1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

NHỮNG BÀI NỔI BẬT VỀ DINH DƯÕNG LÂM SÀNG Khoa học hỗ trợ dinh dưỡng tốt

27 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 4,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do những bệnh nhân này cĩ cấu tạo cơ thể, trương lực cơ và mức độ hoạt động khác với những bệnh nhi thơng thường, những tiêu chuẩn dinh dưỡng sử dụng cho trẻ em bình thường khơng thể áp

Trang 1

NHỮNG BÀI NỔI BẬT

VỀ DINH DƯỠNG

LÂM SÀNG

Khoa học hỗ trợ

dinh dưỡng tốt hơn

2012 Tập 8, Số 2

Trong số này

Chế độ dinh dưỡng đối với

những bệnh nhi có khuyết tật thần kinh

Các bài tĩm tắt về dinh dưỡng lâm sàng Những bài nổi bật của ADA FNCE 2011

Trang 2

NHỮNG BÀI NỔI BẬT

VỀ DINH DƯỠNG

đối với những bệnh nhi cĩ khuyết tật thần kinh

Tĩm tắt về dinh dưỡng lâm sàng

Những bài nổi bật tại

ADA – Hội nghị và Triển lãm về Dinh dưỡng và Thực phẩm

Chương trình Hội Nghị

Trang 3

Chế độ dinh dưỡng đối với

những bệnh nhi có khuyết tật thần kinh

Valérie Marchand, MD, FRCPC Chuyên khoa tiêu hóa nhi Sainte-Justine UHC Phó Giáo sư Nhi khoa Đại học tổng hợp Montréal, Canada

Giới thiệu

Những bệnh nhân cĩ khuyết tật thần kinh (KTTK) cĩ

những nhu cầu dinh dưỡng đặc biệt Do những bệnh nhân

này cĩ cấu tạo cơ thể, trương lực cơ và mức độ hoạt động

khác với những bệnh nhi thơng thường, những tiêu chuẩn

dinh dưỡng sử dụng cho trẻ em bình thường khơng thể áp

dụng hồn tồn cho các bệnh nhân KTTK Ngồi ra, việc

đánh giá chính xác tình trạng dinh dưỡng là khơng dễ dàng,

đặc biệt do những khĩ khăn trong việc thu thập những

thơng số nhân trắc học đáng tin cậy

Việc cung cấp chế độ dinh dưỡng tối ưu cho những

bệnh nhân này đầy thử thách đồng thời cũng rất quan trọng

vì tình trạng dinh dưỡng kém cĩ ảnh hưởng xấu đến chất

1

lượng cuộc sống và sức khỏe nĩi chung Những nhà cung

cấp dịch vụ chăm sĩc sức khỏe tham gia vào cơng tác chăm

sĩc những bệnh nhân KTTK cần phải hiểu rõ những hậu

quả của chế độ dinh dưỡng nghèo nàn ở những bệnh nhi

này đồng thời cũng cần nắm được vai trị đặc biệt của liệu

pháp dinh dưỡng trong điều trị bệnh Để cĩ thể cung cấp

chế độ dinh dưỡng phù hợp cho nhĩm bệnh nhi này cần cĩ

2

sự phối hợp của nhiều chuyên ngành

Những bệnh nhân khuyết tật thần kinh, đặc biệt là những

bệnh nhân bị chứng bại não (cerebral palsy - CP), thường

cĩ trạng thái dinh dưỡng rất kém Trong thực thế, tình trạng

rối loạn dinh dưỡng từ lâu đã được coi như là một phần của

bệnh tật Hiện nay chúng ta đã nhận thức được rất rõ tầm

quan trọng của chế độ chăm sĩc dinh dưỡng phù hợp Thiếu

dinh dưỡng làm giảm hạnh phúc, làm giảm chất lượng cuộc

sống và ảnh hưởng xấu đến sự tham gia của bệnh nhân vào

1

liệu pháp điều trị và các hoạt động khác Từ gĩc độ y tế, rối

loạn dinh dưỡng và những hậu quả của nĩ (lở loét do nằm

lâu, khĩ lành vết thương, gãy xương và viêm nhiễm tái

phát) làm tăng gánh nặng chăm sĩc sức khỏe và dẫn tới việc

tăng tần số và thời gian nằm viện Cải thiện tình trạng dinh

dưỡng sẽ giúp tăng cường sức khỏe nĩi chung, giảm tính dễ

bị kích thích, giảm co cứng, cải thiện tuần hồn ngoại vi, cải

thiện khả năng lành vết thương và cĩ thể giúp tăng cường

3-5

phản ứng miễn dịch và khả năng chống viêm nhiễm

Nằm ở cực khác của suy dinh dưỡng là một hiện tượng

dường như đang tăng lên trong thời gian gần đây – chứng

béo phì – hậu quả của việc ăn quá nhiều Chứng béo phì ảnh

hưởng đến 8 – 16% bệnh nhân KTTK và cĩ thể dẫn đến

6

những vấn đề về sức khỏe và các vấn đề về tư thế lao động

Trong tương lai, vấn đề này cĩ thể trở nên ngày càng quan trọng vì ngày càng cĩ nhiều bệnh nhân cĩ vấn đề về tiêu hĩa

và tầm quan trọng của hỗ trợ dinh dưỡng đối với những bệnh nhân này đang ngày càng được quan tâm

Tất cả các chỉ số của tình trạng dinh dưỡng của những bệnh nhân KTTK đều bị ảnh hưởng Cân nặng theo độ tuổi, chiều cao theo độ tuổi và cân nặng theo chiều cao đều giảm

đi Chu vi bắp tay và độ dày nếp da cơ tam đầu (triceps

7-11

skinfold – TSF) đều giảm Độ dày nếp da dưới xương vai

bị ảnh hưởng ít hơn; mơ hình tích mỡ thân trên (truncal fat

7

retention) thường xuất hiện ở các bệnh nhân KTTK Cả yếu tố dinh dưỡng và yếu tố khơng liên quan đến dinh dưỡng đều cĩ liên quan đến sinh lý bệnh học về rối loạn

5

dinh dưỡng ở nhĩm bệnh nhân này

Lượng thức ăn được đưa vào khơng phù hợp: lượng

calo hấp thụ ở bệnh nhi KTTK thường thấp hơn so với

12-15

nhĩm đối chứng cùng độ tuổi Trong khi một số bệnh nhi

cĩ khả năng tự ăn, số khác thường thiếu khả năng phối hợp,

ăn chậm, đánh đổ thức ăn và thường khơng ăn hết bữa ăn do thiếu thời gian hoặc do mệt mỏi Những bệnh nhi cần cĩ người chăm sĩc cho việc ăn uống thường khơng cĩ khả năng biểu lộ là mình cịn đĩi hay đã no, do đĩ dẫn tới việc ăn

12

khơng đủ Những bệnh nhi phải ăn bằng ống thơng cĩ thể khơng chịu đựng được một lượng thức ăn cơng thức đủ để thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng Mặt khác, những bệnh nhân được cho ăn theo đường miệng khơng cĩ khả năng diễn đạt mình đã no cũng như những bệnh nhân phải ăn bằng ống thơng khơng điều khiển được phần thức ăn đưa vào đều cĩ thể bị cho ăn quá nhiều

Lượng thức ăn bị hao hụt tăng lên: Lượng thức ăn cung

cấp cho mỗi bệnh nhân thường khơng phản ánh chính xác lượng hấp thụ thực tế Sự phối hợp tay miệng thiếu nhịp nhàng, đánh đổ thức ăn, khả năng ngậm kín miệng kém, sự nơn mửa thường xuyên đều làm tăng lượng thức ăn hao

16

hụt

Mức độ sử dụng năng lượng khơng bình thường: Đối

với hầu hết bệnh nhân KTTK, năng lượng tiêu hao lúc nghỉ ngơi (Resting Energy Expenditure – REE) thấp hơn so với

13,17-19

đối chứng cùng độ tuổi và cân nặng Mặt khác, tổng năng lượng tiêu hao (Total Energy Expenditure – TEE) cĩ thể thay đổi tùy theo trương lực cơ (co cứng cơ, giảm

Tầm quan trọng của dinh dưỡng

Sinh lý bệnh nhân rối loạn dinh dưỡng

ở nhóm bệnh nhân KTTK

Các yếu tố dinh dưỡng

Trang 4

Bản thân bệnh về thần kinh cĩ ảnh hưởng tới phát triển

chiều cao và tính cân đối của cơ thể Điều này thể hiện rất rõ

ở những bệnh nhân bị liệt nửa người, khi bên bị liệt bị hẹp,

32,33

ngắn hơn; xương cũng chậm trưởng thành hơn Mức độ

trầm trọng của suy dinh dưỡng cĩ liên quan với mức độ

8,10

trầm trọng của bệnh, tuy nhiên thậm chí khi khơng cĩ suy

dinh dưỡng thì phát triển chiều cao cũng bị ảnh hưởng Hơn

nữa, cải thiện tình trạng dinh dưỡng cũng thường khơng

giúp cải thiện phát triển chiều cao Chiều cao theo tuổi

Z-score giảm theo độ tuổi mà khơng phụ thuộc vào cân nặng

10

theo tuổi Z-core và hiện tượng này đặc biệt rõ ràng trong

những năm vị thành niên khi sự tăng trưởng tăng vọt ở tuổi

34

dậy thì thường khơng diễn ra

Các thơng tin về dạng bệnh, thời gian bị bệnh và tiên lượng của bệnh về thần kinh là rất cần thiết Việc xác định chức năng vận động thơ của trẻ em sử dụng bộ câu hỏi hệ thống phân loại chức năng vận động thơ gia đình và tự điền (GMFCS Family and Self Report Questionnaire) cũng rất hữu ích vì thơng tin này giúp dự đốn nhu cầu năng lượng,

