1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giá trị pháp lý của văn bản công chứng trong việc giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử từ một số ví dụ trên thực tế

24 66 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 382 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giá trị pháp lý của văn bản công chứng trong việc giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử từ một số ví dụ trên thực tế

Trang 1

I MỞ ĐẦU

“Công chứng là một nghề cao quý, bởi hoạt động công chứng bảo đảm tính an toàn pháp lý, ngăn ngừa tranh chấp, giảm thiểu rủi ro cho các hợp đồng, giao dịch, qua đó bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.” 1

Từ quy định của pháp luật đến nhu cầu của thực tiễn, ta nhận thấy hoạt động công chứng

đã trở thành “gác cổng” cho trật tự xã hội, phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật;đồng thời là công cụ hỗ trợ đắc lực cho Nhà nước ổn định xã hội, phát triển kinh tế Và,

để thực hiện được chức năng xã hội “cung cấp dịch vụ công do Nhà nước ủy nhiệm thựchiện”, một công chứng viên phải tạo ra những “sản phẩm” tốt về mọi mặt mà pháp luậtgọi đó là văn bản công chứng Tuy nhiên, hiện nay đã có rất nhiều văn bản công chứngkhi ban hành lại không thể thực hiện và thậm chí là không có giá trị pháp lý

Theo tổng hợp của trang thông tin điện tử có lượt truy cập cao và đáng tin cậy nhất

về lĩnh vực pháp luật – Thư viện pháp luật thì tính đến 07:40 ngày 13/03/2020, tác giả đãtổng hợp được 9 văn bản công chứng bị Tòa án tuyên là vô hiệu Con số này đã nói lên sựsai phạm nghiêm trọng của công chứng viên trong quá trình thực hiện công chứng

Văn bản công chứng là một “bằng chứng biết nói” vì cho dù công chứng viên cótrình độ chuyên môn giỏi hay kém, có phẩm chất đạo đức tốt hay không tốt thì khi cho ramột văn bản công chứng, chúng đều có giá trị pháp lý là như nhau Công chứng viên phảichịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người yêu cầu công chứng về văn bản côngchứng của mình Vì thế để hạn chế những rủi ro nghề nghiệp, giảm thiểu phát sinh nhữngtranh chấp thì ngay từ bước đầu tiên khi tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng, công chứngviên hiểu rõ về bản chất của vấn đề mà người yêu cầu công chứng đưa ra và hậu quả pháp

lý sau khi công chứng viên ký chứng nhận hợp đồng, giao dịch để nó trở thành văn bảncông chứng, từ đó đưa ra những phương hướng, cách thức giải quyết hồ sơ hợp lý, vìcông chứng là chứng nhận tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của hợpđồng, giao dịch, bản dịch

Khi nghiên cứu, tìm hiểu về văn bản công chứng, ta làm phải làm rõ được hai vấn đề

là bản chất và giá trị pháp lý của văn bản công chứng Từ nhiệm vụ trên, chúng ta mớiđưa ra được những giải pháp hoàn thiện trình độ chuyên môn nghiệp vụ của công chứngviên để làm sao có thể cho ra những văn bản công chứng xác thực, hợp pháp và không tráiđạo đức xã hội Theo đó bài báo cáo của tôi sẽ gồm sẽ 4 phần bàn về những quy định củapháp luật, thực tiễn áp dụng, nguyên nhân và giải pháp, kiến nghị xoay quanh văn bảncông chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng

II NỘI DUNG

1 Quy định của pháp luật

Trang 2

Thế nào được gọi là “văn bản”? Theo Từ điển tiếng Việt, văn bản là bản viết hoặcbản in, mang nội dung là những gì cần được ghi, chép để lưu lại làm bằng chứng.

“Công chứng” được hiểu là gì? Theo Điều 1 Luật Công chứng 2006 có hiệu lực từ

ngày 01/07/2007 thì“ Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính

hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sao đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn

bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoăc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng” Đến khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng 2014 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2015, thì công chứng được định nghĩa “là việc công chứng viên của một tổ chức

hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân

sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp,

không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước

ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.”

Từ hai định nghĩa trên, pháp luật đã đưa ra khái niệm hoàn thiện, chính xác về vănbản công chứng:

- “Hợp đồng, giao dịch bằng văn bản đã được công chứng theo quy định của Luật này gọi là văn bản công chứng.”- Khoản 1 Điều 4 Luật Công chứng 2006 có hiệu lực từ

ngày 01/07/2007;

