Phạm trù vật chất là một trong những phạm trù cơ bản của triết học duy vật. Việc nhận thức đúng đắn nội dung của phạm trù này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để khẳng định tính chất khoa học, đúng đắn của quan điểm duy vật biện chứng về thế giới. Việc khám phá bản chất và cấu trúc của sự tồn tại của thế giới xung quanh ta, mà trước hết là thế giới những vật thể hữu hình, từ xưa tới nay, luôn luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong lịch sử nhận thức của nhân loại. Hầu hết các trường phái triết học đều bằng cách này hay bằng cách khác giải quyết vấn đề này. Và bởi vậy trong triết học, phạm trù vật chất xuất hiện. Phương pháp luận Mác Lênin cho chúng ta có phương pháp khách quan, đúng đắn nhất để nhìn nhận, đánh giá các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống. Nắm vững phương pháp luận triết học có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi người trên cương vị công tác khác nhau, là cơ sở để tiếp cận công việc, giải quyết công việc hiệu quả. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề “Vận dụng phương pháp luận triết học để giải thích nhận định sau đây và rút ra ý nghĩa đối với công việc đang đảm nhiệm: “Những ai có thể đặt mình vào vị trí của người khác, những ai có thể hiểu những suy tư, cảm nhận của mọi người thì không bao giờ phải lo lắng cho tương lai” làm đề tài tiểu luận có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Trang 1KHOA …
TIỂU LUẬN VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRIẾT HỌC ĐỂ GIẢI THÍCH NHẬN ĐỊNH SAU ĐÂY VÀ RÚT RA Ý NGHĨA ĐỐI VỚI CÔNG VIỆC ĐANG ĐẢM NHIỆM: “NHỮNG AI CÓ THỂ ĐẶT MÌNH VÀO
VỊ TRÍ CỦA NGƯỜI KHÁC, NHỮNG AI CÓ THỂ HIỂU NHỮNG SUY TƯ, CẢM NHẬN CỦA MỌI NGƯỜI THÌ KHÔNG BAO GIỜ
PHẢI LO LẮNG CHO TƯƠNG LAI”.
Họ tên học viên:……….
Lớp:……….,
- 2021
Trang 2MỤC LỤC
Trang
I.
CƠ SỞ LÝ LUẬN GIẢI THÍCH NHẬN ĐỊNH
“NHỮNG AI CÓ THỂ ĐẶT MÌNH VÀO VỊ TRÍ CỦA NGƯỜI KHÁC, NHỮNG AI CÓ THỂ HIỂU NHỮNG SUY TƯ, CẢM NHẬN CỦA MỌI NGƯỜI THÌ KHÔNG BAO GIỜ PHẢI LO LẮNG CHO TƯƠNG LAI”
2
1.2 Quan niệm của triết học Mác - Lênin về phạm trù vật chất,
II.
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRIẾT HỌC ĐỂ GIẢI THÍCH NHẬN ĐỊNH “NHỮNG
AI CÓ THỂ ĐẶT MÌNH VÀO VỊ TRÍ CỦA NGƯỜI KHÁC, NHỮNG AI CÓ THỂ HIỂU NHỮNG SUY TƯ, CẢM NHẬN CỦA MỌI NGƯỜI THÌ KHÔNG BAO GIỜ PHẢI LO LẮNG CHO TƯƠNG LAI” - RÚT RA Ý NGHĨA
7
2.1
Vận dụng phương pháp luận triết học để giải thích nhận định “Những ai có thể đặt mình vào vị trí của người khác, những ai có thể hiểu những suy tư, cảm nhận của mọi người thì không bao giờ phải lo lắng cho tương lai”
7
2.2 Rút ra ý nghĩa đối với công việc tại ngân hàng 9
Trang 3MỞ ĐẦU
Phạm trù vật chất là một trong những phạm trù cơ bản của triết học duy vật Việc nhận thức đúng đắn nội dung của phạm trù này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để khẳng định tính chất khoa học, đúng đắn của quan điểm duy vật biện chứng về thế giới
Việc khám phá bản chất và cấu trúc của sự tồn tại của thế giới xung quanh
ta, mà trước hết là thế giới những vật thể hữu hình, từ xưa tới nay, luôn luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong lịch sử nhận thức của nhân loại Hầu hết các trường phái triết học đều bằng cách này hay bằng cách khác giải quyết vấn