20,36

mức sử dụng năng lượng và khả năng tự ăn Ngồi những thơng tin về bệnh thần kinh, các bác sĩ cịn phải xem bệnh nhân cĩ các triệu chứng dạ dày ruột (gastrointestinal-GI) hay khơng, ví dụ như chứng táo bĩn, chứng trào ngược

dạ dày - thực quản và các triệu chứng hơ hấp liên quan đến chứng trào ngược thức ăn vào phổi/sặc phổi (ho, viêm phổi tái phát, nghẹt thở) Sự viêm nhiễm tái phát, chậm lành vết thương và lở loét do nằm lâu rất thường gặp Cần phải nắm được danh sách tồn bộ các loại thuốc mà bệnh nhân sử

Việc xác lập những tiêu chuẩn về tăng trưởng cho bệnh nhân KTTK là khơng dễ dàng vì biểu hiện, mức độ nặng của bệnh và những đặc điểm giải phẫu của bệnh rất khác nhau Người ta đã thiết lập các biểu đồ tăng trưởng cho những bệnh nhân bại não Những biểu đồ này phản ánh những chế độ chăm sĩc dinh dưỡng mà các bệnh nhân nhận được và chưa chắc chúng đã phản ánh được tiềm năng tăng

11,34,35

trưởng tối ưu của bệnh nhân Những biểu đồ tăng trưởng của bệnh nhi bại não liệt co cứng tứ chi (spastic quadriplegic CP – SQCP) được cơng bố năm 1996 cho thấy 50% số bệnh nhi SQCP được điều tra cĩ chỉ số cân nặng theo tuổi và chiều cao theo tuổi thấp hơn giá trị thu được ở 90% trẻ em bình thường (tính theo số liệu xây dựng biểu đồ tăng trưởng của trẻ em bình thường do Trung tâm Quốc gia

về Thống kê Y tế (National Center for Health NCHS) đưa ra sau đĩ), trong đĩ sự khác biệt tăng lên theo

Statistics-11

độ tuổi Một bộ biểu đồ mới hơn được cơng bố năm 2007

Những biểu đồ này mơ tả tăng trưởng của bệnh nhi bại não theo 5 mức độ khả năng hoạt động chức năng khác nhau (tự

đi một mình; cĩ thể đi được với sự trợ giúp bên ngồi; bị được, khơng thể bị và khơng phải ăn bằng ống; khơng thể

35

bị được và cĩ vấn đề về tiêu hố) Những biểu đồ tăng trưởng mới nhất nhằm sử dụng trong lâm sàng, đánh giá tăng trưởng của bệnh nhi bại não theo mức độ hoạt động chức năng sử dụng hệ thống phân loại chức năng vận động thơ GMFCS (Gross Motor Function Classication

34

System), vẫn chưa được cơng bố

Các yếu tố không liên quan đến dinh dưỡng

Trẻ em có nguy cơ có vấn đề về

dinh dưỡng cần phải được nhận diện

và theo dõi cẩn thận Các yếu tố nguy

cơ bao gồm tuổi của trẻ, khuyết tật

thần kinh nghiệm trọng và rối loạn

chức năng cử động miệng lưỡi

trương lực cơ hoặc thường xuyên giảm thân nhiệt, lại cĩ

nhu cầu năng lượng rất thấp Tiêu hao năng lượng lúc nghỉ

ngơi thường thấp hơn ở những bệnh nhân nặng, những

bệnh nhân co giật và những bệnh nhân cĩ bệnh đường tiêu

20

hĩa Để thực hiện một hoạt động nhất định ví dụ như đi lại,

những bệnh nhân bại não vẫn cĩ khả năng đi lại cĩ nhu cầu

năng lượng lớn hơn so với những người cĩ chức năng thần

21

kinh bình thường

Rối loạn chức năng cử động miệng lưỡi (Oromotor

dysfunction): Cĩ tới 90% bệnh nhân bại não bị rối loạn

12,22,23

chức năng cử động miệng lưỡi Rối loạn này thường cĩ

liên quan với mức độ trầm trọng của khuyết tật thần kinh và

đây là một nguyên nhân quan trọng gây ra rối loạn dinh

dưỡng Những bệnh nhân này thường thiếu khả năng lấy

thức ăn bằng đường miệng, cân nặng, chiều cao và cân

nặng tương ứng với chiều cao thấp hơn so với những bệnh

14,24-29

nhân khơng bị rối loạn chức năng cử động miệng lưỡi

Những bệnh nhân bị rối loạn chức năng cử động miệng lưỡi

cĩ biểu hiện mút khơng đúng cách, mất khả năng nuốt, lưỡi

thường thè ra, khơng khép được miệng và giảm khả năng

nhai Để nhai hoặc nuốt thức ăn, những bệnh nhân này cĩ

thể phải mất một lượng thời gian nhiều hơn tới 15 lần so với

những người bình thường; thậm chí việc kéo dài thời gian

28,30

ăn cũng khơng thể bù lại việc ăn kém hiệu quả Trong khi

một đứa trẻ bình thường chỉ mất 0.8 giờ mỗi ngày dành cho

các bữa ăn thì đối với những bệnh nhi bại não cha mẹ phải

31

mất trung bình 3.3 giờ mỗi ngày để cho con ăn

Những tiêu chuẩn về tăng trưởng

ở những bệnh nhân bại não

Những biểu đồ tăng trưởng này chỉ có tính chất MÔ TẢ (các bệnh nhân tăng trưởng như thế nào chứ không được sử dụng như một CĂN CỨ chính xác (các bệnh nhi sẽ

tăng trưởng như thế nào)

Đánh giá dinh dưỡng

Trang 5

Tiền sử dinh dưỡng là phần quan trọng nhất trong bộ câu

hỏi GMFCS Quan sát trực tiếp bữa ăn là cách lý tưởng nhất

nhưng khơng phải lúc nào cũng thực hiện được Cần phải

tìm hiểu tiền sử dinh dưỡng của mỗi bệnh nhân Các thơng

tin về dạng thức ăn (nghiền hay cắt nhỏ), và lượng thức ăn

tiêu hĩa, lượng thức ăn đánh đổ và thời gian ăn, mức độ phụ

thuộc vào người chăm sĩc, mức độ căng thẳng và mệt mỏi

liên quan tới bữa ăn đều là những thơng tin thiết yếu Việc

hỏi thơng tin về các dấu hiệu rối loạn chức năng vận động

(khả năng ngậm kín miệng, phản xạ nhè ra, khĩ phối hợp

hoạt động, chảy nước dãi, đánh đổ thức ăn và nghẹn) và các

triệu chứng của chứng trào ngược thức ăn vào phổi/sặc

phổi (ho và nghẹt thở) cũng rất cần thiết Cần phải nhớ rằng

những người chăm sĩc ăn uống thường cường điệu thời

gian cho trẻ ăn và lượng calo hấp thụ Thêm vào đĩ, đối với

nhiều bậc cha mẹ và những người chăm sĩc, thời gian cho

12,28,39

ăn được xem là rất khĩ khăn và căng thẳng

Trước khi tiến hành bất cứ loại can thiệp dinh dưỡng nào,

bác sĩ cần phải nắm được và xem xét tất cả các thơng tin về

điều kiện sống của đứa trẻ (gia đình, chăm sĩc nuơi dưỡng,

trường học) và các hoạt động (trường học, liệu pháp trị

bệnh), tình trạng gia đình, nguồn tài chính và sự giúp đỡ mà

cha mẹ bệnh nhi cĩ thể nhận được

Cân nặng và chiều dài hay chiều cao cần phải được đo vào

mỗi lần thăm bệnh và cần được thực hiện với độ chính xác

tối đa Việc cân một trẻ nhỏ bằng cân thơng thường thường

khá là dễ dàng, nhưng để cĩ được số đo cân nặng đáng tin

cậy ở những bệnh nhân cĩ tuổi khơng cĩ khả năng đứng lại

đặc biệt khĩ khăn, phải sử dụng phương tiện phù hợp như

một cái cân dạng ghế hoặc cân dạng xe lăn

Đối với trẻ nhỏ hơn 2 tuổi, việc đo chiều dài cĩ thể được

thực hiện bằng cách cho trẻ nằm ngửa trên một bảng đo cĩ

chia vạch Sau 2 tuổi, việc lấy số đo chiều cao chính xác đối

với những trẻ khơng cĩ khả năng đứng thường khơng đơn

Trọng lượng và chiều cao khi sinh và tất cả các thơng số

nhân trắc học đều cần được thu thập và vẽ lên biểu đồ tăng

trưởng theo độ tuổi theo chuẩn của Tổ chức y tế thế giới

hoặc Trung tâm kiểm sốt và phịng chống dịch bệnh Hoa

Độ dày nếp da cơ tam đầu (TSF) và chu vi bắp tay (MAC) cho phép ước lượng vùng cơ cánh tay trên và chất béo dự trữ nhưng khơng giúp đánh giá được phần trăm chất

7,44,45

béo của cơ thể ở những bệnh nhân cĩ KTTK

dụng (bao gồm cả những thuốc mua khơng cần đơn); rất

nhiều loại thuốc, đặc biệt là thuốc trị co giật, cĩ thể ảnh

hưởng đến sự ngon miệng, mức độ tỉnh táo và sự trao đổi vi

chất dinh dưỡng Liệu pháp tiêm trực tiếp baclofen vào ống

tuỷ sống để điều trị chứng co cứng cơ đang được sử dụng

ngày càng rộng rãi Việc làm giảm trương lực cơ dẫn đến

giảm mức tiêu hao năng lượng lúc nghỉ ngơi (REE) Do đĩ,

sự tăng cân khi khơng hề tăng lượng calo hấp thụ xảy ra sau

37,38

tiêm truyền baclofen là rất thường gặp

Tiền sử dinh dưỡng

Tiền sử xã hội

Lịch sử tăng trưởng

Các phép đo nhân trắc học

Bảng 1 Các cách đo chiều cao khác nhau

Đơn vị đo Cách đo

Trẻ < 2 tuổi

Trẻ > 2 tuổi

Khoảng cách giữa đỉnh vai và điểm đáy của khủy tay trong khi khớp nối ở vị trí góc vuông, đo bằng thước dây.

