Nội dung Luật sư trình bày là yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và căn cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp. Luật sư cần trình bày rõ ràng, ngắn gọn nhưng cụ thể từng yêu cầu của nguyên đơn và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp. Phần trình bày của Luật sư bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn có thể theo nhiều cách khác nhau, nhưng nhìn chung nên theo các nhóm tình tiết của vụ án làm căn cứ cho yêu cầu một cách logic như nhóm tình tiết về người để lại di sản thừa kế, người thừa kế, thời điểm mở thừa kế. Việc trình bày về tình tiết cần gắn liền với chứng cứ. Luật sư bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn là người trình bày đầu tiên nên cần trình bày đầy đủ các nhóm tình tiết, chứng cứ của vụ án thừa kế. Tuy nhiên, Luật sư lưu ý không trình bày những tình tiết bất lợi cho nguyên đơn. Có nhiều phương pháp trình bày nhưng Luật sư nên trình bày các tình tiết và chứng cứ về các vấn đề cần giải quyết của vụ án thừa kế, cuối cùng là yêu cầu.Để việc trình bày các nhóm tình tiết, chứng cứ theo trật tự logic, trước hết Luật sư trình bày tình tiết về người để lại di sản thừa kế, người thừa kế tiếp theo là trình bày các tình tiết về thời điểm mở thừa kế, thừa kế theo di chúc hay theo pháp luật, di sản thừa kế; trình bày về yêu cầu khởi kiện. Tùy thuộc vào tính chất phức tạp hay đơn giản của từng vụ án cũng như đối tượng tranh chấp trong mỗi vụ án cụ thể mà cách trình bày của Luật sư về các tình tiết có sự khác nhau.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ TP.HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ THEO HỒ SƠ TÌNH HUỐNG
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ THAM GIA GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC DÂN SỰ
(Dân sự chuyên sâu 01, thi kỳ thi chính)
Họ và tên: Nguyễn Thanh Long Sinh ngày 06 tháng 11 năm 1986 SBD 15 Lớp: Luật sư, Đợt 1 Khóa 22 tại Hậu Giang
Hậu Giang, ngày 22 tháng 8 năm 2021
Trang 2Câu hỏi tự chọn:
3 HS 24 Xác định thời điểm mở thừa kế của cụ Nguyễn Thăng, cụ Trần
Thị Trọng, cụ Nguyễn Thị Lan? Xác định điều kiện Tòa án xem xét về thời hiệu khởi kiện trong vụ án này? Giải thích lý do vì
sao anh (chị) đưa ra quan điểm như vậy? (1.5 điểm) Trả lời: Thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định di sản
thừa kế, người thừa kế, người để lại di sản thừa kế và thời hiệu khởi kiện về thừa kế Trong một vụ án thừa kế có thể có một hoặc nhiều thời điểm mở thừa kế
- Thời điểm mở thừa kế của cụ Nguyễn Thăng: Theo hồ sơ thì cụ Nguyễn
Thăng chết ngày 04 tháng 01 năm 2002 (bút lục số 9), khi chết thì ông Thăng có để lại 2000m2 đất (đất thô cư và đất trồng cây lâu năm) trên đất này còn có 01 căn nhà
và một số cây trồng trên đất, đất toạ lạc tại khu 4 thị trấn Cái Be huyện Cái Be Phần đất này có nguồn gốc do ông Thăng và bà Trọng mua vào khoảng năm 1970 (bút lục số 86) Theo quy định tại Khoản 1, Điều 636 Bộ Luật Dân sự năm 1995 thì Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Do đó, thời điểm mở thừa kế của cụ Nguyễn Thăng là vào ngày 04 tháng 01 năm 2002
- Thời điểm mở thừa kế của cụ Trần Thị Trọng: Theo hồ sơ thì cụ Trần Thị
Trọng chết ngày 22 tháng 8 năm 2007 (bút lục số 10), khi chết thì cụ Trọng có để lại 2000m2 đất (đất thô cư và đất trồng cây lâu năm) trên đất này còn có 01 căn nhà và một số cây trồng trên đất, đất toạ lạc tại khu 4 thị trấn Cái Be huyện Cái Be Phần đất này có nguồn gốc do ông Thăng và bà Trọng mua vào khoảng năm 1970 (bút lục