đề này Và bởi vậy trong triết học, phạm trù vật chất xuất hiện
Phương pháp luận Mác - Lênin cho chúng ta có phương pháp khách quan, đúng đắn nhất để nhìn nhận, đánh giá các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống Nắm vững phương pháp luận triết học có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi người trên cương vị công tác khác nhau, là cơ sở để tiếp cận công việc, giải quyết công
việc hiệu quả Vì vậy, nghiên cứu vấn đề “Vận dụng phương pháp luận triết
học để giải thích nhận định sau đây và rút ra ý nghĩa đối với công việc đang đảm nhiệm: “Những ai có thể đặt mình vào vị trí của người khác, những ai
có thể hiểu những suy tư, cảm nhận của mọi người thì không bao giờ phải lo lắng cho tương lai” làm đề tài tiểu luận có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Trang 4NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN GIẢI THÍCH NHẬN ĐỊNH “NHỮNG AI CÓ THỂ ĐẶT MÌNH VÀO VỊ TRÍ CỦA NGƯỜI KHÁC, NHỮNG AI CÓ THỂ HIỂU NHỮNG SUY TƯ, CẢM NHẬN CỦA MỌI NGƯỜI THÌ KHÔNG BAO GIỜ PHẢI LO LẮNG CHO TƯƠNG LAI”
1.1 Phương pháp luận triết học
Thuật ngữ phương pháp có gốc từ tiếng Hy Lạp cổ là methodos (với
nghĩa là con đường, công cụ nhận thức)
Hiểu một cách vắn tắt, phương pháp là cách thức, thủ đoạn để thực hiện mục đích đã đặt ra, là hoạt động được sắp xếp theo một trật tự nhất định
Theo nghĩa chung nhất, phương pháp là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức
và hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định
Phương pháp là phạm trù gắn liền với hoạt động có ý thức của con người, phản ánh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người
Phương pháp bao giờ cũng là sự thống nhất giữa khách quan và chủ quan Phương pháp chỉ đứng khỉ nó phù hợp với khách thể nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người, khỉ xuất phát từ khách thể đó
Căn cứ vào tính phổ biến của phương pháp, người ta chia thành phương pháp riêng, phương pháp chung và phương pháp phổ biến Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động của con người, người ta chia thành phương pháp nhận thức và phương pháp hoạt động thực tiễn Mặc dù vậy, các phương pháp này có quan hệ chặt chẽ với nhau
Khác với các khoa học cụ thể, triết học Mác - Lênin đề ra phương pháp nhận thức chung nhất, đó là phương pháp biện chứng duy vật Phương pháp này không thay thế phương pháp của các ngành khoa học khác mà là cơ sở lý luận chung của các ngành khoa học và được dùng làm công cụ nhận thức trong mọi lĩnh vực
Phương pháp luận Hiểu một cách vắn tắt, phương pháp luận là lý luận về
phương pháp, là khoa học về phương pháp
Trang 5Phương pháp luận giải quyết các vấn đề như: Phương pháp là gì; bản chất, nội dung, hình thức của phương pháp là thế nào; phương pháp có bao nhiêu loại, tiêu chí phân loại phương pháp là gì; phương pháp có vai trò như thế nào đối với hoạt động nhận thức (nhất là nhận thức khoa học) và hoạt động thực tiễn của con người, v.v
Với nghĩa chung nhất, phương pháp luận là hệ thống quan điểm, nguyên tắc xuất phát có vai trò chỉ đạo trong việc xác định phương pháp cụ thể cũng như xác định phạm vỉ, khả năng áp dụng chúng một cách hợp lý và có hiệu quả
Vai trò phương pháp luận của phép biện chứng duy vật trong nhận thức khoa học và hoạt động cải tạo xã hội.