Khoảng giữa điểm cao nhất của đầu gối và điểm đáy của gót chân khi cả hai khớp nối đều ở vị trí góc vuông, đo bằng thước dây Khoảng cách giữa mỏm cùng vai và điểm đầu xương quay Đo bằng thước đo nhân trắc Khoảng giữa lồi cầu trong (supero-medial border) của xương chày và cạnh dưới mắt cá trong (inferior border

of the medial malleolus) khi đứa trẻ ngồi một chân vắt ngang lên chân kia, đo bằng thước dây Khoảng cách của cạnh dưới của xương bánh chè và điểm đáy của gót chân khi cả đầu gối và mắt cá chân ở vị trí góc vuông, đo bằng thước đo nhân trắc.

Tất cả các lứa tuổi

KH, đầu gối – gót chân (knee-heel); LLL, chiều dài cẳng chân (lower leg length), UAL, chiều dài phần cánh tay trên (upper arm length)

CP, bại não (cerebral palsy), KH, đầu gối - gót chân (knee-heel), chiều dài cánh tay trên (upper arm length).

Bảng 2 Ước lượng chiều cao dựa trên các số đo một phần cơ thể

Trang 6

Mỗi khi thực hiện một chương trình dinh dưỡng, việc đặt ra

các mục tiêu cĩ tính thực tế là rất quan trọng Các bệnh nhi

phổi/sặc phổi hay khơng Thăm khám vùng bụng cĩ thể

giúp phát hiện triệu chứng táo bĩn Bác sĩ cũng cần phải

kiểm tra xem bệnh nhân cĩ bị lở loét và phù do nằm lâu hay

khơng

Thơng thường, các nghiên cứu trong phịng thí nghiệm bổ

sung khơng nhiều thơng tin cho đánh giá lâm sàng Hầu hết

các vấn đề thiếu vitamin và khống chất đều cĩ thể dự đốn

46

dựa trên tiền sử dinh dưỡng Hàm lượng hemoglobin cĩ

thể giúp phát hiện chứng thiếu máu Hàm lượng

prealbumin và albumin thường ở mức bình thường kể cả ở

47

những bệnh nhân rối loạn dinh dưỡng trầm trọng Hàm

lượng các chất điện giải và urê máu cĩ thể giúp đánh giá

trạng thái thể dịch của bệnh nhân Việc đánh giá hàm lượng

vitamin D, hormone cận giáp (PTH), can xi, phơt pho và

phosphatase kiềm rất hữu ích trong trường hợp nghi ngờ

15

lỗng xương

Các bác sĩ cần phải thường xuyên tiến hành đo mật độ

xương cơ bản trong trường hợp cĩ bất thường hoặc đối với

những bệnh nhân cĩ nguy cơ lỗng xương Chỉ khi cĩ bất

thường về giải phẫu ví dụ như nghi ngờ cĩ thốt vị khe hoặc

hội chứng động mạch mạc treo tràng trên mới cần chụp ảnh

X quang đường tiêu hố trên Nghiên cứu về sự nuốt khơng

cần thiết để chẩn đốn bệnh rối loạn khả năng nuốt, nhưng

cĩ thể giúp tìm ra cấu trúc thức ăn phù hợp và tư thế ăn hợp

lý giúp cho việc ăn bằng đường miệng an tồn hơn Việc

theo dõi pH thực quản trong vịng 24 giờ khơng giúp nhiều

cho đánh giá lâm sàng về chứng trào ngược dạ dày thực

quản Việc này cũng khĩ thực hiện và gây khĩ chịu cho

bệnh nhân Chứng liệt nhẹ dạ dày được đánh giá bằng

phương pháp dùng chất đồng vị phĩng xạ để đo lường thời

gian thức ăn bị tống ra khỏi dạ dày, nhưng phương pháp này

khơng nên sử dụng để phát hiện chứng trào ngược thức ăn

vào phổi/sặc phổi Salivagram cĩ thể giúp phân biệt chứng

sặc phổi do rối loạn cử động miệng với sặc phổi do chứng

trào ngược dạ dày thực quản

cần nhận được lượng thức ăn đầy đủ cả về dinh dưỡng đa lượng và vi lượng, tuy nhiên cần phải tránh việc làm tăng cân đối với những bệnh nhân phải phụ thuộc vào người chăm sĩc để cĩ thể di chuyển

Đối với bệnh nhi nhỏ hơn 3 tuổi và những bệnh nhi lớn hơn

cĩ mức độ hoạt động bình thường, chỉ số cân nặng theo chiều cao ở mức trung vị là lý tưởng Đối với bệnh nhi phải ngồi xe lăn, mức tứ phân vị thứ nhất là phù hợp Bệnh nhi nằm liệt giường cần đạt được chỉ số cân nặng theo chiều

51

cao ít nhất ở giá trị cao hơn 10% số trẻ em cùng độ tuổi

Việc theo dõi sát sao mức lên cân và điều chỉnh lượng thức

ăn rất quan trọng, đặc biệt khi bắt đầu chế độ cho ăn bằng ống để tránh việc lên cân quá nhanh và quá nhiều Nếu cần phải giảm lượng calo hấp thụ, cần phải đảm bảo rằng lượng thức ăn lỏng, đạm, vitamin, khống chất và nguyên tố vi lượng được đưa vào đầy đủ, đặc biệt phải chú ý tới lượng can xi, phơt pho và vitamin D

Đối với trẻ nhỏ hơn 1 tuổi, nên chọn sữa cơng thức thơng thường dành cho trẻ nhỏ Hàm lượng thức ăn cơng thức sử dụng cũng như việc bổ sung dinh dưỡng, nếu cần thiết, luơn cần cĩ sự giám sát của một nhà dinh dưỡng học để đảm bảo

sự cung cấp dinh dưỡng là đầy đủ và an tồn Thành phần của sữa cơng thức được sử dụng cần phải đảm bảo cung cấp

đủ mọi dinh dưỡng đa lượng giống như cơng thức thơng thường cho trẻ: 7-16% đạm; 35-36% carbohydrates; và 35-45% chất béo Trong những trường hợp đặc biệt, nhất là đối với những bệnh nhi cĩ thời gian thức ăn bị tống ra khỏi dạ dày khơng bình thường, dùng sản phẩm thủy phân protein

cĩ thể hữu ích

Đối với trẻ trên 1 tuổi, dùng cơng thức thơng thường cho bệnh nhi ở mức 1 cal/mL Nếu bệnh nhi khơng dung nạp tốt thể tích thức ăn lớn, cĩ thể dùng cơng thức 1,5 cal/mL nhưng phải theo dõi sát sao tình trạng hydrat hố của bệnh nhi Đối với bệnh nhi cĩ tốc độ trao đổi chất thấp, quá cân mặc dù lượng calo đưa vào thấp, cần phải dùng

52

cơng thức cĩ nhiều chất dinh dưỡng nhưng chứa ít calo

Khơng nên pha lỗng sữa để giảm lượng calo hấp thụ vì những chất dinh dưỡng cũng bị pha lỗng dẫn tới việc thiếu dinh dưỡng vi lượng Việc dùng cơng thức dành cho người lớn khơng được khuyến cáo vì tỷ lệ calorie/chất dinh dưỡng

53

khơng phù hợp Đối với những bệnh nhi bị táo bĩn, cơng

Vì những bệnh nhân KTTK cĩ tốc độ trao đổi chất thay đổi

và mức độ hoạt động khơng bình thường, hầu hết các

phương pháp xác định nhu cầu năng lượng đều cĩ xu hướng

17,48-50

đưa ra nhu cầu năng lượng cao hơn thực tế (Bảng 3)

Đối với nhĩm đối tượng rất khác nhau này, nhu cầu năng

lượng phải được đánh giá trên từng cá nhân để tính đến

trương lực cơ, mức độ hoạt động và tăng trưởng mong đợi

Để xác định nhu cầu năng lượng, lý tưởng nhất là dùng

phép đo calo gián tiếp, tuy nhiên thiết bị này khơng sẵn cĩ ở

hầu hết các bệnh viện Cách tốt nhất để đảm bảo lượng calo

hấp thụ đầy đủ là theo dõi phản ứng của bệnh nhi với can

thiệp dinh dưỡng Do nhu cầu về đạm và vi chất dinh dưỡng

ở nhĩm bệnh nhi cĩ KTTK khĩ cĩ thể được xác định một

cách chính xác, cần phải tuân theo những khuyến cáo dành

cho các bệnh nhi nĩi chung

Can thiệp dinh dưỡng

Nhu cầu dinh dưỡng

Các mục tiêu của điều trị dinh dưỡng

51 Phương pháp Krick

Phương pháp

48 dựa trên REE Phương pháp

83 dựa trên chiều cao

1,1 x REE đo được Đối với bệnh nhân có khả năng đi lại nhưng có rối loạn vận động: 13,9 cal/cm.

Xét nghiệm cận lâm sàng

Đánh giá trong phòng thí nghiệm

Chẩn đoán hình ảnh

Bảng 3 Các phương pháp xác định nhu cầu năng lượng

kcal/ngày = BMR x (hệ số trương lực cơ x hệ số hoạt động) + tăng trưởng.

Trong đó BMR = diện tích bề mặt cơ thể (m2)x tốc độ trao đổi chất tiêu chuẩn (kcal/m2/h) x 24h.

Hệ số trương lực cơ: 0,9 đối với trường hợp bị giảm trương lực cơ, 1,0 đối với trường hợp bình thường, 1,1 đối với trường hợp tăng trương lực cơ.

Hệ số hoạt động: 1,15 đối với bệnh nhân nằm liệt giường, 1,2 đối với bệnh nhân phải có người chăm sóc, 1,2 đối với bệnh nhân phải có người chăm sóc, 1,25 đối với bệnh nhân có thể bò, 1,3 đối với bệnh nhân có thể đi lại được.

