Để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, đi đôi với việc tăng cường công tác đào tạo và bồi dưỡng ở trong nước, Hội đồng Chính phủ chủ trương đưa một bộ phận công nhân và cán bộ đang công t
Trang 1LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Những thách thức, cơ hội và giải pháp trong việc đẩy mạnh xuất khẩu sức lao động của Việt nam sang thị trường Châu Á
Trang 2nó góp phần giải quyết được việc làm cho một bộ phận không nhỏ lao động trong nước, tạo sự ổn định cho xã hội
Việc nước ta tham gia vào thị trường lao động quốc tế, mặc dù đã đem lại những kết quả bước đầu, song hiệu quả của hoạt động xuất khẩu lao động còn thấp do rất nhiều các nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau Những năm gần đây, được sự chỉ đạo Đảng và Nhà nước, vấn đề xuất khẩu lao động đang dần được cải cách và hoàn thiện Chính vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng
và đề ra những giải pháp nhằm đổi mới và tăng cường công tác quản lý, tổ chức xuất khẩu lao động là một vấn đề vừa có tính trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài Trong phạm vi khoá luận này, tôi chỉ xin được đề cập tới hoạt động xuất khẩu lao động của Việt nam sang thị trường các nước thuộc khu vực Châu
Á
Tên đề tài: “Những thách thức, cơ hội và giải pháp trong việc đẩy mạnh
xuất khẩu sức lao động của Việt nam sang thị trường Châu Á ”
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Với mục tiêu nghiên cứu và phân tích
tình hình xuất khẩu lao động Việt Nam sang thị trường Châu Á, khoá luận chủ yếu tập trung đi sâu vào nghiên cứu thực trạng và từ đó đề ra các giải pháp cho hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam trong giai đoạn 2001- 2010
Trang 3Phương pháp nghiên cứu của khoá luận là: nêu ra và phân tích thực tiễn
hoạt động này ở Việt Nam đồng thời đưa ra một số giải pháp cho tình hình xuất khẩu lao động nước ta sang thị trường Châu Á
Nội dung của bài khoá luận:
Ngoài lời mở đầu, kết luận, các phụ lục, tài liệu tham khảo, khoá luận gồm các phần sau:
Chương 1: Tổng quan về công tác xuất khẩu lao động của Việt Nam Chương 2: Thực trạng công tác xuất khẩu lao động của Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu sức lao động sang thị
Để hoàn thành được bài khoá luận này, tôi đã được sự hướng dẫn và giúp
đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn trực tiếp – Vũ Thị Hiền, giảng viên trường Đại học Ngoại thương Hà Nội; Giám đốc Nguyễn Quốc Hùng và các cô chú, anh chị em là cán bộ của Trung tâm XKLĐ - Công ty XNK và HTQT Coalimex thuộc Tổng công ty Than Việt nam, gia đình và bạn bè Em xin chân thành cám
ơn cô Hiền và mọi người đã tạo điều kiện giúp đỡ để em có thể hoàn thành tốt được bài khoá luận này của mình
Do trình độ của người viết còn hạn chế, chắc chắn khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý chỉ dẫn của các thầy cô
và các bạn Tôi xin chân thành cám ơn
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM
Trang 4I - VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC XKLĐ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN:
1.1 Giải quyết việc làm và tạo thu nhập cho Người lao động:
Đối với nhiều quốc gia thì xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế vô cùng quan trọng Điều này đã được chứng minh trong nhiều thập kỷ vừa qua Nguồn lao động là tiềm năng sống, tiềm năng này không được khai thác sử dụng triệt để hợp lý sẽ là sự lãng phí rất lớn cho nguồn lực xã hội Nếu không giải quyết được vấn đề này sẽ có hậu quả rất lớn không những không tạo ra của cải cho xã hội mà những tiêu cực, tệ nạn như trộm cắp, cờ bạc, mại dâm, gây rối trật tự trị an làm xói mòn nếp sống lành mạnh có thể phá vỡ nhiều mối quan hệ truyền thống gây tổn thương về mặt tâm lý, niềm tin của nhiều người Bên cạnh
đó nếu không giải quyết được việc làm, tình trạng thất nghiệp gia tăng sẽ ảnh hưởng tới đời sống của từng cá nhân, không thoả mãn được nhu cầu xã hội Hơn nữa đó là sự lãng phí nguồn nhân lực và kéo theo sự lãng phí các nguồn lực khác, đó là những nguồn lực khán hiếm của xã hội Kết quả là sản lượng của nền kinh tế giảm sút Vì vậy giải quyết việc làm, tạo thu nhập là vấn đề hàng đầu của mỗi quốc gia, trong đó xuất khẩu lao động được coi là một trong những giải pháp cần được khai thác
Theo ILO, tính đến năm 1999 có 920 triệu người trên thế giới thất nghiệp
và thiếu việc làm Trong đó, các nước thuộc khối G7 có khoảng 45 triệu lao động thất nghiệp Điều đó đã gây nên tình tạng giảm sút tăng trưởng kinh tế và nhiều vấn đề xã hội phức tạp Trong các giải pháp khắc phục tình trạng thất nghiệp, các nước đã đặc biệt quan tâm tới hoạt động xuất khẩu lao động
Sự khủng hoảng dầu lửa trong thập kỷ 70 đến đầu thập kỷ 80 gây ra tình trạng mất cân đối về lao động dẫn đến kết quả các nước có lực lượng lao động
dư thừa nhất là các nước Châu Á đã lập tức liên tục xuất khẩu lao động sang các nước vùng Vịnh Chẳng hạn như Ấn Độ, năm 1971 có 400.000 người ở Trung Đông kể cả vợ con người lao động Sau 10 năm riêng lao động đã lên tới 415.000 người và đến năm 1985 lên tới 1,1 triệu người Năm 1985 có tới 2 triệu người lao động ở ả Rập Xê út, hơn nửa triệu tại Cô oét năm 1990, Philipin có 400.000 người lao động ở các nước vùng Vịnh và trong vòng 3 năm từ 1998 đến
1990 Philipin cũng có 280.000 người lao động ở các nước không thuộc Trung
Trang 5Đông với những lợi ích thu được từ Xuất khẩu lao động thật đáng kể vừa giải quyết việc làm cho bản thân người lao động, tăng thu nhập đồng thời là cái van
an toàn đối với sức ép việc làm trong nước mà còn góp phần quan trọng đối với cán cân thanh toán quốc gia, chẳng hạn những năm 1982 – 1983, Pakistan thu về 2,5 tỷ USD từ xuất khẩu lao động sang Trung Đông, nhiều hơn kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của nước này Trong số những người đi làm việc ở nước ngoài (tính theo phần trăm) với số lao động tăng thêm trong nước năm 1982 chiếm 45% ở Philipin, 40% ở Nam Triều Tiên, gần 33% ở Thái Lan và Cananda
1.2 Nâng cao tay nghề và trình độ:
Người lao động có nghề hay không có nghề khi hđi xuất khẩu lao động điều đầu tiên là học hỏi được ở nước ngoài cung cách làm việc, kinh nghiệm thực tế, trình độ nhận thức cũng được nâng cao Khi về nước, điều này trở thành lợi thế cho cá nhân họ Người lao động được làm việc ở các nước có nền công nghiệp phát triển sẽ có điều kiện tiếp xúc với kỹ thuật hiện đại và tiên tiến Đây
là cơ hội đào tạo tại chỗ về tay nghề và trình độ chuyên môn
1.3 Mở rộng quan hệ hợp tác:
Quan hệ hợp tác trong lĩnh vực xuất khẩu lao động là vô cùng quan trọng,
từ đó quan hệ giữa nước cung ứng lao động và nước tiếp nhận lao động trở nên gắn bó hơn, hiểu nhau hơn tạo ra mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước Cung cấp cho nhau những thông tin quan trọng về vấn đề hai nước cùng quan tâm và thống nhất quan điểm hai bên cùng có lợi Sự đa dạng hóa các quan hệ hợp tác quốc tế được mở rộng thông qua hợp tác quốc tế về lao động sẽ tạo điều kiện mở rộng hơn nữa các quan hệ hợp tác khác
1.4 Tăng nguồn thu ngoại tệ góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế:
Lợi ích từ việc xuất khẩu lao động là thu ngoại tệ Lương của người lao động có thể được quy ra đồng tiền quốc tế Ví dụ như đồng đô la Mỹ để chuyển