số 86) Theo quy định tại Khoản 1, Điều 633 Bộ Luật Dân sự năm 2005 thì Thời điểm
mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Do đó, thời điểm mở thừa kế của cụ Trần Thị Trọng là vào ngày 22 tháng 8 năm 2007
- Thời điểm mở thừa kế của cụ Nguyễn Thị Lan: Theo hồ sơ thì cụ Nguyễn
Thị Lan chết năm 2007 Theo quy định tại Khoản 1, Điều 633 Bộ Luật Dân sự năm
2005 thì Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Do đó, thời điểm
mở thừa kế của cụ Nguyễn Thị Lan là năm 2007 Tuy nhiên, về tài sản nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế thì không có yêu cầu đến tài sản của cụ Nguyễn Thị Lan, đồng thời phần tài sản này khi nguyên đơn trình bày là của ông Thăng và bà Trọng thì bị đơn và các người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cũng không phản đối (bút lục số 86) Căn cứ theo khoản 2, Điều 92 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015 thì phần tài sản nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế là tài sản của ông Thăng và bà Trọng
Điều kiện tòa án xem xét thời hiệu khởi kiện: Theo hồ sơ thì nguyên đơn là
bà Nguyễn Thị Kim Lan nộp đơn khởi kiện ngày 24 tháng 06 năm 2020, do đó áp dụng pháp luật tố tụng hiện hành Theo quy định tại Điều 184 Bộ Luật Tố tung Dân sự
2015 thì Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của
Trang 3một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp
sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ Như vậy, Theo hồ sơ vụ án thì các bên không có ý kiến gì về việc áp dụng thời hiệu và cũng không có nghĩa vụ gì về tài sản
mà người chết để lại Đồng thời, theo Theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân
sự năm 2015, thì thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế Tức là thời hiệu khởi kiện vẫn còn dài, nên không có điều kiện nào để Tòa án xem xét đến thời hiệu khởi kiện
Câu hỏi tự chọn:
5 HS 24 Xác định thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn
Thăng, cụ Trần Thị Trọng, cụ Nguyễn Thị Lan? Giải thích lý do
vì sao anh (chị) đưa ra quan điểm như vậy (1.5 điểm)
Trả lời:
Theo hồ sơ thì nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Kim Lan nộp đơn khởi kiện ngày
24 tháng 06 năm 2020 và yêu cầu chia thừa kế là bất động sản Về tài sản nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế là của ông Thăng và bà Trọng (bút lục số 86) Theo quy định tại khoản 1, Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015, thì thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế Do đó:
- Thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thăng: cụ Nguyễn
Thăng chết ngày 04 tháng 01 năm 2002 (bút lục số 9) Đến thời điểm nộp đơn khởi kiện là hơn 18 năm, nhưng theo quy định tại khoản 1, Điều 623 Bộ luật Dân sự năm
2015 thì thời hiệu khởi kiện là 30 năm Do đó, thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thăng vẫn còn
- Thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế của cụ Trần Thị Trọng: cụ Trần
Thị Trọng chết ngày 22 tháng 8 năm 2007 (bút lục số 10) Đến thời điểm nộp đơn khởi kiện là hơn 12 năm, nhưng theo quy định tại khoản 1, Điều 623 Bộ luật Dân sự năm
2015 thì thời hiệu khởi kiện là 30 năm Do đó, thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế của cụ Trần Thị Trọng vẫn còn
- Thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị Lan: cụ