Hệ số tăng trưởng: 5 kcal/g trọng lượng cần tăng trưởng mong đợi.

Đối với bệnh nhân có không đi lại được và có rối loạn vận động: 11,1 cal/cm.

BMR, tốc độ chuyển hóa cơ bản (basal metabolic rate); REE, hao tổn năng lượng lúc nghỉ ngơi (resting energy expenditure)

Lựa chọn công thức dinh dưỡng

Tính năng bài viết Tính năng bài viết

Trang 7

NHỮNG ĐIỂM NỔI BẬT VỀ DINH DƯỠNG LÂM SÀNG

thức phù hợp Đối với những bệnh nhi bị táo bĩn, cơng

thức dinh dưỡng cần cĩ chất xơ Đối với những bệnh nhi cĩ

thời gian thức ăn bị tống ra khỏi dạ dày kéo dài, cĩ thể sử

dụng cơng thức thủy phân hồn tồn (elemental) hoặc thủy

54-58

phân một phần(semi-elemental)

Phương pháp ít xâm lấn nhất thường được ưu tiên lựa chọn

Nếu việc cho ăn bằng đường miệng an tồn, cần cố gắng cải

thiện kỹ năng cử động miệng và tư thế ăn để điều chỉnh mức

độ phù hợp của thức ăn và hàm lượng calo Nếu việc cho ăn

bằng đường miệng khơng an tồn hoặc khơng đủ, thời gian

ăn quá dài, hoặc bệnh nhân khơng cĩ khả năng duy trì trạng

thái dinh dưỡng đầy đủ khi cho ăn bằng đường miệng, các

lựa chọn khác như cho ăn bằng ống thơng cần phải được

xem xét (hình 1) Mặc dù ban đầu, các bậc cha mẹ thường tỏ

ra miễn cưỡng chấp nhận việc cho con mình ăn bằng ống

thơng nhưng sau đĩ hầu hết họ đều cho rằng việc cho ăn

bằng ống thơng đã giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của

59,60

gia đình cũng như của các bệnh nhi KTTK

Cho ăn bằng ống thơng qua đường mũi là phương pháp

ít xâm lấn nhất nhưng chỉ nên sử dụng trong một thời gian

ngắn (< 3 tháng), vì ống thơng qua mũi khơng được dễ chịu

đối với đứa trẻ Trong trường hợp cần cho ăn bằng ống lâu

dài, phương pháp cho ăn bằng ống thơng vào dạ dày thường

được ưa thích hơn Cách này phải can thiệp xâm lấn nhiều

hơn nhưng lại dễ chịu hơn cho bệnh nhi Các bậc cha mẹ

thường khơng dễ dàng chấp nhận biện pháp đưa thức ăn

vào bằng ống thơng dạ dày sẽ làm giảm sự căng thẳng gắn với các bữa ăn Đứa trẻ sẽ vẫn cĩ thể thưởng thức những loại thức ăn ưa thích mà khơng bị ép buộc phải tiêu hố một lượng lớn thức ăn Sau khi lắp đặt hệ thống ống thơng dạ dày, thường thì đứa trẻ sẽ tự động giảm lượng thức ăn theo đường miệng và cảm thấy thích hơn với việc cĩ thể dễ dàng thu nhận dinh dưỡng mà khơng cần phải nhai và nuốt Trong khi quyết định bắt đầu việc cho ăn bằng ống thơng là một quyết định y học, quyết định việc đặt ống thơng dạ dày phụ thuộc chủ yếu vào cha mẹ của bệnh nhi Cha mẹ bệnh nhi cĩ thể quyết định việc cho ăn bằng ống thơng qua đường mũi trong một thời gian kéo dài Bác sĩ cần phải tơn trọng quyết định của cha mẹ bệnh nhi, theo dõi sát sao đứa trẻ và định kỳ thảo luận lại với cha mẹ chúng về việc đặt ống thơng dạ dày Trạng thái dinh dưỡng của một bệnh nhi

cĩ thể được cải thiện rất nhiều sau khi đặt ống thơng dạ

4,5,61,62

dày Tuy nhiên, việc đặt ống thơng dạ dày thường được

6

thực hiện quá muộn Những bệnh nhi được đặt ống thơng

dạ dày trong năm đầu tiên rất cĩ khả năng sẽ cĩ cân nặng và

62

chiều cao cao hơn 5% số trẻ em cùng độ tuổi Khơng cĩ bằng chứng nào cho thấy việc đặt ống thơng dạ dày làm

63,64

tăng các bệnh về đường hơ hấp

Nuôi ăn bằng ống thông / xông

Hình 1 Giải thuật đưa ra quyết định nuôi ăn bằng ống xông

Ăn bằng đường miệng khơng đủ

hoặc khơng an tồn

Cho ăn bằng ống

Thời gian ngắn(ít hơn 3 tháng)

Ống thơng dạ dày qua mũi

Thời gian dài

Bệnh nhân chưa bao giờ

ăn qua ống thơng

Bệnh nhân đang hoặc

đã từng ăn qua ống thơng

Kiểm tra lâm sàng xem cĩ trào ngược dạ dày thực quản

kémMức trung bình

tới nặng

Khơng cĩ hoặc nhẹ

Ống thơng dạ dày qua thành bụng Ống thơng ruột non qua thành bụng và dạ dày, hoặc mở thơng ruột non hoặc ống thơng dạ dày qua thành bụng theo quy trình chống trào

Ống thơng ruột non qua mũi

ít xâm lấn

Trang 8

Nếu bệnh nhân khơng cĩ dấu hiệu của trào ngược dạ dày

thực quản, nên sử dụng phương pháp mở thơng dạ dày

xuyên qua da (bằng phĩng xạ hoặc nội soi) Trong trường

hợp này khơng cần quy trình chống trào ngược Tuy nhiên,

nếu cĩ dấu hiệu rõ ràng của trào ngược thì cần thực hiện

phẫu thuật đặt ống thơng dạ dày kết hợp với kỹ thuật quấn

đáy trên dạ dày (fundoplication) Trước khi xem xét quy

trình chống trào ngược cần phải đánh giá tình hình thật kỹ

lưỡng vì những bệnh nhân KTTK đặc biệt dễ cĩ những biến

chứng như hội chứng dạ dày tống nhanh/dạ dày rỗng nhanh

chĩng (dumping), nơn oẹ và hội chứng đầy hơi (gas bloat

Hỗ trợ dinh dưỡng là vấn đề khơng thể thiếu được trong chăm sĩc bệnh nhi KTTK Chăm sĩc bệnh nhi KTTK địi hỏi sự tham gia của các chuyên gia đa ngành bao gồm các bác sĩ, các nhà dinh dưỡng học, y tá, các nhà trị liệu cho

Ở các bệnh nhân KTTK, rất thường gặp hiện tượng chảy nước dãi hoặc thậm chí là các vấn đề về hơ hấp do khơng khép được miệng và khơng điều khiển được quá trình tiết nước bọt Tiết nước bọt quá nhiều hay chứng tăng tiết nước bọt thường trở nên nặng nề hơn sau khi dùng phương pháp cho ăn bằng ống thơng dạ dày Mặc dù người ta thường quy kết nguyên nhân vấn đề nằm ở chứng trào ngược dạ dày thực quản, rất nhiều khả năng nguyên nhân thực nằm ở việc mất khả năng điều khiển tiết nước bọt sau khi đứa trẻ giảm việc

ăn bằng miệng và do đĩ sử dụng các cơ mặt ít đi

(weight-co giật sẽ ảnh hưởng đến trao đổi vitamin D và tất cả các yếu

15,53,74-80

tiến hành theo dõi mật độ xương, cung cấp đủ can xi và vitamin D và trong một số trường hợp cần thiết phải sử dụng

81,82

bisphosphonates

Viêm phổi và các vấn đề hơ hấp mạn tính rất hay gặp ở các bệnh nhân KTTK Các triệu chứng hơ hấp cấp tính hoặc mạn tính thường cĩ nguyên nhân từ việc trào ngược nước bọt ở bệnh nhân bị rối loạn chức năng cử động miệng hoặc cĩ nguyên nhân từ việc hít phải dịch dạ dày ở những bệnh nhân

bị trào ngược dạ dày thực quản Hai nguyên nhân này cĩ thể khĩ mà phân biệt được và chúng thường chồng chéo nhau

Đánh giá lâm sàng, salivagram, nghiên cứu sự nuốt, theo dõi

pH thực quản trong 24 giờ và đo lường thời gian thức ăn tống ra khỏi dạ dày khơng phải lúc nào cũng cho phép chẩn đốn được Trong một số trường hợp, thử nghiệm cho ăn bằng ống thơng hỗng tràng cĩ thể cải thiện lâm sàng và giúp chẩn đốn sặc phổi do trào ngược dạ dày thực quản Một điều quan trọng cần phải lưu ý là khơng phải tất cả các trường hợp viêm phổi đều cĩ nguyên nhân từ sặc phổi

Trước khi chẩn đốn viêm phổi tái phát do trào ngược thức

ăn vào phổi, cần phải tìm hiểu kỹ lưỡng bệnh sử của bệnh nhân để tránh sử dụng các quy trình chống trào ngược một cách khơng cần thiết