về nước, điều này rất quan trọng vì nó tích luỹ ngoại tệ cho đất nước góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, đồng thời giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao đời sống cho người lao động do vậy góp phần rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa nước phát triển và nước đang phát triển
Trang 6* Tóm lại, xuất khẩu lao động là hoạt động của kinh tế quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt đối với các nước kinh tế kém phát triển Đó là một giải pháp tạo việc làm, nâng cao trình độ, tạo thu nhập cho người lao động, đó cũng
là hoạt động mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế của một quốc gia và tạo nguồn thu ngoại tệ, góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế
II- CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG:
Nước ta về cơ bản là một nước nông nghiệp, đại bộ phận nhân dân sống ở nông thôn và làm nông nghiệp, đất ít người đông, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm cao, hàng năm lại có thêm hơn 1 triệu người bước vào tuổi lao động Để đất nước từng bước đổi mới, tiến kịp với các nước trong khu vực và thế giới, đòi hỏi phải sắp xếp lại sản xuất dẫn đến nhhiều lao động dôi dư có nhu cầu bố trí việc làm mới là một điều tất yếu Vì vậy, sức ép về việc làm là rất gay gắt Để giải quyết được vấn đề này, chúng ta đã xác định cùng với việc giải quyết việc làm trong nước là chính, xuất khẩu lao động và chuyên gia (XKLĐ & CG) là một chiến lược quan trọng trước mắt và lâu dài
Xuất khẩu lao động: Là một hiện tượng KT - XH, XKLĐ được chính thức
xuất hiện từ cuối thế kỉ thứ 19 Trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, ngày nay XKLĐ trở nên rất phổ biến và đã trở thành xu thế chung của thế giới Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về định nghĩa XKLĐ Nếu như trước đây với thuật ngữ “hợp tác quốc tế về lao động”, XKLĐ được hiểu là sự trao đổi lao động giữa các quốc gia thông qua các hiệp định được thoả thuận và kí kết giữa các quốc gia đó hay là sự di chuyển lao động có thời hạn giữa các quốc gia một cách hợp pháp và có tổ chức Trong hành vi trao đổi này, nước đưa lao động
đi được coi là nước XKLĐ, còn nước tiếp nhận sử dụng lao động thì được coi là nước nhập khẩu lao động Một cách hiểu khác nữa về XKLĐ là sự hợp tác sử dụng lao động giữa nước thừa và thiếu lao động, là việc di chuyển lao động có thời hạn và có kế hoạch từ nước dư thừa lao động sang nước thiếu lao động
Từ các khái niệm trên có thể hiểu: XKLĐ là hoạt động kinh tế của một quốc
gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia khác trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất pháp quy được thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận lao động
Trang 7Nhận thức về vai trò và ý nghĩa của công tác XKLĐ trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội và sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương về vấn đề này rất rõ, thể hiện ở những Quyết định, Nghị quyết, Nghị định và Chỉ thị rất quan trọng do Bộ chính trị và Chính phủ đưa ra từ những năm 80 liên quan đến vấn đề XKLĐ & CG Quyết định của Hội đồng Chính phủ số 46/CP ngày 11/12/1980 viết: “ Trước yêu cầu, nhiệm vụ mới của cách mạng nước ta, đòi hỏi phải nhanh chóng xây dựng một đội ngũ công nhân lành nghề và cán bộ kỹ thuật, nghiệp vụ, quản lý giỏi, phù hợp với nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá của đất nước Để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, đi đôi với việc tăng cường công tác đào tạo và bồi dưỡng ở trong nước, Hội đồng Chính phủ chủ trương đưa một bộ phận công nhân và cán bộ đang công tác ở các xí nghiệp, cơ quan Nhà nước sang các nước
xã hội chủ nghĩa nhằm mục đích bồi dưỡng nâng cao tay nghề, nâng cao trình độ
kỹ thuật, nghiệp vụ quản lý, đồng thời làm việc có thời hạn trong các cơ sở kinh
tế của các nước đó nhằm đáp ứng tốt yêu cầu đào tạo lao động của nước ta, vừa giúp các nước anh em khắc phục một phần khó khăn về lao động, trêntinh thần hợp tác xã hội chủ nghĩa giữa các thành viên trong Hội đồng tương trợ kinh tế” Quyết định này là chủ trương về việc đưa công nhân và cán bộ đi bồi dưỡng nâng cao trình độ và làm việc có thời hạn tại các nước xã hội chủ nghĩa Trong quá trình thực hiện Quyết định này, Nhà nước ta đã thu được một số kết quả nhất định
Cũng năm 1980, Hội đồng Chính phủ đã phê duyệt Nghị quyết số 362/CP
ngày 29/11/1980 về việc hợp tác sử dụng lao động với các nước xã hội chủ
nghĩa Nghị quyết nêu rõ: Nước ta mở rộng việc hợp tác sử dụng lao động với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác trên nguyên tắc hai bên cùng
có lợi, bằng nhiều hình thức và nhằm mục đích sau đây:
- Giải quyết công ăn việc làm cho một bộ phận thanh niên ta
- Thông qua hợp tác sử dụng lao động, nhờ các nước anh em đào tạo giúp ta một đội ngũ lao động có tay nghề vững, đáp ứng được yêu cầu phát triển nền kinh tế nước ta sau này
Đến năm 1988, Hội đồng Bộ trưởng cũng có Chỉ thị số 108/HĐBT ngày
30/6/1988 về việc mở rộng hợp tác lao động và chuyên gia với nước ngoài Chỉ
Trang 8thị nêu rõ: “Mở rộng hợp tác lao động và chuyên gia với nước ngoài là một nhiệm vụ kinh tế quan trọng có ý nghĩa chiến lược lâu dài Chủ trương của ta là hợp tác rộng rãi với các nước có yêu cầu hợp tác với ta, với quy mô ngày càng lớn theo đúng đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, trước hết là với Liên
Xô và các nước XHCN; chú ý phát triển quan hệ với các nước Trung Đông và Châu Phi
Hợp tác lao động và chuyên gia chủ yếu nhằm tăng nguồn thu ngoại tệ cho ngân sách Nhà nước, giải quyết việc làm, nâng cao tay nghề và tăng thu nhập cho người lao động ”
Trải qua một thời gian dài những Quyết định, Nghị quyết và Chỉ thị trên đã
và vẫn dược thực hiện một cách nghiêm túc và có kết quả, giải quyết được việc làm cho nhiều lượt người tham gia lao động xuất khẩu, thu về cho ngân sách Nhà nước một số ngoại tệ đáng kể, góp phần làm tăng trưởng nền kinh tế của nước ra
Sau khi Bộ luật Lao động được ban hành, Nghị định số 07/CP ngày
20/01/1995 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật lao động về
đưa người Việt nam đi làm việc có thời hạn tại nước ngoài, như sau: “Đưa người lao động Việt nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là một hướng giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động, góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước và tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học- kỹ thuật giữa Việt nam với nước ngoài theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng pháp luật và phong tục tập quán của nhau”
Trong Chỉ thị số 41-CT/TW ngày 22/9/1998 về XKLĐ & CG, Bộ chính trị cũng đã chỉ đạo như sau: “Cùng với giải quyết việc làm trong nước là chính thì xuất khẩu lao động và chuyên gia là một chiến lược quan trọng, lâu dài, góp phần xây dựng đội ngũ lao động cho công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá; là một bộ phần của hợp tác quốc tế, góp phần củng cố quan hệ hữu nghị, hợp tác lâu dài với các nước Xuất khẩu lao động và chuyên gia phải được mở rộng và đa dạng hoá hình thức, thị trường xuất khẩu lao động, phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đáp ứng nhu cầu của nước ngoài về số lượng, trình độ và ngành nghề, xuất khẩu lao động
và chuyên gia một mặt phải đảm bảo sức cạnh tranh trên cơ sở tăng cường đào