Nguyễn Thị Lan chết năm 2007 Đến thời điểm nộp đơn khởi kiện là khoảng 13 năm Theo quy định tại khoản 1, Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản,
kể từ thời điểm mở thừa kế Tuy nhiên, theo hồ sơ thì không đề cập đến di sản của cụ Lan và nguyên đơn cũng không yêu cầu chia thừa kế đối với di sản của cụ Lan Đồng
Trang 4thời cũng không biết di sản của cụ Lan là động sản hay bất động sản, nên chưa có cơ
sở để xác định thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị Lan
Câu hỏi tự chọn:
10 HS 24 Anh (chị) hãy dự kiến bản trình bày yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn tại phiên tòa sơ thẩm và các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp
pháp? (2.0 điểm) Trả lời: Nội dung Luật sư trình bày là yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và
căn cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp Luật sư cần trình bày
rõ ràng, ngắn gọn nhưng cụ thể từng yêu cầu của nguyên đơn và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp Phần trình bày của Luật sư bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn có thể theo nhiều cách khác nhau, nhưng nhìn chung nên theo các nhóm tình tiết của vụ án làm căn cứ cho yêu cầu một cách logic như nhóm tình tiết về người để lại di sản thừa kế, người thừa kế, thời điểm mở thừa kế Việc trình bày về tình tiết cần gắn liền với chứng cứ Luật sư bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn là người trình bày đầu tiên nên cần trình bày đầy đủ các nhóm tình tiết, chứng cứ của vụ án thừa kế Tuy nhiên, Luật sư lưu ý không trình bày những tình tiết bất lợi cho nguyên đơn Có nhiều phương pháp trình bày nhưng Luật sư nên trình bày các tình tiết
và chứng cứ về các vấn đề cần giải quyết của vụ án thừa kế, cuối cùng là yêu cầu
Để việc trình bày các nhóm tình tiết, chứng cứ theo trật tự logic, trước hết Luật
sư trình bày tình tiết về người để lại di sản thừa kế, người thừa kế tiếp theo là trình bày các tình tiết về thời điểm mở thừa kế, thừa kế theo di chúc hay theo pháp luật, di sản thừa kế; trình bày về yêu cầu khởi kiện Tùy thuộc vào tính chất phức tạp hay đơn giản của từng vụ án cũng như đối tượng tranh chấp trong mỗi vụ án cụ thể mà cách trình bày của Luật sư về các tình tiết có sự khác nhau
Kính thưa Hội đồng xét xử, thưa vị đại diện Viện kiểm sát, thưa toàn thể quý vị đang theo dõi phiên tòa!
Tôi là Nguyễn Thanh Long, luật sư công ty luật trách nhiệm hữu hạn HD-Công Lý thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đồng Tháp, nhận nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Kim Lan trong vụ án “Tranh chấp Thừa
kế quyền sử dụng đất và nhà trên đất” được đưa ra xét xử ngày hôm nay
Thay mặt cho nguyên đơn, tôi xin trình bày tóm tắt yêu cầu khởi kiện như sau: Ông Nguyễn Thăng, sinh năm 1922 và bà Trần Thị Trọng, sinh năm 1917 sinh sống tại số 18 khu 4, thị trấn Cái Be, huyện Cái Be, tỉnh Tiền Giang có một người con
là bà Nguyễn Thị Kim Lan, sinh năm 1951
Trang 5Vào năm 1963, ông Thăng có quan hệ tình cảm với bà Nguyễn Thị Lan, sinh năm 1936 và sinh ra 05 người con gồm:
- Nguyễn Huy Lộc, sinh năm 1963
- Nguyễn Huy Tài, sinh năm 1964
- Nguyễn Huy Thành, sinh năm 1968
- Nguyễn Thị Tố Quyên, sinh năm 1970
- Nguyễn Thị Bích Ngọc, sinh năm 1973
Thời gian này thì ông Thăng và bà Nguyễn Thị Lan cùng sinh sống ở Sài Gòn, sau 1975 ông Thăng về Cái Be sinh sống với bà Trần Thị Trọng cho đến năm
