- Xuất khẩu các mặt hàng nông phẩm, các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu
- Nhập khẩu ngô, lúa mỳ, bột mỳ và các mặt hàng tiêu dùng Việt Nam chưa
có khả năng sản xuất đủ
- Xuất khẩu lao động
- Nuôi trồng thuỷ sản và các hoạt động dịch vụ liên quan
- Sản xuất, kinh doanh và xuất nhập khẩu các loại nguyên liệu, vật liệunhựa và các sản phẩm từ nhựa
- Cho thuê tài sản: nhà kho, văn phòng(trong và ngoài nước)
- Bán buôn, bán lẻ và đại lý xăng dầu, chất đốt
- Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa
- Các ngành nghề khác theo quy định của pháp luật
4
Trang 61.2 Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý của Công ty
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy hoạt động của công ty Lương thực
Thanh Nghệ Tĩnh
Phó Giám Đốc
Nguồn: Phòng tổ chức hành chính
1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận phòng ban
- Giám đốc: Là người điều hành các hoạt động kinh doanh của Công ty, chịu trách
nhiệm về kết quả kinh doanh của Công ty, thực hiện cân đối về lương thực do Nhà nước giao cho Công ty, bảo đảm cung cấp an toàn lương thực; chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị, trước Thủ tướng Chính phủ, trước pháp luật về việc bình ổn giá lương thực trong vùng, góp phần bình ổn giá lương thực.
- Các phó Giám đốc: Là những người giúp Giám đốc điều hành những lĩnh vực
hoạt động của Công ty theo sự phân công.
- Phòng kinh doanh: Tổ chức tham mưu cho giám đốc ký kết cá hợp đồng kinh tế.
Chuyên khai thác các nguồn hàng, mở rộng thị trường, có nhiệm vụ thông tin và phân tích tài liệu nghiên cứu, từ đó lập kế hoạch hoạt động kinh doanh của Công ty và tham gia thực hiện kế hoạch đó.
- Phòng kinh tế đối ngoại:
- Trạm bán buôn bán lẻ: Là nơi chuyên bán cho các cá nhân, tổ chức hay đại lý
những sản phẩm của Công ty với số lượng mà họ yêu cầu.
6
Trang 7- Phòng tổ chức hành chính: Có nhiệm vụ giải quyết mọi việc liên quan đến tổ
chức nhân sự, tiền lương và công tác văn phòng Đề ra phương án chi trả lương cho cán bộ công nhân viên toàn công ty.
- Phòng kỹ thuật đầu tư: giúp Giám đốc quản lý kỹ thuật chất lượng sản phẩm, điện
nước, đầu tư xây dựng, sửa chữa nâng cấp cơ sở vật chất, nhà xưởng, thiết bị.
- Phòng tài chính kế toán: giúp Giám đốc quản lý, theo dõi, giám sát hoạt động tài
chính, thực hiện chế độ tài chính của Tổng Công ty và chế độ tài chính theo quy định của Nhà nước Thực hiện các hoạt động nghiệp vụ tài chinhsphats sinh tại doanh nghiệp, giúp Giám đốc quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ
- Ban bảo vệ: Tổ chức thực hiện bảo đảo an ninh, phòng chống cháy nổ, thực hiện
công tác quản sự, dân quân tự vệ, quản lý và chỉ huy trực tiếp đơn vị tự vệ sẵn sàng chiến đấu của công ty, phối hợp với cơ quan Công an tại địa bàn về công tác quản lý nhân khẩu,
hộ khẩu, quản lý vũ khí, khí tài, được trang bị dấu tranh chống các tệ nạ xã hội.
- Xưởng chế biến: Là đơn vị sản xuất trực tiếp thực hiện nhiệm vụ gia công chế
biến gạo và các sản phẩm khác Tiếp cận thị trường Lương thực Hà Nội, đưa sản phẩm vào thị trường, đáp ứng yêu vầu kinh doanh của Công ty.
- Trung tâm kho: Đây là nơi chuyên dự trữ, bảo quản, quản lý các thành phẩm của
Công ty Ngoài ra, còn quản lý và xử lý các phế phẩm, những sản phẩm hư hỏng Nhằm mục đích đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm từ đó giảm chi phí tăng doanh thu cho Công ty.