Trang 9tạo lực lượng lao động kỹ thuật và chuyên gia, nâng cao dần tỷ lệ tỷ trọng lao động xuất khẩu có chất lượng cao trong tổng số lao động xuất khẩu và trình độ quản lý của các đơn vị xuất khẩu lao động; mặt khác phải chăm lo bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo pháp luật của nước ta và nước mà người lao động sống và làm việc”
Gần đây nhất là Nghị định số 152/1999/NĐ-CP ngày 20/9/1999 của Chính
phủ quy định đưa người Việt nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài thay thế Nghị định số 07/CP ngày 20/1/1995 cho phù hợp với tình hình đất nước trong thời kỳ đổi mới Nghị định này cùng hệ thống các văn bản hướng dẫn thực hiện
đã tạo thành cơ chế mới thông thoáng với hành lang pháp lý rộng mở tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy hoạt động XKLĐ & CG phát triển trong thời kỳ mới, thời kỳ chuyển gia từ thế kỷ XX sang thế kỷ XXI đầy tiềm năng và thách thức Tại Hội nghị toàn quốc về XKLĐ & CG do Thủ tướng Chính phủ chủ trì,
tổ chức tại Hà nội tháng 6/2000, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đã được nêu rõ và khẳng định trong bài phát biểu của Thủ tướng Phan Văn Khải: “Xuất khẩu lao động và chuyên gia đối với chúng ta là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng, vì:
- Góp phần giải quyết việc làm
- Tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước
Phải coi XKLĐ & CG là vấn đề quan trọng và lâu dài”
Như vậy, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về XKLĐ & CG là rất rõ ràng và hợp lý, phù hợp với tình hình đất nước trong từng thời kỳ Vì vậy, hình thức và việc làm cụ thể có thể thay đổi ít nhiều nhưng mục đích chính của việc XKLĐ & CG luôn luôn nhất quán là: Giải quyết việc làm, bảo vệc quyền lợi cho người lao động và tăng nguồn thu ngoại tệ cho ngân sách Nhà nước, góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, công bằng và văn minh, đồng thời đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc tế trên cơ sở hai bên cùng có lợi
III- CÔNG TÁC XKLĐ CỦA VIỆT NAM VÀ HIỆU QUẢ QUA HAI THỜI KỲ
Hoạt động XKLĐ đến nay đã được hơn 20 năm (tính từ tháng 1/1980 đến nay) Có thể chia quá trình hoạt động XKLĐ làm hai giai đoạn như sau: Nửa đầu
Trang 10nửa sau là giai đoạn hoạt động XKLĐ theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Giai đoạn đầu là hợp tác lao động nhằm giải quyết việc làm và đào tạo tay nghề cho Người lao động (NQ362/CP – 29/11/1980); sau đó là mở rộng hợp tác với nước ngoài, coi nhiệm vụ kinh tế là quan trong nhằm tăng nguồn thu ngoại tệ cho ngân sách Nhà nước, giải quyết việc làm nâng cao tay nghề và tăng thu nhập cho người lao động (CT108/HĐBT – 30/6/1988); và hiện nay là mở rộng và đa dạng hoá hình thức, thị trường xuất khẩu, coi XKLĐ như một hoạt động kinh tế – xã hội góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ nghề nghiệp cho người lao động, tăng nguồn thu cho đất nước và tăng cường quan hệ hợp tác giữa nước ta với các nước trên thế giới
1 Giai đoạn hợp tác lao động với nước ngoài (1980 – 1990)
Để thực hiện hợp tác lao động với nước ngoài, thời kỳ này Nhà nước ta đã
ký Hiệp định chính phủ về hợp tác lao động với 4 nước là Liên Xô, CHDC Đức, Tiệp Khắc và Bungari, Hiệp định Chính phủ về hợp tác chuyên gia với một số nước Châu Phi và thoả thuận ngành với ngành về sử dụng lao động Việt nam với các nước I-rắc, Li Bi Đây là giai đoạn có quy mô lao động đi làm việc ở nước ngoài lớn nhất, bình quân mỗi năm có trên 2,7 vạn lao động Việt nam đi làm việc ở nước ngoài (xem bảng 1) Nhìn chung lao động đi làm việc ở nước ngoài trong giai đoạn này có tỷ trọng lao động không nghề lớn, khoảng 57%, đặc biệt những năm 1988, 1989, 1990 tỷ lệ này đạt 70% Đây cũng là nét đặc trưng của giai đoạn này Phần lớn lao động trước khi đi không qua đào tạo, khi đến nước tiếp nhận, lao động được phân phối về các đơn vị sản xuất, được kèm cặp đào tạo tại chỗ, được trang bị tay nghề phù hợp với các xí nghiệp, nhà máy bạn yêu cầu Có thể thấy 45% lao động làm trong ngành công nghiệp nhẹ, 26% lao động trong xây dựng và 20% làm cơ khí, 6% còn lại làm các ngành nghề khác Cơ cấu này không phải được phân chia tại Việt Nam mà do phía tiếp nhận, mọi chi phí đào tạo do họ đài thọ Trong giai đoạn này chúng ta đã đạt được một số kết quả đáng kể như sau:
Giải quyết việc làm: Giải quyết việc làm ở nước ngoài cho trên 28,8 vạn người Trong đó 26,18 vạn ở 4 nước XHCN, 19 vạn ở I-rắc, Libi và 7.200 chuyên gia và kỹ thuật viên đi làm việc ở Châu Phi
Trang 11Đào tạo nghề: Thông qua hợp tác lao động với các nước đã phần nào đáp ứng được mục đích của ta về đào tạo nghề cho thanh niên, đồng thời qua đó người lao động rèn luyện được tác phong công nghiệp Tuy nhiên, có nhiều nghề nghiệp mà người lao động học được qua hợp tác lao động chưa được sử dụng và phát huy khi họ về nước, do cơ sở vật chất kỹ thuật trong nước chưa đáp ứng được
Hiệu quả kinh tế: Ngân sách Nhà nước đã thu được 482 triệu rúp phi mậu dịch (tương đương 263 tỷ đồng (1990) và 9,2 triệu USD) dùng để trả nợ, mua hàng hoá và đưa vào cán cân thanh toán với các nước Thu nhập của một bộ phần người lao động được nâng cao thông qua việc mua hàng hoá mang về nước, khoảng 720 tỷ đồng và chuyển về nước khoảng 300 triệu USD Như vậy, tổng thu về qua hợp tác lao động thời kỳ này đạt khoảng 1.200 tỷ đồng tính theo thời giá năm 1990, chưa kể đến các hiệu quả kinh tế về thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, góp phần cân đối tiền hàng cho xã hội, Nhà nước không phải bỏ kinh phí đầu tư việc làm cho người lao động trong thời gian
họ làm việc ở nước ngoài
Ngoài ra hợp tác lao động đã thể hiện quan hệ hợp tác giúp đỡ lần nhau giữa các nước anh em bè bạn: ta thiếu việc làm, họ thiếu nhân công, lao động của ta đã góp phần vào việc hoàn thành kế hoạch sản xuất của các xí nghiệp, nhà máy của họ Người lao động của ta cũng đã góp phần làm cho công nhân, nhân dân các nước hiểu thêm về đất nước và con người Việt nam
Qua 10 năm hoạt động hợp tác lao động, tuy đã thu được những kết quả không nhỏ nhưng cũng còn có những điều chưa được như mong muốn, một phần do hoàn cảnh lịch sử bấy giờ, còn lại do sự thiếu kinh nghiệm, chưa có chuyên môn nghiệp vụ và đầy đủ cơ sở vật chất để phục vụ cho hoạt động này
Vì vậy, muốn làm tốt hơn nữa hoạt động này, phù hợp với tình hình mới của đất nước thì phải kịp thời điều chỉnh và bổ sung các điều kiện của hợp tác lao động
là điều tất yếu
Bảng 1:
Quy mô lao động đi làm việc ở nước ngoài giai đoạn 1980 – 1990
Đơn vị: Người
Trang 12các nước Đông Âu
(Nguồn: Báo cáo tổng kết 10 năm hợp tác lao động với nước ngoài – Bộ lao động thương
binh và xã hội)
2 Giai đoạn hoạt động xuất khẩu lao động theo cơ chế thị trường
(1991- đến nay)
Đặc trưng của giai đoạn này là sự thay đổi về quy chế XKLĐ và quy mô
hoàn toàn phụ thuộc vào quan hệ cung cầu của thị trường lao động XKLĐ của
ta phải cạnh tranh với các nước XKLĐ trong khu vực có ưu thế hơn về khả năng
và kinh nghiệm chiếm lĩnh thị trường trên nhiều khu vực khác nhau Do vậy,
quy mô XKLĐ trong giai đoạn này giảm so với giai đoạn trước mặc dù vẫn tăng
theo thời gian (Xem bảng 2) Bình quân hàng năm chỉ gần 1 vạn người lao động
đi làm ở nước ngoài Số lao động phổ thông có xu hướng giảm và yêu cầu đòi
hỏi người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài phải được đào tạo Mọi