- “Văn bản công chứng là hợp đồng, giao dịch, bản dịch đã được công chứng

viên chứng nhận theo quy định của Luật này”- Khoản 4 Điều 2 Luật Công chứng 2014 có

hiệu lực kể từ ngày 01/01/2015

Điểm mới về khái niệm văn bản công chứng của Luật Công chứng 2014 là văn bảncông chứng là bao gồm cả bản dịch Tuy nhiên, khi nghiên cứu pháp luật công chứng quacác thời kì, ta nhận thấy rằng về bản chất, quy định việc công chứng viên được chứngnhận bản dịch ở Luật Công chứng 2014 chính là kế thừa và phát huy tinh thần của Nghịđịnh 72/2000/NĐ-CP ban hành ngày 08/12/2000, chấm dứt hiệu lực vào ngày 01/07/2007

vì chức năng này đã được ghi nhận ở Điều 57 của Nghị định Điều này ngày càng khẳngđịnh tầm quan trọng của công chứng viên nói riêng và hoạt động công chứng nói chungkhi phạm vi công chứng ngày càng được Nhà nước mở rộng và hầu như trong mọi lĩnhvực của đời sống xã hội đều ít nhiều liên quan đến văn bản công chứng

1.1.2 Đặc điểm của văn bản công chứng

Như đã đề cập ở mục khái niệm, công chứng viên sẽ phải chứng nhận tính xácthực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch, tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức của

bản dịch Điều này được thông qua lời chứng của công chứng viên “Lời chứng của công chứng viên đối với hợp đồng, giao dịch phải ghi rõ thời điểm, địa điểm công chứng, họ, tên công chứng viên, tên tổ chức hành nghề công chứng; chứng nhận người tham gia hợp đồng, giao dịch hoàn toàn tự nguyện, có năng lực hành vi dân sự, mục đích, nội dung của hợp đồng, giao dịch không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ trong hợp đồng, giao dịch đúng là chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của người tham gia hợp đồng, giao dịch; trách nhiệm của công chứng viên đối với lời chứng; có

3

Trang 3

chữ ký của công chứng viên và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng.” 2 Từ đó, ta

có thể khái quát được một số đặc điểm cơ bản của văn bản công chứng như sau:

a Tính xác thực, chính xác

- Chính xác về thời điểm công chứng:

Thời điểm công chứng hợp đồng, giao dịch phải được cả ngày, tháng, năm và phảichính xác Sở dĩ phải chính xác vì đó là ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng, giao dịch và

từ thời điểm này, các bên tham gia, các cơ quan, tổ chức có thể được xác định hiệu lựccủa hợp đồng, giao dịch Trong một số trường hợp thời điểm công chứng còn có cả giờ,phút như công chứng di chúc, người yêu cầu công chứng đề nghị hoặc công chứng viênthấy cần thiết.3

Các con số phải được ghi cả bằng số và chữ, trừ trường hợp pháp luật có quy địnhkhác.4 Điều này tạo nên sự chính xác tuyệt đối của thời điểm công chứng hợp đồng, giaodịch; hạn chế tình trạng chỉnh sửa làm sai lệch thời điểm gây ảnh hưởng đến giá trị pháp

lý của văn bản công chứng

- Chính xác về địa điểm:

Văn bản công chứng phải thể hiện rõ địa điểm công chứng Việc công chứng phảiđược thực hiện tại trụ sở tổ chức hành nghề công chứng, trừ trường hợp quy định tạikhoản 2 Điều 43 Luật Công chứng.5

- Chính xác về chủ thể yêu cầu công chứng, chủ thể có liên quan đến hợp đồnggiao dịch và công chứng viên chứng nhận hợp đồng, giao dịch đó:

Chủ thể tham gia vào hợp đồng, giao dịch là cá nhân hoặc pháp nhân hoàn toàn tựnguyện có năng lực hành vi dân sự và là chủ thể có quyền tham gia vào hợp đồng, giaodịch đó (chữ ký hoặc dấu điểm chỉ trong hợp đồng, giao dịch đúng là chữ ký hoặc dấuđiểm chỉ của người tham gia hợp đồng, giao dịch) Những thông tin về chủ thể được thểhiện chính xác, đầy đủ theo giấy tờ tùy thân và các giấy tờ khác có liên quan mà họ cungcấp Tên công chứng viên chứng nhận hợp đồng, giao dịch phải ghi cả đúng cả họ, tên.Việc sai sót trong vấn đề này sẽ mang đến rủi ro cho công chứng viên, dễ xảy ra nhầmlẫn, tranh chấp, thậm chí là dẫn đến văn bản công chứng bị tuyên là vô hiệu

- Chính xác về nội dung:

Văn bản công chứng là sản phẩm của việc chính thức hóa, công khai hóa các sựkiện pháp lý Do đó ý chí, nguyện vọng của các bên tham gia phải được thể hiện rõ ràngtrong văn bản công chứng Đây sẽ tạo cơ sở cho việc thực hiện công chứng và là tiền đềcho các hoạt động pháp lý về sau

- Đảm bảo tính chính xác về hình thức:

2 Khoản 1 Điều 64 Luật Công Chứng 2014

3 Khoản 2 Điều 45 Luật Công chứng 2014

4 Khoản 2 Điều 45 Luật Công chứng 2014

5 Khoản 1 Điều 43 Luật Công chứng 2014

4

Trang 4

Văn bản công chứng phải đáp ứng các điều kiện của pháp luật về hình thức để đảmbảo tính chính xác và giá trị pháp lý của văn bản công chứng Ví dụ: người anh muốn tặngcho em ruột nhà đất thì hình thức văn bản bắt buộc phải là hợp đồng tặng cho mà khôngphải bất kì một hình thức văn bản chuyển nhượng nào khác; các bên yêu cầu công chứnghợp đồng cầm cố tài sản thì công chứng viên không thể soạn thảo và chứng nhận hợpđồng thế chấp mặc dù về mặt hình thức chúng tương tự nhau.