2002 thì chết Sau khi chồng chết thì bà Trọng ở với các con đến năm 2007 thì chết Ông Thăng và bà Trọng chết đều không để lại di chúc Bà Nguyễn Thị Lan cũng chết vào năm 2007
Sinh thời, ông Thăng và bà Trọng có mua 1 mảnh đất khoảng 2000m2 (đất thô
cư và đất trồng cây lâu năm) xây nhà để ở và trồng cây, đất do ông Thăng đứng tên trên Giấy chứng nhận Đất toạ lạc tại khu 4, thị trấn Cái Be, huyện Cái Be, tỉnh Tiền Giang Hiện nay phần đất và căn nhà này do ông Nguyễn Huy Thành đang quản lý sử dụng
Nay, bà Lan khởi kiện yêu cầu tòa án xem xét, giải quyết:
- Chia 2000m2 đất và 1 căn nhà tường do cha là ông Nguyễn Thăng đứng tên quyền sử dụng đất tọa lạc tại số 18 khu 4, thị trấn Cái Be, huyện Cái Be, tỉnh Tiền Giang Phần tài sản chung phân nửa của bà Trọng thì bà Nguyễn Thị Kim Lan là con nên được hưởng, phần nữa của ông Thăng thì chia đều cho 6 người con bao gồm bà Nguyễn Thị Kim Lan, ông Nguyễn Huy Lộc, ông Nguyễn Huy Tài, ông Nguyễn Huy Thành, bà Nguyễn Thị Tố Quyên và bà Nguyễn Thị Bích Ngọc
- Bà Nguyễn Thị Kim Lan yêu cầu tòa giải quyết việc chia tài sản bà được nhận bằng hiện vật, tài sản của cha mẹ để lại
Để chứng minh yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp, Tôi dẫn chứng các quy định sau:
- Thứ nhất là quan hệ vợ chồng giữa ông Thăng và bà Trọng:
Tại khoản 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội hướng dẫn về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định về việc áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 11 của Luật này được thực hiện như sau: “Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật hôn nhân
và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyết
Trang 6theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000” Điều này chứng minh ông Thăng và bà Trọng là vợ chồng mặc dù không có đăng ký kết hôn
Quan hệ về tài sản trong thời kỳ hôn nhân: Theo quy định tại Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 thì “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới” Do đó, quan hệ về tài sản là ngang nhau
- Thứ hai là về con cái: ông Thăng và bà Trọng có 1 người con là bà Nguyễn
Thị Kim Lan (bút lục số 8) Ngoài ra, ông Thăng còn có 05 người con riêng với bà Nguyễn Thị Lan
Theo quy định tại Điều 646, Điều 679 Bộ Luật Dân sự năm 1995 và Điều 643, Điều 676 Bộ Luật Dân sự năm 2005 thì bà Nguyễn Thị Kim Lan có quyền thừa kế theo pháp luật di sản do ông Thăng và bà Trọng (do ông Thăng và bà Trọng chết không có để lại di chúc)
- Thứ ba là về tài sản chung: ông Thăng và bà Trọng có để lại 2000m2 đất (đất thô cư và đất trồng cây lâu năm) trên đất này còn có 01 căn nhà và một số cây trồng trên đất, đất toạ lạc tại khu 4 thị trấn Cái Be huyện Cái Be Phần đất này có nguồn gốc do ông Thăng và bà Trọng mua vào khoảng năm 1970 (bút lục số 86) Phần tài sản này đã được làm rõ theo theo quy định tại khoản 2, Điều 92 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015
* Từ các phân tích, lập luận và quy định pháp luật nêu trên thì chứng tỏ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp
Câu hỏi tự chọn:
12 HS 24 Anh (chị) hãy dự kiến kế hoạch hỏi trình bày tại phiên tòa sơ
thẩm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn? (2.0 điểm)
Trả lời: Kỹ năng hỏi của Luật sư trong vụ án thừa kế phụ thuộc vào kết quả