Trong hoạt động thực tiễn, để cải biến sự vật, tạo nên sự thay đổi về chất, đòi hỏi chúng ta phải quán triệt sâu sắc quan điểm toàn diện, đồng bộ; quan điểm phát triển; lựa chọn những biện pháp, phương tiện phù hợp để tác động vào đối tượng sao cho có hiệu quả nhất nhưng lại ít chi phí nhất
Trong quá trình tác động vào đối tượng, một mặt, chúng ta phải chú ý đến
sự đồng bộ, hệ thống về phương pháp, về phương tiện, về tính toàn vẹn trong sự tác động, lựa chọn phương pháp tối ưu Mặt khác, phải xác định đâu là trọng tâm, trọng điểm; đâu là phương pháp có tính chất trung gian Không được sử dụng các phương pháp một cách ngang bằng nhau
Phương pháp, phương tiện sử dụng để tác động vào đối tượng phải linh hoạt, mềm dẻo; phải quán triệt nguyên tắc lịch sử - cụ thể Tư duy của chúng ta chỉ có thể là chân thực, đúng đắn khi nó theo sát sự vận động, biến đổi của hoàn cảnh, của đối tượng nhận thức Mỗi khi tình hình thực tế có sự thay đổi, đòi hỏi chúng ta phải lựa chọn phương pháp tác động phù hợp để có hiệu quả cao nhất
1.2 Quan niệm của triết học Mác - Lênin về phạm trù vật chất, không gian, thời gian
C.Mác và Ph Ăngghen trong khi đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, thuyết bất khả tri và phê phán chủ nghĩa duy vật siêu hình, máy móc đã đưa ra những tư tưởng hết sức thiên tài về vật chất Theo Ph.Ăngghen, để có một quan niệm đúng đắn về vật chất, cần phải có sự phân biệt rõ ràng giữa vật chất với
Trang 6tính cách là một phạm trù của triết học, một sáng tạo của tư duy con người trong quá trình phản ánh hiện thực, tức vật chất với tính cách là vật chất, với bản thân các sự vật, hiện tượng cụ thể của thế giới vật chất
Bởi vì “vật chất với tính cách là vật chất, một sáng tạo thuần tuý của tư duy, và là một trừu tượng thuần tuý Do đó, khác với những vật chất nhất định
và đang tồn tại, vật chất với tính cách là vật chất không có sự tồn tại cảm tính” [1, tr.198] Đồng thời, Ph.Ăngghen cũng chỉ ra rằng, bản thân phạm trù vật chất cũng không phải là sự sáng tạo tuỳ tiện của tư duy con người, mà trái lại, là kết quả của con đường trừu tượng hoá của tư duy con người về các sự vật, hiện tượng có thể cảm biết được bằng các giác quan” [2, tr.319] Đặc biệt, Ph.Ăngghen khẳng định rằng, xét về thực chất, nội hàm của các phạm trù triết học nói chung, của phạm trù vật chất nói riêng chẳng qua chỉ là “sự tóm tắt trong chúng ta tập hợp theo những thuộc tính chung” [3, tr.410] của tính phong phú, muôn vẻ nhưng có thể cảm biết được bằng các giác quan của các sự vật, hiện tượng của thế giới vật chất Ph Ăngghen chỉ rõ, các sự vật, hiện tượng của thế giới, dù rất phong phú, muôn vẻ nhưng chúng vẫn có một đặc tính chung,
thống nhất đó là tính vật chất - tính tồn tại, độc lập không lệ thuộc vào ý thức.
Để bao quát được hết thảy các sự vật, hiện tượng cụ thể, thì tư duy cần phải nắm lấy đặc tính chung này và đưa nó vào trong phạm trù vật chất
Kế thừa những tư tưởng thiên tài đó, V.I.Lênin đã tiến hành tổng kết toàn diện những thành tựu mới nhất của khoa học, đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa hoài nghi, duy tâm (đang lầm lẫn hoặc xuyên tạc những thành tựu mới trong nhận thức cụ thể của con người về vật chất, mưu toan bác bỏ chủ nghĩa duy vật), qua đó bảo vệ và phát triển quan niệm duy vật biện chứng về phạm trù nền tảng này của chủ nghĩa duy vật
Để đưa ra được một quan niệm thực sự khoa học về vật chất, V.I.Lênin đặc
biệt quan tâm đến việc tìm kiếm phương pháp định nghĩa cho phạm trù này.
Thông thường, để định nghĩa một khái niệm nào đó, người ta thực hiện theo cách
quy khái niệm cần định nghĩa vào khái niệm rộng hơn nó rồi chỉ ra những dấu hiệu đặc trưng của nó Nhưng, theo V.I.Lênin, vật chất thuộc loại khái niệm rộng
Trang 7nhất, rộng đến cùng cực, cho nên không thể có một khái niệm nào rộng hơn nữa.
