1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Chính sách quản lý hàng nhập khẩu của Mỹ và một số điều cần lưu ý đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu hàng hoá vào thị trường này” pptx

104 616 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách quản lý hàng nhập khẩu của Mỹ và một số điều cần lưu ý đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu hàng hoá vào thị trường này
Tác giả Tạ Thị Minh Huệ
Người hướng dẫn Tiến sĩ Phạm Duy Liên
Trường học Đại học Ngoại thương
Chuyên ngành Ngoại thương
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khoá luận được chia làm ba phần: - Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về nền kinh tế Mỹ - Chương 2: Chính sách quản lý hàng nhập khẩu của Mỹ trong giai đoạn hiện nay - Chương 3: Một số vấn

Trang 1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Chính sách quản lý hàng nhập khẩu của Mỹ và một số điều cần lưu ý đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu hàng hoá vào thị trường này

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Mỹ- một đất nước với những tiềm năng to lớn về kinh tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ và quân sự, đã và đang là một cường quốc số một thế giới chi phối đời sống kinh tế và chính trị quốc tế

Đất nước này là một thị trường rộng lớn với dân số xấp xỉ 300 triệu người, thu nhập bình quân đầu người gần 40000 USD Hàng năm Mỹ nhập khẩu một lượng hàng hoá trị giá tới trên 1000 tỷ USD Do đó, Mỹ được coi là một thị trường quan trọng và lớn nhất thế giới mà nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam mong muốn hàng hoá của mình thâm nhập được vào Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam đang thực hiện chiến lược hướng tới xuất khẩu để phục

vụ mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì thị trường Mỹ là một thị trường không thể bỏ qua Đây là một thị trường tiềm năng lớn cho hàng hoá Việt Nam, nhất là kể từ sau khi Hiệp định thương mại song phương Việt- Mỹ có hiệu lực, hàng hoá Việt Nam sang Mỹ được hưởng quy chế Tối huệ quốc thì cơ hội xâm nhập thị trường này cho các doanh nghiệp Việt Nam càng trở nên rộng mở

Song, do những hạn chế của chính sách cấm vận của Mỹ với Việt Nam trong nhiều năm kể từ sau cuộc chiến tranh giữa hai nước cộng với những khác biệt về chế độ chính trị, kinh tế, ngoại giao, chính sách thương mại đã khiến cho thị trường Mỹ tuy hấp dẫn nhưng đầy xa lạ với các doanh nghiệp Việt Nam Do

đó, khả năng rủi ro xảy đến với các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất hàng sang

Mỹ cũng lớn hơn so với các thị trường khác Thách thức không nhỏ đang đặt ra đối với các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam là hệ thống pháp luật vô cùng phức tạp của Mỹ Những quy định ngặt nghèo của Mỹ về hàng nhập khẩu là những trở ngại lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam và nếu không có sự nỗ lực cao, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ không dễ gì vượt qua rào cản này

Chính vì vậy, hiện nay việc tìm hiểu về thị trường Mỹ nói chung và cơ chế chính sách điều chỉnh hoạt động nhập khẩu hàng hoá của Mỹ nói riêng trở nên hết sức cần thiết và bức xúc

Sau bốn năm học tập tại trường Đại học Ngoại thương, với những kiến thức về chuyên ngành ngoại thương đã tích luỹ được, em mong muốn được vận

Trang 3

dụng những kiến thức đã học để giải quyết một vấn đề thực tế đặt ra trong hoạt động ngoại thương của đất nước trong bài khoá luận của mình Với mong muốn

đó, và xuất phát từ yêu cầu thực tế tìm hiểu thị trường Mỹ, em đã chọn đề tài

“Chính sách quản lý hàng nhập khẩu của Mỹ và một số điều cần lưu ý đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu hàng hoá vào thị trường này” để thực hiện khoá luận của mình Mục đích đặt ra là nêu lên được những

đặc điểm cơ bản nhất về thị trường Mỹ cũng như những đạo luật quan trọng quản lý hàng nhập khẩu của Mỹ, từ đó rút ra những điều đáng lưu ý nhất mà doanh nghiệp cần quan tâm khi xuất khẩu hàng vào Mỹ Qua đấy, góp phần cho

sự thành công của các doanh nghiệp Việt Nam trong buôn bán với Mỹ

Phương pháp sử dụng để thực hiện khoá luận là phương pháp duy vật biện chứng, kết hợp với phương pháp phân tích, tổng hợp và thống kê

Vì đây là một vấn đề rộng lớn và phức tạp nên trong phạm vi bài khoá luận của mình, em chỉ xin chọn cách tiếp cận đề tài từ một bình diện khái quát nhất để tiến hành nghiên cứu

Khoá luận được chia làm ba phần:

- Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về nền kinh tế Mỹ

- Chương 2: Chính sách quản lý hàng nhập khẩu của Mỹ trong giai đoạn

hiện nay

- Chương 3: Một số vấn đề cần lưu ý đối với các doanh nghiệp Việt Nam

khi xuất khẩu hàng hoá vào thị trường này

Mặc dù đã cố gắng, nhưng do thời gian và trình độ có hạn, khoá luận chắc chắn còn nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được sự chỉ dẫn tận tình của thầy

cô và góp ý của bạn bè để có thể hoàn thiện đề tài

Qua đây em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn Tiến sĩ Phạm Duy Liên đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em hoàn thành bài luận văn này

Hà Nội, 12-2003 Sinh viên thực hiện: Tạ Thị Minh Huệ

Trang 4

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỀN KINH TẾ MỸ

I Khái quát về nền kinh tế Mỹ trong những năm gần đây:

H.Kissinger- cựu ngoại trưởng Mỹ từng nói: “ Nước Mỹ ngày nay có ảnh hưởng và thực lực của một đế quốc” Đó là một thực tế Điểm lại nền kinh tế Mỹ trong quá khứ cũng như trong hiện tại, chúng ta có thể thấy rõ điều này:

Năm mươi năm trước đây, sáu trong số bảy nước công nghiệp phát triển nhất thế giới (ngày nay là các nước G7) có giá trị tổng sản phẩm quốc dân chỉ đạt 75% giá trị tổng sản phẩm quốc dân của Mỹ (nước thứ bẩy đó là Mỹ) Lúc đó, có thể nói sức mạnh kinh tế của Mỹ có tính chất áp đảo đối với các nước khác GNP của Mỹ cao hơn Nhật Bản 12 lần và cao hơn Đức 8 lần

Năm mươi năm sau, Tây Âu và Nhật Bản đã vươn lên Năm 1995, so với GDP của Mỹ, Nhật Bản đã bằng 70%, Đức bằng 33% và Anh bằng 61% Tính chung sáu nước công nghiệp phát triển nhất đã có GDP gấp đôi Mỹ Nhiều chỉ tiêu tương đối về phát triển kinh tế tổng hợp của Mỹ đã giảm sút dần so với các nước khác Chẳng hạn, tỷ trọng GDP của Mỹ trong tổng GDP thế giới giảm trong các năm gần đây như sau: 1994: 21,14%, 1995: 20,89%, 1996: 20,69% GDP tính trên đầu người của Mỹ cũng đang dần bị một số nước đuổi kịp và vượt

Những số liệu trên cho thấy sức mạnh kinh tế của Mỹ đã giảm sút tương đối so với sự phát triển chung của toàn thế giới

Tuy nhiên, dù có sự giảm sút, sức mạnh kinh tế của Mỹ vẫn đang đứng đầu thế giới Số liệu so sánh Mỹ với các nước phát triển khác của thế giới (G7) sẽ cho thấy điều đó Năm 1997 GDP của Mỹ đứng đầu thế giới với 8083,4 tỷ USD, trong khi đó Nhật Bản là 4192,3 tỷ USD bằng 52% so với

Trang 5

Mỹ, của Anh là 4801,3 tỷ USD bằng 59% và của Pháp là 1393,3 tỷ USD bằng 17% Năm 1997, trong GDP thế giới Mỹ chiếm 20,4%, Nhật: 7,7%, Đức: 4,6%1 Với tỷ trọng tuyệt đối lớn hơn, Mỹ lại có tốc độ tăng trưởng kinh tế, xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ và đầu tư đều cao và ổn định hơn so với các nước được so sánh Trong vòng 30 năm gần đây, trừ những năm bị khủng hoảng kinh tế (1990-1991), Mỹ luôn có mức tăng trưởng trên 2%, nhìn chung cao hơn mức trung bình của các nước G7 và cho tới gần đây chưa hề có dấu hiệu nào cho thấy sự giảm sút nghiêm trọng của nền kinh tế Mỹ Đặc biệt, trong 10 năm qua (1991-2001) kinh tế Mỹ đã liên tục tăng trưởng với tốc độ trung bình 3,5% từ 1991 đến 1995 và 4,25% từ 1995 đến 2000 Năm 1999, GDP tăng 4,2% và năm 2000 là 5%2 Sự tăng trưởng này là quá trình mở rộng của nền kinh tế Mỹ kéo dài nhất trong lịch sử với gần 18 triệu việc làm mới, lương tăng hơn 2 lần, tỷ lệ lạm phát thấp (khoảng 2%) và mức sở hữu nhà ở của dân chúng cao nhất trong lịch sử, thất nghiệp thấp nhất kể từ 1957, thặng

dư ngân sách tăng cao và ở mức kỷ lục 237 tỷ USD Phần lớn các công ty phát triển mạnh mẽ và thành công nhất trên thế giới là những công ty của Mỹ Theo thống kê trong số 100 công ty lớn nhất thế giới thì Mỹ chiếm 36 với 4 công ty dẫn đầu đều là của nước này Quy mô sản xuất và xuất nhập khẩu của

Mỹ tăng liên tục Tốc độ xuất nhập khẩu của Mỹ trong những năm gần đây đạt khá cao, xuất khẩu tăng 12%, nhập khẩu tăng 13-14% hàng năm Từ năm 1999-2002 xuất khẩu hàng năm đạt hơn 1000 tỷ USD và nhập khẩu từ 1200-1392,1 tỷ USD3 Nói chung sự tăng trưởng liên tục của nền kinh tế Mỹ trong hơn 10 năm qua đã khẳng định vị thế “nền kinh tế phát triển vào bậc nhất thế giới” của Mỹ cả về tổng sản phẩm quốc nội, kim ngạch xuất nhập khẩu, đầu

tư, cũng như những ưu thế trong các lĩnh vực công nghệ tin học, công nghiệp

1 Nguồn: WTO (trang web)

2 Nguồn: Bộ thương mại Mỹ

3 Nguồn: Vụ Châu Mỹ, Bộ ngoại giao

Trang 6

chế tạo, năng lượng, tài chính ngân hàng…Sự phồn vinh đó của nền kinh tế

Mỹ đã trở thành động lực của nền kinh tế thế giới Mỹ giữ vai trò chi phối gần như tuyệt đối trong Ngân hàng thế giới (WB), trong Quỹ tiền tệ thế giới IMF, trong Tổ chức thương mại thế giới WTO và các tổ chức kinh tế tài chính khác

Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế Mỹ bắt đầu suy giảm từ nửa cuối năm

2000 cho dù vẫn tiếp tục kéo dài kỷ lục tăng trưởng kinh tế liên tục (124 tháng) cho đến tháng 6 năm 2001 Sau khi đạt mức tăng trưởng 5,7% trong quý I năm 2000, nền kinh tế bắt đầu chững lại, trong quý III và IV năm 2000 mức tăng trưởng là 1,3 và 1,9% Trong quý I và quý II năm 2001 tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 1,3 % và 0,3% Theo báo cáo của ban nghiên cứu kinh tế quốc gia thì nền kinh tế Mỹ đã thực sự bước vào trì trệ kể từ tháng 3 năm 2001

Bảng 1: Các chỉ số tăng trưởng của kinh tế Mỹ năm 2000-2001 (%)