- Tuân thủ về các nguyên tắc, trình tự, thủ tục công chứng:

Một trong những nghĩa vụ của công chứng viên là phải chịu trách nhiệm trướcpháp luật và trước người yêu cầu công chứng về văn bản công chứng của mình6, do đócông chứng viên phải đảm bảo thực hiện đúng theo những nguyên tắc và trình tự, thủ tụccông chứng

Việc tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc và thủ tục, trình tự công chứng đem lại

sự an toàn pháp lý trước hết là bản thân công chứng viên, tiếp đó là người yêu cầu côngchứng và người có liên quan; đảm bảo giá trị pháp lý của văn bản công chứng, giảm thiểurủi ro và các tranh chấp có thể xảy ra

b Tính hợp pháp, không trái đạo đức xã hội

Sự phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội là điều kiện cần

để tạo nên giá trị pháp lý của văn bản công chứng Bởi lẽ, công chứng là việc công chứng

viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp

đồng, giao dịch, bản dịch Do đó, ngay từ bước tiếp nhận và xử lý hồ sơ yêu cầu côngchứng, công chứng viên phải có trách nhiệm xem xét nội dung của yêu cầu công chứng làphù hợp với quy định của pháp luật hiện hành và đạo đức xã hội hay không Ví dụ: côngchứng viên không thể công chứng hợp đồng chuyển nhượng, mua bán bất động sản ngoàiphạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ

sở7; công chứng viên không thể công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch liên quan đếntài sản, lợi ích của bản thân mình hoặc của những người thân thích8; hoặc công chứngviên không thể công chứng hợp đồng tặng cho mà những điều kiện tặng cho của ngườiyêu cầu công chứng trái với đạo đức xã hội

1.1.3 Cấu thành của một văn bản công chứng

ký sở hữu, sử dụng đối với tài sản (đối với tài sản phải đăng ký sở hữu theo quy định của

6 Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng 2014

7 Điều 42 Luật Công chứng 2014

8 Điểm c khoản 1 Điều 7 Luật Công chứng 2014

5

Trang 5

pháp luật); các thỏa thuận khác (nếu có); quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, người

có liên quan; các cam kết của các bên tham gia Và tất nhiên, việc ghi nhận của côngchứng viên những vấn đề trên của hợp đồng, giao dịch phải dựa trên sự xém xét nội dungyêu cầu công chứng ban đầu có phù hợp với quy định của pháp luật hay không, có trái vớiđạo đức xã hội hay không

Việc xem xét của công chứng viên có thể thực hiện bằng lời nói (công chứng viêntrực tiếp đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ về lý lịch nhân thân, tình trạng hônnhân, nguồn gốc đối tượng của hợp đồng, giao dịch hoặc ý chí, nguyện vọng của ngườiyêu cầu công chứng ) hoặc bằng văn bản (công chứng viên gửi văn bản xác minh, vănbản yêu cầu giám định đến các cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền )9 Công chứng

có thể thực hiện việc xem xét này vào bất kỳ giai đoạn nào, từ khâu tiếp nhận và xử lý hồ

sơ yêu cầu công chứng cho đến thao tác chứng nhận hợp đồng, giao dịch của công chứngviên Từ đây, người yêu cầu công chứng được tạo cơ hội và điều kiện thể hiện ý chí,nguyện vọng của mình theo đúng pháp luật, phù hợp với đạo đức xã hội; đảm bảo sự côngbằng trong các cam kết của họ

a2 Bản dịch

Như đã đề cập ở mục khái niệm văn bản công chứng, bản dịch là một điểm mớitrong hệ thống luật Việt Nam về chức năng của công chứng viên, được ghi nhận ở Luậtcông chứng 2014 mà cụ thể là Điều 61

Cũng giống như hợp đồng giao dịch, nội dung của bản dịch cũng cần được côngchứng viên xem xét về tính phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xãhội Tuy nhiên đối với bản dịch, công chứng viên sẽ không trực tiếp tiếp xúc với nội dungcủa bản dịch mà phải thông qua phiên dịch viên

Phiên dịch viên của tổ chức hành nghề công chứng làm việc dưới hình thức cộngtác viên, có bằng tốt nghiệp đại học ngoại ngữ hoặc đại học khác mà thông thạo thứ tiếngnước ngoài đó Hơn nữa, phiên dịch viên phải chịu trách nhiệm đối với tổ chức hành nghềcông chứng về tính chính xác, phù hợp của nội dung bản dịch do mình thực hiện.10