nghiên cứu hồ sơ vụ án thừa kế, việc chuẩn bị phương án hỏi, kỹ năng lắng nghe và ghi chép tại phiên tòa, Sau phần trình bày về yêu cầu và ý kiến, việc hỏi các đương sự, người tham gia tố tụng khác để làm rõ các vấn đề về nội dung vụ án được thực hiện Đây cũng là nghệ thuật đòi hỏi Luật sư vận dụng sự hiểu biết sâu rộng về pháp luật thừa kế và pháp luật khác có liên quan, hiểu sâu sắc về đặc điểm của vụ án thừa kế, về bối cảnh của từng vụ án, về đặc điểm tâm lý của từng đương sự Theo quy định của
Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015, thứ tự hỏi của từng người được thực hiện như sau: Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn hỏi trước, tiếp đến bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, sau đó là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có
Trang 7quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho Luật sư thực hiện
kỹ năng hỏi Theo nguyên tắc chung, Luật sự chỉ đặt các câu hỏi để yêu cầu khách hàng của mình hoặc những người tham gia tố tụng khác trả lời cho Toà án nhằm làm
rõ những tình tiết có giá trị trong vụ án thừa kế mà các bên chưa trình bày, trình bày chưa rõ hoặc có sự mâu thuẫn và không hỏi trùng lắp Chính vì vậy, khi nghe trình bày của Luật sư bên đối tụng, đương sự và người tham gia tố tụng khác về các tình tiết của vụ án thừa kế, Luật sư phải tập trung lắng nghe và ghi chép những tình tiết Luật sư, các bên đương sự trình bày để từ đó Luật sư không đặt các câu hỏi trùng lắp
và không hỏi về các tình tiết mà các bên đã trình bày Tuy nhiên, nếu muốn nhấn mạnh về một tình tiết nào đó, mặc dù đã có người hỏi rồi nhưng Luật sư có thể hỏi lại bằng câu hỏi khác Các câu hỏi được Luật sư sử dụng có thể là câu hỏi đóng, câu hỏi
mở, hỏi trực tiếp, hỏi vòng quanh để xác định chính xác các vấn đề cần giải quyết của vụ án thừa kế Song, Luật sư cũng có thể hỏi đương về việc hiểu như thế nào về nội dung của quy định pháp luật làm cơ sở cho việc tranh luận Luật sư tập trung hỏi
để làm rõ các vấn đề các bên còn tranh chấp, các vấn đề cần tiếp tục chứng minh trong
vụ án Về cách hỏi, Luật sư hỏi làm rõ về từng vấn đề còn tranh chấp, cần tiếp tục chứng minh tại phiên tòa Cần tránh tình trạng đang hỏi vấn đề này lại chuyển sang hỏi vấn đề khác một cách lộn xộn, không logic Câu hỏi cần rõ ràng, dễ hiểu, ngắn gọn, cụ thể
Dự kiến kế hoạch hỏi trình bày tại phiên tòa sơ thẩm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn:
► Hỏi để làm rõ phần đất 200m 2 bà Phạm Thị Tâm đã xây dựng nhà ở
* Hỏi bà Phạm Thị Tâm
Bà cho hội đồng xét xử biết:
- Nguồn gốc phần đất 200m2 bà đã xây dựng nhà ở như hiện nay?
- Ông Thăng cho đất cho bà có làm giấy tờ gì không? Vào năm nào?
- Phần đất 200m2 này bà được cấp giấy chứng nhận chưa?
- Bà Trọng có ý kiến gì về việc cho đất cho bà không?
- Khi bà xây dựng nhà ở có ai ngăn cản không?
* Hỏi bà Nguyễn Thị Kim Lan
Bà cho hội đồng xét xử biết:
- Vào thời điểm ông Thăng làm Ủy quyền cho bà Tâm xây dựng nhà ở bà có biết không?
- Bà Trọng có nói với bà việc này không?
► Hỏi để làm rõ việc tôn tạo nhà ở
* Hỏi ông Nguyễn Huy Thành
Ông cho hội đồng xét xử biết:
- Ông sửa và xây dựng thêm nhà ở có được sự cho phép của ông Thăng và bà Trọng không? Có giấy tờ chứng minh không?
- Khi ông sửa và xây thêm nhà có ai ngăn cản hay làm khó gì không?
Trang 8- Tông chi phí sửa và xây dựng thêm là bao nhiêu?
- Nguồn tiền bỏ ra để xây nhà là của ai? Có biên lai mua vật tư xây dựng không?
► Hỏi để làm rõ về yêu cầu độc lập
* Hỏi bà Nguyễn Thị Tố Quyên
Bà cho hội đồng xét xử biết:
- Bà có mối quan hệ như thế nào với bà Trọng?