Q2/ 00 Q3/ 00 Q4/ 00 Q1/ 01 Q2/ 01 Q3/ 01GDP 5,7 1,3 1,9 1,3 0,3 - 1,3 Chi tiêu cá nhân 3,6 4,3 3,1 3,0 2,5 1,0 Đầu tư 19,5 - 2,8 - 2,3 - 2,3 - 12,1 - 10,5 Xuất khẩu 13,5 10,6 - 4,0 - 1,2 - 11,9 - 18,8 Nhập khẩu 16,4 13,0 - 0,5 - 5,0 - 8,4 - 13,0 Chi tiêu chính phủ 4,4 - 1,8 3,3 5,3 5,0 0,3

Nguồn: BEA, Department of Commerce

Nguyên nhân chính của sự suy giảm này là sự cắt giảm đầu tư một cách

ồ ạt Trong quý II năm 2000 tốc độ đầu tư còn ở mức 19,5% là nhân tố quan trọng nhất đóng góp 57% cho tăng trưởng kinh tế thì trong năm 2001, mức suy giảm đầu tư luôn trên 10%, trong quý III là -10,5% Sản xuất đình trệ, ngoại thương thu hẹp Trong 10 tháng đầu năm 2001, xuất khẩu và nhập khẩu của Mỹ giảm tương ứng 4,2% và 4,5% so với cùng kỳ năm trước Trong đó ,

Trang 7

xuất-nhập khẩu hàng hoá giảm 4,8% và 4,3% so với 10 tháng đầu năm 2000, xuất-nhập khẩu dịch vụ cũng giảm tương ứng 2,6% và 5,7% Trước tình hình

đó Cục dự trữ Liên bang Mỹ FED đã áp dụng biện pháp cắt giảm lãi suất và cắt giảm thuế với nỗ lực kiềm chế sự suy thoái của nền kinh tế Song sự kiện ngày 11/9 đã làm cho nền kinh tế Mỹ chao đảo và ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế thế giới Tốc độ tăng trưởng GDP của Mỹ quý III năm 2001 là -1,3% và tăng trưởng cả năm 2001 chỉ đạt 1,2% Nhiều ý kiến cho rằng, sự kiện này sẽ là đòn chí tử đối với nền kinh tế Mỹ khiến nó không thể phục hồi Nhưng một lần nữa, chính phủ Mỹ đã có những biện pháp kịp thời điều chỉnh chính sách kinh tế, ban hành một loạt những chính sách tài chính tiền tệ, đặc biệt là 11 lần liên tục cắt giảm lãi suất của FED nhằm kích thích đầu tư đã khiến cho kinh tế lấy lại được thăng bằng Nhờ vậy, bước vào năm 2002 kinh

tế Mỹ đã có những dấu hiệu phục hồi: thị trường bất động sản trở lại nhộn nhịp, các tập đoàn công nghiệp ký được một khối lượng lớn các hợp đồng, giá năng lượng, hàng hoá giảm đã kích thích sức mua của người dân Trong quý I năm 2002, nền kinh tế Mỹ đã tăng trưởng với tốc độ cao 5,6%, sang quý II tốc

độ tăng trưởng chậm lại chỉ còn 1,1% và cả năm đạt 2,4% với thu nhập quốc dân là 10.446,2 tỷ USD Nói chung, nền kinh tế đã có tăng trưởng song vẫn còn ở mức thấp và có nhiều yếu tố không thuận như thị trương chứng khoán suy yếu, tỷ lệ thất nghiệp vẫn cao, đặc biệt là các vụ bê bối về kế toán, kiểm toán của các tập đoàn lớn của Mỹ như Enron, WorldCom

Trong những tháng đầu năm 2003, theo số liệu thống kê kinh tế vừa được Bộ Tài chính Mỹ công bố, kinh tế Mỹ 6 tháng đầu năm vẫn nằm trong tình trạng trì trệ GDP quý I chỉ tăng 1,4% và triển vọng quý II cũng chỉ ở mức tương tự, tức là thấp hơn nhiều so với mức dự đoán từ đầu năm Nền kinh tế thiểu phát, chỉ số lạm phát thấp: tháng 1: 0,3%, tháng 4: - 0,3%, tháng 5: 0%, đầu tư cho kinh doanh quý I giảm - 4,4%, thấp hơn mức quý IV năm

2002 (2,3%) Xuất khẩu giảm 1,3% và nhập khẩu giảm – 6,2% đã làm cho

Trang 8

cán cân thương mại quý I/ 2003 thâm hụt 121,6 tỷ USD Theo dự báo, chiều hướng này chưa có gì thay đổi trong những quý còn lại của năm 2003 Trong khi đó, mức thâm hụt ngân sách tăng nhanh Riêng trong 8 tháng đầu năm tài chính (bắt đầu từ 1/10/2002), mức thâm hụt ngân sách đạt 292 tỷ USD và dự tính cả năm 2003 ít nhất là 400 tỷ USD Nợ trong nước đạt mức kỷ lục 3900

tỷ USD Đáng chú ý là, mặc dù kế hoạch cắt giảm thuế cả gói của Tổng thống Bush đã được thông qua nhưng tỷ lệ thất nghiệp không ngừng tăng, từ 5,7% tháng 1 đến 6,4% tháng 6/2003, là mức cao nhất trong vòng 9 năm qua Cũng theo số liệu thống kê vừa công bố, kể từ năm 2000 đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Mỹ giảm 90%1 Năm 2001, FDI vào Mỹ là 144 tỷ USD thì năm 2002 chỉ còn 30 tỷ USD Nguyên nhân của sự giảm sút đầu tư là do: thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới giảm sút trong ba năm qua đã làm cho FDI toàn cầu giảm, với hệ quả là FDI vào Mỹ cũng giảm mạnh; thứ hai, triển vọng không sáng sủa của kinh tế Mỹ, đe doạ khủng bố, thâm hụt ngân sách Mỹ đã tác động không ít đến lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài; thứ ba là do giá trị đồng Đô la cao trong 2 năm 2001, 2002 đã làm tăng giá cổ phần tại Mỹ

Nền kinh tế khổng lồ của Mỹ chiếm khoảng 1/3 GDP toàn cầu và khoảng 1/2 mức tăng trưởng nhập khẩu của thế giới, có giá trị FDI lớn nhất nhì thế giới, đồng USD là đồng tiền mạnh được nhiều nước trên thế giới dùng làm phương tiện tích trữ và là phương tiện thanh toán quốc tế, công nghệ Mỹ đứng hàng đầu thế giới Với sức mạnh đó, tầm ảnh hưởng của nền kinh tế Mỹ đối với kinh tế thế giới là không nhỏ và một khi nó bị suy giảm thì không thể không tác động đến sự phát triển kinh tế của nhiều nước và khu vực trên thế giới

Như vậy, sự suy giảm kinh tế Mỹ đương nhiên sẽ vừa trực tiếp vừa gián tiếp tác động đến nền kinh tế Việt Nam, mà chủ yếu là ở hai lĩnh vực thương mại và đầu tư Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng là không lớn Mặc dù vậy chúng ta vẫn cần lưu ý nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực, khai thác tận

1 Nguồn: Bộ thương mại (trang web)

Trang 9

dụng những ảnh hưởng tích cực để ổn định và phát triển kinh tế đất nước

II Đặc điểm chung của thị trường Mỹ

1 Lịch sử địa lý kinh tế

Mỹ là một quốc gia trẻ với lịch sử ra đời cách đây khoảng 500 năm Năm

1492, Christopher Columbus phát hiện ra Châu Mỹ Năm 1607, người Anh bắt đầu đặt chân lên Châu Mỹ và lập nên hệ thống thuộc địa ở hầu hết lãnh thổ Bắc Mỹ.Những người nhập cư thời đó phần lớn là những người trốn tránh cuộc đàn áp chính trị trong nước, người đi tìm tự do thực hành tôn giáo hoặc những người đi tìm kiếm vận may mà họ không được hưởng ở quê nhà Sau người Anh là người Hà Lan, Đức, Pháp, TâyBan Nha, Bồ Đào Nha… chiếm giữ các vùng còn lại Năm 1775, cuộc đấu tranh giành độc lập nổ ra Ngày 4/7/1776, các nhà cách mạng công bố “Tuyên ngôn độc lập”, tách khỏi đế quốc Anh, thành lập Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ gồm 13 bang Năm 1783, Anh

ký Hiệp định Versailles thừa nhận nền độc lập của Mỹ Hiến pháp Liên bang đầu tiên được thông qua ngày 7/9/1787 và có hiệu lực từ 4/3/1789 George Washington được bầu làm Tổng thống đầu tiên của Mỹ

Từ đó đến nay, trải qua trên 500 năm, nước Mỹ đã không ngừng củng cố nền độc lập, phát triển kinh tế Đồng thời cũng không ngừng bành trướng lãnh thổ và mở rộng tầm ảnh hưởng của mình trong khu vực cũng như trên thế giới Hiện nay, Mỹ gồm tất cả 50 bang và 5 khu hành chính trực thuộc Diện tích hiện nay của Mỹ là 9.629.091 km2, rộng thứ tư trên thế giới (sau Liên bang Nga, Canada và Trung Quốc) Trong 50 bang, bộ phận chính là 48 bang liền dải nằm ở trung tâm lục địa Bắc Mỹ, có diện tích 7,8 triệu km2, phía Bắc giáp Canada, phía Nam giáp Mexico, phía đông giáp Đại Tây Dương và phía Tây giáp Thái Bình Dương Bộ phận thứ hai là bang Alaska, nằm ở phía Tây Bắc lục địa Bắc Mỹ, có diện tích 1,5 triệu km2 Bộ phận thứ ba là quần đảo Hawaii, nằm trong Thái Bình Dương, có diện tích trên 16000 km2, là trạm dừng chân từ Tây Bắc Mỹ sang các nước Đông Á So với Việt Nam, Mỹ nằm

Trang 10

tận phía bên kia bán cầu, lệch từ 12 đến 15 múi giờ

Là một đất nước – lục địa rộng lớn (bề ngang trên 4000 km, dài gần 2500 km), Mỹ có tất cả các loại địa hình khí hậu Với địa hình khí hậu đa dạng như vậy cho phép Mỹ phát triển các sản phẩm nông lâm ngư nghiệp phong phú trên quy mô lớn

Nước Mỹ cũng rất giàu tài nguyên thiên nhiên Nhiều loại khoáng sản

có trữ lượng lớn Mỹ là một trong những nước đứng đầu thế giới về khai thác khoáng sản, đặc biệt là dầu và than đá (800 triệu tấn/năm) Đây là những yếu

tố rất thuận lợi cho sự phát triển kinh tế Mỹ, nhất là trong những năm đầu của giai đoạn công nghiệp hoá

Trước 1865, Mỹ vẫn là quốc gia sản xuất và xuất khẩu nông sản là chủ yếu, nhưng sau đó Mỹ bắt đầu vươn lên trở thành một nước công nghiệp phát triển, đuổi kịp và vượt Anh, Pháp, Đức trở thành cường quốc số một thế giới cho đến tận ngày nay

Nền kinh tế Mỹ hiện nay có những đặc điểm nổi bật sau:

* Là một nền kinh tế lớn nhất thế giới:

Với dân số xấp xỉ 300 triệu người, trong đó 76% số ở thành thị, Mỹ là thị trường tiêu thụ bậc nhất thế giới hiện nay Giá trị tổng sản phẩm quốc dân của Mỹ năm 2002 đạt 10.446,2 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người năm

2000 là hơn 36200 USD/ người/ năm, thuộc bộ phận những nước có thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới

Kim ngạch xuất nhập khẩu của Mỹ luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch buôn bán toàn cầu Năm 2002, kim ngạch nhập khẩu của Mỹ lên tới 1392,1 tỷ USD, cao hơn lượng nhập khẩu của cả EU cộng lại Như vậy, tính trung bình mỗi ngày Mỹ chi khoảng 3,8 tỷ USD cho việc nhập khẩu