Về thủ tục: Công chứng viên sẽ tiếp nhận bản chính giấy tờ, văn bản cần dịch,kiểm tra và giao cho người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức mình thực hiện.11

b Lời chứng của công chứng viên

Như đã đề cập đến tính chính xác của văn bản công chứng, lời chứng của côngchứng viên giống như một ổ khóa, chốt chặt tất cả quá trình thực hiện công chứng hợpđồng, giao dịch, bản dịch; là sự đảm bảo cuối cùng của công chứng viên về tính xác thực,hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của văn bản công chứng

b1 Hợp đồng, giao dịch

9 Khoản 5 Điều 40 Luật Công chứng 2014

10 Khoản 1 Điều 61 Luật Công chứng 2014

11 Khoản 2 Điều 61 Luật Công chứng 2014

6

Trang 6

Lời chứng của công chứng viên đối với hợp đồng, giao dịch phải ghi rõ thời điểm,địa điểm công chứng, họ, tên công chứng viên, tên tổ chức hành nghề công chứng; chứngnhận người tham gia hợp đồng, giao dịch hoàn toàn tự nguyện, có năng lực hành vi dân

sự, mục đích, nội dung của hợp đồng, giao dịch không vi phạm pháp luật, không trái đạođức xã hội, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ trong hợp đồng, giao dịch đúng là chữ ký hoặc dấuđiểm chỉ của người tham gia hợp đồng, giao dịch; trách nhiệm của công chứng viên đốivới lời chứng; có chữ ký của công chứng viên và đóng dấu của tổ chức hành nghề côngchứng.12

Mẫu lời chứng của công chứng viên đối với hợp đồng, giao dịch do Bộ trưởng Bộ

Tư pháp quy định chi tiết13 và áp dụng theo Điều 22, 28 Thông tư 06/2015/TT-BTP, mẫu

số TP-CC-20 ban hành kèm theo Thông tư trên

Theo tham khảo của tôi về Tài liệu bồi dưỡng Nghề công chứng của Học viện Tư

pháp, Chuyên đề “Văn bản công chứng, văn bản chứng thực và giá trị pháp lý của văn bản công chứng, văn bản chứng thực” thì quan điểm của tác giả cho rằng cần có quy định

thêm về việc công chứng viên xác nhận đúng con dấu của tổ chức tham gia giao dịch.Điều này là có cơ sở pháp lý

Bởi lẽ khi pháp luật không quy định việc công chứng viên chứng nhận đúng condấu của tổ chức tham gia giao dịch thì có nghĩa đó không phải là nghĩa vụ của công chứngviên Đây sẽ gây ra mâu thuẫn với bản chất của công chứng là chứng nhận tính xác thực,hợp pháp của hợp đồng, giao dịch Hơn nữa, giả sử chữ ký, điểm chỉ trong hợp đồng, giaodịch là đúng với chữ ký, điểm chỉ của người đại diện theo pháp luật của tổ chức tham giagiao dịch nhưng con dấu không đúng với mẫu đăng ký con dấu mà doanh nghiệp thôngbáo với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia

về đăng ký doanh nghiệp hoặc đúng mẫu con dấu nhưng lại được làm giả thì nếu côngchứng viên chứng nhận hợp đồng, giao dịch trong trường hợp này có thể sẽ bị xử lý vi

phạm hành chính theo điểm g khoản 4 Điều 15 Nghị định 82/2020/NĐ-CP “Công chứng

hợp đồng, giao dịch có mục đích hoặc nội dung vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội; xúi giục, tạo điều kiện cho người tham gia hợp đồng, giao dịch thực hiện giao dịch giả

tạo hoặc hành vi gian dối khác; ” Như vậy, dựa trên quy định của pháp luật hiện hành

thì công chứng viên có quyền chứng nhận hoặc không chứng nhận đúng con dấu của tổchức tham gia giao dịch nhưng khi xảy ra tranh chấp, công chứng viên lại phải chịu tráchnhiệm Phải chăng đây là điều bất cập, vướng mắc trong công tác soạn thảo và ban hànhpháp luật của các nhà làm luật đối với hoạt động công chứng khi chưa có một quy định rõràng, cụ thể nào, dễ dẫn đến nguy cơ xung đột pháp luật

b2 Bản dịch

Lời chứng của công chứng viên đối với bản dịch phải ghi rõ thời điểm, địa điểmcông chứng, họ tên công chứng viên, tên tổ chức hành nghề công chứng; họ tên ngườiphiên dịch; chứng nhận chữ ký trong bản dịch đúng là chữ ký của người phiên dịch;

12 Khoản 1 Điều 46 Luật Công chứng 2014

13 Khoản 2 Điều 46 Luật Công chứng 2014

7

Trang 7

chứng nhận nội dung bản dịch là chính xác, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức

xã hội; có chữ ký của công chứng viên và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng.14

Mẫu lời chứng của công chứng viên đối với hợp đồng, giao dịch do Bộ trưởng Bộ

Tư pháp quy định chi tiết và áp dụng theo Điều 22, 28 Thông tư 06/2015/TT-BTP, mẫu sốTP-CC-21 ban hành kèm theo Thông tư trên

1.1.4 Hiệu lực của văn bản công chứng

Theo khoản 1 Điều 5 Luật Công chứng 2014 thì “Văn bản công chứng có hiệu lực

kể từ ngày được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng.”