Trong một số trường hợp, cần phải dùng ống thơng hỗng

tràng (qua mũi, qua thành bụng và dạ dày hoặc mở thơng

69-71

hỗng tràng) Đặt ống thơng hỗng tràng qua mũi và ống

thơng hỗng tràng qua dạ dày cĩ xu hướng dễ bị lệch vị trí

hoặc bị chặn và khơng thực tế lắm vì cần phải thường xuyên

chỉnh vị trí dưới sự hướng dẫn phĩng xạ Mở thơng hỗng

tràng cĩ tỷ lệ biến chứng cao Bệnh nhi cần được cho ăn liên

tục khi nuơi dưỡng bằng phương pháp mở thơng hỗng tràng

Lịch cho ăn phụ thuộc vào sức chịu đựng của bệnh nhi,

nhưng cũng cần tính đến các yếu tố khác như hoạt động của

bệnh nhi và nên tránh ảnh hưởng tới hoạt động học tập hoặc

điều trị Ví dụ, việc cho ăn vào buổi sáng thường rất khĩ vì

trẻ sẽ phải đến trường sớm trong trạng thái no bụng, nhất là

khi đứa trẻ đĩ bị chứng trào ngược dạ dày thực quản; trong

trường hợp như vậy cần phải điều chỉnh lịch ăn

Dùng những viên bổ sung dinh dưỡng sẽ hợp lý, thiết

thực hơn và được ưa thích hơn Nếu một bệnh nhân cĩ nhu

cầu năng lượng rất lớn, sẽ là lý tưởng nếu cĩ thể kết hợp cho

ăn vào ban đêm với những viên bổ sung dinh dưỡng ban

ngày Bệnh nhân phải nuơi dưỡng bằng ống thơng hỗng

tràng cần phải được cho ăn liên tục, tuy nhiên cần giới hạn

dưới 16 giờ mỗi ngày để dành thời gian cho những hoạt động

khác

Chứng trào ngược dạ dày thực quản rất thường thấy ở những

bệnh nhi bị KTTK và cĩ ảnh hưởng xấu đến tình trạng dinh

dưỡng Chứng này cĩ thể hạn chế lượng thức ăn cơng thức

được đưa vào theo ống thơng, và chứng viêm thực quản cĩ

thể dẫn tới việc từ chối thức ăn và ghét ăn theo đường miệng

Trào ngược dạ dày thực quản cần được điều trị cấp tốc để

tránh biến chứng như viêm phổi do trào ngược thức ăn vào

phổi, hẹp đường tiêu hĩa và thậm chí hội chứng Barrette

Cần phải sử dụng các thuốc kháng histamine cĩ tác dụng

trên thụ thể H hoặc các thuốc ức chế bơm proton (PPI) và 2

nếu cần cĩ thể sử dụng các chất làm tăng nhu động dạ dày

ruột (prokinetics) Quy trình chống trào ngược chỉ nên tính

đến khi điều trị y khoa thất bại, vì tỷ lệ biến chứng sau phẫu

65,67

thuật ở các bệnh nhân KTTK cĩ thể lên đến 60%

Các triệu chứng khơng chịu được việc nuơi ăn, ví dụ như

nơn mửa, thường trở nên tệ hại hơn sau khi bắt đầu việc nuơi

ăn bằng ống thơng, vì thể tích và tính phù hợp của đồ ăn thay

Chế độ nuôi dưỡng

Những lưu ý cụ thể

Chứng trào ngược dạ dày thực quản

và khơng chịu được việc nuơi ăn

Chứng trào ngược thực ăn vào phổi Sặc phổi

Chứng tăng tiết nước bọt (hypersalivation)

Các vấn đề loãng xương

Các vấn đề đạo đức và xã hội

Tính năng bài viết Tính năng bài viết

Trang 9

NHỮNG ĐIỂM NỔI BẬT VỀ DINH DƯỠNG LÂM SÀNG

Khơng thể áp dụng các tiêu chuẩn dinh dưỡng thơng thường

đối với những trẻ em bị khuyết tật thần kinh mà các can thiệp

những người khuyết tật về ngơn ngữ và trị liệu bằng cách

giao những việc phải làm (speech and occupational

therapists), các nhà sinh lý trị liệu cũng như các nhà tâm lý

học và những người hoạt động xã hội Cần phải nhận diện

sớm những đối tượng cĩ nguy cơ và theo dõi sát sao Một chế

độ dinh dưỡng phù hợp cần tính đến các vấn đề gia đình, lịch

học tập, trị liệu và các hoạt động của trẻ Can thiệp dinh

dưỡng cần được coi là một phương pháp chữa bệnh giúp cải

thiện chất lượng cuộc sống

dinh dưỡng cần phải tính đến những nhu cầu riêng của nhĩm đối tượng này Khơng thể cho rằng việc các bệnh nhi KTTK

bị suy dinh dưỡng là bình thường mà can thiệp dinh dưỡng cần phải là một phần của việc chăm sĩc các em Bất cứ can thiệp nào giúp cải thiện tình trạng dinh dưỡng đều phải được nhắm tới để cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhi, của cha mẹ bệnh nhi và những người chăm sĩc bệnh nhi Việc hỗ trợ liên tục cho gia đình bệnh nhi KTTK cĩ vai trị cực kỳ quan trọng và việc này cần phải cĩ sự phối hợp của các chuyên gia thuộc các chuyên ngành khác nhau

Kết luận

CÁC TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH / CÁC TÌNH HUỐNG ĐIỂN HÌNH / CÁC TÌNH HUỐNG MẪU

Trường hợp 4 Trường hợp 2

Một bé trai 12 tuổi bị liệt co cứng tứ chi và động kinh được

cho ăn bằng đường miệng thỉnh thoảng kết hợp với cho ăn

bằng ống thơng dạ dày qua mũi Thời gian của mỗi bữa ăn

là 1 giờ, 4 lần mỗi ngày Mặc dù cha mẹ cậu bé đã cố gắng

hết sức, cậu bé vẫn lớn rất chậm Cậu cịn bị gãy xương đùi

Cha mẹ cậu bé cảm thấy kiệt sức.

Bệnh nhân này bị suy dinh dưỡng và cĩ biến chứng của suy

dinh dưỡng (gãy xương) Cha mẹ bệnh nhân đã mất quá

nhiều thời gian cho con ăn mà khơng thành cơng Sau khi

thảo luận với cha mẹ cậu bé, người ta đã tiến hành cho cậu

ăn bằng ống thơng Việc lựa chọn phương pháp đặt ống

thơng dạ dày qua thành bụng nên được thảo luận nhưng

nếu cha mẹ cậu bé khơng sẵn sàng thì cĩ thể bắt đầu bằng

việc đặt ống thơng dạ dày qua đường mũi

Một bé gái 10 tuổi bị liệt co cứng tứ chi đã tăng trưởng rất

kém khi được cho ăn bằng đường miệng Cơ bé khơng cĩ

triệu chứng bị trào ngược dạ dày thực quản, cơ bé đã được

đặt ống thơng dạ dày qua thành bụng mà khơng áp dụng

quy trình chống trào ngược Cơ bé đã khơng chịu được việc

ăn bằng ống thơng này và bị nơn nhiều lần.

Các bệnh nhân thường khơng chịu được việc ăn bằng ống

khi mới bắt đầu vì chế độ ăn đã thay đổi cơ bản về lượng ăn

và tính phù hợp của thức ăn Các biện pháp khơng xâm lấn

được tính đến trước (giảm thể tích thức ăn bằng cách dùng

cơng thức đặc hơn; cho ăn trong khoảng thời gian dài hơn;

cho ăn nhiều bữa hơn với lượng nhỏ hơn; hoặc cho ăn liên

tục vào ban đêm) Việc thử dùng cơng thức bán phân tử

(semi elemental formula) cĩ thể cĩ tác dụng Nếu những

cách này đều khơng thành cơng, cần điều trị chứng trào

ngược sử dụng chất ức chế bơm proton (PPI), thuốc kháng

histamin tác động lên thụ thể H hoặc thuốc tăng nhu động 2

dạ dày ruột Nếu những cách điều trị này khơng thành cơng,

cịn một lựa chọn là cho ăn bằng ống thơng hỗng tràng

Cách cuối cùng là quy trình chống trào ngược, cĩ thể được

xem xét sau khi đã đánh giá kỹ lưỡng tình hình

Lần đầu tiên bạn gặp một người mẹ đơn thân và hai đứa con sinh đơi khuyết tật của cơ ấy Hai đứa trẻ được cho ăn bằng ống thơng dạ dày qua thành bụng và bởi vì chúng khơng chịu được cách này và lớn rất chậm, người mẹ đã được khuyên cho con ăn mỗi lần hơn 2 giờ, 4 lần một ngày

Hiện nay người mẹ phải dùng đến hơn 8 tiếng mỗi ngày để cho con ăn Cần thử cách cho ăn ban đêm bằng những viên

bổ sung dinh dưỡng nhỏ hơn viên dùng ban ngày Thay đổi dạng cơng thức, thể tích hoặc tính thích hợp của thức ăn cũng cĩ thể cĩ tác dụng Điều trị chứng trào ngược cũng cĩ thể được tối ưu hố Việc cho ăn bằng ống thơng hỗng tràng

sẽ cĩ thể rất phức tạp đối với người mẹ này Phương cách cuối cùng, sau khi đã đánh giá kỹ lưỡng tình hình, là quy trình chống trào ngược

Một bé trai 4 tuổi bị bại não nặng đến văn phịng của bạn để được kiểm tra Cậu bé được cho ăn bằng ống thơng dạ dày qua thành bụng Cậu bé chỉ cĩ thể nằm trên giường, bị thiếu nước, giảm thân nhiệt và bị chậm nhịp tim Cậu bé bị thừa cân (cân năng theo chiều cao lớn hơn 97% các cậu bé cùng tuổi) mặc dù bữa ăn của cậu đã được giảm xuống 150 calo 3 lần mỗi ngày (30cal/kg/ngày).

Đây là một trường hợp điển hình của một bệnh nhân thừa cân, trao đổi chất chậm Lượng calo đưa vào cần được giữ ở mức thấp nhất cĩ thể Lượng dinh dưỡng cần cung cấp đầy

đủ dinh dưỡng đa và vi lượng mà khơng chứa quá nhiều calo Cần phải sử dụng cơng thức calo thấp/chất dinh dưỡng cao Cần theo dõi sát sao tình trạng thể dịch và lượng

vi chất đưa vào Nếu cần thiết, cần thực hiện các xét nghiệm

cơ bản bao gồm xét nghiệm albumin, chức năng tuyến giáp.