Bảng 2: Những thông tin cơ bản nhất về nền kinh tế Mỹ

- Tốc độ tăng trưởng GDP : năm 2002 : 2,4% (giai đoạn từ 1992 tới 2002

Trang 11

trung bình tốc độ tăng trưởng GDP là 3,5%/ năm)

- Tổng thu nhập quốc dân năm 2002 : 10.446,2 tỷ USD

- Tỷ lệ % các ngành chủ chốt trong nền kinh tế: nông nghiệp: 2%, công nghiệp:18%, dịch vụ: 80%

- Tỷ lệ lạm phát: 2,4%

- Ngân sách năm 2002: Tổng thu: 1875,6 tỷ USD

Tổng chi: 2075,5 tỷ USD

- Kim ngạch xuất khẩu : 794,11 tỷ USD

- Kim ngạch nhập khẩu : 1392,1 tỷ USD

- Thâm hụt thương mại: -418,04 tỷ USD

- Bạn hàng chính: Canada: 22,4%, Mexico: 13%, Nhật: 7,9%, Trung quốc,

- Mặt hàng xuất khẩu chủ lực: thiết bị đầu tư, ôtô, sản phẩm công nghiệp

- Mặt hàng nhập khẩu chính: dầu thô, ôtô, hàng tiêu dùng

- Các ngành công nghiệp quan trọng nhất : dầu, thép, ô tô, máy bay, thông tin, hoá chất

- Các sản phẩm nông nghiệp: lúa mì, ngô, đậu nành, rau, bông, thịt bò, thịt lợn

- Các sản phẩm chế tạo: hoá chất, thiết bị vận tải, thực phẩm, máy móc công nghiệp, thiết bị điện, vật liệu in ấn

- Lực lượng lao động :141,8 triệu chiếm 66,5% dân số

- Tổng giá trị đầu tư nước ngoài: năm 2000: 314 tỷ USD; 2001: 144 tỷ USD; 2002: 30 tỷ USD

Nguồn: Vụ Châu Mỹ, Bộ Ngoại giao

* Kinh tế Mỹ là một nền kinh tế tư nhân:

Kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng áp đảo so với kinh tế chính phủ trong cơ cấu GDP của Mỹ Hiện nay tỷ trọng này là khoảng 90% so với khu vực kinh

tế chính phủ là khoảng 10% Tỷ trọng này tăng đều qua các năm, năm 1998 so với năm 1993 tăng 2% Sự áp đảo của khu vực kinh tế tư nhân được coi là nhân tố chính tạo nên tính năng động, dễ thích nghi với các biến động, luôn

Trang 12

sáng tạo đổi mới Chính phủ Mỹ quản lý nền kinh tế tư nhân bằng thuế và các quy định pháp luật chặt chẽ như: luật chống độc quyền, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường… trên quan điểm “ càng ít can thiệp càng tốt”, tạo điều kiện để kinh tế tư nhân phát triển và chỉ điều tiết khi cần hạn chế những tác động tiêu cực của thành phần kinh tế này đến sự thịnh vượng chung của nền kinh tế

* Nền kinh tế tự do cạnh tranh:

Theo báo cáo của Diễn đàn kinh tế thế giới về tính cạnh tranh của các nền kinh tế thì mức độ cạnh tranh giữa các công ty của Mỹ là cao nhất Sở dĩ nền kinh tế Mỹ có mức độ cạnh tranh cao như vậy là vì: thứ nhất, thành phần kinh tế tư nhân chiếm vị trí áp đảo trong cơ cấu kinh tế; thứ hai, Mỹ là một thị trường mở nên sự cạnh tranh không chỉ trong phạm vi quốc gia mà mở rộng trên phạm vi quốc tế; thứ ba, chủ nghĩa cá nhân và tính thực dụng của người Mỹ đã khiến cho xã hội Mỹ trở thành một “ xã hội chỉ tin vào người thắng”, điều đó buộc con người ta chỉ có thể phát triển bằng cách hơn người khác và làm cho cuộc cạnh tranh rất “hung hãn” và “ nhẫn tâm”; thứ tư là nhờ

ở sự thi hành hiệu quả các quy định pháp luật về chống độc quyền (Mỹ cũng đứng số một thế giới trong lĩnh vực chống độc quyền theo báo cáo trên)

* Nền kinh tế dịch vụ:

Có thể gọi như vậy là bởi giá trị dịch vụ chiếm đến 3/4 GDP và 80% lực lượng lao động Mỹ và tỷ trọng này không ngừng tăng qua các năm Chiếm tỷ trọng lớn nhất và tăng nhanh nhất là các dịch vụ vận tải (hàng không, vận chuyển hàng hoá bằng đường bộ, dịch vụ kho hàng), thương mại, tài chính, bảo hiểm và bất động sản, dịch vụ tư vấn quản lý và pháp luật kinh doanh, y tế, giáo dục Song song với mức tăng của tỷ trọng dịch vụ là mức giảm tương đối của các ngành khác, đặc biệt là các ngành sản xuất trực tiếp từ vật liệu tự nhiên như nông lâm thuỷ sản, khai khoáng Là một nước đứng đầu thế giới về sản xuất nông nghiệp và khai thác khoáng sản, song tỷ trọng các

Trang 13

ngành này trong GDP Mỹ vô cùng nhỏ bé Giá trị sản lượng 3 ngành nông lâm ngư nghiệp chỉ chiếm khoảng 1-2% GDP Điều này nói lên quy mô to lớn của nền kinh tế Mỹ cũng như cho thấy tính hiệu quả thấp về mặt giá trị gia tăng mà các ngành trên tạo ra so với lĩnh vực sản xuất chế tạo và dịch vụ

Từng một thời gian dài chiếm vị trí chủ đạo về giá trị cũng như vai trò trong nền kinh tế Mỹ, song từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, trước

sự phát triển nhanh chóng của ngành dịch vụ, tỷ trọng của ngành sản xuất chế tạo cũng ngày càng giảm Mỹ chủ yếu chế tạo máy móc công nghiệp, phương tiện vận tải, hay nói chung là các hàng lâu bền Giá trị sản lượng của các mặt hàng không lâu bền như thực phẩm, may mặc… chiếm tỷ trọng nhỏ hơn và giảm nhiều qua các năm

* Nền kinh tế hiện đại, năng suất cao:

Trong khoảng 100 năm qua, Mỹ luôn đi đầu thế giới trong việc nghiên cứu

và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao năng suất lao động Tiến bộ khoa học thực sự là nhân tố chính thúc đẩy nền kinh tế Mỹ tăng trưởng mạnh mẽ ở mức cao Trước đây, ngành công nghiệp xây dựng và sản xuất ô tô là trụ cột thúc đẩy nền kinh tế Mỹ phát triển Hiện nay, công nghệ thông tin đóng góp khoảng 25%-30% trong tăng trưởng kinh tế Bên cạnh đó công nghệ thông tin còn ảnh hưởng đến tất cả các ngành nghề khác Công nghệ thông tin có thể nâng cao năng suất lao động của ngành nghề chế tạo, giảm chi phí, giảm lượng hàng hoá tồn đọng, thúc đẩy thương mại điện tử phát triển Động lực của nền kinh tế mới của Mỹ không chỉ là nguồn vật chất khổng lồ mà chủ yếu là do những tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra Năm

1996, đầu tư của Mỹ cho thiết bị xử lý thông tin và các thiết bị liên quan như máy tính điện tử lên tới 206 tỷ USD, gấp 1,6 lần so với đầu tư cho các thiết bị công nghiệp khác Đầu tư cho công nghệ thông tin chiếm tới 35,7 % tổng đầu

tư vốn cố định của các doanh nghiệp, đầu tư cho công nghệ máy tính của Mỹ chiếm tới 40% tổng đầu tư trong lĩnh vực này của toàn thế giới Từ năm 1993,

Trang 14

khoảng 45% tăng trưởng của ngành công nghiệp Mỹ có sự đóng góp của máy tính và chất bán dẫn Như vậy, một trong những nhân tố then chốt của nền kinh tế mới của Mỹ là những tiến bộ liên tục và nhanh chóng của khoa học công nghệ Khoa học công nghệ đã làm tăng năng lực sản xuất, nâng cao hiệu suất và làm giảm lượng lao động trên một đơn vị sản phẩm

* Ngoại thương đóng vai trò ngày càng to lớn trong nền kinh tế Mỹ

Điều này thể hiện ở tỷ trọng của kim ngạch XNK trong GDP của Mỹ Năm 1970, tỷ trọng này là 13%, đến năm 1990 đã là 30% Năm 2002, kim ngạch XNK của Mỹ là 2186,21 tỷ USD, chiếm 20,93% GDP (kim ngạch XNK giảm do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế ) song vẫn đứng đầu thế giới Khác với Nhật Bản, một nước nghèo tài nguyên thiên nhiên, ngoại thương do đó là yếu tố sống còn của nền kinh tế, Mỹ có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, song Mỹ đã sớm dựa vào ngoại thương để phát huy lợi thế so sánh, điều chỉnh cơ cấu kinh tế và tăng trưởng không ngừng Nhờ ngoại thương, Mỹ đã thực hiện được mô hình “đàn sếu bay”: không sản xuất các mặt hàng đòi hỏi lao động giản đơn như: dệt may, lương thực thực phẩm, giày dép, máy móc thiết bị cơ bản, tivi … mà chuyển giao cho các nước kém phát triển hơn và nhập khẩu trở lại các mặt hàng này để tiêu dùng Thay vào đó Mỹ tập trung sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng có hàm lượng khoa học công nghệ cao, lợi nhuận lớn như: ngành chế tạo hàng không, điện tử, tin học, nguyên tử, vũ trụ, hoá chất… Trong cơ cấu xuất khẩu các mặt hàng chế tạo và hàng công nghệ cao chiếm tỷ trọng từ 80 đến 90% tổng giá trị xuất khẩu Ví dụ như năm 1999 xuất khẩu mặt hàng chế tạo và công nghệ cao đạt tới trên 800 tỷ USD

Trang 15

20% dân số giàu nhất và 20% nghèo nhất của Mỹ là 9 lần, so với Đức là 6 lần

và Nhật là 4 lần Tỷ lệ người nghèo trong những thập niên gần đây đã giảm đáng kể nhờ tăng trưởng kinh tế và những nỗ lực giảm nghèo của Chính phủ Tuy nhiên, tỷ lệ người sống dưới mức nghèo khổ ở Mỹ vẫn còn tới khoảng 10% Phần lớn số người nghèo thuộc thành phần những người mới nhập cư, các dân tộc thiểu số Sự chênh lệch mức thu nhập và sự đa dạng về văn hoá đã dẫn đến một thị trường tiêu dùng Mỹ hết sức phong phú và đa dạng về nhu cầu, thị hiếu

Tóm lại, nền kinh tế Mỹ là một nền kinh tế lớn, tự do, hiện đại Để đáp ứng nhu cầu của một nền kinh tế như thế, Mỹ đã và sẽ tiếp tục phải nhập khẩu một số lượng lớn nguyên liệu từ nước ngoài để phục vụ cho guồng máy sản xuất khổng lồ của nó, cũng như nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng để phục vụ các tầng lớp dân cư có nhu cầu đa dạng, song sản xuất trong nước do chuyên môn hoá tập trung vào các ngành mới hiện đại, thu lợi nhuận cao mà đã không chú trọng tới

2 Hệ thống chính trị pháp luật

* Thể chế chính trị:

Mỹ là một nước được tổ chức theo chế độ cộng hoà dân chủ tư sản tổng thống Hệ thống chính trị của Mỹ thực hiện chế độ “tam quyền phân lập” Trong đó quyền lập pháp được trao cho Quốc hội, quyền hành pháp được trao cho Tổng thống Mỹ, quyền tư pháp được trao cho Tối cáo pháp viện Mỗi cơ quan này thi hành quyền lực một cách độc lập trong cơ chế kiểm soát và khống chế lẫn nhau

Trang 16

nhiều dân Nhiệm kỳ thượng nghị sĩ là 6 năm và cứ 2 năm một lần thượng viện bầu cử lại 1/3 số đại biểu Thượng nghị sĩ phải là người có tuổi không ít hơn 30

và phải là công dân của Hợp chủng quốc Mỹ được 9 năm Phó Tổng thống Mỹ

sẽ là chủ tịch Thượng nghị viện nhưng thực tế thủ lĩnh của phe đa số trong Thượng nghị viện sẽ điều hành công việc thường ngày

Hạ nghị viện gồm 435 nghị sĩ với nhiệm kỳ hai năm một lần Viện được bầu theo phổ thông đầu phiếu trực tiếp Số nghị sĩ hạ nghị viện được phân cho các bang theo tỷ lệ dân số nhưng tối thiểu mỗi bang cũng có một nghị sĩ dù số dân rất nhỏ Theo Hiến pháp, số lượng nghị sĩ hạ viện được xác định 10 năm một lần dựa trên kết quả điều tra dân số liên bang Hạ nghị sĩ phải là người có tuổi đời không ít hơn 25 và phải là công dân của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ít nhất 7 năm

Chức năng chủ yếu của Quốc hội Mỹ là lập pháp, giám sát việc thi hành pháp luật của các cơ quan chính quyền, biểu quyết các dự luật và thông qua ngân sách, quyết định tham gia vào các vòng đàm phán mới, phê chuẩn các thoả thuận sau các vòng đàm phán mới

Tất cả các dự án luật đã được Hạ nghị viện và Thượng nghị viện thông qua, trước khi ban hành thành một đạo luật sẽ được đệ trình lên Tổng thống

Mỹ

Cơ quan hành pháp:

Điều II khoản 1 Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ quy định: “Quyền hành pháp thuộc về Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ” Tổng thống do dân bầu ra theo cách bầu cử gián tiếp với chế độ cử tri đoàn, nhiệm kỳ 4 năm Một người không được làm tổng thống tối đa hai nhiệm kỳ Tổng thống Mỹ là người có quyền lực rất lớn, kiêm nhiệm cả hai vai trò: Nguyên thủ Quốc gia

và là người đứng đầu Chính phủ Cùng với Tổng thống và Phó tổng thống, bộ máy hành pháp Mỹ có 15 bộ và 60 uỷ ban độc lập Tổng thống là người ký ban bố các sắc luật và Hiến pháp cho phép tổng thống quyền phủ quyết dự

Trang 17

luật được Quốc hội thông qua

Cơ quan tư pháp:

Điều III khoản 1 Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ quy định:

“Quyền tư pháp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thuộc về Toà án Tối cao và các Toà án cấp dưới” Tối cao pháp viện là cơ quan đứng đầu một hệ thống toà án trên khắp liên bang, gồm Toà án Liên bang, toà án của từng tiểu bang và toà

án quận, huyện Chánh án và các thẩm phán Toà án Tối cao do Tổng thống bổ nhiệm và được thượng viện thông qua với nhiệm kỳ suốt đời Những người này chỉ từ nhiệm khi họ muốn hoặc bị buộc tội Toà án tối cao liên bang có quyền vô hiệu hoá bất cứ luật lệ liên bang hoặc bang nào mà toà án xét thấy

là trái với Hiến pháp

Hiện nay ngành toà án gồm: Toà án tối cao; 13 toà án phúc thẩm; 94 toà án các quận và hai toà án xét xử đặc biệt

Quốc hội có quyền thành lập, bãi bỏ các toà án liên bang và số lượng thẩm phán trong hệ thống xét xử liên bang nhưng không được phép bãi bỏ Toà án tối cao

Các bang có hệ thống chính quyền bang Đứng đầu ngành hành pháp bang là thống đốc bang, do cử tri bầu trực tiếp với nhiệm kỳ 2 hoặc 4 năm tuỳ theo các bang Quốc hội bang gồm hai viện như liên bang và có quyền làm luật áp dụng trong bang song không được trái với Hiến pháp và luật liên bang

Về các đảng phái: Mỹ áp dụng chế độ đa đảng song hệ thống chính trị

Mỹ chủ yếu do hai Đảng Dân chủ và Cộng hoà thay nhau chi phối và kiểm soát từ năm 1852

Nói chung hệ thống chính trị ở Mỹ giữ vai trò to lớn và quyết định đối với kinh tế và thị trường ở Mỹ, mặc dù có sự tranh luận và khác biệt về vai trò can thiệp của Nhà nước đối với thị trường

* Hệ thống pháp luật Mỹ

Mỹ là một liên bang trong đó mỗi bang có một phạm vi quyền lực rất

Trang 18

lớn, có pháp luật riêng Vì thế, nhìn về tổng thể, hệ thống pháp luật Mỹ hết sức phức tạp Song nói chung hệ thống pháp luật Mỹ có những đặc điểm chủ yếu sau:

Hệ thống pháp luật Mỹ là hệ thống Common Law Đặc điểm của Common Law là luật bất thành văn và chủ yếu dựa vào tiền lệ xét xử Common Law chủ yếu bao gồm các nguyên tắc pháp lý hàm chứa trong các phán quyết của toà án Common Law có ưu điểm là giúp cho các vị thẩm phán giải thích và áp dụng pháp luật một cách khách quan, trên cơ sở các phán quyết của các vị thẩm phán trong các vụ án tương tự trước đó Điều này làm cho phán quyết của các vị thẩm phán có tính công bằng thuyết phục hơn

Thứ hai là hệ thống pháp luật Mỹ được chia làm hai ngành là công pháp và tư pháp Luật công được hệ thống hoá và ban hành dưới dạng văn bản gồm có: luật hiến pháp, luật nhà nước, luật hình sự và những văn bản quy định về chính sách đối ngoại, chính sách xuất nhập khẩu Còn tư pháp tồn tại dưới hình thức án lệ Luật tư bao gồm luật dân sự, luật thương mại…

Thứ ba, Mỹ sử dụng pháp luật như là công cụ sắc bén nhất để bảo vệ, duy trì và củng cố chế độ chính trị cũng như vị thế của Mỹ trên thế giới Vì vậy pháp luật Mỹ thể hiện rất rõ nét yếu tố chính trị trong nội dung cũng như trong tên gọi của văn bản luật

Trang 19

người Việt Nam ở Mỹ là khoảng trên 1,5 triệu người ( Đây là một nhân tố thuận lợi cho việc thúc đẩy quan hệ buôn bán hai nước Việt –Mỹ thông qua nhu cầu tiêu dùng của Việt kiều đối với các sản phẩm Việt Nam, hay đóng vai trò trung gian phân phối của họ tại Mỹ hoặc như những người đầu tư vào Việt Nam để xuất khẩu trở lại thị trường Mỹ) Cuối cùng, số lượng ít nhất là người

Mỹ bản xứ (thổ dân da đỏ) chiếm 0,8% dân số

Về ngôn ngữ, tiếng Anh là quốc ngữ, song theo thống kê cũng có tới trên 32 triệu người dân Mỹ từ 5 tuổi trở lên nói tiếng khác ngoài tiếng Anh ở nhà, trong đó nhiều nhất là tiếng Tây Ban Nha

Tôn giáo cũng theo sự đa dạng của các dân tộc mà rất phong phú Bên cạnh đạo Cơ đốc và đạo Tin lành, còn có Phật giáo, Ấn Độ giáo, Do thái giáo, đạo Hồi, nghĩa là tất cả các đạo lớn trên thế giới Các giá trị tinh thần khác của mỗi dân tộc, trong đó có thói quen tiêu dùng và ăn uống cũng rất đặc trưng Hàng năm, Mỹ phải nhập khẩu một lượng lớn thực phẩm từ các nơi trên thế giới để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các dân tộc thiểu số này

Ngoài ra, xã hội Mỹ còn được phân chia theo các tầng lớp xã hội Mỗi tầng lớp xã hội lại có những đặc trưng riêng về giá trị, phong cách, lối sống,

và từ đó tạo nên các thói quen tiêu dùng khác nhau Bảng sau đây mô tả sau giai tầng xã hội cơ bản của Mỹ và các đặc trưng của mỗi giai tầng trong lĩnh vực tiêu dùng

Bảng 3: Những đặc trưng của sáu giai tầng xã hội cơ bản ở Mỹ

Giai tầng xã hội Những đặc trưng của các giai tầng

Thị trường những đồ trang sức đắt tiền, đồ cổ, nhà cửa, dịch

vụ nghỉ ngơi và du lịch

Trang 20

Thị trường những ngôi nhà đắt tiền, thuyền buồm, xe hơi

Thị trường những hàng hoá kiểu “hãy tự làm lấy”, đồ dùng gia đình, quần áo theo kiểu mẫu nghiêm chỉnh

Thị trường hàng thể thao, bia, đồ dùng gia đình

Trang 21

Quy mô gia đình Mỹ ngày càng có xu hướng thu nhỏ Không nói tới các gia đình lớn nhiều thế hệ, các gia đình hạt nhân 2 thế hệ chỉ chiếm khoảng 1/4 số gia đình, số còn lại là các gia đình không có con cái hoặc có con nhưng chỉ có bố hoặc mẹ Theo thống kê có đến 30% trẻ em Mỹ hiện nay được sinh

ra trong các gia đình chỉ có bố hoặc mẹ Nói tóm lại, quy mô gia đình nhỏ hơn, vai trò của vợ chồng trong gia đình thay đổi là những xu hướng chung của gia đình Mỹ hiện nay

4 Lối sống Mỹ

Hiểu được các đặc trưng trong thế giới quan của đa số người Mỹ, họ thích hay ghét gì, họ coi trọng cái gì trong cuộc sống, đối với các nhà kinh doanh là một điều có ích Vì suy cho cùng, các quyết định tiêu dùng cũng một phần quan trọng là sự phản ánh của thế giới quan (phần kia là yếu tố tài chính, kinh

tế, trình độ học vấn,…) Người sản xuất hiểu được thế giới quan đó sẽ biết chọn bán các sản phẩm và có cách tiếp thị phù hợp Hơn nữa, khi phải đàm phán với các đối tác Mỹ, hiểu được người Mỹ cần gì, thích gì sẽ giúp tránh được nhiều điều hiểu lầm đáng tiếc

Theo nhận xét của những người nước ngoài thì người Mỹ là những người “chịu chơi” và mua sắm không tiếc tiền, thậm chí nhiều khi vượt cả thu nhập thực tế Nhưng có hai thứ mà người Mỹ tiết kiệm, đó là lao động và thời gian Để hiểu được điều này, chúng ta phải quay trở lại lịch sử hình thành nước Mỹ cách đây 500 năm Nước Mỹ ngày nay được hình thành từ những người di cư từ Châu Âu sang Họ thuộc đủ loại thành phần, người sang Châu

Mỹ để tìm vàng, người đi chốn tránh pháp luật, người đi tìm tự do tôn giáo hoặc người đi để tìm kiếm vận may mà họ không được hưởng từ quê nhà Đa phần họ đều nghèo, trong tay không có mấy tài sản nhưng đều có niềm tin chung : nước Mỹ rộng lớn nhiều tài nguyên, nếu họ biết cần cù lao động thì tất được đổi đời Chính vì niềm tin ấy mà họ dám bỏ xứ sở ra đi để đến với vùng đất này Họ bắt đầu từ đôi bàn tay trắng, lại phải chống chọi với những