Do đó, không thể định nghĩa khái niệm vật chất theo phương pháp thông thường
mà phải dùng một phương pháp đặc biệt - định nghĩa nó thông qua khái niệm đối lập với nó trên phương diện nhận thức luận cơ bản, nghĩa là phải định nghĩa vật
chất thông qua ý thức V.I.Lênin viết: “Không thể đem lại cho hai khái niệm nhận
thức luận này một định nghĩa nào khác ngoài cách chỉ rõ rằng trong hai khái niệm
đó, cái nào được coi là có trước” [5, tr.210]
Với phương pháp nêu trên, trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, V.I.Lênin đã đưa ra định nghĩa kinh điển về vật
chất: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” [6, tr.216]
Trong triết học Mác Lênin cùng với phạm trù vận động thì không gian và thời gian là những phạm trù đặc trưng cho phương thức tồn tại của vật chất VI.Lênin đã nhận xét rằng: “trong thế giới không có gì ngoài vật chất đang vận động và vật chất đang vận động không thể vận động ở đâu ngoài thời gian và không gian” [7, tr.319]
Trong lịch sử triết học khái niệm thời gian và không gian là những phạm trù xuất hiện rất sớm Ngay thời xa xưa người ta đã hiểu rằng bất kỳ khách thể vật chất nào đều chiếm một vị trí nhất định ở một khung cảnh nhất định trong tương quan về mặt kích thước so với khách thể Các hình thức tồn tại như vậy của vật thể được gọi là không gian Bên cạnh các quan hệ không gian, sự tồn tại của các khách thể vật chất còn được biều hiện ở mức độ tồn tại lâu dài hay mau chóng của hiện tượng ở mức độ tồn tại lâu dài hay mau chóng của hiện tượng ở
sự kế tiếp trước sau của các giai đoạn vận động Những thuộc tính này được đặc trưng bằng phạm trù thời gian
Tuy vậy trong lịch sử triết học xung quanh các phạm trù không gian và thời gian đã từng có rất nhiều vấn đề gây tranh cãi, trong đó điều quan tâm trước hết là không gian và thời gian có hiện thực không hay đó chỉ là những trừu tượng đơn thuần chỉ tồn tại trong ý thức của con người Những người theo chủ
Trang 8nghĩa duy tâm phủ nhận tính khách quan của không gian và thời gian Chẳng hạn Beccơli và Hium con thời gian và không gian chỉ là nội dung của ý thức cá nhân Cantơ coi không gian và thời gian chỉ là hình thức của sự trực quan của con người chứ không phải là thực tại khách quan
Vào thế kỷ XVII - XVIII các nhà duy vật siêu hình tập trung phân tích các khách thể vĩ mô, vận động trong tốc độ thông thường nên đã tách rời không gian
và thời gian với vật chất Niutơn cho rằng không gian và thời gian là những thực thể đạc biệt không gắn bó gì với nhau và tồn tại độc lập bên cạnh vật chất còn tương tự như các vật tồn tại độc lập bên cạnh nhau
Trên cơ sở các thành tựu của khoa học và thực tiễn, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng không gian và thời gian là những hình thức tồn tại khách quan của vật chất Không gian và thời gian gắn bó hết sức chặt chẽ với nhau và gắn liền với vật chất, là phương thức tồn tại của vật chất Điều đó có nghĩa là không có một dạng vật chất nào tồn tại ở bên ngoài không gian và thời gian Ngược lại, cũng không thể có thời gian và không gian nào ở ngoài vật chất Ph.Ăngen viết: “các hình thức cơ bản của mọi tồn tại là không gian và thời gian, tồn tại ngoài thời gian thì cũng vô lý như tồn tại ngoài không gian” [4, tr.192]
Lênin cho rằng để chống lại mọi chủ nghĩa tín ngưỡng và chủ nghĩa duy tâm thì phải “thừa nhận một cách dứt khoát kiên quyết rằng những khái niệm đang phát triển của chúng ta về không gian và thời gian đều phản ánh thời gian
và không gian thực tại khách quan, kinh nghiệm của chúng ta và nhận thức của chúng ta ngày càng thích ứng với không gian và thời gian khách quan, ngày càng phản ánh đúng đắn hơn và sâu sắc hơn” [8, tr.428]
Không gian: là phạm trù dùng để chỉ hình thức tồn tại của vật chất xét về
mặt quảng tính, vị trí, kết cấu, sự cùng tồn tại, sự tác động lẫn nhau Không gian tính theo 3 chiều (dài - rộng - cao)
Không gian là hình thức tồn tại của vật chất đang vận động, không gian không phải là vật chất mà nó chỉ là thuộc tính phản ánh của vật chất đang vận động (xét về mặt quảng tính khoảng chiếm chỗ trong không gian)