Tuy nhiên chúng ta cần phân biệt rõ hiệu lực của bản công chứng với hiệu lực củahợp đồng vì trong một số trường hợp, thời điểm có hiệu lực của hai phạm trù này là

không trùng nhau Khoản 1 Điều 401 Bộ luật dân sự 2015 đã nêu rõ “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác.”

Tùy vào từng trường hợp cụ thể, từng đối tượng cụ thể của hợp đồng để xác địnhhiệu lực Theo đó:

- Đối với tài sản là quyền sở hữu nhà ở thì trường hợp mua bán, tặng cho, đổi, gópvốn, thế chấp nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì thời điểm cóhiệu lực của hợp đồng là thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng Trường hợp tổchức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương; mua bán, cho thuê mua nhà ở thuộc sở hữunhà nước; mua bán, cho thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở phục vụ tái định cư; góp vốn bằngnhà ở mà có một bên là tổ chức; cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ởthì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là do các bên thỏa thuận; trường hợp các bênkhông có thỏa thuận thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm ký kết hợpđồng.15

- Đối với tài sản là quyền sử dụng đất: thời điểm có hiệu lực đối với quyền sử đất

kể từ thời điểm đăng ký theo quy định của Luật Đất đai 2013.16

- Đối với bên thứ ba thì thời điểm có hiệu lực hợp đồng lại là thời điểm bên mua,bên thuê mua đã thanh toán đủ tiền mua, tiền thuê mua và đã nhận bàn giao nhà ở, trừtrường hợp các bên có thỏa thuận khác17; hoặc thời điểm có hiệu lực đối với quyền sửdụng đất là thời điểm có giấy chứng nhận18

Việc xác định thời điểm có hiệu lực của văn bản công chứng có ý nghĩa rất quantrọng trong hoạt động công chứng vì chỉ khi hợp đồng, giao dịch có hiệu lực, các bên mới

có cơ sở thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình Việc thực hiện quyền hoặc nghĩa vụtrước khi hợp đồng có hiệu lực có thể gây ra các thiệt hại, tranh chấp cho các bên tham

14 Khoản 3 Điều 61 Luật Công chứng 2014

15 Khoản 1, 2 Điều 122 Luật Nhà ở 2014

16 Điều 503 Bộ luật dân sự 2015

17 Khoản 1 Điều 12 Luật Nhà ở 2014

18 Khoản 1 Điều 168 Luật Đất đai 2013

8

Trang 8

gia hợp đồng, giao dịch và cho chính công chứng viên chứng nhận hợp đồng, giao dịch

đó.19

Ví dụ: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng kývào sổ địa chính, tuy nhiên ngay khi công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hànhnghề công chứng, các bên lại thực hiện giao và nhận tiền ngay Về sau, vì một lý do nào

đó, thủ tục đăng ký không được thực hiện, trong khi bên vay đã sử dụng hết số tiền đónhưng lại không có khả năng chi trả, như vậy quyền lợi của bên cho vay bị xâm phạm Vàcho dù khởi kiện ra Tòa án để giải quyết thì bên cho vay có thể không thu hồi được đủ sốtiền đã cho vay vì hai bên đã thực hiện nghĩa vụ khi hiệu lực của hợp đồng chưa phát sinh

Một trường hợp khác là đối với di chúc, thời điểm có hiệu lực là thời điểm mở thừa

kế Mà thời điểm mở thừa kế thời điểm người có tài sản chết20 Do đó, khi di chúc sau khiđược công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng thì người để lại

di sản vẫn có quyền sở hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản đó vì hiệu lực của dichúc vẫn chưa phát sinh

- Đối với hợp đồng thụ ủy: Trong trường hợp bên ủy quyền và bên được ủy quyềnkhông thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng thì bên ủy quyền có thể đến tổchức hành nghề công chứng nơi họ cư trú để yêu cầu thực hiện công chứng hợp đồng ủyquyền và không cần sự có mặt của bên nhận ủy quyền21 Nếu hiểu trên mặt câu chữ thì tấtnhiên hợp đồng ủy quyền của bên ủy quyền sẽ có hiệu lực ngay sau khi công chứng ký vàđóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng Tuy nhiên, nếu nhìn nhận vấn đề theohướng này là trái với bản chất của hợp đồng thụ ủy Vì chỉ khi bên được ủy quyền yêu cầu

tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng tiếp vào bản gốc hợp đồng ủyquyền này, hoàn tất thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền22 thì lúc này văn bản côngchứng mới chính thức có hiệu lực

Từ những phân tích trên, công chứng viên khi thực hiện chứng nhận các hợp đồng,giao dịch cần nắm rõ quy định của pháp luật về hiệu lực của hợp đồng, giao dịch để giảithích, tư vấn chính xác cho các bên tham gia, giúp họ nắm được thời điểm phát sinhquyền lợi và nghĩa vụ theo hợp đồng và có giá trị thực hiện Điều này đảm bảo lợi ích củacác bên tham gia không bị ảnh hưởng, xâm phạm đồng thời giảm thiểu tranh chấp phátsinh

1.2 Giá trị pháp lý của văn bản công chứng

Giá trị pháp lý của văn bản công chứng được quy định tại khoản 2 Điều 5 LuậtCông chứng 2014:

“2 Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác.