- Trong khoảng thời gian từ năm 1998 đến năm 2007 chị sống ở đâu?
- Bà chuyển lên Thành phố Hồ Chí Minh sống khi nào?
- Trong lúc bà Trọng bị bệnh thì bà có chăm sóc cho bà Trọng?
* Hỏi bà Nguyễn Thị Ngọc Bích
Bà cho hội đồng xét xử biết:
- Bà có mối quan hệ như thế nào với bà Trọng?
- Trong khoảng thời gian từ năm 1998 đến năm 2007 chị sống ở đâu?
- Bà chuyển lên Thành phố Hồ Chí Minh sống khi nào?
- Trong lúc bà Trọng bị bệnh thì bà có chăm sóc cho bà Trọng?
Câu hỏi bắt buộc
14 HS 24 Là Luật sư bảo vệ cho nguyên đơn, anh (chị)
hãy trình bày nội dung cơ bản bản luận cứ
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách
hàng? (3.0 điểm)
Học viên có số thứ tự từ 1 đến
30 theo danh sách lớp học
Trả lời: Theo quy định của Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015, Luật sư bảo vệ
quyền lợi cho nguyên đơn phát biểu quan điểm tranh luận trước Trước khi phát biểu quan điểm tranh luận, Luật sư cần xác định phạm vi các vấn đề cần tranh luận, Phạm
vi các vấn đề Luật sư cần tranh luận trong vụ án thừa kể là các vấn đề cần giải quyết của vụ án thừa kế Luật sư nhận định về các tình tiết của vụ án trên cơ sở đánh giá chứng cứ, khẳng định giá trị chứng minh của từng chứng cứ, của hệ thống chứng cứ và viện dẫn các quy định của pháp luật về thừa kế và các quy định của pháp luật có liên quan làm căn cứ cho những kết luận của mình Do phát biểu quan điểm tranh luận trước nên Luật sư phải tranh luận và đưa ra kết luận về từng tình tiết, từng vấn đề cần giải quyết của vụ án thừa kế Từ đó, Luật sư đề xuất với Hội đồng xét xử căn cứ các quy định của pháp luật chấp nhận từng yêu cầu của nguyên đơn, không chấp nhận hoặc chấp nhận một phần yêu cầu phản tố hoặc cầu khác của bị đơn
Bản luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn
Kính thưa Hội đồng xét xử, thưa vị đại diện Viện kiểm sát, thưa toàn thể quý vị đang theo dõi phiên tòa!
Trang 9Tôi là Nguyễn Thanh Long , luật sư công ty luật trách nhiệm hữu hạn HD-Công Lý thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đồng Tháp, nhận nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Kim Lan trong vụ án “Tranh chấp Thừa
kế quyền sử dụng đất và nhà trên đất” được đưa ra xét xử ngày hôm nay
Đầu tiên, cho tôi gửi lời cảm ơn đến quý tòa đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi sao chụp, nghiên cứu hồ sơ vụ án
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và căn cứ kết quả phần tranh tụng tại phiên tòa hôm nay, tôi trân trọng gửi tới Hội đồng xét xử những quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Kim Lan như sau:
Kính thưa Hội đồng xét xử, để thuận tiện cho việc theo dõi tôi xin tóm tắt ngắn gọn nội dung vụ án như sau: Ông Nguyễn Thăng, sinh năm 1922 và bà Trần Thị Trọng, sinh năm 1917 sinh sống tại số 18 khu 4, thị trấn Cái Be, huyện Cái Be, tỉnh Tiền Giang có một người con là bà Nguyễn Thị Kim Lan, sinh năm 1951
Vào năm 1963, ông Thăng có quan hệ tình cảm với bà Nguyễn Thị Lan, sinh năm 1936 và sinh ra 05 người con gồm:
- Nguyễn Huy Lộc, sinh năm 1963
- Nguyễn Huy Tài, sinh năm 1964
- Nguyễn Huy Thành, sinh năm 1968
- Nguyễn Thị Tố Quyên, sinh năm 1970
- Nguyễn Thị Bích Ngọc, sinh năm 1973