- Trạm thu mua: Có nhiệm vụ thu mua các loại nguyên vật liệu, các loại nông sản.
Đảm bảo tốt đầu vào cho Công ty bằng cách hợp tác, tạo mối quan hệ với các Tỉnh miền Trung đặc biệt là đối với các Tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long.
1.3 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty Lương thực Thanh Nghệ Tĩnh 1.3.1 Đặc điểm về tài chính
Bảng 1.1: Cơ cấu vốn kinh doanh của Công ty Lương thực Thanh Nghệ Tĩnh thời kỳ
(2006-2010)
Đơn vị: Triệu đồng
7
Trang 8NămChỉ tiêu
Nguồn:Phòng kinh doanh
Công ty Lương thực Thanh Nghệ Tĩnh năm 2006 với tổng số vốn kinh doanh là:
190.000 triệu đồng, trong đó vốn cố định là 105.000 triệu đồng chiếm 55,26%, vốn lưu
động 85.000 triệu đồng chiếm 45,74% Qua 5 năm hoạt động, tổng vốn kinh doanh không
ngừng tăng lên, năm 2007 là 219.875 triệu đồng tăng 115,7% so với năm 2006, năm 2008
là 314.875 triệu đồng tăng 143,2%, năm 2009 là 353.282 triệu đồng tăng 112,2% Đến năm
2010 tổng vốn kinh doanh lên tới 514.532 triệu đồng, tăng 145,6% so với năm 2009 và
tăng gần 3 lần so với số vốn ban đầu của Công ty.
Về cơ cấu vốn kinh doanh thì số vốn lưu động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn
kinh doanh của Công ty: năm 2006 chỉ chiếm 44,74% nhưng đến năm 2010, tăng lên
66,48% Điều này thể hiện cơ cấu vốn kinh doanh của Công ty Lương thực Thanh Nghệ
Tĩnh rất hợp lý và có hiệu quả bởi lẽ Công ty là một đơn vị kinh doanh lương thực nên cần
nhiều vốn lưu động để lưu chuyển hàng hóa, không cần thiết đầu tư nhiều vào tài sản cố
định như những đơn vị sản xuất
1.3.2 Đặc điểm về nhân sự
Do sự sáp nhập ba Công ty trực thuộc Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh nên việc sắp
xếp lao động của Công ty phải là quá trình đảm bảo yêu cầu tinh gọn, vừa đảm bảo quyền
lợi của người lao động, không vì sự sắp xếp lại mà gây xáo trộn, khó khăn trong công tác
kinh doanh:
Tình hình sử dụng lao động của Công ty thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.2: Tình sử dụng lao động của Công ty từ năm 2008-2010
Trang 9Nhận xét: Trong 3 năm qua tình hình lao động của Công ty có sự thay đổi rõ rệt,
năm 2008 có 146 lao động sang năm 2009 còn lại 120 lao động Năm 2010 Công ty còn cắt giảm bớt 2 lao động nhằm giảm chi phí nhưng vẫn đảm bảo hoạt động của Công ty diễn
ra bình thường và hiệu quả.
- Xét theo giới tính: Do đặc điểm của ngành nghề kinh doanh đó là cần nhiều lao
động nam phục vụ cho khuân vác nên lao động nam chiếm 53,5% vào năm 2008, 66% năm
2009 và 57,7% năm 2010 điều này là hoàn toàn hợp lý.
- Xét theo tính chất công việc: Lao động trực tiếp 65,7% năm 2008, 66,7% năm
2009, 68% năm 2010 Lao động gián tiếp 34,5% năm 2008, 33,3% năm 2009, 32% năm 2010.
- Xét theo trình độ: Lao động có trình độ Đại học và Cao đẳng tăng dần qua các
năm Lao động có trình độ trung cáp và lao động phổ thông giảm dần qua các năm.