Trang 22

khắc nghiệt của thiên nhiên hoang dã, song họ không nản lòng Tài sản quí giá nhất của người Mỹ lúc đó là lao động, nên họ hiểu rất rõ giá trị của lao động và luôn có ý thức sao cho lao động bỏ ra mang lại hiệu quả cao nhất Đó

là nguồn gốc của các phát minh, cải tiến trong sản xuất, các phương pháp tổ chức lao động khoa học, những yếu tố giúp nước Mỹ tiến xa và nhanh, từ một thuộc địa của Anh trở thành một quốc gia đứng đầu thế giới Đặc điêm này cũng lý giải cho tính thực dụng của người Mỹ Đây là một nét rất đặc trưng của người Mỹ và được phản ánh trong rất nhiều mặt như: trong cách tiêu dùng, trong cách lao động, trong buôn bán, trong đàm phán, …

Lao động là thứ rất được tôn vinh trong xã hội Mỹ Khác với Châu Âu, những người được coi trọng nhất trong xã hội không phải là các nhà quý tộc xuất thân trong nhung lụa mà là những con người từ nghèo khó, nhờ lao động

và tài năng mà trở thành các nhà lãnh đạo, các nhà khoa học hay các tỷ phú Ở

Mỹ đã lao động thì không phân biệt sang hèn Dù có phải làm công việc phục

vụ trong các quán ăn thì người Mỹ cũng không tỏ ra coi thường mà coi đó là dịp rèn luyện bản thân

Sống trong xã hội mà cạnh tranh luôn diễn ra một cách căng thẳng và khốc liệt trên mọi lĩnh vực, trong đó thời gian cũng là yếu tố giúp vượt lên trên đối thủ, người Mỹ dần hình thành nên ý thức tiết kiệm thời gian với những biểu hiện đặc trưng “ Thời gian là tiền bạc” (Time is money) là câu nói ăn sâu trong tiềm thức mỗi cá nhân người Mỹ Ý thức tiết kiệm thời gian thể hiện ngày trong tác phong làm việc hàng ngày khẩn trương nhanh nhẹn, trong cách ra quyết định chóng vánh, trong cách đàm phán luôn đi thẳng vào vấn đề, tránh vòng vo tam quốc Do quý thời gian nên người Mỹ rất coi trọng

sự đúng giờ trong các cuộc hẹn Đến hẹn muộn dù chỉ 5 phút mà không có lý

do chính đáng hay không báo trước có thể làm cho người Mỹ rất bực tức, gây ảnh hưởng xấu đến mối quan hệ

Người Mỹ nhìn chung rất có ý thức tôn trọng pháp luật Vai trò của

Trang 23

pháp luật được đề cao trong kinh doanh cũng như trong cuộc sống hàng ngày của người Mỹ Mọi quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với chính quyền, công ty này với công ty khác nếu có trục trặc đều có thể được đưa ra xem xét phán xử tại toà án Vì vậy ở Mỹ có rất nhiều toà án và luật sư Nếu ở Tây Âu, nhu cầu bảo hiểm là thiết yếu đối với dân chúng thì ở Mỹ, ngoài việc mua bảo hiểm còn có việc thuê luật sư vì trong tâm lý, người ta luôn bị ám ảnh có thể bị kiện bất cứ lúc nào và nếu không có người biện hộ tin cậy thì có thể bị thua thiệt bất ngờ vì những lý do không lường trước được

Về mặt tính cách, người Mỹ được đánh giá là cởi mở, thẳng thắn, dễ hiểu và bộc trực Phần đông những người Mỹ tỏ ra thân thiện ngày từ lần gặp

gỡ đầu tiên Người Mỹ đề cao giá trị giao tiếp xã hội vì theo họ, chưa nói đến lợi ích của việc mở mang kiến thức hay tạo các mối quan hệ cho công ăn việc làm, một cuộc giao tiếp thân mật và vui vẻ cũng sẽ giúp tạo cảm giác thư thái tâm hồn, giảm bớt những căng thẳng mệt nhọc của công việc

Khác với người Nhật hay người Phương Đông nói chung, người Mỹ không ngại thẳng thắn nói “ không” trước những đề nghị mà họ thấy không thích hoặc không thực hiện được Đối với họ, có là có và không là không Và khi họ đã nhận lời làm một công việc gì thì họ thường cố gắng làm đến nơi đến chốn, tức là họ biết giữ lời hứa Người Mỹ cũng không dễ bị tự ái trước những lời phê bình chỉ trích hay những quan điểm đối lập Một khi bức tức điều gì họ có thể tuôn hàng tràng những câu nói bất mãn, nhưng những người xung quanh cũng hiểu anh ta đang muốn giải toả những ức chế trong lòng Nói chung quyền tự do ngôn luận được tuân thủ khá tốt ở Mỹ

5 Thị hiếu tiêu dùng của người Mỹ

Chịu ảnh hưởng của các yếu tố xã hội, văn hoá, lối sống, mức sống, thị hiếu tiêu dùng của người mỹ rất đa dạng Thậm chí khi bán hàng cho mỗi vùng mỗi bang trên đất Mỹ người ta có thể phải sử dụng những chiến lược Marketing hoàn toàn khác nhau Yêu cầu của người tiêu dùng đối với phẩm

Trang 24

cấp hàng hoá cũng có nhiều loại, từ phẩm cấp thấp đến phẩm cấp trung bình

và phẩm cấp cao (các hàng hoá Việt Nam xuất sang Mỹ chủ yếu hướng vào các đối tượng có nhu cầu hàng phẩm cấp trung bình và thấp)

Đối với các hàng hoá thuộc phẩm cấp trung bình và thấp, thị hiếu của người Mỹ nhìn chung chuộng những hàng có mẫu mã đơn giản, không cần cầu kỳ, miễn là mới lạ, tiện dụng, giá rẻ Do đó, những mặt hàng tiêu dùng của Trung Quốc có cấu trúc đơn sơ nhưng giá thành thấp đã bán rất chạy ở

Mỹ Ngược lại, một số hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam xuất sang Mỹ trước đây do công kềnh, trạm chổ tinh vi nhưng giá thành cao nên rất khó bán

ở Mỹ Người tiêu dùng Mỹ cũng là những người ưa sự độc đáo, mới lạ Họ có thể rất tự hào vì nhà mình có những chiếc bát ăn hay lọ hoa với hoa văn không ai có, dù nó rất đơn giản và không phải là hàng đắt tiền Yếu tố giá thành sản phẩm cũng rất quan trọng Nhất là các mặt hàng có giá thấp một cách đặc biệt so với các mặt hàng cùng loại thì ngoài yếu tố kinh tế nó còn kích thích sự tò mò của người tiêu dùng Mỹ

6 Chính sách kinh tế

Những năm 1990, chiến tranh lạnh kết thúc đã mở ra một môi trường mới cho sự phát triển kinh tế thế giới Kinh tế trở thành trọng điểm trong các quan hệ quốc tế Nguy cơ của cuộc chiến tranh hạt nhân bị đẩy lùi, song cuộc chạy đua về kinh tế trở thành những thách thức lớn nhất đối với an ninh mỗi quốc gia Điều đó đòi hỏi mỗi quốc gia kể cả Mỹ nếu không muốn tự loại mình khỏi vòng đua thì phải tập trung ưu tiên phát triển kinh tế Nhận thức sâu sắc điều đó, Chính phủ Mỹ đã đặt mục tiêu phát triển kinh tế làm ưu tiên hàng đầu trong các chính sách của mình và xem “ sức mạnh kinh tế” là cơ sở cho “an ninh quốc gia” của mình Các nhà hoạch định chiến lược của Mỹ xác định rằng: “ mục tiêu trung tâm của chiến lược an nình quốc gia của chúng ta

là thúc đẩy phồn vinh cho người dân Mỹ nhờ nỗ lực cả trong nước và ngoài nước Các lợi ích kinh tế và an ninh của chúng ta không thể tách rời Phồn

Trang 25

vinh trong nước còn phụ thuộc vào việc chúng ta tích cực tham gia ở ngoài nước Sức mạnh của ngoại giao, khả năng duy trì một quân đội hơn hẳn, sức hấp dẫn của các giá trị của chúng ta ở nước ngoài, tất cả những điều này phần nào phụ thuộc vào sức mạnh kinh tế của chúng ta” Với những quan điểm rất

rõ ràng trên, chính sách kinh tế của Mỹ đã được điều chỉnh theo định hướng sau: Tập trung phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp có hàm lượng cao khoa học công nghệ hơn hẳn các nước phát triển khác; Tập trung phát triển các công ty lớn, tiến hành sản xuất vừa tập trung vừa phân tán khắp nơi trên thế giới thông qua hệ thống các công ty xuyên quốc gia của mình; Tạo môi trường kinh doanh cho hoạt động kinh tế thông qua việc: mở cửa các thị trường có tính bảo hộ cao trên thế giới nhằm thâm nhập thị trường nước ngoài Nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá Mỹ trên thị trường thế giới

Hướng điều chỉnh nói trên phản ánh sự can thiệp của nhà nước nhằm giải quyết nhiều vấn đề phức tạp của nền kinh tế Dẫn tới tạo ra một cơ chế điều chỉnh gồm hai loại biện pháp khác nhau: một loại thúc đẩy tự do hoá kinh tế nhằm phục vụ cho hoạt động mở rộng thị trường ở nước ngoài, loại khác nhằm bảo hộ mậu dịch một cách khéo léo để bảo vệ nhiều ngành kinh doanh trong nước

Dưới thời Tổng thống Bill Clinton, chính sách kinh tế chủ yếu nhằm thúc đẩy đầu tư cho tương lai, tăng cường thực lực kinh tế của Mỹ và địa vị của Mỹ trong cuộc cạnh tranh trên thế giới, đặc biệt nhấn mạnh việc phát triển khoa học công nghệ cao Nội dung cụ thể của nó được thể hiện qua 4 chương trình kinh tế:

- Giảm bớt thâm hụt ngân sách chủ yếu bằng các biện pháp: tiết kiệm chi ngân sách bao gồm giảm chi tiêu về bảo trợ xã hội, quốc phòng, tăng cường sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế, tăng đầu tư cho cơ sở hạ tầng và khu vực tư nhân, tăng thuế, cải cách bộ máy của chính phủ

Trang 26

- Đầu tư nâng cấp, hiện đại hoá hệ thống giao thông vận tải nhằm tạo ra công ăn việc làm cho người thất nghiệp, đặc biệt là tầng lớp thanh niên và sinh viên đại học

- Đầu tư cho các ngành kỹ thuật cao để khôi phục sức cạnh tranh của hàng hoá Mỹ

- Coi thương mại là nhân tố ưu tiên đối với an ninh của Mỹ, tăng cường vai trò lãnh đạo của Mỹ trong giới tài chính quốc tế, mở rộng thị trường sang các nước phát triển

Bước sang năm 2001 nền kinh tế Mỹ bắt đầu suy thoái Để ngăn chặn xu thế này, chính quyền George Bush đã có những điều chỉnh trong chính sách kinh tế thông qua việc thực hiện chính sách tiền tệ và chính sách tài chính cởi

mở, vừa giảm lãi suất tín dụng, vừa giảm thuế với hy vọng thúc đẩy đầu tư, kích thích tiêu dùng, đẩy mạnh sự phát triển của nền kinh tế Những điều chỉnh này đã có một số tác dụng tức thời qua tốc độ tăng trưởng khá cao của nền kinh tế trong quý I, II của năm 2002 Song cuối năm 2002 và sang đầu năm 2003 này, nền kinh tế Mỹ lại tiếp tục nằm trong tình trạng trì trệ, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, thâm hụt ngân sách đạt mức kỷ lục, cho thấy tính kém hiệu quả (về lâu dài) của các chính sách kinh tế đòi hỏi chính quyền Bush phải có những điều chỉnh tích cực hơn trong thời gian tới