Trang 13người lao động trước khi đi đều được tham dự một khoá đào tạo do Công ty cung ứng lao động tổ chức, thời gian chủ yếu là học ngoại ngữ của nước mà lao động sẽ đến làm việc Ngoài ra còn học tập về luật pháp của nước đó, về những điều cần thiết về hợp đồng lao động, tranh chấp lao động, quan hệ ứng xử, phong tục tập quan và an toàn vệ sinh lao động Nhờ đó, chất lượng lao động trong giai đoạn này được nâng cao hơn Thời kỳ này tuy số lượng người lao động đi xuất khẩu giảm nhưng thị trường lại được mở ra hơn trước: đã có gần 40 nước và lãnh thổ tiếp nhận lao động và chuyên gia Việt nam Qua hơn 10 năm hoạt động XKLĐ & CG theo cơ chế thị trường, chúng ta đã thu được một số kết quả như sau:
Theo thống kê chưa đầy đủ, tính đến tháng 6/2001 đã có 140.000 lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài Riêng năm 2000 có trên 31.400 người
Đã cố gắng mở rộng thị trường lao động mới ở các nước khu vực Đông Bắc
á, Đông Nam Á, Trung Đông, Nam Thái Bình Dương Mở ra một số loại hình như nhận thầu xây dựng, hợp tác sản xuất chia sản phẩm, lao động theo hình thức cá nhân, cung ứng sĩ quan, thuyền viên, thuỷ thủ tàu cá và người phục vụ trong gia đình Hiện nay chúng ta có khoảng 4 vạn lao động và chuyên gia đang làm việc ở các nước theo hợp đồng cung ứng lao động ở trên Những sĩ quan, thuyền viên và chuyên gia sau một thời gian làm việc theo hợp đồng lao động ở nước ngoài được tiếp xúc với các trang thiết bị máy móc hiện đại, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tay nghề được nâng cao
Trong những năm qua với khoảng hơn 140.000 lao động làm việc ở nước ngoài, đất nước đã có thêm nguồn ngoại tệ đáng kể, khoảng 1 tỷ USD Mặt khác, Nhà nước còn tiết kiệm hàng trăm tỷ đồng đầu tư cho việc tự tạo việc làm mới cho số lao động này và hàng ngàn tỷ đồng khác liên quan đến các dịch vụ cho người lao động
Có được những kết quả như trên là do Đảng và Nhà nước ta luôn có chủ trương nhất quán, mục tiêu rõ ràng và thường xuyên chỉ đạo trong lĩnh vực hoạt động XKLĐ & CG, coi đây là một hoạt động kinh tế – xã hội rất quan trọng Vì vậy hoạt động XKLĐ & CG hiện tại rất phù hợp với nền kinh tế thị
Trang 14trường, góp phần cho lao động Việt nam hoà nhập với lao động thế giới
Hoạt động này cũng đáp ứng đúng yêu cầu nguyện vọng của nhân dân lao
động và xã hội, góp phần mở rộng và thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa nước ta
với các nước trên thế giới
(Nguồn: Báo cáo tổng kết 10 năm hoạt động XKLĐ và CG – Cục quản lý lao động với
Nhật Bản 9.781 Đài Loan 11.700
(Nguồn: Báo cáo tổng kết quý I/2001 về hoạt động XKLĐ và CG – Cục quản lý lao
động với nước ngoài)
Trang 15Nhìn lại chặng đường hơn 20 năm hoạt động XKLĐ& CG, những kết quả đạt được là rất lớn Nó đánh dấu từng bước thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề lao động, đồng thời cũng thu về cho ngân sách Nhà nước nhiều ngoại tệ, góp phần xây dựng nền kinh tế của đất nước ngày càng đi lên theo kịp các nước trong khu vực và thế giới
IV- NGHĨA VỤ, QUYỀN LỢI CỦA CÁC TỔ CHỨC, DOANH NGHIỆP VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG THAM GIA XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG:
1 Tổ chức quản lý Nhà nước:
Các tổ chức quản lý hoạt động XKLĐ& CG có trách nhiệm và quyền hạn theo quy định cụ thể cho từng cấp Bộ, ngành, địa phương như sau:
a/ Bộ lao động Thương binh và xã hội có trách nhiệm:
- Đàm phán ký kết các hiệp định Chính phủ về hợp tác sử dụng lao động với nước ngoài theo uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ
- Xác định chỉ tiêu kế hoạch hàng năm và 5 năm về đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, phối hợp với các Bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và địa phương chỉ đạo thực hiện
- Nghiên cứu các chính sách, chế độ liên quan đến việc đưa người lao động Việt nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài để trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền và hướng dẫn thực hiện các chính sách, chế
độ đó
- Nghiên cứu thị trường lao động ngoài nước và quy định các điều kiện làm việc, sinh hoạt cần thiết cho người lao động Việt nam đi làm việc ở nước ngoài
- Hướng dẫn công tác bồi dưỡng nghề, tạo nguồn lao động đi làm việc ở nước ngoài; quy định các chương trình đào tạo, giáo dục định hướng cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài Thành lập các trung tâm quốc gia đào tạo nguồn lao động có kỹ thuật, tay nghề cao và ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động Cấp, đình chỉ và thu hồi giấy phép hoạt động chuyên doanh, nhận đăng ký hợp đồng và thu lệ phí, phí quản lý theo quy định
Trang 16- Tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra các cơ quan và doanh nghiệp liên quan đến việc thực hiện đưa người lao động Việt nam đi lao động ở nước ngoài, hoặc tạm đình chỉ thực hiện hợp đồng theo quy định
- Định kỳ báo cáo với Thủ tướng Chính phủ về tình hình lao động Việt nam làm việc có thời hạn ở nước ngoài
- Phối hợp với Bộ ngoại giao và các Bộ, ngành có liên quan giải quyết các vấn
đề phát sinh trong việc quản lý người lao động Việt nam làm việc ở nước ngoài
- Phối hợp với Bộ ngoại giao và Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ nghiên cứu tổ chức bộ phận quản lý Lao động trong cơ quan đại diện Việt Nam ở những nước và khu vực có nhiều lao động Việt nam làm việc hoặc có nhu cầu và khả năng nhận nhiều lao dộng Việt nam làm việc với số lượng biên chế, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn phù hợp với Pháp lệnh về cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam ở nước ngoài
b/ Bộ tài chính:
Chủ trì và phối hợp với Bộ LĐTB&XH quy định chi tiết việc thu và sử dụng lệ phí, phí quản lý và phí dịch vụ; mức và thể thức giữ tiền đặt cọc của người lao động
c/ Bộ ngoại giao:
Cơ quan đại diện Việt nam ở nước ngoài thực hiện quản lý Nhà nước đối với lao động Việt nam ở nước sở tại; thông qua Bộ ngoại giao cung cấp kịp thời cho Bộ LĐTB & XH thông tin về tình hình thị trường lao động ngoài nước và tình hình người lao động Việt nam ở nước sở tại; liên hệ với các cơ quan của nước sở tại để giúp Bộ LĐTB &XXH thiết lập quan hệ hợp tác sử dụng lao động; phối hợp với các tổ chức, cơ quan hữu qua của nước sở tại và các tổ chức quốc tế để giải quyết các vấn đề phát sinh nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động và của doanh nghiệp Việt nam
d/ Bộ Công an:
Trong phạm vi trách nhiệm của mình phối hợp với Bộ LĐTB &XH trong việc quản lý người lao động Việt nam đi làm việc ở nước ngoài; tạo điều kiện để
Trang 17người lao động được cấp hộ chiếu một cách thuận lợi theo quy định của pháp luật, đáp ứng yêu cầu về thời gian thực hiện hợp đồng với bên nước ngoài
e/ Bộ kế hoạch và Đầu tư:
Cùng các Bộ, ngành có liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình đưa nội dung hợp tác lao động với nước ngoài vào các kế hoạch phát triển kinh tế đối ngoại, các chương trình hợp tác quốc tế, cùng Bộ LĐ-TBXXH xác định chỉ tiêu kế hoạch về đưa người lao động Việt nam đi làm việc ở nước ngoài hàng năm, 5 năm
f/ Bộ thương mại và Ngân hàng Nhà nước Việt nam
Nghiên cứu trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các chính sách tạo điều kiện để người lao động và doanh nghiệp đưa người lao động Việt nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài thực hiện các quyền đã quy định
g/ Các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương và các đoàn thể, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm:
- Thống nhất với Bộ LĐTB & XH, quyết định số lượng các doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý được phép đưa người lao động đi làm việc có thời hạn