Cơ cấu bộ máy quản lý của công ty tinh gọn, hoạt động khá linh hoạt và luôn hoàn thành các nhiệm vụ được giao Tuy nhiên, hiện nay công ty vẫn chưa có phòng kế hoạch và phòng maketing - hai phòng ban quan trọng có nhiệm vụ nghiên cứu và tham mưu cho giám đốc trong việc xây dựng thương hiệu, tiếp cận thị trường, tìm hiểu khách hàng và xây dựng kế hoạch, định hướng phát triển công ty trong tương lai…Các nhiệm vụ
cơ bản của hai phòng ban này, hiện tại, được phòng kinh doanh đảm nhận Do đó, các chức năng của hai phòng này không được chuyên sâu, ngoài ra còn ảnh hưởng đến việc hoàn thành nhiệm vụ của phòng kinh doanh.
1.3.3 Cơ sở hạ tầng và dây chuyền công nghệ
Trang 10thống nhà xưởng của công ty đạt tiêu chuẩn SA 8000 Các tiêu chuẩn điều kiện sản xuất
như ánh sáng, lượng bụi trong không khí và tiếng ồn đều được công ty thực hiện tốt để
đảm bảo sức khoẻ cho người lao động Công ty cũng thường xuyên đầu tư nâng cấp và mở
rộng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nhằm đáp ứng tốt hơn điều kiện làm việc.
1.3.3.2 Dây chuyền công nghệ
Để phục vụ sản xuất kinh doanh Công ty đã đầu tư nhiều hệ thống trang thiết bị,
dây truyền sản xuất hiện đại từ Nhật Bản, Đức, Ý…Với hệ thống trang thiết bị hiện đại đã
giúp Công ty nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm Sản phẩm của công ty
đã đáp ứng được những tiêu chuẩn khắt khe của thị trường nước ngoài
Bảng 1.3 Số lượng và đặc điểm máy móc thiết bị của Công ty
thiết bị Số kí hiệu SL
Giá trị (USD)
Hiệu suất bóc vỏ cao
Năng suất 2 - 2.5 tấn/giờ.Điều khiển bóc vỏ bằng hệthống khí nén
Nâng cao tuổi thọ của rulô cao
su
Hệ thống tách trấu kiểu hútkín
2 Máy sàng
phân ly
PS25 –PS40B
2 77.000 5 - 6 Có khả năng tách thóc ra khỏi
gạo lức hoặc gạo trắng dựatrên sự khác biệt về tính nổi –hình thể- và tỉ trọng của hạtthóc và hạt gạo Có 2 loại:
- Kiểu PS dùng để phân ly
thóc lẫn trong gạo lức, đượcứng dụng trong các dâychuyền xay xát từ lúa
- Kiểu PS40B được dùng để
phân ly thóc lẫn trong gạo laubóng, được ứng dụng trong cácdây chuyền lau bóng gạo từgạo lức hoặc gạo xô Thócđược phân ly ngay cả khi lẫntrong gạo ở ẩm độ cao
Điện năng tiêu thụ thấp Hiệuchỉnh góc nghiêng và tốc độsàng để phù hợp với từng loại
10
Trang 11gạo ngắn hoặc dài một cáchnhanh chóng và dễ dàng.
và hạt để tách đá , sạn lẫntrong lúa, gạo, tiêu,
- Độ xát cao, ổn định Khôngcần điều chỉnh máy
- Các phụ tùng chi tiết(đá dao,
đá lưới, lưới…) được thay thếnhanh và dễ dàng
Độ trắng được điều khiển ,kiểm tra dể dàng cho phù hợpyêu cầu Tỷ lệ gạo nguyên cao,điện năng tiêu thụ thấp
- Hệ thống phun nước tự động:nước sẽ tự động phun sau khigạo vào trong buồng máy từ
10 ÷20 giây, và tự động ngưngphun nếu mức gạo trong thùngchứa gần hết Khí nén đượcdùng để đóng mở van cấp liệu
Trang 12Nguyên liệu sấy tự chảy liêntục qua buồng sấy và ủ thànhdòng lớn điền đầy dạng chữchi, vì thế không cần tiêu tốn
cơ điện năng hoạt động Tùytheo tỉ lệ giảm ẩm và năngsuất, phần xả liệu có thể điềuchỉnh nhờ biến tần thay đổi tốc
độ của trục trái khế Bảo đảm
hệ thống hoạt động liên tục:Nguyên liệu -> Sấy -> Ủ ->Thành phẩm
Sử dụng duy nhất một động cơđiện 25HP để hoạt động chotoàn bộ dây chuyền Có thể sửdụng động cơ diesel 30HP ởnhững vùng không có điện