III Chính sách kinh tế đối ngoại

Để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, Mỹ đặc biệt lưu tâm đến tầm quan trọng của chính sách kinh tế đối ngoại trong chính sách kinh tế nói chung Điểm nổi bật của chính sách kinh tế đối ngoại hiện nay của Mỹ là: Chiến lược kinh tế của Mỹ là lấy khu vực tư nhân làm động lực thúc đảy nền kinh tế phát triển, còn chính phủ có vai trò liên kết với khu vực tư nhân Chính phủ phải có trách nhiệm bảo vệ các lợi ích kinh doanh của

Mỹ, là đòn bẩy trên các thị trường quốc tế, giúp mở rộng xuất khẩu hàng hoá Mỹ, tìm cách xoá bỏ những rào cản ở trong nước và nước ngoài làm

Trang 27

hạn chế tính sáng tạo, tính năng động và khả năng sản xuất của giới kinh doanh Mỹ

Thúc đẩy xuất khẩu phát triển là một nhiệm vụ ưu tiên trong chính sách kinh tế của Mỹ và cần được thực hiện bằng những biện pháp phù hợp với quan điểm của Mỹ về buôn bán tự do và công bằng

Tăng cường khả năng thâm nhập thị trường nước ngoài là điều kiện quan trọng để thúc đẩy xuất khẩu phát triển Bởi lẽ, sự thành công của giới kinh doanh Mỹ hơn bao giờ hết tuỳ thuộc vào thành công ở các thị trường quốc tế

Sử dụng tất cả những công cụ chính sách thương mại hiện có, từ các công

cụ mang tính chất song phương đến đa phương và khu vực, và nếu cần thiết có thể áp dụng chính sách đối đầu đơn phương để thúc đẩy có hiệu quả các lợi ích kinh tế của Mỹ

Với quan điểm như vậy, tự do hoá thương mại đặc biệt quan trọng với nền kinh tế Mỹ

1 Tự do hoá thương mại đối với nền kinh tế Mỹ:

* Tự do hoá thương mại là nguồn lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và nâng cao mức sống

Nền kinh tế Mỹ là một nền kinh tế mạnh nhất thế giới Sự phát triển đó của nền kinh tế Mỹ băt nguồn từ nhiều yếu tố trong đó có thương mại quốc tế Ngày nay, thương mại quốc tế ngày càng trở thành yếu tố quan trọng sống còn đối với sức mạnh nội tại của nền kinh tế Mỹ và vị thế của nó trên trường quốc tế Từ năm 1993, hơn 1/3 tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ đạt được trực tiếp qua xuất khẩu Năm 1997, giá trị mậu dịch của Mỹ tương đương 32% GDP Do đó phát triển thương mại sẽ mang lại sự thịnh vượng của nền kinh tế

Trang 28

phải luôn chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm, chu kỳ đổi mới sản phẩm

sẽ ngắn hơn nếu không muốn bị hàng hoá nước ngoài đánh bại Do đó làm cho các công ty hoạt động hiệu quả hơn Một ví dụ đó là nhờ sự cạnh tranh từ bên ngoài mà ngành công nghiệp ô tô của Mỹ đã giành lại được vị trí của mình trên thị trường thế giới Từ chỗ phải nhường phần thắng cho các đồng nghiệp Nhật trong những năm 70, ngày nay các công ty ô tô của Mỹ đã trở lại

là những nhà xuất khẩu ô tô lớn trên thế giới

* Tự do hoá thương mại làm tăng tối đa lợi thế so sánh và mở rộng quy

mô kinh tế

Tự do hoá thương mại đã làm hạn chế các rào cản thuế quan và phi thuế quan cho phép hàng hoá Mỹ có thể mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng mà Mỹ có ưu thế Từ đó có thể phát huy đối đa những lợi thế so sánh và mở rộng sản xuất Không những thế, tự do hoá thương mại cũng cho phép Mỹ tập trung vào sản xuất những mặt hàng mà Mỹ có ưu thế hơn hẳn thay vì phải phân tán một phần nguồn lực để sản xuất những mặt hàng khác kém hiệu quả hơn

* Tự do hoá thương mại mở rộng quy mô thị trường

Tự do hoá thương mại giúp cho các công ty Mỹ có thể bán hàng hoá của mình trên một thị trường rộng lớn hơn thay vì chỉ phổ biến trên đất Mỹ Nhu cầu hàng hoá Mỹ ở nước ngoài sẽ làm cho sản xuất của Mỹ phát triển thoả mãn nhu cầu đó, làm tăng doanh thu và lợi nhuận của các công ty tạo nên

sự thịnh vượng chung của nước Mỹ

Ví dụ: như chỉ sau 3 năm ký Hiệp định thương mại NAFTA, giao dịch buôn bán của Mỹ với Canada và Mexico đã tăng 44% Tỷ trọng xuất khẩu hàng hoá vào Canada và Mexico chiếm khoảng 35% (2002)

* Tự do hoá thương mại củng cố vai trò kinh tế toàn cầu của Mỹ

Là một nền kinh tế lớn nhất thế giới, Mỹ chiếm 17 % (1996) giá trị thương mại hàng hoá toàn cầu Hàng năm Mỹ nhập khẩu tới 1200-1400 tỷ

Trang 29

USD, đồng thời họ cũng là những nhà cung cấp hàng đầu cho toàn thế giới các sản phảm công nghệ cao cũng như các nông sản chủ yếu cho thị trường thế giới với giá trị xuất khẩu trên 1000 tỷ USD Như vậy có thể xem thương mại như là cơ sở trực tiếp để Mỹ chi phối nền kinh tế thế giới

2 Chính sách kinh tế đối ngoại của Mỹ với Việt Nam

Với những ý nghĩa trên, hiện nay Mỹ đang tích cực thúc đẩy việc ký kết các hiện định thương mại song phương và đa phương với các nước trên thế giới Trong đó sử dụng ngày càng tích cực hơn các hiệp định song phương

để điều chỉnh những mối quan hệ với các đối tác thương mại chủ yếu và có triển vọng theo hướng dỡ bỏ các rào ngăn cản xuất khẩu và đầu tư của Mỹ, tạo điều kiện cho các công ty Mỹ cạnh tranh bình đẳng ở thị trường nước ngoài

Với Việt Nam về cơ bản chính sách kinh tế đối ngoại của Mỹ chủ yếu cũng bao hàm những định hướng trên

Tuy nhiên do những vấn đề lịch sử mà chính sách kinh tế đối ngoại của

Mỹ với Việt Nam không chỉ tuỳ thuộc vào những nhân tố kinh tế mà còn gắn với một số nhân tố khác nữa Mặc dù vậy thời gian qua hai nước đã gác sang một bên những vấn đề quá khứ và ký kết hiệp định thương mại song phương Hiệp định này sẽ là cơ sở để mở rộng quan hệ thương mại – kinh tế giữa hai nước

Việc Mỹ ký kết hiệp định này mặc dù còn nhiều vấn đề trong quan hệ giữa hai thực ra cũng vì những lợi ích của Mỹ Quan hệ thương mại với Việt Nam sẽ mang lại những lợi ích kinh tế cho Mỹ cũng như sẽ góp phần quan trọng trong việc thực hiện chiến lược kinh tế đối ngoại của Mỹ ở khu vực Châu Á - Thái bình Dương- một khu vực mà tương lai sẽ là hạt nhân thương mại của Mỹ trong thế kỷ 21 và có tầm quan trọng hàng đầu trong chiến lược toàn cầu của Mỹ Mỹ chủ trương lôi kéo Việt Nam vào các định chế khu vực Đông Nam Á phục vụ quyền lợi của Mỹ trong sự ổn định và tăng trưởng khu vực, từ đó thúc đẩy các mối quan tâm có tính nguyên tắc của Mỹ về mở cửa

Trang 30

thị trường Việt Nam Ở đây cần lưu ý tới những ý đồ của Mỹ trong chính sách kinh tế đối ngoại với Việt Nam đó là: bên cạnh những mục tiêu vì lợi ích kinh tế, Mỹ cũng không từ bỏ ý đồ xoá bỏ chế độ Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, hướng nền kinh tế Việt Nam đến nền kinh tế thị trường tự do theo ý

Mỹ, áp đặt giá trị Mỹ ở đây Song dù với mục đích gì thì trong chính sách kinh tế đối ngoại của Mỹ với Việt Nam đã xác định:“ một nước Việt Nam phồn vinh, hội nhập với thị trường thế giới và các tổ chức khu vực sẽ đóng góp cho sự ổn định khu vực” là phù hợp với lợi ích của Mỹ

Việt Nam đang trong quá trình đổi mới phát triển đất nước, hợp tác với các nước trên thế giới để phát triển kinh tế là một điều cần thiết và quan hệ với Mỹ cũng không nằm ngoài định hướng đó Chính vì vậy, chúng ta cần tận dụng triệt để những yếu tố tích cực trong quan hệ hợp tác với Mỹ nhưng đồng thời cũng cần có những biện pháp ngăn chặn những nguy cơ đối với đất nước

Trang 31

CHƯƠNG II CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ HÀNG NHẬP KHẨU CỦA MỸ

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Là một bộ phận quan trọng trong tổng thể chính sách kinh tế đối ngoại, chính sách nhập khẩu của Mỹ cũng không nằm ngoài mục tiêu là phục vụ cho những lợi ích của nước Mỹ Cụ thể đó là:

Thứ nhất, việc nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài sẽ làm cho cơ cấu hàng tiêu dùng trở nên đa dạng và phong phú hơn, do đó sẽ mở rộng cơ hội cũng như phạm vi lựa chọn cho người tiêu dùng Mỹ

Thứ hai, sự xâm nhập của hàng hoá nước ngoài sẽ làm gia tăng sự cạnh tranh, buộc các doanh nghiệp Mỹ phải không ngừng nỗ lực, tăng cường cải tiến khoa học kỹ thuật công nghệ, quản lý Điều này thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển

Thứ ba, nhập khẩu sẽ giúp cho Mỹ tập trung được các nguồn lực để sản xuất những ngành mà Mỹ có lợi thế, nhập khẩu những mặt hàng kém lợi thế hơn, do đó tối ưu hoá được cơ cấu kinh tế

Thứ tư, với ưu thế là một thị trường nhập khẩu lớn có sức ảnh hưởng to lớn đến các thị trường khác, Mỹ coi việc có mở cửa thị trường trong nước cho hàng hoá nước ngoài vào hay không là một công cụ để gây sức ép buộc các nước đối tác phải mở cửa thị trường của họ

Thứ năm, cũng do tầm ảnh hưởng và quan trọng của thị trường Mỹ đối với hoạt động xuất khẩu của nhiều quốc gia mà điều này cho phép Mỹ sử dụng các chính sách nhập khẩu như một công cụ kết hợp với các chính sách quân sự

và ngoại giao của mình để tạo sức ép trong các quan hệ ngoại giao, ví dụ như trừng phạt hay trợ giúp kinh tế

Những mục tiêu trên có thể thấy được qua hệ thống pháp luật thương mại của Mỹ Dưới đây, khoá luận xin giới thiệu một số luật thương mại quan trọng

Trang 32

có liên quan đến hoạt động quản lý nhập khẩu của Mỹ

I Luật pháp, chính sách thương mại của Mỹ liên quan tới việc nhập khẩu hàng hoá

1 Các đạo luật về Thuế nhập khẩu và Hải quan

1.1 Hệ thống thuế quan:

Hệ thống thuế quan hiện nay của Mỹ được gọi là “Biểu thuế quan hài hoà của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ” (Harmonized Tariff System -HTSUS) được chính thức thông qua ngày 1/1/1989 Hệ thống này được xây dựng dựa trên cơ sở của Hệ thống Mô tả hàng hoá và mã số hài hoà của Hội đồng Hợp tác Hải quan Quốc tế – một hệ thống mã hoá mà hiện nay được hầu hết các nước phát triển sử dụng