Trang 10

NHỮNG ĐIỂM NỔI BẬT VỀ DINH DƯỠNG LÂM SÀNG

Tính năng bài viết Tính năng bài viết

Tài liệu tham khảo

Trang 11

CƠ SỞ: cho ăn bằng ống thơng sớm sau phẫu thuật đã được

khuyến nghị để cải thiện tình trạng dinh dưỡng của bệnh

nhân sau phẫu thuật cắt bỏ thực quản Tuy nhiên cịn chưa

rõ liệu việc này cĩ làm giảm các biến chứng hậu phẫu và

tăng tỉ lệ hồn thành qui trình lâm sàng hay khơng

PHƯƠNG PHÁP: chúng tơi đã phân tích 154 bệnh nhân

được xếp ngẫu nhiên vào nhĩm cho ăn bằng ống thơng và

nhĩm cho ăn qua truyền tĩnh mạch.Việc quản lý chu

phẫu(perioperative management) được thực hiện bằng

những qui trình lâm sàng giống nhau trừ dinh dưỡng KẾT

QUẢ: Tỉ lệ chung của bất kì biến chứng sau phẫu thuật nào

cũng khơng khác nhau giữa nhĩm cho ăn bằng ống thơng

và nhĩm cho ăn qua truyền tĩnh mạch (P = 0.50); tuy nhiên

tỉ lệ biến chứng cĩ thể gây tử vong giảm đáng kể ở bệnh

nhân cho ăn bằng ống thơng (P=0.02) Tỉ lệ các biến chứng

do phẫu thuật khơng nguy hiểm đến tính mạng khơng khác

nhau giữa 2 nhĩm (P=0.98) Với các bệnh nhân cho ăn

bằng ống thơng tỉ lệ hồn thành qui trình lâm sàng cao hơn

(P = 0.03) và thời gian phải ở lại bệnh viện sau phẫu thuật

ngắn hơn (P=0.04) KẾT LUẬN: cho ăn bằng ống thơng

sớm làm giảm biến chứng hậu phẫu cĩ thể gây tử vong và

tăng tỉ lệ hồn thành qui trình lâm sàng của bệnh nhân trải

qua phẫu thuật cắt thực quản.

MỤC TIÊU: Xì dị là biến chứng nghiêm trọng sau phẫu

thuật ung thư dạ dày Mặc dù cho ăn bằng ống thơng cĩ

nhiều ưu việt hơn, cho ăn qua truyền tĩnh mạch vẫn là cách

chữa trị qui chuẩn với trường hợp xì dị Sau khi áp dụng

cho ăn bằng ống thơng mũi-ruột cho bệnh nhân bị xì dị ở

viện của chúng tơi năm 2006, qui trình dinh dưỡng chuẩn

được chuyển dần từ cho ăn qua truyền tĩnh mạch sang cho

ăn bằng ống thơng Những nghiên cứu khởi đầu hiện nay

đánh giá tính an tồn và tính khả thi của việc cho ăn bằng

ống thơng mũi-ruột đối với trường hợp bị xì dị sau phẫu

thuật ung thư dạ dày PHƯƠNG PHÁP: hồi cứu

CƠ SỞ: để cải thiện tình trạng lâm sàng, dinh dưỡng miễn

dịch (DDMD) thường được dùng cho bệnh nhân chọn phẫu thuật chữa ung thư đường tiêu hĩa Tuy nhiên hiệu quả của

nĩ (DDMD) vẫn chưa rõ ràng PHƯƠNG PHÁP: 2 nhà phân tích tìm và chọn một cách độc lập với nhau các nghiên cứu cĩ đối chứng ngẫu nhiên (RCT) được cơng bố trong giai đoạn 1995-2011 ở các ngân hàng dữ liệu điện tử như PubMed, EMBASE và thư viện Cochrane Chất lượng của các nghiên cứu được chọn được đánh giá theo hướng dẫn dành cho Cochrane reviewer (V5.0.1) Phân tích thống kê

(retrospective review) tất cả các trường hợp phẫu thuật ung thư dạ dày từ năm 2005-2009 (n=2.588) cho thấy cĩ 53 bệnh nhân (2%) bị xì dị và đã được điều trị theo cách cũ Cho ăn bằng ống thơng được thực hiện qua ống thơng mũi-ruột được đưa vào dưới sự hướng dẫn của X quang Các kết quả lâm sàng và các biến chứng của bệnh nhân cho ăn bằng ống thơng được so sánh với kết quả của bệnh nhân được cho ăn qua truyền tĩnh mạch (nhĩm đối chứng lịch sử)

(historical control group) Độ nặng của biến chứng được

đánh giá theo phương pháp phân loại của Clavien-Dindo KẾT QUẢ: phân tích cuối cùng được thực hiện trên 50 bệnh nhân (do cĩ 3 bệnh nhân đã tử vong): 29 người được cho ăn bằng ống thơng (CAOT) và 21 người được cho ăn qua truyền tĩnh mạch (CATM) Giữa 2 nhĩm khơng cĩ sự khác biệt đáng kể về những kết quả lâm sàng và tổng số lần

cĩ biến chứng; tuy nhiên số lượng biến chứng liên quan đến việc đặt ống ít hơn ở nhĩm CAOT so với nhĩm CATM (1 so với 7, P<0.01) Cĩ một trường hợp bị chảy máu cam

(epistaxis) (3,4%, mức độ I) ở nhĩm CAOT và 7 trường

hợp nhiễm trùng do đặt ống (33,3%, mức độ II) ở nhĩm CATM Nguy cơ bị biến chứng độ II hoặc nặng hơn độ II cao hơn ở nhĩm CATM so với nhĩm CAOT (11 so với 4, P<0,01) với sự khác nhau thể hiện rõ nhất ở tỷ lệ nhiễm trùng do đặt ống Vào ngày 7, 10 và 15 sau khi được xác

định là bị dị, số lượng bạch cầu và protein phản ứng C

(C-reactive protein - CRP) ở nhĩm CATM cao hơn nhĩm

CAOT Nhĩm CATM cần thời gian truyền kháng sinh tĩnh mạch kéo dài (P<0.01) KẾT LUẬN: cho ăn bằng ống thơng mũi-ruột an tồn cĩ thể được dùng cho bệnh nhân bị

xì dị sau phẫu thuật Ưu điểm chính của CAOT là ít bị biến chứng nhiễm trùng Vì CAOT khơng kém hơn CATM về kết quả lâm sàng, chúng tơi khuyến nghị dùng CAOT cho bệnh nhân bị xì dị sau khi phẫu thuật ung thư dạ dày

TÓM TẮT VỀ DINH DƯỠNG LÂÂM SÀNG

UNG THƯ

Cho ăn bằng ống thông sớm làm giảm biến

chứng có thể gây tử vong sau phẫu thuật

cắt thực quản ở bệnh nhân ung thư thực quản

Tạp chí Eur Surg Res, ngày 1 tháng 3 năm 2012;48(2):79-84

Fujita T, Daiko H, Nishimura M

Khoa phẫu thuật thực quản, Bệnh viện ung thư quốc gia trung tâm phía đông,

Kashiwa, Nhật Bản.

Quản lý/xử lý an toàn xì do (anastomotic leakage)

sau phẫu thuật ung thư dạ dày bằng nuôi dưỡng

qua ống thông mũi - ruột

Dinh dưỡng miễn dịch chu phẫu (Perioperative) cho bệnh nhân ung thư dạ dày - ruột: nhìn lại một cách hệ thống những nghiên cứu có đối chứng ngẫu nhiên

Tạp chí Langienbecks Arch Surg , tháng 6 năm 2012;397(5):737-744

Akashi Y, Hiki N, Nunobe S, Jiang X, Yamaguen T

Khoa phẫu thuật tiêu hóa, Bệnh viện ung thư, Hội nghiên cứu ung thư

Nhật Bản, Tokyo, Nhật Bản

Tạp chí Surg Oncol, tháng 6 năm 2012 Jun;21(2):e87-e95

Zhang Y, Gu Y, Guo T, Li Y, Cai H

Bệnh viện tỉnh Gansu, Quận Chengguan, Thành phố Lanzhou, Tỉnh Gansu, Trung Quốc.

Tĩm tắt trong phần này đã được lựa chọn trong mục tìm kiếm về Dinh dưỡng lâm sàng và các chủ đề liên quan đến cơ sở dữ liệu PubMed của Hoa Kỳ Thư viện Dược Quốc gia PubMed cĩ thể được truy cập thơng qua Thư viện Quốc gia của trang web Y khoa tại www.nlm.nih.gov.

Trang 12

được thực hiện sử dụng phần mềm RevMan KẾT QUẢ: 19

nghiên cứu cĩ đối chứng ngẫu nhiên liên quan đến tổng số 2331

bệnh nhân đã được đưa vào phân tích tổng hợp của chúng tơi Kết

quả cho thấy DDMD chu phẫu làm giảm đáng kể thời gian nằm

viện (WMD, -2.62; 95% CI, -3.26 to -1.97; P < 0.01) và tỉ lệ tử

vong do biến chứng nhiễm trùng (RR, 0.44; 95% CI, 0.32 to 0.60;

P < 0.01) so với chế độ ăn chuẩn thường dùng Hơn nữa, DDMD

chu phẫu làm giảm đáng kể tỉ lệ tử vong do biến chứng hậu phẫu

khơng liên quan đến nhiễm trùng so với nhĩm thực hiện chế độ ăn

thơng thường (RR, 0.72; 95% CI, 0.54 to 0.97; P = 0.03) KẾT

LUẬN: DDMD chu phẫu cĩ hiệu quả và an tồn, làm giảm nhiễm

trùng hậu phẫu, giảm những biến chứng khơng liên quan đến

nhiễm trùng và thời gian nằm viện.