Nguồn: Phòng kỹ thuật đầu tư
12
Trang 131.4 Kết quả hoạt động kinh doanh tại Công ty Lương thực Thanh Nghệ Tĩnh giai đoạn 2007-2010
Từ năm 2007 trên cơ sở là Công ty Lương thực Thanh Nghệ Tĩnh nhìn chung, toàn Công ty đã nỗ lực phấn đấu vượt qua nhiều khó khăn trở ngại để hoàn thành về cơ bản các mục tiêu đề ra về kim ngạch và hiệu quả, ổn định kinh doanh, mở rộng sản xuất kinh doanh, bảo đảm việc làm và đời sống cho cán bộ công nhân viên ở mức khá, bảo toàn và phát triển nguồn vốn của Nhà nước, an toàn tài sản và con người Đây là thành tích lớn của Công ty trong điều kiện nhiều doanh nghiệp Nhà nước thiếu việc làm, đời sống cán bộ công nhân viên rất khó khăn Đây cũng là năm thứ năm Công ty đã hoàn thành vượt mức
kế hoạch, tuy rằng còn có những mặt Công ty còn phải tiếp tục phấn đấu trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng.
13
Trang 14Bảng 1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty thời kỳ
Chi phí quản lý doanh nghiệp 3.802 12.349 5.511 6.706 8.547 225 (6.838) (55) 1.195 22
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh
Tổng lợi nhuận trước thuế 5.220 49.703 8.868 25.044 44.483 852 (40.835) (82) 16.176 182
Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp 1.053 12.378 2.071 5.510 11.326 1.076 (10.307) (83) 3.439 166
Lợi nhuận sau thuế thu nhập DN 4.167 37.325 6.797 19.534 33.158 796 (30.528) (82) 12.737 187
Nguồn: Phòng tài chính kế toán
Trang 15N h ậ n x é t :
- Doanh thu: Nhìn chung, doanh thu của công ty qua bốn năm có xu hướng tăng, đạt trên 162 tỷ năm 2007 đã tăng lên 181 tỷ năm
2010 Đặc biệt có sự tăng vọt trong năm 2008, với doanh thu đạt gần 308 tỷ, tăng 90% so với năm 2007 Tổng doanh thu tăng trước hết là doanh thu của hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo tăng cao trong thời gian này Đến năm 2009, doanh thu của hoạt động xuất khẩu giảm mạnh trở lại nên tổng doanh thu cũng bị ảnh hưởng và giảm 36% so với năm 2008 Song giá cả các mặt hàng kinh doanh của công ty vẫn cao hơn năm 2007, nên doanh thu trong năm này vẫn cao hơn 162 tỷ đồng của năm 2007.
- Lợi nhuận trước thuế: Do ảnh hưởng từ khủng hoảng của kinh tế thế giới mà lợi nhuận công ty thu được trong thời gian này cũng
bị ảnh hưởng Năm 2007, lợi nhuận trước thuế chỉ đạt trên 5 tỷ đồng Sang đến năm 2008, tuy tình hình kinh tế vẫn chưa phục hồi nhưng do ảnh hưởng từ sự khan hiếm lương thực toàn cầu, mà giá thu mua lúa gạo trên thế giới tăng cao đột biến so với năm 2007 Đem về lợi nhuận khá cao cho công ty trong năm đạt gần 50 tỷ đồng, tăng 8,5 lần so với năm trước Đến năm 2009, tình hình giá cả ổn định trở lại, trong khi tình hình khủng hoảng kinh tế vẫn chưa phục hồi nên lợi nhuận trước thuế thu được vẫn thấp chỉ đạt gần 9 tỷ đồng, nhưng vẫn cao hơn so với năm 2007 Năm 2010, tình hình xuất khẩu gạo của Công ty vẫn không khả quan, sản lượng xuất khẩu trong thời gian này giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ đã giảm 30% so với cùng kỳ năm 2009, lợi nhuận gộp cũng giảm 8% Tuy nhiên, thu nhập từ các hoạt động khác của công ty đều tăng sau đợt khủng hoảng vừa qua, đã kéo lợi nhuận sau thuế của công ty tăng lên 102% so với cùng kỳ năm trước.