ở nước ngoài theo đúng quy định của pháp nluật
- Chỉ đạo quản lý và chịu trách nhiệm về hoạt động của các doanh nghiệp dưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài thuộc phạm vi quản lý, đồng thời phối hợp với các Bộ ngành có liên quan giải quyết các vấn đề phát sinh
- Báo cáo tình hình đưa lao động đi làm việc của các dianh nghiệp thuộc phạm
vi quản lý Lập kế hoạch hàng năm, 5 năm về việc đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài gửi Bộ LĐTB& XH để tổng hợp báo cáo Chính phủ
h/ Bộ LĐ_TBXXXH, Bộ tài chính, Bộ kế hoạch đầu tư và Ngân hàng Nhà nước phối hợp với các Bộ ngành có liên quan quy định chi tiết việc người lao động thuộc các đối tượng chính sách có công với nước và người lao động nghèo được vay tín dụng để nộp tiền đặt cọc và lệ phí trước khi đi làm việc có thời hạn
ở nước ngoài
i/ Trong trường hợp bất khả kháng, phải khẩn cấp đưa người lao động
Trang 18nam đi làm việc ở nước ngoài có trách nhiệm chỉ đao doanh nghiệp tổ chức đưa người lao động về nước Trường hợp vượt quá thẩm quyền và khả năng thì cơ quan chủ quản phối hợp với Bộ ngoại giao, Bộ LĐTBXH và Bộ tài chính lập phương án trình Thủ tướng Chính phủ quyết định
* Tóm lại: Có rất nhiều các Bộ, ngành quan trọng và các cơ quan hữu quan trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến công tác XKLĐ, làm tiền đề và thúc đẩy để công tác XKLĐ ngày càng được đẩy mạnh Điều này cũng chứng tỏ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, coi XKLĐ là một mục tiêu trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Trong công tác XKLĐ, doanh nghiệp
và Người lao động là hai chủ thể chủ yếu của hoạt động: doanh nghiệp là đơn vị trực tiếp tiếp xúc, quản lý NLĐ từ lúc NLĐ bắt đầu đăng ký tham gia hoạt động này cho đến khi kết thúc hợp đồng lao động về nước, NLĐ là người trực tiếp thực hiện hợp đồng lao động với doanh nghiệp
Các doanh nghiệp tham gia hoạt động XKLĐ & CG có các quyền sau:
Chủ động tìm kiếm, khảo sát thị trường lao động, lựa chọn hình thức hợp đồng và trực tiếp ký kết các hợp đồng đưa người lao động Việt nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, bảo đảm lợi ích của Nhà nước của doanh nghiệp và của người lao động
Thu phí dịch vụ để phục vụ cho hoạt động của các doanh nghiệp với mức không quá 10% lương của người lao động theo hợp đồng và không quá 16% lương theo hợp đồng đối với các sỹ quan, thuyền viên tàu vận tải
Nhận tiền đặt cọc của người lao đông theo quy định và phải được ghi rõ ràng trong hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài
Được quyền ký quyết định dưa người lao dộng đi làm việc ở nước ngoài do doanh nghiệp tuyển chọn theo số lượng đã đăng ký, làm cơ sở để cơ quan công an có thẩm quyền cấp hộ chiếu cho người lao động
Kiện ra toà án để yêu cầu người lao động bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng gây ra theo quy định của pháp luật
Trang 19Đề nghị cơ quan đại diện Việt nam tại nước ngoài và các cơ quan Nhà nước
có liên quan cung cấp thông tin về thị trường lao động ở nước ngoài và bảo
vệ quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp
Được Nhà nước hỗ trợ đào tạo nghề, kỹ thuật và công nghệ, ngoại ngữ cho người lao động và bồi dưỡng, nâng cao chất lượng cán bộ của doanh nghiệp làm nhiệm vụ quản lý hoạt động đưa người đi làm việc ở nước ngoài
Doanh nghiệp có giấy phép hoạt động chuyên doanh có nghĩa vụ như sau:
Đăng ký hợp đồng, tổ chức đưa người đi làm việc ở nước ngoài theo đúng các quy định và pháp luật có liên quan của Nhà nước
Cung cấp các thông tin cho người lao động theo quy định, tuyển chọn, đào tạo, giáo dục định hướng cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ LĐ-TBXH
Thực hiện nghiêm chỉnh các hợp đồng đã ký kết với nước ngoài, bảo đảm đầy đủ các quyền, lợi ích của người lao động theo các điều khoản của hợp đồng đã ký với người lao động và với bên nước ngoài
Trong vòng 15 ngày, kể từ ngày nhân tiền đặt cọc của người lao động, doanh nghiệp phải chuyển toàn bộ số tiền đặt cọc đã thu vào tài khoản của doanh nghiệp mở tại kho bạc Nhà nước nơi doanh nghiệp có trụ ở chính và thông báo bằng văn bản cho Bộ LĐ-TBXH
Thu tiền bảo hiểm xã hội của người lao động để nộp cho cơ quan chức năng
có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
Ưu tiên tuyển chọn đối tượng thuộc diện chính sách ưu đãi theo hướng dẫn của Bộ LĐ-TBXH
Tổ chức đưa đi, quản lý, đưa về và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài Kịp thời cung cấp thông tin đầy
đủ về số lượng và nơi làm việc của người lao động Việt nam cho cơ quan đại diện Việt nam ở nước có người lao động của doanh nghiệp làm việc Chịu sự chỉ đạo của cơ quan đại diện Việt nam ở nước ngoài trong việc giải quyết các
Trang 20Trường hợp người lao động bị tai nạn, mắc bệnh nghề nghiệp hoặc bị chết ở nước ngoài, doanh nghiệp phải chủ trì và phối hợp với bên nước ngoài, các
cơ quan chức năng của người Việt nam và của nước sở tại để kịp thời giải quyết, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người lao động
Không được đưa người lao động đi làm những nghề, những khu vực ở nước
ngoài theo danh mục cấm của Bộ LĐ-TBXH quy định (Xem phụ lục 4)
Bảo quản, xác nhận vào sổ lao động và sổ bảo hiểm xã hội của người lao dộng đi làm việc ở nước ngoài theo quy định hiện hành của Nhà nước
Bồi thường cho người lao động thiệt hại do doanh nghiệp hoặc bên nước ngoài vi phạm hợp đồng gây ra theo pháp luật của Việt nam và pháp luật của nước sở tại
Nộp cho Bộ LĐ-TBXH phí quản lý bằng 1% khoản thu phí dịch vụ, nộp thuế theo luật định đối với các hoạt động có liên quan đến đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài Chấp hành đầy đủ các chính sách, chế độ về quản lý tài chính, quản lý và sử dụng ngoại tệ theo quy định hiện hành của Nhà nước Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ 3 tháng, 6 tháng hàng năm và đột xuất theo hướng dẫn của Bộ LĐ-TBXH
Trong quá trình hoạt động XKLĐ, các doanh nghiệp còn phải:
- Trực tiếp tuyển chọn người lao động phù hợp với yêu cầu của bên sử dụng lao động ở nước ngoài theo đúng quy định của pháp luật Việt nam Doanh nghiệp có thể hợp tác với đơn vị khác hoặc địa phương trong việc chuẩn bị nguồn lao động dự tuyển và phải thông báo công khai về tiêu chuẩn tuyển chọn và các vấn đề khác có liên quan đến người lao động khi làm việc ở nước ngoài
- Trong trường hợp doanh nghiệp tuyển chọn lao động ở ácc đơn vị khác hoặc địa phương thì phải xuất trình giấy phép hoạt dộng chuyên doanh với đơn vị cung cấp lao động hoặc Sở lao động Thương binh xã hội
- Doanh nghiệp phải quy định thời hạn tuyển chọn, làm thủ tục cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài Trong trường hợp hết thời hạn mà chưa đưa
Trang 21được người đi nước ngoài làm việc thì phải thông báo rõ lý do cho người lao động biết Nếu hết thời hạn đó, người lao động không có nhu cầu đi làm việc
ở nước ngoài thì phải thanh toán lại toàn bộ số tiền mà người lao động đã chi phí theo quy định và thoả thuận với doanh nghiệp
- Doanh nghiệp cử đại diện của doanh nghiệp ở nước ngoài để quản lý và bảo
vệ quyền lợi của người lao động làm việc ở nước ngoài, tìm hiểu và phát triển thị trường Cán bộ được cử làm đại diện của doanh nghiệp ở nước ngoài phải là những người có phẩm chất đạo đức tốt, có đủ năng lực chuyên môn, ngoại ngữ phù hợp với yêu cầu công việc Biên chế, quyền hạn của bộ máy quản lý lao động ở nước ngoài do doanh nghiệp quyết định phù hợp với pháp luật Việt nam và pháp luật của nước sở tại