MỤC ĐÍCH CỦA BÀI TỔNG QUAN : bài tổng quan này nêu

bật những dữ liệu hiện cĩ đánh giá vai trị của nuơi dưỡng qua

Trong 20 năm qua, việc dùng liệu pháp ức chế acid

(acid-suppressive therapy -AST) để phịng tránh bệnh viêm trợt xung

huyết dạ dày ở những bệnh nhân ở khoa chăm sĩc tích cực tăng rất nhanh Những trường hợp chỉ định dùng liệu pháp AST bao gồm những bệnh nhân cần dùng máy thở, xuất huyết đường tiêu hố,

bỏng nặng và chấn thương đầu

Tuy được giới hạn chỉ định trong những trường hợp nĩi trên, nhưng chất ức chế bơm proton (PPI) vẫn thường hay được kê quá nhiều để chống stress Máu đến các niêm mạc giảm dẫn tới thiếu máu cục bộ ở mơ được cho là cơ chế gây ra bệnh lý dạ dày do stress Tiếp đĩ, việc kích hoạt yếu tố gây viêm và yếu tố gây co mạch quyết định mức độ nặng của bệnh dạ dày Nhiều nghiên cứu

cơ bản đã gợi ý rằng cho ăn bằng ống thơng (CAOT) cĩ thể cải thiện lượng máu đến niêm mạc và giúp đảo ngược quá trình gây viêm này Tuy nhiên các nghiên cứu lâm sàng đánh giá hiệu quả của CAOT so với việc dùng chất ức chế acid cho các kết quả rất khác nhau (cho đến nay vẫn chưa cĩ các nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên) Trong những trường hợp cĩ tăng tiết như chấn thương ở đầu và bị bỏng, nên dùng chất ức chế acid (AST) ngay cả đối với bệnh nhân dung nạp CAOT Trong trường hợp khơng cĩ tăng tiết, nên tránh hoặc dừng dùng thuốc ức chế acid đối với bệnh nhân dung nạp CAOT Khơng nên tiếp tục dùng thuốc chống stress đối với bệnh nhân khơng cĩ những chỉ định rõ ràng cho việc dùng Nếu bệnh nhân dùng CAOT để chống stress bị xuất huyết tiêu hĩa rõ rệt thì nên bắt đầu cho dùng thuốc ức chế bơm proton PPIs Cần cĩ những nghiên cứu cĩ đối chứng ngẫu nhiên để đánh giá hiệu quả của CAOT trong phịng tránh loét dạ dày do stress

Nên thiết lập các qui trình nhắc nhở đội ngũ chăm sĩc sức khỏe xem xét việc dừng dùng thuốc ức chế acid, đặc biệt khi mà việc cho ăn bằng ống thơng là phù hợp với bệnh nhân

truyền tĩnh mạch (CATM) và cung cấp năng lượng trong điều

kiện chăm sĩc tích cực Chú trọng đặc biệt vào các trường hợp thử

nghiệm CATM sớm và /hoặc cho ăn bổ sung qua truyền tĩnh mạch (SPN) và tối ưu hĩa việc cung cấp năng lượng cho các bệnh nhân được chăm sĩc tích cực dựa trên nguy cơ dinh dưỡng và độ nặng của bệnh tật Tầm quan trọng mà việc cung cấp protein cĩ thể mang lại đối với kết quả điều trị cũng được thảo luận CÁC PHÁT HIỆN MỚI: các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên gần đây cho thấy đối với những trường hợp bệnh nhân khơng nhận đủ dinh dưỡng nhờ cho ăn bằng ống thơng, việc nuơi dưỡng bổ sung bằng truyền tĩnh mạch cĩ hiệu quả hay khơng vẫn là một vấn đề cịn phải bàn

luận Những thử nghiệm này cĩ những khác biệt đáng kể về độ

nặng của bệnh (nguy cơ tử vong), phương thức cung cấp năng lượng cho bệnh nhân và lượng protein đưa vào Các nghiên cứu quan sát gần đây cho thấy tình trạng dinh dưỡng trước khi bị bệnh của bệnh nhân và mức độ đầy đủ của lượng protein đưa vào cĩ thể

là yếu tố quyết định sống cịn đối với ảnh hưởng của SPN và phương thức cung cấp năng lượng tối ưu lên kết quả điều trị TĨM TẮT: kết quả gây tranh cãi của các thử nghiệm RCTs và SPN gần đây đã chỉ rõ các yếu tố quyết định việc cung cấp thêm calo/protein cĩ thể mang lại lợi ích cho những bệnh nhân nào

Những số liệu này, kết hợp với những nghiên cứu quan sát lớn đã cho thấy sự cần thiết phải tiến hành những nghiên cứu xác định lợi ích của phương thức cung cấp năng lượng/protein tối ưu đối với những bệnh nhân cĩ nguy cơ tử vong và nguy cơ suy dinh dưỡng

cao trước khi bị bệnh.

Phòng chống stress (Stress prophylaxis)ở những bệnh nhân điều trị tích cực và vai trò của việc cho ăn bằng ống thông

Tạp chí JPEN J Parenter Enteral Nutr, ngày 12 tháng 3 năm 2012

(Ấn phẩm trước khi in) Hurt RT, Frazier TH, McClave SA, Crittenden NE, Kulisek C, Saad M, Franklin GA Mayo Clinic, Rocheste, Minnesota và Đại học Louisville, Louisville, Kentucky, Mỹ

Người ta đã chứng minh rằng sự suy kiệt (depletion) glutamine là

một dấu hiệu tiên lượng tử vong độc lập ở những bệnh nhân nằm

tại khoa chăm sĩc tích cực Hiện nay việc bổ sung glutamine được

khuyên dùng cho các bệnh nhân được chăm sĩc tích cực được cho

ăn qua truyền tĩnh mạch Ngồi glutamine, glutathione cĩ thể là

yếu tố hạn chế đối với các bệnh nhân suy đa tạng được chăm sĩc

tích cực Một nghiên cứu quan sát đã được tiến hành để nghiên cứu

sự phổ biến của suy kiệt glutamine và glutathione Kết quả được

phân tích dựa trên tỉ lệ tử vong và các dấu hiệu tiên lượng tử vong

thơng thường, thang điểm APACHE II đánh giá mức độ nặng của

bệnh nhân khi nhập khoa chăm sĩc tích cực và thang điểm SOFA

lượng giá trình tự suy cơ quan Nghiên cứu được tiến hành trên

những bệnh nhân liên tiếp được nhận vào khoa chăm sĩc tích cực

tại bệnh viện Huddinge, đại học Karolinska Điểm đánh giá

APACHE II và SOFA của bệnh nhân khi nhập khoa chăm sĩc tích

cực cũng như tỉ lệ tử vong đã được ghi lại trong 6 tháng Nồng độ

glutamine huyết tương và tình trạng glutathione máu tồn phần

khi nhập viện đã được phân tích Nồng độ glutamine huyết tương

khi nhập viện khơng cĩ mối liên quan gì với các tiêu chuẩn đánh

giá nguy cơ thơng thường khi nhập viện và hàm lượng thấp hơn

bình thường là dấu hiệu tiên lượng tử vong Thêm vào đĩ, trạng

thái oxi hĩa/khử của glutathione cũng là một dấu hiệu tiên lượng

tử vong độc lập nhưng ở đây một tỉ lệ bình thường là yếu tố nguy

cơ Ở cả 2 trường hợp, nguy cơ tử vong chủ yếu rơi vào giai đoạn

sau khi bệnh nhân đã rời khỏi khoa chăm sĩc tích cực Nồng độ

glutamine huyết tương thấp khi nhập khoa chăm sĩc tích cực là

một yếu tố nguy cơ độc lập tiên lượng tử vong sau giai đoạn điều

trị tại khoa chăm sĩc tích cực Lợi ích cĩ thể mang lại nhờ việc bổ

sung glutamine kéo dài sau khi bệnh nhân rời khỏi khoa chăm sĩc

tích cực nên được đánh giá một cách lâu dài/ theo thời gian.

CHĂM SĨC TÍCH CỰC

Mối tương quan giữa nồng độ glutamine và

glutathione trong máu với kết quả điều trị ở

những bệnh nhân nhập khoa chăm sóc tích cực

Tạp chí Clin Sci (Lond) , tháng 6 năm 2012;122(12): 591-597

Rodas PC, Rooyackers 0, Hebert C, Norberg A, Wernerman J

Khoa gây mê và chăm sóc tích cực tại Bệnh viện Huddinge

Đại học Karolinska Stockholm, Thụy Điển.

Cho ăn qua truyền tĩnh mạch và cung cấp

năng lượng ở khoa chăm sóc tích cực: Vấn đề

còn bàn cãi, đã rõ ràng, hay phải kêu gọi

hành động

Tạp chí Curr Opin Crit Care 2012, tháng 4 năm 2012;18(2):164-173

Wischmeyer P.