19 Trích Giáo trình Kỹ năng hành nghề công chứng – Tập 1 (Tái bản lần thứ hai)

20 Khoản 1 Điều 643, khoản 1 Điều 611 Bộ luật dân sự 2015

21 Khoản 2 Điều 55 Luật Công chứng 2014

22 Khoản 2 Điều 55 Luật Công chứng 2014

9

Trang 9

3 Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp

bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu.”

Từ đây ta thấy được văn bản công chứng mang hai giá trị pháp lý:

và thậm chí đối với hợp đồng được giao kết bằng lời nói, hành vi cụ thể thì không có cơ

sở pháp lý nào đủ thuyết phục để được bồi thường thiệt hại nếu một bên vi phạm Do đó,khi hoạt động công chứng ra đời đã đưa ra một cơ chế tối ưu hơn, yêu cầu của các bêntham gia giao dịch được đáp ứng gần như triệt để Vì sao lại như vậy?

Bởi lẽ giá trị thi hành của hợp đồng, giao dịch được công chứng không thu hẹptrong phạm vi đối với các bên tham gia mà còn cả với các bên liên quan, hơn nữa là đốivới các cơ quan Nhà nước (Cơ quan thuế, Văn phòng đăng ký đất đai, Ủy ban nhân dâncác cấp ) Không phải ngẫu nhiên mà Luật Đất đai 2013 hay Luật Nhà ở 2014 bắt buộccác hợp đồng liên quan đến chuyển dịch bất động sản và buộc đăng ký sở hữu đều phảithực hiện công chứng Vì trên cơ sở các hợp đồng, giao dịch được công chứng, các cánhân, cơ quan, tổ chức không chỉ xác định rõ sự thỏa thuận của các bên được tôn trọngthực hiện mà các giai đoạn về sau liên quan đến giao dịch dân sự đó cũng được đảm bảo

an toàn pháp lý, tuân thủ trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật

Dựa trên giá trị thi hành của hợp đồng, giao dịch được công chứng, trong trườnghợp một bên không thực hiện nghĩa vụ theo khế ước, bên còn lại có quyền yêu cầu Tòa ángiải quyết theo quy định của pháp luật và tất nhiên, có thể áp dụng cả những biện phápcưỡng chế buộc bên kia thi hành mà không cần phải xem xét đến tính hiệu lực và giá trịpháp lý của hợp đồng đó

Từ quy định pháp luật Việt Nam về tính thi hành của hợp đồng, giao dịch đượccông chứng, ta nhận thấy đây chính là sự kế thừa một phần hệ thống công chứng La tinh,văn bản công chứng (Hợp đồng, giao dịch) có giá trị như là một công chứng thư, có giá trịpháp lý bắt buộc thi hành không cần phải qua phán quyết của Tòa án và còn được xem làvận mệnh nghề nghiệp của công chứng viên.23

Trang 10

trở thành bằng chứng, chứng minh sự tồn tại của quyền lợi, nghĩa vụ và của sự kiện xảy

ra

Xét về bản chất, công chứng là hoạt động chứng nhận tính xác thực, hợp pháp,không trái đạo đức xã hội của hợp đồng, giao dịch Như vậy, các tình tiết, sự kiện pháp lýthể hiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng (về chủ thể tham gia hợp đồng, giaodịch; đối tượng của hợp đồng giao dịch; hình thức của hợp đồng giao dịch; thời gian, địađiểm, nội dung thể hiện ý chí và sự thống nhất một cách tự nguyện của các bên, về bảnchất thực của những thỏa thuận, cam kết mà các bên xác lập ) đã được phản ánh mộtcách chính xác, đảm bảo tuân thủ theo những quy tắc, trình tự, thủ tục luật định và hậuquả pháp lý chính là không cần phải đánh giá lại tính xác thực mà mặc nhiên xem đó làchứng cứ không thể phủ nhận Từ đó mà hợp đồng, giao dịch được công chứng mang đến

độ tin cậy cao và gần như là tuyệt đối, nó sẽ không vì một lý do hay một chế định củapháp luật nào đủ cơ sở để bác bỏ trong hoạt động chứng minh

Trong hoạt động tố tụng, giá trị chứng cứ của hợp đồng, giao dịch được côngchứng được thể hiện mạnh mẽ và rõ ràng nhất