Biểu thuế này bao quát 21 ngành hàng chia thành 99 chương, chứa đựng trên 9000 danh mục Trong đó các hàng hoá được phân loại theo hệ thống gồm 8 chữ số Hai chữ số đầu là tên chương, hai số sau là tên mục hàng, rồi đến tên phần mục hàng quốc tế, 2 chữ số cuối là phần mục hàng riêng của Mỹ Ngoài ra, mỗi mã số còn có thêm 2 chứ số nữa chỉ phục vụ cho mục đích thống kê, không phải để xác định mức thuế

Trong biểu thuế, 4 cột đầu là tập hợp tất cả các mã số và những miêu tả rộng lớn về hàng hoá phục vụ cho công tác phân loại để tính thuế Theo đó, hàng hoá khi nhập khẩu sẽ được xem xét phân loại dựa vào những mô tả về hàng hoá trong biểu mục thuế này, từ đó xác định mã số, chủng loại hàng hoá

và thuế suất Việc xác định này là vô cùng quan trọng bởi nó ảnh hưởng không nhỏ tới việc xác định mức thuế suất cho hàng hoá đó Ví dụ như sự khác biệt giữa một “sản phẩm mỹ nghệ” và một “món đồ chơi” không phải lúc nào cũng dễ dàng được nhận ra để phân loại một cách chính xác, bởi một sản phẩm mỹ nghệ nhiều khi có rất nhiều đặc điểm của một món đồ chơi và một món đồ chơi nhiều khi cũng có rất nhiều nét của một sản phẩm mỹ nghệ Song nếu một sản phẩm không được phân loại đúng là đồ mỹ nghệ hay một

Trang 33

món đồ chơi thì nó có thể bị đánh các mức thuế rất chênh lệch nhau từ 0 đến 25% Và như vậy việc phân loại hàng hoá là không hề dễ dàng Do đó, trong Biểu thuế quan có một phần khác là phần hướng dẫn và giải thích cách phân loại hàng được trình bày ở phần đầu Phần này bao gồm: các quy tắc chung cho việc phân loại và xác định mức thuế, trong đó giải thích rõ cách phân loại trong từng trường hợp, những hàng hoá thoả mãn điều kiện nào thì được hưởng các mức thuế suất ưu đãi Ngoài ra ở đầu mỗi phần, chương lại có những chú ý riêng Để phân loại được đúng, các nhà nhập khẩu phải đọc kỹ tất cả những phần này, ngoài ra nên tham khảo các tiền lệ phân loại trước vốn

có sẵn trên các ấn phẩm, trang web của Hải quan để rút kinh nghiệm

Tiếp theo các cột trên, 2 cột cuối trong Biểu thuế quan dành để ghi các mức thuế suất Thuế suất ghi trong hai cột cuối này có 3 loại:1/ Thuế suất tỷ

lệ với giá trị hàng hoá, 2/ Thuế suất tuyệt đối tính trên số lượng hàng hoá (ví

dụ 35 cent/ kg), 3/ Thuế suất gộp cả hai cách tính trên Các mức thuế ghi trong cột một là mức thuế ưu đãi chia làm hai cột nhỏ là: cột ưu đãi chung áp dụng cho những quốc gia và khu vực hưởng chế độ Tối huệ quốc MFN hay NTR và cột ưu đãi đặc biệt dành cho các quốc gia khu vực được hưởng ưu đãi đặc biệt về thuế như các nước được hưởng GSP, các nước thuộc khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ NAFTA, các nước cùng vịnh Caribê… Mức thuế suất trong cột này thường bằng 0

Cột cuối cùng trong Biểu thuế ghi mức thuế suất dành cho những nước không được hưởng bất kỳ ưu đãi nào Mức thuế suất trong cột thuế này thường rất cao do vốn được định ra từ Luật thuế quan Smooth-Haley 1930 trong thời kỳ Mỹ đang ra sức xây dựng hàng rào thuế quan bảo hộ và đến nay vẫn được giữ nguyên không đổi như từ khi chúng được định ra lần đầu Mức thuế này thường là hơn 50%

Về cách xác định mức thuế, chủ yếu người ta dựa trên cơ sở giá trị của hàng hoá để tính thuế Tức là, mức thuế được xác định tỷ lệ % trên giá trị

Trang 34

hàng hoá nhập khẩu Ngoài ra trong một số trường hợp, một số mặt hàng phải chịu cơ chế thuế đặc biệt tức là thuế nhập khẩu được đánh trên một lượng hàng cụ thể Một số sản phẩm chịu cơ chế thuế kép, nghĩa là kết hợp cả thuế theo trị giá và thuế theo số lượng

Nói tóm lại thì việc xác định mức thuế có thể dựa trên các cách khác nhau, nhưng chủ yếu người ta vẫn dùng là xác định dựa trên giá trị của hàng hoá nhập khẩu Song vấn đề đặt ra là giá trị hàng hoá nhập khẩu được tính như thế nào để có thể làm cơ sở chính xác cho việc xác định mức thuế Bởi việc sử dụng các phương pháp khác nhau để định giá hàng hoá sẽ cho ra các kết qủa khác nhau đối với giá trị hàng hoá và do đó sẽ cho ra các mức thuế khác nhau Theo luật của Mỹ thì người ta coi “giá trị giao dịch” của hàng hoá

là cơ sở xác định trị giá hàng nhập khẩu Giá trị giao dịch được hiểu là giá thực sự trả hoặc sẽ trả cho hàng hoá khi bán để xuất sang Mỹ và cộng thêm với : chi phí đóng gói bao bì mà người mua phải chịu; hoa hồng bán hàng mà người mua lại phải chịu; khoản chi phí mà người mua phải chi để hỗ trợ người bán hàng trong sản xuất hoặc xuất khẩu hàng đó; các loại hoa hồng kỳ

vụ, phí xin giấy phép mà người mua phải trả; các khoản chi mà người bán hưởng, phát sinh từ việc tái xuất hoặc bán lại, hay sử dụng định đoạt hàng nhập khẩu ấy.Tuy vậy, 5 khoản nói trên đây chỉ tính thêm khi chúng chưa được tính vào giá hàng hoá và dựa trên thông tin chính xác về mức độ chi phí

ấy Ở đây cần lưu ý một điểm quan trọng trong cách xác định giá trị hàng hoá nhập vào Mỹ đó là Mỹ sử dụng giá FOB để định giá hàng hoá nhập trong khi hầu hết các quốc gia sử dụng giá CIF để định giá Điều này có nghĩa là “giá thực sự trả hoặc sẽ phải trả” sẽ không bao gồm giá cước vận tải quốc tế, bảo hiểm và các loại phi kèm theo xung quanh giá CIF

Trong trường hợp không xác định được giá trị hàng hoá nhập khẩu theo cách trên, người ta sẽ sử dụng phương pháp định giá khác Thứ tự như sau: 1/ Giá trị của những hàng hoá giống hoặc tương tự, 2/ Giá trị suy diễn, 3/ Giá trị

Trang 35

tính toán Tuy nhiên những phương pháp này đều có những hạn chế nhất định

và người ta chỉ dùng đến chúng khi không thể tính được giá trị thực sự của hàng hoá đó Bởi, trong nhiều trường hợp, do ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau mà nhiều khi các loại giá đó rất cao dẫn đến kết quả kéo theo là giá tính thuế của hàng hoá cao hơn rất nhiều so với giá trị thực của hàng hoá bị đánh thuế Khi đó nếu dựa vào những giá đó để tính thuế thì mức thuế sẽ rất cao và chủ hàng sẽ bị thiệt Vì thế các nhà xuất khẩu cần lưu ý khi tính thuế thì tốt nhất nên sử dụng cách tính thứ nhất

Ngoài nhân tố giá trị của hàng hoá được dùng làm cơ sở định thuế, nhân tố xuất xứ của hàng hoá cũng là một nhân tố quan trọng để xác định thuế Lí do của việc sử dụng xuất xứ làm cơ sở tính thuế là do sự phát triển ồ

ạt của những Hiệp định ưu đãi thuế quan, mậu dịch tự do, liên minh thuế quan,… đã tạo nên sự phân biệt đối xử đối với hàng hoá từ các nước và khu vực khác nhau Hiện nay, hàng hoá từ các quốc gia khác nhau nhập khẩu vào

Mỹ được chia thành các nhóm được hưởng các mức thuế suất khác nhau như: Nhóm các nước được hưởng MFN, nhóm các nước được hưởng các ưu đãi đặc biệt GSP, NAFTA, CBI,…và nhóm không được hưởng ưu đãi Mức thuế suất phân biệt giữa các nhóm này rất chênh lệch Ví dụ như hàng hoá từ các nước được hưởng GSP thường có mức thuế suất là 0%, nhưng hàng hoá có xuất xứ từ những nước không được hưởng ưu đãi gì thì thuế suất thường ở mức rất cao, thường lên tới 40-50% Do vậy xuất xứ hàng hoá là một nhân tố quan trọng để xác định mức thuế suất phù hợp.Tuy nhiên khi người ta xác định xuất xứ hàng hoá để tính thuế, người ta nhận thấy rằng đây là một điều không đơn giản Trong thời đại ngày nay, khi mà sản xuất trên thế giới không còn bó hẹp trong phạm vi một quốc gia mà mở rộng sự liên kết, hợp tác trên phạm vi quốc tế thì vấn đề xác định nguồn gốc xuất xứ của hàng hoá đó trở nên hết sức rắc rối Để giải quyết vấn đề trên, luật pháp đề ra những quy tắc rất chặt chẽ để xác định về nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm đòi hỏi các nhà

Trang 36

xuất khẩu hàng hoá các nước khi xuất hàng sang Mỹ muốn được hưởng các

ưu đãi về thuế do xuất xứ hàng hoá phải chú ý tới vấn đề chứng minh nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm Cụ thế ở đây, luật pháp Mỹ quy định một tỷ lệ % nội dung của hàng hoá có xuất xứ từ nước đó (ví dụ hàng hoá từ một nước muốn được hưởng GSP của Mỹ thì tỷ lệ nội dung giá trị hàng hoá có xuất xứ

từ nước đó phải đạt ít nhất là 35%), hoặc quy định về sự thay đổi có tính chất

cơ bản của hàng hoá khi qua các quá trình sản xuất chế biến ở các nước khác nhau (ví dụ một nước nhập khẩu một nguyên liệu để sản xuất một mặt hàng để xuất khẩu sang Mỹ Mặt hàng này chỉ được xác định là có nguồn gốc xuất xứ

từ quốc gia đó khi nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất ra nó đã có những thay đổi về bản chất sau khi trải qua quá trình sản xuất chế biến tại nước đó Sự thay đổi về bản chất ở đây được hiểu là nguyên liệu đó sau khi trải qua một quá trình sản xuất chế biến sẽ cho ra đời một món hàng mới với một tên gọi mới, mục đích sử dụng mới, )

Sau đây là ví dụ về một vụ kiện Mỹ của công ty Belcrest của Hồng Kông năm 1984 với nội dung liên quan về xuất xứ hàng hoá Theo vụ kiện này, sản phẩm gối đệm của công ty Belcrest của Hông Kông xuất khẩu sang

Mỹ bị Sở thuế quan Mỹ coi là có nguồn gốc xuất xứ từ Trung Quốc và đánh thuế 90% Các nhà nhập khẩu không đồng ý với quyết định này và khiếu nại rằng hàng hoá đó là có nguồn gốc xuất xứ từ Hồng Kông do nó đã được sản xuất và chế biến tại Hồng Kông, vì thế mức thuế chỉ nên đánh là 34% Vấn đề này đã được toà án xét xử và cho công ty Belcrest thắng kiện với giải thích rằng đúng là hàng hoá đó có nguồn gốc xuất xứ từ Hồng Kông vì nó đã qua quá trình chế biến thực sự tại Hồng Kông chứ không phải đơn thuần là các hoạt động lắp ráp các nguyên liệu từ Trung Quốc Nguyên liệu vải vóc có xuất xứ từ Trung Quốc đã thực sự trải qua quá trình chế biến tại Hồng Kông khiến cho những đặc điểm và công dụng của nó đã được thay đổi: từ vải biến thành gối đệm, rõ ràng khác nhau về công dụng và tính chất