Trang 9Thời gian: là phạm trù dùng để chỉ hình thức tồn tại của vạt chất về mặt
độ dài diễn biến, sự kế tiếp nhau của các quá trình, (thời gian tính theo một chiều từ- quá khứ - đến tương lai)
Thời gian không phải là vật chất mà nó chỉ là thuộc tính phản ánh của vật chất đang vận động xét về mặt độ dài diễn biến
Như vậy không gian và thời gian có những tính chất sau đây:
Tính khách quan, nghĩa là không gian và thời gian là thuộc tính của vật chất tồn tại gắn liền với nhau và gắn liền với vật chất Vật chất tồn tại khách quan, do đó không gian và thời gian cũng tồn tại khách quan
Tính vĩnh cửu và vô tận nghĩa là không có tận cùng về một phía nào cả, cả
về quá khứ tương lai cả về đằng trước lẫn đằng sau, cả về bên phải lẫn bên trái,
cả về phía trên lẫn phía dưới
Không gian luôn có ba chiều (chiều dài, chiều rộng, chiều cao) Còn thời gian chỉ có một chiều từ quá khứ đến tương lai Khái niệm không gian nhiều chiều mà ta thường thấy trong khoa học hiện nay là một trừu tượng khoa học dùng để chỉ tập hợp một số đại lượng đặc trưng cho các thuộc tính khác nhau của khách thể nghiên cứu và tuân theo những quy tắc biến đổi nhất định Đó là một công cụ toán học để hỗ trợ dùng trong quá trình nghiên cứu chứ không phải
để chỉ không gian thực, không gian thực chỉ có ba chiều
II VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRIẾT HỌC ĐỂ GIẢI THÍCH NHẬN ĐỊNH “NHỮNG AI CÓ THỂ ĐẶT MÌNH VÀO VỊ TRÍ CỦA NGƯỜI KHÁC, NHỮNG AI CÓ THỂ HIỂU NHỮNG SUY TƯ, CẢM NHẬN CỦA MỌI NGƯỜI THÌ KHÔNG BAO GIỜ PHẢI LO LẮNG CHO TƯƠNG LAI” - RÚT RA Ý NGHĨA
2.1 Vận dụng phương pháp luận triết học để giải thích nhận định
“Những ai có thể đặt mình vào vị trí của người khác, những ai có thể hiểu những suy tư, cảm nhận của mọi người thì không bao giờ phải lo lắng cho tương lai”
Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại khách quan của vật chất Không gian và thời gian gắn bó hết sức chặt chẽ với nhau và gắn liền với
Trang 10vật chất, là phương thức tồn tại của vật chất Như vậy sự vật, hiện tượng là một dạng vật chất luôn tồn tại trong một không gian và thời gian xác định Từ quạn niệm đó chúng ta sẽ có thể nhìn nhận vấn đề một cách khách quan hơn, để thấu hiểu và nắm rõ bản chất của vấn đề
Khi chúng ta đặt mình vào vị trí của người khác - tức là trong một không gian, thời gian xác định với đối tượng cụ thể (ở đây vật chất đang đứng yên tạm thời) thì chúng ta sẽ thấy nhiều chuyện xảy ra xung quanh khiến ta có thể nhanh chóng đưa ra những lời phán xét, bàn tán rồi chê bai Hãy nhớ rằng, luôn có nguyên do khiến người ta hành động và suy nghĩ như cách mà họ đang sống Đừng vội buông những lời cay nghiệt, thậm chí xúc phạm họ mà chưa tìm hiểu
họ, thử đặt mình vào vị trí của họ để suy nghĩ xem cảm giác của họ thế nào
Đôi lúc tôi nghĩ, mỗi người trong chúng ta đều giống như một cái cây Mỗi cái cây với câu chuyện của riêng mình, khi được gieo hạt nảy mầm ở những vùng đất khác biệt, chịu luồng khí hậu theo từng miền, được tưới tẩm và lớn lên theo cách không giống nhau Những điều kiện xung quanh như: gia đình, xuất phát điểm, cách giáo dục, trải nghiệm, Tất cả những điều đó đã tạo nên những góc nhìn khác nhau cho mỗi cá nhân
Nhiều lúc trong đời, ta không thể hiểu điều người khác suy nghĩ, không thể hiểu mình đã làm gì sai, không hiểu tại sao thế giới lại không vận hành theo cách mình hằng tưởng bởi vì chúng ta đã không đặt mình vào vị trí của người khác, do vậy không thể hiểu những suy tư, cảm nhận của mọi người Điều mà chúng ta vẫn luôn khẳng định là đúng, có thể không hẳn đúng Điều mà chúng ta cho là sai, biết đâu không hẳn sai
Để nhìn nhận vấn đề được khách quan, chúng ta phải có phương pháp luận triết học đúng đắn, đặt mình vào một vị trí khác với một hệ quy chiếu khác, chúng ta sẽ tìm thấy câu trả lời đằng sau mớ rối ren khiến mình loay hoay
Đặt mình vào vị trí người khác tức là chúng ta đặt mình vào trong không gian đó, vào thời gian đó và cả hoàn cảnh nhất định từ đó chúng ta sẽ cảm nhận
rõ nhất sự vận động, tồn tại của sự vật, hiện tượng, thấy được các mối liên hệ của nó với các sự vật, hiện tượng khác Trên cơ sở đó chúng ta nắm được quy