Thời gian này thì ông Thăng và bà Nguyễn Thị Lan cùng sinh sống ở Sài Gòn, sau 1975 ông Thăng về Cái Be sinh sống với bà Trần Thị Trọng cho đến năm
2002 thì chết Sau khi chồng chết thì bà Trọng ở với các con đến năm 2007 thì chết Ông Thăng và bà Trọng chết đều không để lại di chúc Bà Nguyễn Thị Lan cũng chết vào năm 2007
Sinh thời, ông Thăng và bà Trọng có mua 1 mảnh đất khoảng 2000m2 (đất thô
cư và đất trồng cây lâu năm) xây nhà để ở và trồng cây, đất do ông Thăng đứng tên trên Giấy chứng nhận Đất toạ lạc tại khu 4, thị trấn Cái Be, huyện Cái Be, tỉnh Tiền Giang Hiện nay phần đất và căn nhà này do ông Nguyễn Huy Thành đang quản lý sử dụng
Nay, bà Lan khởi kiện yêu cầu tòa án xem xét, giải quyết:
- Chia 2000m2 đất và 1 căn nhà tường do cha là ông Nguyễn Thăng đứng tên quyền sử dụng đất tọa lạc tại số 18 khu 4, thị trấn Cái Be, huyện Cái Be, tỉnh Tiền Giang Phần tài sản chung phân nửa của bà Trọng thì bà Nguyễn Thị Kim Lan là con nên được hưởng, phần nữa của ông Thăng thì chia đều cho 6 người con bao gồm bà
Trang 10Nguyễn Thị Kim Lan, ông Nguyễn Huy Lộc, ông Nguyễn Huy Tài, ông Nguyễn Huy Thành, bà Nguyễn Thị Tố Quyên và bà Nguyễn Thị Bích Ngọc
- Bà Nguyễn Thị Kim Lan yêu cầu tòa giải quyết việc chia tài sản bà được nhận bằng hiện vật, tài sản của cha mẹ để lại
Kính thưa Hội đồng xét xử, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp Bởi lẽ:
Thứ nhất: Về mối quan hệ giữa người để lại di sản và người thừa kế di sản
Ông Nguyễn Thăng và bà Trần Thị Trọng là vợ chồng hợp pháp Theo quy định tại khoản 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội hướng dẫn về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định về việc áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 11 của Luật này được thực hiện như sau: “Trong trường hợp quan hệ
vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000” Điều này chứng minh ông Thăng và bà Trọng là vợ chồng mặc dù không có đăng ký kết hôn
Ông Nguyễn Thăng và bà Trần Thị Trọng có 1 người con là bà Nguyễn Thị Kim Lan (bút lục số 8) Ngoài ra, ông Thăng còn có 05 người con riêng với bà Nguyễn Thị Lan Vấn đề này đã thừa nhận tại Biên bản hòa giải tại Toà án nhân dân huyện cái
Be, Tỉnh Tiền Giang ngày 04 tháng 5 năm 2013 (bút lục số 85 -87)
Căn cứ quy định tại Điều 679 Bộ Luật Dân sự năm 1995 và Điều 676 Bộ Luật Dân sự năm 2005 thì bà Nguyễn Thị Kim Lan có quyền thừa kế theo pháp luật phần di sản do ông Thăng và Trọng để lại (do ông Thăng và bà Trọng chết không có để lại di chúc)
Thứ hai: Về di sản thừa kế
Ông Thăng và bà Trọng có để lại 2000m2 đất (đất thô cư và đất trồng cây lâu năm) trên đất này còn có 01 căn nhà và một số cây trồng trên đất, đất toạ lạc tại khu
4 thị trấn Cái Be huyện Cái Be Phần đất này có nguồn gốc do ông Thăng và bà Trọng mua vào khoảng năm 1970 (bút lục số 86) Phần tài sản này đã được làm rõ theo theo quy định tại khoản 2, Điều 92 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015
Thứ ba: Phần di sản thừa kế
Quan hệ về tài sản trong thời kỳ hôn nhân: Theo quy định tại Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 thì “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới” Do đó, quan hệ về tài sản giữa ông Thăng và bà Trọng là ngang nhau