- Doanh nghiệp không có giấy phép hoạt động chuyên doanh nhưng có hợp đồng cung ứng lao động phù hợp với ngành nghề sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp thì khi đưa người đi lao động ở nước ngoài có quyền và nghĩa
vụ như trên
- Khi đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, doanh nghiệp phải ưu tiên tuyển chọn những người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp Trong trường hợp lao động của doanh nghiệp không đủ thì được tuyển người lao động vào doanh nghiệp để đưa đi làm việc ở nước ngoài
- Doanh nghiệp nhận thầu, khoán xây dựng, liên doanh liên kết chia sản phẩm
ở nước ngoài hoặc đầu tư ra nước ngoài khi thực hiện đưa người đi lao động, làm việc ở nước ngoài có quyền và nghĩa vụ theo quy định như trên và nộp cho Bộ LĐ-TBXH phí quản lý theo quy định của Bộ tài chính và Bộ LĐ-TBXH được mang ra nước ngoài, được mang về máy móc, thiết bị sản xuất cần thiết có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng đã ký kết với bên nước ngoaì mà không phải chịu thuế theo quy định của luật pháp Việt nam Thực hiện các chế độ đối với người lao động theo quy định của pháp luật lao đông của Việt nam và trả công cho người lao động bằng ngoại tệ thu được (nếu có)
3 Người lao động:
Trang 22Người lao động muốn tham gia XKLĐ trước hết phải là công dân Việt nam “đủ 18 tuổi trở lên, tự nguyện đi làm việc ở nước ngoài ” (Nghị định số 152/1999/NĐ-CP ngày 20/9/1999 của Chính phủ) Tuy nhiên điều kiện về tuổi còn phụ thuộc vào luật pháp của nước tiếp nhận lao động cho phép, ví dụ đối với Đài Loan chỉ cấp Visa lao động cho người lao động từ 20 tuổi trở lên Những công dân này phải có đủ tiêu chuẩn và điều kiện theo yêu cầu của hợp đồng lao động với bên nước ngoài Tuy nhiên, trừ những trường hợp sau đây thì không được tham gia XKLĐ:
- Cán bộ, công chức đang làm việc trong các cơ quan hành chính Nhà nước, cơ quan dân cử, cơ quan đoàn thể chính trị – xã hội
- Sỹ quan và hạ sỹ quan, chiến sỹ đang tại ngũ trong lực lượng quân đội nhân dân và công an nhân dân
- Người chưa được phép xuất cảnh theo quy định của pháp luật
Người xin đi lao động ở nước ngoài phải làm hồ sơ theo doanh nghiệp quy định và tuỳ vào đặc điểm của từng thị trường xin đi XKLĐ, tuy nhiên hồ sơ sẽ bao gồm các khoản chính như sau: Đơn xin đi lao động ở nước ngoài, sơ yếu lý lịch có xác nhận của Uỷ ban nhân dân phường, xã, thị trấn nơi người lao động
cư trú Đối với những người đang làm việc tại các đơn vị sự nghiệp, các cơ sở sản xuất dịch vụ thì cần có thêm xác nhận của nơi người lao động làm việc bản sao Hợp đồng lao động hoặc bản sao văn bằng tiếp nhận làm việc của bên nước ngoài Giấy chứng nhận sức khoẻ
Người lao động tham gia XKLĐ được hưởng các quyền và lợi ích sau:
Được cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin về việc làm, nơi ở và nơi làm việc, thời hạn hợp đồng, điều kiện làm việc và sinh hoạt, tiền lương, tiền thưởng, tiền làm thêm giờ, chế độ bảo hiểm và những thông tin cần thiét khác trước khi ký hợp đồng đi làm ở nước ngoài
Được các cơ quan đại diện ngoại giao và lãnh sự của Việt nam ở nước ngoài bảo hộ các quyền và lợi ích chính đáng
Được hưởng chế độ ưu đãi trong việc chuyển thu nhập bằng ngoại tệ và thiết
bị, nguyên liệu về nước để đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh theo chính sách và pháp luật hiện hành của Việt nam
Trang 23Khiếu nại và tố cáo với các cơ quan có thẩm quyền của Việt nam về những vi phạm hợp dồng của doanh nghiệp đưa đi làm việc ở nước ngoài Khiếu nại với các cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại về những vi phạm hợp đồng của người sử dụng lao động
Ký hợp đồng với doanh nghiệp đưa đi làm việc ở nước ngoài, ký hợp đồng với người sử dụng lao động ở nước ngoài và được hưởng mọi quyền lợi ghi trong các hợp đồng đã ký
Được tham gia chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định hiện hành của pháp luật Việt nam
Được nhận lại số tiền đặt cọc đã nộp và lãi suất phát sinh sau khi hoàn thành hợp đồng làm việc ở nước ngoài về nước
Đồng thời người lao động đi làm việc ở nước ngoài còn có những nghĩa vụ như sau:
Nộp phí dịch vụ cho doanh nghiệp đưa đi làm việc ở nước ngoài để phục vụ cho doanh nghiệp hoạt động, với mức không quá 10% lương được hưởng theo hợp đồng, với sỹ quan và thuyền viên tàu vận tải biển không quá 16% lương theo hợp đồng
Nộp tiền đăt cọc cho doanh nghiệp đưa đi lao dộng ở nước ngoài để bảo đảm việc thực hiện hợp đồng làm việc
Nộp thuế thu nhập theo quy định của pháp luật hiện hành Trường hợp làm việc ở những nước đã ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với Việt nam thì chỉ phải thực hiện đóng thuế thu nhập theo Hiệp định đó
Nộp tiền bảo hiểm xã hội theo quy định của luật pháp hiện hành
Tham gia các khoá đào tạo và giáo dục định hướng trước khi đi làm việc ở nước ngoài
Không được tự ý bỏ hợp đồng hoặc tổ chức cho người lao động khác bỏ hợp đồng lao động đã ký với người sử dụng lao động để đi làm việc ở nơi khác
Trang 24Tự mình chịu trách nhiệm về thiệt hại do bản thân vi phạm hợp đồng, vi phạm luật pháp gây ra cho doanh nghiệp đưa đi làm việc ở nước ngoài và cho bên nước ngoài theo pháp luật của Việt nam và pháp luật của nước sở tại Chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước về quản lý công dân Việt nam ở nước ngoài và chịu sự quản lý của cơ quan đại diện Việt nam tại nước sở tại
Tuân thủ pháp luật Việt nam và pháp luật của nước sở tại, giữ gìn bí mật quốc gia và phát huy các truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tôn trọng phong tục tập quán và có quan hệ tốt với nhân dân nước sở tại
Người lao động đi làm việc ở nước ngoài được quyền mang ra nước ngoài hoặc mang về nước những công cụ làm việc cần thiết của cá nhân mà không phải chịu thuế
Người lao động đi làm việc ở nước ngoài khi hết hạn hợp đồng, nếu được gia hạn tiếp tục làm việc hay có nguyện vọng làm tiếp hợp đồng khác phải đăng
ký với doanh nghiệp đưa đi để làm các thủ tục và được hưởng các quyền, lợi ích và nghĩa vụ theo quy định như ở trên
Người lao động đang ở nước ngoài, đi lao động theo hình thức khác, nếu có hợp đồng lao động hợp pháp phải đăng ký với cơ quan đại diện Việt nam ở nước đo theo quy định về đăng ký hợp đồng và được hưởng các quyền và lợi ích và quy định như những người lao động khác
* Quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm luôn song hành với nhau Trong công tác XKLĐ, doanh nghiệp và NLĐ được hưởng những quyền lợi nhất định thì cũng có trách nhiệm phải thực hiện đúng hợp đồng Tuy nhiên trên thực tế trong quá trình thực hiện hợp đồng có rất nhiều tình huống có thể xảy ra khiến cho cả hai bên khó mà thực thi theo đúng hợp đồng quy định Nguyên nhân thì rất đa dạng và để khắc phục được những hạn chế này thì quả không phải là vấn
đề đơn giản
Trang 25CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XKLĐ CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG
CHÂU Á: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
I- KHÁI QUÁT THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG KHU VỰC CHÂU Á
của các nước trong khu vực này:
1.1 Đặc điểm thị trường lao động Châu Á :
Tình hình xuất khẩu lao động ở các nước này ảnh hưởng trực tiếp đến Việt nam Bởi lẽ, về mặt địa lý, các nước này ở gần Việt nam, lại có sự tương đồng