Trang 16PHẦN 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GẠO TẠI CÔNG TY LƯƠNG THỰC THANH NGHỆ TĨNH
2.1 Thực trạng xuất khẩu gạo tại công ty Lương thực Thanh Nghệ Tĩnh
2.1.1 Tổ chức thu mua, chế biến và phân phối
2.1.1.1 Tổ chức thu mua và chế biến
Từ năm 1998 trở về trước, Công ty chỉ thu mua gạo thành phẩm từ các kênh sau đó xuất khẩu theo hợp đồng, mà không đảm nhận khâu chế biến gạo Khu vực thu mua bao gồm các quận, huyện trong thành phố và các tỉnh lân cận Do thu mua từ nhiều kênh khác nhau nên chất lượng gạo không đều, giá xuất khẩu thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước Ngoài ra, còn phải chịu sự
lệ thuộc vào nguồn cung gạo thành phẩm của thị trường.
Để khắc phục các nhược điểm này, Công ty đã quyết định xây dựng hai nhà máy chế biến gạo với dây chuyền lau bóng gạo đạt công suất 7 tấn/giờ, trị giá 190.000 USD trong năm 2000 Từ đó đến nay, Công ty chủ yếu thu mua gạo nguyên liệu qua hai xí nghiệp này
để chế biến Nguồn cung cấp là các bạn hàng xáo trong tỉnh thành phố, và các tỉnh lân cận nữa.
Hiện nay, Công ty chỉ thu mua gạo thành phẩm khi khối lượng hợp đồng xuất khẩu quá lớn Dự kiến trong năm 2011, Công ty sẽ bắt đầu xây dựng thêm 2 nhà máy xay xát, thu mua lúa trực tiếp từ nông dân, và một nhà máy chế biến gạo, để tăng sản lượng gạo đầu ra phục vụ xuất khẩu Ngoài ra trong tương lai, Công ty cũng sẽ không thu mua gạo thành phẩm từ các kênh, và đẩy mạnh thu mua lúa trực tiếp từ nông dân nhằm giảm chí phí thu mua, giúp tăng lợi nhuận Việc này rất có lợi cho sự phát triển của Công ty trong tương lai Vừa giảm
sự lệ thuộc và nguồn cung gạo thành phẩm trên thị trường, vừa tạo ra được sản phẩm có chất lượng cao, đồng đều, theo đúng yêu cầu từ phía khách hàng Từ đó, nâng cao sức cạnh tranh của Công ty trên thị trường trong nước cũng như quốc tế Việc tiến hành thu mua của công ty rất linh hoạt, thường là sau các vụ thu hoạch lúa hằng năm, hoặc theo tình hình của thị trường và hợp đồng xuất khẩu.
Gạo nguyên liệu được mua là gạo xô, đã được bóc bỏ Sau đó, sẽ được đưa vào máy lau bóng để sản xuất ra gạo thành phẩm Quy trình chế biến theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.1: Quy trình chế biến gạo của Công ty Lương thực
Trang 17Thanh Nghệ Tĩnh
Nguồn: Phòng kinh doanh
Trang 182.1.1.2 Phân phối
Công ty phân phối gạo qua hai hình thức: ủy thác xuất khẩu và xuất khẩu trực tiếp.
- Xuất khẩu ủy thác: được thực hiện theo sự chỉ đạo của Hiệp hội Lương thực Việt Nam thông qua các hợp đồng đấu thầu cấp chính phủ, giảm được sự cạnh tranh trong nước Tuy giá cả tương đối cao và đầu ra ổn định nhưng phải chịu sự lệ thuộc vào hoạt động của Hiệp hội.
- Xuất khẩu trực tiếp: cho các doanh nghiệp tư nhân nước ngoài, giá cả phải cạnh tranh nên thông thường không cao bằng xuất khẩu theo hình thức ủy thác Tuy nhiên, xuất khẩu với hình thức này, tạo được sự độc lập trong hoạt động kinh doanh, không lệ thuộc vào các
tổ chức hay doanh nghiệp khác trong Hiệp hội.
Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tư nhân, hay chính phủ các nước sau khi mua gạo từ Công ty sẽ phân phối lại cho các doanh nghiệp ở thị trường nước ngoài, rồi mới đến tay người tiêu dùng Do đó, Công ty chỉ tạo được uy tín đối với các nhà xuất nhập khẩu Thương hiệu của công ty vẫn chưa được người tiêu dùng ở thị trường nước ngoài biết đến.
2.1.2 Thị trường xuất khẩu gạo chủ yếu của Công ty
Trong kinh doanh xuất khẩu nói chung và xuất khẩu gạo nói riêng, việc tìm kiếm thị trường là vấn đề quan trọng, bảo đảm cho hoạt động kinh doanh diễn ra đạt hiệu quả cao Thị trường xuất khẩu của Công ty tương đối hẹp, số thị trường xuất khẩu dao động từ 3 đến 5 thị trường mỗi năm, bao gồm các nước ở khu vực châu Á và châu Phi Nhìn chung các thị trường biến đổi qua từng năm Trong đó, có một số thị trường ở Châu Phi chỉ nhập khẩu được một hoặc hai năm rồi dừng hẳn Tuy nhiên, thay vào đó là sự tiếp cận của các khách hàng mới Chính vì vậy mà hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo của Công ty vẫn được duy trì và phát triển trong các năm qua Các thị trường đáng chú ý là Malaysia, Philippines, các thị trường này liên tục nhập khẩu gạo từ Công ty trong giai đoạn 2007 – 2010
Bảng 2.1: Thị trường xuất khẩu gạo chủ yếu của công ty Lương thực Thanh Nghệ Tĩnh
Đơn vi: Tấn
Thị trường Năm
2007
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
Trang 19Nguồn: Phòng kinh tế đối ngoại
Thị trường Malaysia: Là một trong các thị trường truyền thống, khách hàng quen thuộc của Công ty Xuất khẩu gạo sang thị
trường này thường là với hình thức xuất khẩu trực tiếp Đây được xem là thị trường lớn của Công ty trong nhiều năm qua, tuy nhiên từ năm 2009 trở lại đây, khối lượng xuất khẩu sang thị trường này có sự sụt giảm đáng kể Năm 2007 đạt 6.350 tấn sau đó tăng lên mức 7.100 tấn năm 2008, tăng 12% so với năm 2007 Nhưng đến năm 2009, thị trường này bắt đầu suy giảm, khối lượng xuất khẩu chỉ đạt 685 tấn, giảm đến 90% so với năm trước Nguyên nhân chủ yếu của sự suy giảm mạnh này là do trong năm 2009, Chính phủ nước ta đã ban hành chính sách buộc các doanh nghiệp phải giảm lượng gạo xuất khẩu sang thị trường này Để tập trung gạo vào hợp đồng xuất khẩu cấp chính phủ thông qua hình thức đấu thầu Mục mục tiêu nhằm tăng giá xuất khẩu sang Malaysia, tránh tình trạng một số doanh nghiệp muốn nâng cao khối lượng xuất khẩu mà giảm giá, gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩu gạo khác trong Hiệp hội Tuy nhiên, đến năm 2010, lượng gạo được phép xuất khẩu sang thị trường này tăng lên Tình hình bắt đầu có xu hướng phục hồi trở lại, khối lượng xuất khẩu đạt 800 tấn, cao hơn 115 tấn so với năm 2009, tăng 17%.
Thị trường Philippines: Philippines là thị trường tập trung của chính phủ Chủ yếu được xuất khẩu với hình thức ủy thác qua Hiệp
hội Lương thực Việt Nam Trực tiếp xuất khẩu sang thị trường này chiếm tỷ lệ nhỏ Đây là thị trường có hợp đồng xuất khẩu với số lượng lớn nhất trong giai đoạn này Đặc biệt năm 2008, đạt tăng trưởng rất cao với sản lượng 19.322 tấn tăng 107% so với năm 2007 do nước này đẩy mạnh thu mua gạo để bù đắp tình trạng thiếu lương thực trầm trọng xảy ra trong năm Sang năm 2009 tình hình ở Philippines ổn định trở lại, sản lượng xuất khẩu trong năm từ đó cũng giảm 63% chỉ còn 7.115 tấn, ứng với mức giảm 12.207 tấn Năm 2010, xuất khẩu sang thị trường này đạt 9.600 tấn, tăng 35% so với 7.115 tấn của năm 2009.