Theo Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 định nghĩa: “chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp.” và Điều 94 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 liệt kê về các nguồn chứng

cứ, trong đó bao gồm cả văn bản công chứng, chứng thực

Trong các văn bản quy phạm pháp luật trước đây cũng đã ghi nhận giá trị chứng cứ

của hợp đồng, giao dịch được công chứng, rằng “Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ.” 24 hay “Các hợp đồng và giấy tờ đã được Công chứng Nhà nước chứng nhận hoặc Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền chứng thực có giá trị chứng

cứ, trừ trường hợp bị Toà án Nhân dân tuyên bố là vô hiệu.” 25

Có thể thấy qua các giai đoạn phát triển của lịch sự, chứng cứ lời nói (miệng) đãdần được thay thế bằng chứng cứ viết (văn bản, vật chứng, tài liệu, hình ảnh ) Hơn nữa,văn bản công (công chứng thư - văn bản được chứng nhận, chứng thực, xác nhận dongười có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật) mang giá trị pháp lý cao hơnvăn bản tư (tư chứng thư - văn bản do một cá nhân tự làm hoặc các cá nhân tự lập vớinhau) Những tình tiết, sự kiện được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thựchợp pháp thì không phải chứng minh Bởi khi công chứng, công chứng viên và ngườithực hiện công chứng phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật về côngchứng và các quy định khác có liên quan Dựa trên nguyên tắc hành nghề công chứng,công chứng viên và người thực hiện công chứng phải khách quan, trung thực, bắt buộcbiết hoặc phải biết việc công chứng hoặc nội dung yêu cầu công chứng có phù hợp vớiquy định pháp luật hay không, có trái với đạo đức xã hội hay không

24 Điều 1 Nghị định 45-HĐBT ngày 27/02/1991

25 Điều 1 Nghị định 30/CP ngày 18/05/1996

11

Trang 11

Xét đến chức năng xã hội của công chứng viên thì công chứng viên cung cấp dịch

vụ công do Nhà nước ủy nhiệm thực hiện26, tức là chỉ có công chứng viên mới được nhândanh Nhà nước chứng nhận các hợp đồng, giao dịch Mà đã mang trách nhiệm nhân danhNhà nước thì những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch đã được công chứng viênchứng nhận phải xác thực, hợp pháp và sẽ mặc nhiên trở thành chứng cứ trước Tòa án.Điều này khác hẳn so với những hợp đồng, giao dịch khác không được công chứng (nhưhợp đồng, giao dịch do luật sự soạn thảo và làm chứng) thì lại không có giá trị pháp lý, nóchỉ trở thành chứng cứ khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định theo trình tự,thủ tục luật định Có thể nói vui, văn bản công chứng (hợp đồng, giao dịch) chính là chân

lý Mà cái gì thuộc về chân lý thì phải chấp nhận chứ không thể chứng minh hay bác bỏ

Tuy nhiên, không thể khẳng định văn bản công chứng (hợp đồng, giao dịch) có giátrị chứng cứ mãi mãi Khi các điều kiện về pháp luật và đạo đức xã hội không được tuânthủ, đảm bảo thì Tòa án có quyền tuyên bố là vô hiệu Nói một cách hóm hỉnh như thếnày, chúng ta hãy tưởng tưởng văn bản công chứng (hợp đồng, giao dịch) giống như Học

thuyết “Trái Đất thì đứng yên, là trung tâm của vũ trụ, Mặt Trời, Mặt Trăng và các thiên thể khác quay quanh Trái Đất” Nó được xem là chân lý từ thời Hy Lạp cổ đại và được cả

Aristotle (384 - 322 TCN) - một trong số những nhà triết học vĩ đại nhất thời bấy giờ ủng

hộ tuyệt đối Cho đến tận thế kỉ XVI, Nicolaus Copernicus (1473 - 1543) là nhà thiên vănhọc người Ba Lan đã đưa ra thuyết nhật tâm (ngược với thuyết địa tâm), cho rằng MặtTrời là trung tâm của vũ trụ, các hành tinh quay xung quanh Mặt Trời, Trái Đất quayxung quanh trục của nó trong khi chuyển động quanh Mặt Trời Một trong những ngườidám đứng ra ủng hộ và bảo vệ học thuyết của Copernicus chính là Galileo Galilei (1564 -1642) Ông đã viết cuốn sách “Đối thoại về hai hệ thống thế giới”, xây dựng lập luận

để ủng hộ học thuyết của Copernicus, phản đối quan điểm độc đoán của nhà thờ lúcbấy giờ và chống lại thuyết địa tâm đã thống trị từ rất lâu Và mãi hơn 300 năm sau,Giáo hoàng La Mã đã công nhận rằng Galileo Galilei đã đúng Người đời về sau khi

nhắc đến ông thì luôn nhớ đến câu nói nổi tiếng lúc bấy giờ “Dù sao Trái Đất vẫn quay!” 27

Nói như thế để ta thấy rằng văn bản công chứng (hợp đồng, giao dịch) sẽ có giátrị chứng cứ cho đến khi có ý kiến phản bác đưa ra được những chứng cứ ngược lại vàphải tiến hành theo thủ tục tố tụng dân sự.28

* Giá trị pháp lý của bản dịch:

Tại khoản 4 Điều 5 Luật Công chứng 2014 quy định “Bản dịch được công chứng

có giá trị sử dụng như giấy tờ, văn bản được dịch.”