Khoa liệu pháp dinh dưỡng, trường Y thuộc Đại học Colorado,

Aurora, Colorado, Hoa Kỳ

Trang 13

TÓM TẮT VỀ DINH DƯỠNG LÂM SÀNG

CƠ SỞ: Những lúng túng trong việc đánh giá mức độ phù hợp

của phương pháp nuơi dưỡng bệnh nhân thường đưa đến việc

dừng cho bệnh nhân ăn một cách khơng cần thiết MỤC TIÊU:

thơng báo những kết quả của một cuộc khảo sát cấp quốc gia về

những phương pháp đánh giá mức độ dung nạp cho ăn bằng

ống thơng dạ dày đối với các bệnh nhân tại khoa chăm sĩc tích

cực và bàn luận về những kết quả này dựa trên các hướng dẫn

hiện tại về cho ăn bằng ống thơng (CAOT)

PHƯƠNG PHÁP: mẫu phiếu điều tra trên giấy được gửi qua

bưu điện đến 1.909 thành viên của hội y tá chăm sĩc tích cực

Hoa Kỳ Thêm vào đĩ, mẫu phiếu điều tra cũng được đưa lên

mạng internet trong một bản tin gửi đến tất cả các thành viên

của hội Số liệu được phân tích dựa trên kết quả thu được từ cả

2 cách khảo sát qua thư và trực tuyến KẾT QUẢ: nghiên cứu

thu được tổng số 2298 phản hồi; Hầu hết các phản hồi đều cho

biết cĩ dùng kết hợp các phương pháp đánh giá mức độ dung

nạp cho ăn bằng ống thơng dạ dày của bệnh nhân (nghe tiếng

ruột, đo thể tích cịn lại trong dạ dày, quan sát hiện tượng căng

cứng/ khĩ chịu ở vùng bụng, cảm giác buồn nơn và nơn) Hơn

97% số y tá trả lời cĩ đo thể tích cịn lại trong dạ dày; ngưỡng

được dùng nhiều nhất để quyết định dừng cho ăn là 200ml và

250ml Khoảng 25% y tá trả lời đã dừng cho ăn khi thể tích cịn

lại trong dạ dày là 150ml hay ít hơn Chỉ cĩ 12,6% y tá trả lời là

họ dừng cho ăn khi thể tích cịn lại trong dạ dày lớn tới 500ml

KẾT LUẬN: thực hành lâm sàng của 2298 y tá rất khác nhau

Rất nhiều y tá trong điều tra cĩ thể đã giảm cung cấp năng

lượng cho bệnh nhân một cách khơng cần thiết Cần phải xây

dựng các qui trình dựa trên các hướng dẫn hiện tại về CAOT để

đưa vào sử dụng trong thực tế

Kiểm soát những trường hợp không thích ứng

với cách cho ăn bằng ống thông dạ dày:

một khảo sát cấp Quốc gia

Kết hợp cho ăn bằng ống thông và cho ăn qua truyền tĩnh mạch

Nhiễm trùng máu sau ghép gan từ người cho còn sống: ảnh hưởng của việc cho ăn qua ống thông sớm

Tạp chí Am J Crif Care tháng 3 năm 2012;21(2):e33-e40

Metheny NA, Mills AC, Stewart BJ.

Trường đào tạo Y tá Đại học Saint Louis, St Louis, Missouri, Mỹ;

Đại học Khoa học và Sức khỏe Oregon, Hoa Kỳ.

Tạp chí Curr Opin Clin Nutr Metab Care tháng 3 năm 2012;15(2):161-165

Wernerman J.

Khoa gây mê hồi sức tim mạch và chăm sóc tích cực, Bệnh viện Huddinge, Đại học Karolinska, Stockholm, Thụy Điển

MỤC ĐÍCH CỦA BÀI TỔNG QUAN: đánh giá nguy cơ dinh

dưỡng cĩ tầm quan trọng lớn để xác định được những bệnh

nhân cĩ thể hưởng lợi từ những can thiệp dinh dưỡng nhằm

tránh tình trạng bệnh nhân ở chế độ chăm sĩc tích cực bị đĩi và

tránh tác dụng phụ của việc chăm sĩc dinh dưỡng Vẫn chưa cĩ

các hướng dẫn một cách đầy đủ về việc đánh giá nguy cơ dinh

dưỡng của chế độ chăm sĩc tích cực

CÁC PHÁT HIỆN MỚI: nhiều bệnh nhân được nhận vào đơn

vị chăm sĩc tích cực đã bị thiếu hụt dinh dưỡng liên quan đến

bệnh cấp tính và mạn tính Đa phần những bệnh nhân khơng

thể lấy lại lượng dinh dưỡng đầy đủ qua đường miệng trong vài

ngày sẽ bị giảm cân do giảm khối tế bào gây ra bởi phản ứng

viêm nặng kéo dài và sự thiếu hụt thức ăn đưa vào Tất cả các

bệnh nhân nằm ở khoa chăm sĩc tích cực nhiều hơn 1-2 ngày

đều cần cĩ trợ giúp về dinh dưỡng, cần được kiểm sốt sát sao

và được đánh giá nguy cơ rủi ro Đánh giá nguy cơ rủi ro phải

được duy trì liên tục suốt thời gian ở khoa chăm sĩc tích cực để

quản lý tốt những rủi ro liên quan đến bệnh tật và chăm sĩc

dinh dưỡng Nhiều bệnh nhân cĩ nguy cơ bị hội chứng sau nuơi

ăn (refeeding syndrome), bị những rối loạn nhu động nặng và

cuối cùng là bị chứng khĩ nuốt sau khi tháo ống Hậu quả

nghiêm trọng của việc tăng áp lực ổ bụng cũng cĩ thể được

giảm bớt khi được phát hiện và điều trị sớm Cĩ mối tương

tác chặt chẽ giữa sự phát triển của những bệnh nặng, các phản ứng viêm liên quan, cách điều trị ở các khoa chăm sĩc tích cực với chăm sĩc dinh dưỡng TĨM LẠI: chế độ dinh dưỡng an tồn và hiệu quả chỉ cĩ thể đạt được khi chức năng tiêu hĩa và sự dung nạp chuyển hĩa chất dinh dưỡng

(metabolic tolerance of nutrients) được đánh giá một cách

thường xuyên

CƠ SỞ: Nhiễm trùng máu là một vấn đề quan trọng cần phải được giải quyết sau khi ghép gan từ người cho cịn sống (living donor liver transplantation – LDLT) THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU: một phân tích hồi cứu 346 trường hợp LDLT từ người lớn cho người lớn đã được tiến hành KẾT QUẢ: 46 bệnh nhân (13,3%) bị nhiễm trùng máu trong đĩ 23,9% là nguyên phát

(primary origin) và 76,1% là thứ phát (secondary origin)

71,7% lượng vi khuẩn phân lập được là vi khuẩn gram âm Tỉ

lệ gan ghép hoạt động chức năng trong 2 năm (2-year

cumulative graft survival rate) ở bệnh nhân bị nhiễm trùng

máu là 45,7% Bệnh nhân bị nhiễm trùng máu do viêm phổi (n=12) cĩ tỉ lệ gan ghép hoạt động chức năng sau 2 năm thấp hơn (16,7%) so với tỷ lệ này ở những bệnh nhân bị nhiễm trùng máu nguyên phát hay các dạng thứ phát khác (p=0.004) Phân

tích đa biến (multivariate analysis) cho thấy việc bệnh nhân bị

mất một lượng máu lớn > 10L (p<0,001) trong quá trình phẫu thuật và việc khơng cho ăn bằng ống thơng trong 48 giờ sau ghép (p=0.005) là các nhân tố nguy cơ bị nhiễm trùng máu

MỤC ĐÍCH CỦA BÀI TỔNG QUAN: xem xét lại và thảo luận những chứng cứ và tranh cãi trong việc kết hợp cho ăn bằng ống thơng (CAOT) và cho ăn qua truyền tĩnh mạch (CATM) ở khoa chăm sĩc tích cực, đặc biệt về nghiên cứu việc cho ăn sớm qua truyền tĩnh mạch sau đĩ cho ăn qua ống thơng ở những bệnh nhân nặng trưởng thành (EPaNIC)

(Early Parenteral Nutrition Completing Enteral Nutrition

in Adult Critically Ill Patients) NHỮNG PHÁT HIỆN

MỚI: Nghiên cứu EPaNIC cho thấy một ưu điểm về số lượng những bệnh nhân cịn sống sau khi rời khỏi khoa điều trị tích cực khi CATM bị trì hỗn đến ngày thứ 8 so với việc kết hợp giữa CAOT và CATM từ ngày thứ 3 sau khi nhập khoa chăm sĩc tích cực TĨM TẮT: sự khác biệt giữa những hướng dẫn của hiệp hội CAOT và CATM Châu Âu

và những hướng dẫn của hiệp hội CAOT và CATM/ Hiệp hội y học chăm sĩc tích cực Bắc Mỹ về việc kết hợp giữa CAOT và CATM trong tuần đầu tiên ở khoa chăm sĩc tích cực đã được xem xét lại Nghiên cứu EPaNIC đã chỉ rõ CATM sớm tại khoa chăm sĩc tích cực khơng phải là lựa chọn tốt nhất cho phần lớn bệnh nhân Thời điểm chính xác nên kết hợp giữa CAOT và CATM vẫn là câu hỏi chưa cĩ lời giải

Đánh giá nguy cơ dinh dưỡng tại khoa

chăm sóc tích cực

Tạp chí Curr Opin Clin Nutr Care tháng 3 năm 2012;15(2):174-180

Hiesmayr M.

Khoa gây mê hồi sức tim mạch và chăm sóc tích cực,

Ikegami T, Shirake K, Yoshiya S, Yoshizumi T, Ninomiya M, Uchiyama H, Soejima Y, Maehara Y.

Bộ môn Khoa học và Giải phẫu Khoa sau Đại học về Khoa học Y học, Đại học Kyushu Fukuoka, Nhật Bản.

Ngày đăng: 23/10/2021, 22:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Các cách đo chiều cao khác nhau Đơn vị đoCách đo - NHỮNG BÀI NỔI BẬT VỀ DINH DƯÕNG LÂM SÀNG Khoa học hỗ trợ dinh dưỡng tốt
Bảng 1. Các cách đo chiều cao khác nhau Đơn vị đoCách đo (Trang 5)
đưa ra nhu cầu năng lượng cao hơn thực tế (Bảng 3). - NHỮNG BÀI NỔI BẬT VỀ DINH DƯÕNG LÂM SÀNG Khoa học hỗ trợ dinh dưỡng tốt
a ra nhu cầu năng lượng cao hơn thực tế (Bảng 3) (Trang 6)
Hình 1. Giải thuật đưa ra quyết định nuôi ăn bằng ống xông - NHỮNG BÀI NỔI BẬT VỀ DINH DƯÕNG LÂM SÀNG Khoa học hỗ trợ dinh dưỡng tốt
Hình 1. Giải thuật đưa ra quyết định nuôi ăn bằng ống xông (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w