về khí hậu, phong tục tập quán, phong cách sống, màu da Các nước trong khu vực Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan đã và đang nhập lao động Việt nam trong nhiều lĩnh vực, dưới nhiều hình thức Đồng thời họ cũng nhận lao động các nước khác Trung Quốc, Philipin, Thái Lan cho nên sự cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu với nhau cũng là một vấn đề cần được lưu tâm Các nước XKLĐ đều phát huy hết lợi thế của mình, khiến cho hình thức và cách tiến hành XKLĐ hết sức phong phú và đa dạng Một số nước yêu cầu nhập khẩu lao động có trình độ cao, một số nước lại có nhu cầu sử dụng lao động dịch vụ, nhất
là lao động nữ để giúp việc gia đình, lao động giản đơn Một số nước Châu Á
vừa có chính sách nhập khẩu và xuất khẩu lao động, nhập lao động của nước này lại xuất lao động của mình sang nước khác, tạo nên thị trường lao động thật sôi động và cũng nhiều vấn đề được phát sinh Ví dụ như Thái Lan cho phép hàng chục ngàn dân Myanmar sang làm thuê cho nông dân Thái Lan, trong khi
đó nông dân Thái Lan tràn vào thành phố tìm việc, còn dân thành thị lại đi tìm việc ở nước ngoài với mức thu nhập cao hơn Nhiều sinh viên thanh niên Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan sang Mỹ, Ôxtrâylia, New Zeland để du học và tìm việc trong khi đất nước họ lại tiếp nhận nhiều lao động các nước khác đến làm
Trang 26việc, hay như Malayxia xuất lao động của mình sang các nước khác như Đài Loan và lại nhận lao động Việt nam đến làm việc
1.2 Đặc điểm tình hình nhận lao động của các nước trong khu vực:
Những nước nhận lao động này hầu hết đều có chung một số đặc điểm như sau:
Việc đổi mới công nghệ và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhiều quốc gia có nhu cầu sử dụng lao động trình độ chuyên môn cao và giảm quy mô sử dụng lao động giản đơn, trình độ chuyên môn thấp
Nhiều quốc gia đã chuyển đầu tư tư bản sang các nước kém phát triển hơn
để sử dụng nhân công nước được đầu tư với giá rẻ
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu lao động dịch vụ tăng cao
so với khu vực sản xuất nên xu hướng sử dụng lao động dịch vụ nước ngoài gia tăng ở nhiều nước và chủ yếu là sử dụng lao động nữ, trước hết
là trong công việc dịch vụ gia đình, y tá, chăm sóc người già tại gia đình
và các trung tâm xã hội
Cùng với sự khan hiếm nhân lực lao động phổ thông (lao động chân tay) ở các nước phát triển thì nhu cầu về sĩ quan, thuyền viên trên các tàu vận tải
có xu hướng tăng, nhất là đối với lực lượng sĩ quan có tỷ lệ cao hơn lực lượng thuyền viên vận tải
Sự tiến bộ của công nghệ thông tin làm cho các nước có nhu cầu lao động
và các nước XKLĐ đều nhanh chóng lựa chọn được đối tác Đồng thòi với sự gia tăng nhanh số lượng các nước XKLĐ trong những năm gần đầy
đã tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường lao động ngoài nước, làm giảm giá nhân công tại nhiều khu vực, trong đó mức giảm giá nhân công của lao động giản đơn lớn hơn nhiều so với lao động chuyên môn kỹ
thuật
2- Những thông tin khái quát về một số thị trường nhận lao động chủ yếu ở
2 1- Thị trường Nhật Bản :
Trang 27Nhật Bản từ lâu đã được coi là một quốc gia có chính sách “đóng cửa” đối với lao động nước ngoài Trong các quy định của pháp luật Nhật Bản về vấn đề nhập cư, người nước ngoài chỉ được vào Nhật làm việc trong một số rất ít nghề, chủ yếu là các nghề có tính chất chuyên gia Tuy nhiên vào đầu những năm
1991, Nhật Bản lại đưa ra chính sách tiếp nhận lao động từ các nước đang phát triển sang Nhật tu nghiệp nâng cao tay nghề Theo quan điểm của các nhà hoạch định chiến lược kinh tế Nhật, đây là một biện pháp chuyển giao công nghệ cho các nước đang phát triển và nhằm mục đích giảm số lượng lao động bất hợp pháp tại nước này, đồng thời cũng là đáp ứng nhu cầu lao động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang thiếu lao động trầm trọng Đây là một biện pháp được hoan nghênh đối với các nước XKLĐ Người lao động nước ngoài ở đây chỉ được hưởng quy chế “tu nghiệp sinh” (trainee) và hưởng “ trợ cấp tu nghiệp” (trainee allowance) nhưng mức trợ cấp này cũng đã cao hơn rất nhiều so với mức lương của người lao động ở một số thị trường khác Từ năm 1995 đến nay, chính sách này lại được mở rộng thêm một bước: vào năm thứ 2 và năm thứ 3,
tu nghiệp sinh được hưởng quy chế gần giống lao động (được hưởng lương thay cho trợ cấp tu nghiệp, được phép làm thêm giờ )
Từ năm 1993, Việt Nam bắt đầu đưa người lao động sang tu nghiệp tại Nhật Bản và từ đó đến nay số lượng tu nghiệp sinh ngày càng tăng lên Nếu như năm 1993 chúng ta chỉ đưa được 17 người sang Nhật tu nghiệp thì năm 1997 đã
có 1312 người và cho tới nay chúng ta đã đưa đi được khoảng 9000 lao động (thông qua việc cấp giấy phép của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, con số thực tế còn lớn hơn nữa nếu tính cả những người đi theo các kênh đầu tư và thương mại) Hiện tại, Việt nam có trên 30 Công ty cung ứng Tu nghiệp sinh và lao động sang Nhật Bản theo hai khu vực đất liền và trên biển Bình quân số lao động Việt nam sang Nhật hàng năm là 2000 người
Nhìn chung, tổng số lao động Việt Nam sang tu nghiệp tại Nhật Bản còn thấp, trong cả thời kì 1993 - 1999 ta chỉ đưa được có 7.023 người , chiếm 2,3% tổng số lao động nước ngoài sang tu nghiệp tại Nhật Bản, nếu so với số lượng lao động Trung Quốc đưa sang Nhật tu nghiệp thì còn là quá thấp Từ năm 1993 đến 1999, Trung Quốc đã đưa sang Nhật 123.117 người, chiếm trên 40% tổng
số Thị trường Nhật Bản là một thị trường tương đối khó tính, họ chỉ nhận lao động đã có nghề (nhiều chủ lao động trực tiếp sang Việt Nam phỏng vấn và
Trang 28tiếng Nhật trước khi đi và thủ tục xin visa nhập cảnh rất phức tạp, tốn thời gian Song bù lại, lao động Việt Nam tu nghiệp tại Nhật thường được hưởng điều kiện tương đối tốt so với làm việc tại nhiều nước khác
Tuy nhiên, thị trường lao động Nhật Bản lại phát sinh vấn đề người lao động tự ý bỏ hợp đồng đi làm việc ở xí nghiệp khác có mức lương cao hơn Tỉ lệ lao động Việt Nam bỏ hợp đồng tính tới thời điểm năm 2001 là 9,75% cao hơn tất cả các nước khác và cao gấp nhiều lần một số nước (Trung Quốc - 1,04%, Thái Lan - 0,91%, Philippin - 2,07%, Indonesia - 2,54% 1) Đây chính là nguyên nhân làm cho các chủ sử dụng lao động Nhật Bản không tiếp nhận nhiều lao động Việt Nam, tuy rất hài lòng về tư cách đạo đức cũng như khả năng làm việc của lao động nước ta
2.2- Thị trường Hàn Quốc:
Là một quốc gia có diện tích 90.000km2, bằng 1/3 diện tích Việt Nam Tài nguyên thiên nhiên hầu như không có gì ngoài nguồn than antracit và một ít quặng sắt Tuy nhiên từ thập kỉ 60, nền kinh tế Hàn Quốc đạt sự tăng trưởng thần tốc biến đất nước này trở thành “con hổ” mạnh của kinh tế khu vực Châu
Á, trở thành quốc gia công nghiệp chủ yếu với các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng và điển hình nhất là công nghiệp điện tử cao cấp dựa trên hàm lượng cao về khoa học và công nghệ