Như vậy, khác với hợp đồng, giao dịch đã được công chứng, bản dịch chỉ có giá trị

sử dụng Thoáng qua, ta thấy có vẻ pháp luật Việt Nam không mặn mà gì với văn bảncông chứng là bản dịch Tuy nhiên, với quan điểm của cá nhân tôi, đây là một quy địnhkhá hợp lý và có cơ sở lý luận từ chức năng công chứng bản dịch của công chứng viên

26 Điều 3 Luật Công chứng 2014

27 du-sao-trai-dat-van-quay/

https://thienvandanang.com/kham-pha/danh-nhan-thien-van/cac-nha-thien-van-the-gioi/galileo-galilei-va-chan-ly-28 Trích Tài liệu Bồi dưỡng nghề công chứng do Học viện Tư pháp biên soạn

12

Trang 12

Bởi lẽ, theo những phân tích ở mục “lời chứng của bản dịch”, trình độ ngoại ngữcủa các công chứng viên bị hạn chế Đối với một người có chuyên môn về ngoại ngữ,thậm chí là ở trình độ thông thạo thì chưa hẳn họ đã có hiểu biết về những thứ tiếng trênthế giới (ở đây ta chỉ bàn đến những thứ tiếng được xem là thông dụng) Và một côngchứng viên dù có giỏi ngoại ngữ đến mấy thì cũng không dám “vỗ ngực xưng tên” rằngnội dung bản dịch là chính xác hoàn toàn Niềm tin của công chứng viên lúc này sẽ đặthết vào phiên dịch viên Mà một khi đã gọi là “niềm tin” thì không có cơ sở pháp lý rõràng, chính xác Và khi không có cơ sở pháp lý chính xác thì bản dịch được công chứngkhông thể trở thành một chứng cứ, những tình tiết, sự kiện có trong bản dịch được côngchứng có thể bị phản bác nếu có một bản dịch chính xác, phù hợp hơn hoặc thậm chí làmâu thuẫn với bản dịch trước đó.

Xét về bản chất, phiên dịch viên đơn thuần là cộng tác viên của tổ chức hành nghềcông chứng Họ chỉ phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, phù hợp của nội dung bảndịch do mình thực hiện29 Còn công chứng viên phải chịu trách nhiệm về nội dung bảndịch cả về tính chính xác, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội30 Như vậy,quy định pháp luật đưa ra có phải đang làm khó cho công chứng viên và buộc họ thựchiện nghĩa vụ của người khác hay không?

Chúng ta có thể hình dung thế này, bản dịch giống như những nguyên liệu ban đầu

để tạo ra một món ăn Phiên dịch viên đóng vai trò như một đầu bếp Họ sẽ dùng nhữngnguyên liệu này kết hợp cùng gia vị và công thức của riêng họ để chế biến thành một món

ăn Và trước khi đến được tay của thực khách thì món ăn phải trải qua sự kiểm tra của banthẩm định – công chứng viên Vấn đề vướng mắc đã xuất hiện

Ban thẩm định phải đảm bảo chất lượng món ăn là tốt nhất, trình tự, công đoạn chếbiến ra món ăn là phù hợp theo quy định, vệ sinh an toàn thực phẩm được tuân thủ mộtcách nghiêm ngặt Và một điều hiển nhiên, họ không thể nào biết được những tiêu chí đặt

ra là có thật hay không khi món ăn đó không phải do họ chế biến Như vậy, ban thẩm địnhchỉ có thể đặt niềm tin vào đầu bếp và đưa ra những đánh giá chủ quan để món ăn có thểnhanh chóng, kịp thời phục vụ thực khách

Qua những phân tích trên, ta thấy mặc dù pháp luật Việt Nam trao quyền cho côngchứng viên là công chứng bản dịch nhưng cũng hạn chế giá trị của loại văn bản côngchứng này Nói cách khác, bản dịch được công chứng chỉ có giá trị sử dụng và nếu trongquá trình chứng minh, bản dịch được công chứng cũng không thể nào mặc nhiên trở thànhnguồn chứng cứ Và để xem nó là xác thực, hợp pháp thì cần các cơ quan nhà nước cóthẩm quyền xác định theo trình tự, thủ tục luật định

1.3 Yêu cầu đối với văn bản công chứng một hợp đồng, giao dịch

1.3.1 Yêu cầu về chữ viết

29 Khoản 1, Điều 6 Luật Công chứng 2014

30 Khoản 1, Điều 6 Luật Công chứng 2014

13

Ngày đăng: 24/10/2021, 20:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w