Trang 20Thị trường Châu Phi: Thị trường Châu Phi bắt đầu nhập khẩu gạo của Công ty từ năm 2007, sang các năm sau này càng có nhiều
nước Châu Phi ký kết hợp đồng với công ty Tuy nhiên, thị trường này mới phát triển nên khối lượng hợp đồng ký kết chưa cao, do khách hàng cẩn thận trong việc giao dịch lần đầu với công ty Nhưng đây vẫn được xem là thị trường tiềm năng Sản lượng xuất khẩu sang thị trường này tăng giảm không đều trong giai đoạn từ năm 2007-2010 Trong năm 2007, sản lượng xuất sang thị trường này đạt 6.529 tấn, nhưng đến năm 2008 chỉ còn 2000 tấn, giảm 69% so với năm trước Sang năm 2009, tình hình khả quan hơn với sản lượng xuất sang đạt 4.779 tấn, cao hơn năm 2008 là 2.779 tấn, tăng 139% Cho thấy tiềm năng phát triển của thị trường này trong tương lai Đến năm 2010, sản lượng lại tiếp tục tăng thêm 721 tấn tương ứng với lượng tăng 15% so với năm 2009, đạt mức 5500 tấn.
Các thị trường còn lại: Thị trường Indonesia có khối lượng nhập khẩu trong năm 2007 khá cao đạt gần 6 ngàn tấn, tuy nhiên đến
năm 2008 đã sụt giảm đáng kể, chỉ còn 250 tấn, giảm 96% so với năm trước Đến năm 2009 thị trường này cũng đã ngừng nhập khẩu Do
từ năm 2008, chính phủ nước này bắt đầu thực hiện chính sách thúc đẩy sản xuất gạo trong nước, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Đến năm 2009, Indonesia đã có thể tự cung cấp lương thực cho cả nước và trở thành nước xuất khẩu gạo, nên không còn nhập khẩu gạo từ Công ty.
Thị trường Singapore có hợp đồng xuất khẩu không liên tục và bị gián đoạn qua từng năm Trong đó năm 2007, có khối lượng xuất khẩu 1.680 tấn, nhưng đến năm 2008 thì không có hợp đồng xuất khẩu Đến năm 2009, lại đạt khối lượng 11.800 tấn, cao nhất trong năm 2009 Nhưng trong năm 2010, vẫn chưa có hợp đồng xuất khẩu với thị trường này Nguyên nhân là do thị trường này có khá nhiều nguồn cung cấp Chỉ tìm đến Công ty, khi giá của các đối thủ cạnh tranh quá cao, hoặc không đủ nguồn hàng cung cấp.
2.1.3 Quy trình xuất khẩu gạo tại Công ty Lương thực Thanh Nghệ Tĩnh
Quy trình hoạt động xuất khẩu của Công ty Lương thực Thanh Nghệ TĨnh được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ quy trình xuất khẩu của Công ty Lương thực
Thanh Nghệ Tĩnh
Trang 21Quá trình đàm phán sẽ kết thúc khi hai bên đạt được thỏa thuận về giá cả và chi phí sẽ tiến hành ký kết một hợpđồng nguyên tắc, sau đó hai bên về kiểm tra cụ thể tính toán hợp lý xem phương án có khả thi hay không sau đó sẽ quyếtđịnh đi đến việc ký hợp đồng chính thức và các điều khoản trở nên cụ thể và rõ ràng hơn.
2.1.3.2 Kiểm tra L/C
Sau khi ký kết hợp đồng với bên nhập khẩu Công ty Lương thực Thanh Nghệ Tĩnh sẽ được bên nhập khẩu sẽ tiếnhàng phát hành bảo lãnh thanh toán tại ngân hàng mà bên nhập khẩu chỉ định (Công ty thường chỉ định phát hành bảolãnh tại ngân hàng VietComBank) Sau đó Công ty sẽ được ngân hàng thông báo đã có bảo lãnh thanh toán về đến nơi thì