Trang 37

Như vậy, vấn đề xuất xứ sản phẩm là rất quan trọng đối với việc xác định mức thuế suất cho hàng hoá nhập khẩu Đây cũng là một vấn đề mà các nhà xuất khẩu Việt Nam cần chú ý nếu muốn được hưởng những ưu dãi về thuế khi xuất khẩu hàng hoá vào Mỹ

Tóm lại hệ thống luật thuế của Mỹ là một hệ thống thuế hết sức chặt chẽ nhưng cũng vô cùng phức tạp Hệ thống này được chỉnh sửa và thay đổi hàng năm đối với các mặt hàng Do đó các nhà nhập khẩu cần nghiên cứu kỹ

và tham khảo những biểu thuế quan mới nhất của Mỹ để có thể tính thuế nhập khẩu một cách chính xác cho hàng hoá của mình Trong trường hợp cảm thấy chưa chắc chắn hoặc muốn chính xác khi tính thuế, họ có thể nhờ sự tư vấn của các công ty tư vấn chuyên ngành của Mỹ

1.2 Quy chế Tối huệ quốc (The Most Favoured Nation - MFN)

Quy chế Tối huệ quốc là chính sách thương mại truyền thống quan trọng của Mỹ Chế độ này được Mỹ áp dụng từ trước đây rất lâu trong các quan hệ kinh tế của mình với nước ngoài, song nó chỉ dành cho một số nước

và chủ yếu là MFN có điều kiện Chỉ đến khi GATT ra đời năm 1948 quy chế này mới được Mỹ sử dụng rộng rãi và dành cho tất cả các nước tham gia ký kết Hiệp định Từ đó đến nay, quy chế này tiếp tục được Mỹ mở rộng cho các nước khác có buôn bán với Mỹ kể cả các nước không phải là thành viên của WTO Tuy nhiên các nước này muốn được hưởng MFN của Mỹ thường phải thoả mãn hai điều kiện: 1/ Tuân thủ điều khoản Jackson-Vanik của Luật thương mại năm 1974 về quyền tự do di cư của công dân; 2/ Đã ký Hiệp định thương mại song phương với Mỹ.(Việt Nam là một trong những nước thuộc nhóm này)

Hiện nay, mức thuế suất mà Mỹ cho các nước được hưởng theo quy chế này là khá thấp, trung bình khoảng 3% Mức thuế suất thấp như trên có được là vì nó liên tục giảm theo thời gian do kết quả của các cuộc thương lượng đa biên, trong đó Mỹ cũng như các bạn hàng của Mỹ đồng ý giảm thuế

Trang 38

cho hàng hoá của nhau trên cơ sở có đi có lại Trong biểu thuế quan, loại thuế suất này nằm trong cột 1 của cột thuế quan ưu đãi

1.3 Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập GSP (Generalized System of Preferences):

Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập GSP là một chương trình ưu đãi về thuế có tính chất thực hiện đơn phương và không ràng buộc điều kiện có đi có lại mà Mỹ dành cho hàng hoá của các nước đang phát triển nhập khẩu vào

Mỹ Mục đích của chương trình này là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại các nước dang phát triển theo tinh thần của Hội nghị thương mại và phát triển lần thứ I của Liên hợp quốc UNCTAD năm 1964 Trong biểu thuế quan của Mỹ,

ưu đãi thuế quan theo GSP được thể hiện bằng ký hiệu A hoặc A* trong cột thuế ưu đãi đặc biệt

Theo quy định của Luật thương mại Mỹ năm 1974, để một quốc gia được hưởng GSP thì ngoài điều kiện là một quốc gia đang phát triển, nước đó còn phải là: 1/ Nước không bị khống chế bởi phong trào cộng sản quốc tế; 2/ nước thuộc OPEC; 3/ nước cho hàng hoá từ các nước phát triển khác được hưởng những ưu đãi dặc biệt và những ưu đãi đó làm tổn hại đến lợi ích thương mại của Mỹ; 4/ nước quốc hữu hoá hoặc tịch thhu tài sản của Mỹ, trong đó có bằng phát minh sáng chế, thương hiệu, bản quyền; 5/ nước không thực hiện các quyền được quốc tế công nhận rộng rãi đối với công nhân nước mình Như vậy, nếu một quốc gia thuộc một trong những loại trên sẽ bị loại trừ khỏi chương trình ưu đãi thuế quan của Mỹ Ngoài ra, Luật thương mại

Mỹ cũng loại trừ một số mặt hàng nhập khẩu nhạy cảm khỏi phạm vi áp dụng của chương trình này như: hàng dệt, đồng hồ, 1 số sản phẩm điện tử, 1 số sản phẩm thép, hàng da giày, 1 số sản phẩm hàng thuỷ tinh thành phẩm và bán thành phẩm, Những mặt hàng khác không thuộc danh mục loại trừ trên có xuất xứ từ các quốc gia được hưởng GSP sẽ được hưởng những ưu đãi về thuế quan rất thấp khi nhập khẩu hàng vào Mỹ Về cơ bản, mức thuế này

Trang 39

thường là 0% Tuy nhiên, các mặt hàng này phải đáp ứng được các yêu cầu về quy tắc xuất xứ như: giá trị nguyên liệu do nước đó làm ra cộng với các chi phí trực tiếp để gia công chế tạo thành sản phẩm tại nước được hưởng GSP không được thấp hơn 35% giá trị của sản phẩm ấy khi vào lãnh thổ Hải quan của Mỹ Nói cách khác, giá trị nguyên liệu cho phép nhập để sản xuất hàng hoá dó tại nước được hưởng GSP phải là 65% trở xuống

Song, có một vấn đề cần lưu ý đó là: Luật Mỹ có một cái gọi là “thể thức nhu cầu cạnh tranh”, theo đó khi một nước được hưởng GSP xuất được một khối lượng một mặt hàng vào thị trường mà khối lượng đó vượt quá một mức quy định của Mỹ hoặc vượt quá 50% tổng khối lượng nhập khẩu mặt hàng đó thì ưu đãi về thuế quan dành cho mặt hàng đó của quốc gia đó sẽ bị chấm dứt Lý lẽ căn bản là khi đạt tới ngưỡng trên, quốc gia được hưởng GSP không còn có thể nói rằng nền công nghiệp của mình là “còn non trẻ” và cần đến những ưu đãi đó Một lý lẽ khác là khi không cho những nước đang phát triển hàng đầu được hưởng ưu đãi thuế quan thì những nước đang phát triển ở mức thấp hơn sẽ có cơ hội được hưởng lợi nhiều hơn từ chương trình này Năm 1989, Mỹ đã chấm dứt tư cách được hưởng GSP của Hồng Kông, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapo cũng với những lý do trên, rằng: họ đã lớn mạnh đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới và đã có thặng dư thương mại khá lớn trong buôn bán với Mỹ

Tính chung cho đến nay, theo chương trình này của Mỹ đã có hơn 140 quốc gia hưởng lợi từ nó

Hiện nay, Việt Nam chưa được hưởng GSP của Mỹ Hiệp định thương mại song phương Việt-Mỹ mới chỉ đề cập đến chế độ MFN Mặc dù trong Hiệp định cũng có nêu: “Hoa Kỳ sẽ xem xét khả năng dành cho Việt Nam chế

độ ưu đãi GSP”, nhưng khi nào được hưởng thì điều đó phụ thuộc vào nỗ lực đàm phán và vận động từ phía Chính phủ hai nước

Ngoài chế độ ưu đãi thuế quan trên, Mỹ còn có một số chế độ ưu đãi

Trang 40

đặc biệt khác, như chế độ NAFTA dành cho các nước trong khu vưc mậu dịch

tự do Bắc Mỹ, Sáng kiến vùng lòng chảo Caribe (Caribbean Basin Initiative- CBI) dành cho các nước vùng vịnh Caribe, Luật ưu đãi thương mại Andean (ATPA) dành cho các nước vùng núi Andi Nam Mỹ, thoả thuận Khu vực Mậu dịch Tự do với Isreal,

2 Luật Bồi thường Thương mại áp dụng đối với hàng nhập khẩu:

Để bảo vệ các ngành công nghiệp trong nước, Luật thương mại Mỹ quy định nhiều đạo luật nhằm chống lại những cạnh tranh không công bằng của hàng nhập khẩu trên thị trường Mỹ Hai đạo luật phổ biến nhất trong số đó là Luật thuế bù giá (Countervailing Duty Law - CVD) và Luật thuế chống phá giá (Antidumping Duty Law - AD) Cả hai luật này quy định rằng phần thuế bổ sung sẽ được ấn định đối với hàng nhập khẩu nếu chúng bị phát hiện là được trao đổi không công bằng Cả hai luật bao gồm những thủ tục tương tự để tiến hành điều tra, ấn định thuế, sau đó là kiểm tra và có khả năng loại bỏ thuế

2.1 Luật thuế bù giá (Countervailing Duty Law - CVD)

Luật thuế bù giá quy định một khoản bồi thường dưới dạng thuế nhập khẩu phụ thu để bù vào phần hỗ trợ của nước ngoài, mà việc bán sản phẩm đó

ở Mỹ gây thiệt hại cho các nhà sản xuất những hàng hoá giống hoặc tương tự của Mỹ Trong hầu hết các trường hợp, luật này áp dụng đối với các hoạt động hỗ trợ trực tiếp, nhưng luật này cũng áp dụng đối với loại hỗ trợ gián tiếp bị phát hiện sau khi điều tra theo luật thuế bù giá

Việc điều tra theo luật chống bù giá thường được tiến hành do có đơn khiếu nại của các ngành trong nước trình lên Bộ thương mại Mỹ vào Uỷ ban Thương mại Quốc tế Tuy nhiên, trong một số trường hợp, dù không có đơn khiếu nại nhưng nếu xét thấy có sự buôn bán không công bằng, Bộ Thương mại vẫn có thể tiến hành điều tra độc lập để thực thi luật thuế và bảo vệ quyền lợi của Mỹ

Về thủ tục tiến hành luật thuế bù giá, khi có đơn khiếu nại về một hoạt

Ngày đăng: 17/01/2014, 05:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4: Thương mại hai chiều Việt Nam –Hoa Kỳ (1994-1999) - Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Chính sách quản lý hàng nhập khẩu của Mỹ và một số điều cần lưu ý đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu hàng hoá vào thị trường này” pptx
Bảng 4 Thương mại hai chiều Việt Nam –Hoa Kỳ (1994-1999) (Trang 73)
Bảng 5: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ (1995-1999) - Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Chính sách quản lý hàng nhập khẩu của Mỹ và một số điều cần lưu ý đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu hàng hoá vào thị trường này” pptx
Bảng 5 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ (1995-1999) (Trang 73)
Bảng 6: Thương mại hai chiều Việt Nam-Hoa Kỳ (2000-2001) - Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Chính sách quản lý hàng nhập khẩu của Mỹ và một số điều cần lưu ý đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu hàng hoá vào thị trường này” pptx
Bảng 6 Thương mại hai chiều Việt Nam-Hoa Kỳ (2000-2001) (Trang 74)
Bảng 8: Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ yếu của Việt Nam sang Mỹ - Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Chính sách quản lý hàng nhập khẩu của Mỹ và một số điều cần lưu ý đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu hàng hoá vào thị trường này” pptx
Bảng 8 Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ yếu của Việt Nam sang Mỹ (Trang 84)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w