Cũng giống như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng mới chỉ nhận lao động nước ngoài dưới hình thức tu nghiệp sinh từ năm 1993 Nhưng khác với Nhật, Hàn Quốc giao cho hiệp hội các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Hàn Quốc (KFSMB) đứng ra làm đầu mối tiếp nhận tu nghiệp sinh nước ngoài về giao cho các doanh nghiệp Trong thời kì đầu, KFSMB quy định mức lương cho tu nghiệp sinh nước ngoài theo từng quốc tịch (cao nhất là tu nghiệp sinh Trung Quốc, sau đó là đến Philippin, Việt Nam đứng thứ 3) Nhưng sau này, do nhiều vấn đề phát sinh, chính phủ Hàn Quốc quy định cho mọi tu nghiệp sinh nước ngoài đều được hưởng mức lương tối thiểu của Hàn Quốc Cho tới năm 2001, nước ta đã xuất khẩu sang được thị trường này khoảng 28.000 lao động tính cả số thuyền viên đánh cá trên biển Hiện nay, số Công ty Việt nam được thực hiện chương trình cung ứng Tu nghiệp sinh đi Hàn Quốc gồm 8 Công ty
1 Nguồn: số liệu của JITCO
Trang 29Từ cuối năm 1998, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, số lượng
tu nghiệp sinh Việt Nam sang Hàn Quốc giảm đi rõ rệt (Năm 1997 số lao động xuất sang Hàn Quốc là 6.275 người năm 1998 giảm xuống còn 4.880 người) Nhưng từ năm 2000, do kinh tế Hàn Quốc đã được phục hồi, số lượng tu nghiệp sinh sang Hàn Quốc lại tăng lên nhanh chóng Lao động Việt Nam tại Hàn Quốc
có thu nhập khá, tuy trong thời kì Hàn Quốc gặp khủng hoảng tài chính có gặp một số khó khăn, nhưng hiện nay đã ổn định trở lại
Thị trường Hàn Quốc là thị trường không khó tính như thị trường Nhật Bản Tiêu chuẩn đối với lao động đi làm việc ở Hàn Quốc là có sức khỏe tốt và chăm chỉ làm việc Họ chỉ yêu cầu tuyển lao động phổ thông, không cần có nghề
và cũng không cần sang Việt Nam để tuyển chọn hoặc phỏng vấn
Mặc dù vậy, cũng tương tự như ở thị trường Nhật Bản, tại thị trường Hàn Quốc nổi lên vấn đề lao động tự ý bỏ hợp đồng đi làm việc bất hợp pháp ở xí nghiệp khác với tỉ lệ rất cao Tại thời điểm tháng 6 năm 2000, có khoảng 9.600 người lao động Việt Nam làm việc ở Hàn Quốc, trong đó có tới 3.500 người lao động đã bỏ hợp đồng làm việc bất hợp pháp và 600 người đi du lịch ở lại bất hợp pháp 2 Song nhờ có sự hợp tác chặt chẽ giữa Nhà nước ta với phía Hàn Quốc, nên nước bạn vẫn sẵn sàng tiếp nhận số lượng lớn lao động nước ta, nhưng do tỉ lệ lao động bỏ hợp đồng quá cao cũng phần nào ảnh hưởng lớn đến khả năng mở rộng việc đưa lao động Việt Nam sang Hàn Quốc, nhất là xét về góc độ dài hạn
2.3- Thị trường Đài Loan:
Đài Loan là một thị trường XKLĐ mới của Việt Nam Trong một vài năm trở lại đây, các doanh nghiệp Việt Nam và đối tác Đài Loan đã thường xuyên qua lại để tìm hiểu, gặp gỡ, đàm phán và kí kết hợp đồng
Nhu cầu lao động của Đài Loan rất cao, nhưng chính quyền thì giới hạn chỉ được nhận 300.000 lao động nước ngoài Khác với Nhật Bản và Hàn Quốc, Đài Loan có chính sách nhận lao động nước ngoài chính thức, có hệ thống luật lệ và quy chế tương đối rõ ràngvà chặt chẽ đối với lao động nước ngoài
Từ đầu những năm 1991, Đài Loan đã nhận lao động từ 4 nước Thái Lan, Philippin, Malaisia và Indonesia, đến cuối năm 1999 mới nhận thêm lao động
Trang 30Việt Nam Trong những năm qua, lao động Thái Lan và lao động Philippin đã chiếm lĩnh phần lớn thị trường này (Thái Lan hiện có khoảng 133.000 lao động, chiếm 49,28%, Philippin có khoảng 114.000 lao động, chiếm khoảng 42,22% tổng số lao động nước ngoài) Trong điều kiện tham gia sau nhưng tổng số lao động vẫn bị giới hạn như cũ, lao động Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc chiếm lĩnh thị trường cho mình, do phải cạnh tranh với lao động các nước khác để thay thế họ Cũng chính vì vậy nên trong thời gian đầu, tốc độ đưa lao động Việt Nam sang Đài Loan còn chậm vì phải đợi thời hạn hợp đồng của lao động các nước khác hết mới có thể thay thế được
Thị trường Đài Loan cũng là một thị trường khó tính Họ chủ yếu tiếp nhận lao động có nghề, phải biết tiếng Hoa ở mức độ cơ sở, và có những qui định rất ngặt nghèo về sức khoẻ Trong điều kiện cạnh tranh tự do, chúng ta với Đài Loan không có những tác động về mặt Nhà nước như với Hàn Quốc, thì bên cạnh phẩm chất và khả năng làm việc của người lao động, tỉ lệ bỏ hợp đồng sẽ trở thành nhân tố quyết định ảnh hưởng đến việc mở rộng thị trường ở nước này Đây là một điều hết sức khó khăn và đòi hỏi chúng ta phải quan tâm tới
Thị trường Đài Loan (cũng như một số thị trường khác) có nhu cầu rất cao
về lao động làm các dịch vụ gia đình (lao động giúp việc gia đình, trông trẻ em, chăm sóc người già, người ốm) Loại hình lao động này hiện nay ta đang tiến hành làm thí điểm để rút kinh nghiệm mở rộng
Cho tới nay đã có 158 doanh nghiệp Việt Nam chuyên doanh XKLĐ được phép cung ứng lao động cho Đài Loan Người lao động làm việc tại Đài Loan tập trung vào những ngành chủ yếu như điện tử, may mặc, dệt, chế tạo, xây dựng, thuyền viên đánh cá, khán hộ công và giúp việc gia đình (sơ bộ có khoảng 28 ngành nghề khác nhau)
Thị trường Đài Loan có một đặc điểm là thông thường các chủ sử dụng lao động uỷ quyền cho công ty dịch vụ việc làm (môi giới) ra nước ngoài tuyển lao động và quản lý người lao động nước ngoài ngoài giờ làm việc Các công ty dịch vụ việc làm thường thu của người lao động một khoảng phí rất cao về các công việc này Tuy nhiên để bảo vệ quyền lợi cho NLĐ và dựa vào đặc điểm tình hình kinh tế Việt nam, chính phủ Việt nam và Uỷ ban lao động Đài Loan đã
có những quy định cụ thể hợp lý về mức phí này nhằm tránh tình trạng các Công
ty môi giới Đài Loan và Việt nam tự ý nâng mức phí lên cao
Trang 312.4- Thị trường Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào:
Lào được xác định là một thị trường trọng điểm của lao động Việt Nam Bên cạnh yếu tố gần gũi về địa lý, giữa nước ta và Lào còn có tình hữu nghị đặc biệt của hai dân tộc anh em, còn có nghĩa vụ của nhân dân Việt Nam phải giúp nhân dân Lào xây dựng và bảo vệ tổ quốc Lao động Việt nam làm việc tại Lào
từ những năm 1990 Hiệp định hợp tác lao động giữa hai nước ký ngày 29/6/1995 đã tạo điều kiện dáp ứng cho việc đẩy mạnh hợp tác lao động giữa hai nước Lao động Việt nam làm việc tại Lào dưới các hình thức: làm việc tại các công trình do tổ chức kinh tế Việt nam nhận thầu; làm việc theo các hợp đồng cung ứng lao động; theo thoả thuận hợp tác giữa các tỉnh biên giới hoặc giữa các tỉnh kết nghĩa; lao động tự do Quy mô lao động gia tăng tại Lào tập trung ở hai hình thức: đi theo các chương trình hợp tác giữa các dịa phương biên giới (nhất
là ở các tỉnh miền Trung Việt nam) và lao động tự do
Lào là một quốc gia nhỏ, trình độ phát triển chậm đứng sau nước ta Trong những năm qua, ta đã đưa được số lượng tương đối lớn lao động sang Lào làm việc Tuy nhiên, cách tiếp cận thị trường này khác với cách tiếp cận các thị trường khác Ở Lào, do kinh tế chưa phát triển, nên hình thức cung ứng lao động cho các chủ sử dụng lao động tại Lào không chiếm tỉ trọng lớn, trong khi hình thức đưa lao động Việt Nam sang nhận thầu công trình, thực hiện các hợp đồng liên doanh, liên kết hoặc theo các dự án hợp tác giữa các địa phương của hai nước là những hình thức chủ yếu Hiện nay chính phủ hai nước đã có những quy định phân cấp quản lý công tác này cho một số địa phương, để một mặt tạo điều kiện thuận lợi hơn về thủ tục cho người lao động, mặt khác có thể quản lý được nhiều đối tượng hơn, giảm thiểu số lượng lao động Việt Nam tự do sang Lào làm việc không theo các quy định có liên quan của hai bên
2.5 Thị trường Malayxia:
Đây là nước vừa xuất cư, vừa nhập cư Lao động nước ngoài hiện ở Malayxia khoảng 1 triệu người Malayxia có chính sách nhận lao động nước ngoài dành cho các nước đạo Hồi, gần đây chính sách này đã nới rộng Malayxia
đã ký hiệp định hợp tác lao động với các nước như : Inđônêxia, Thái Lan, Philipin, Pakistan và gần đây là Srilanca và Việt nam Thời gian làm việc tối đa
Trang 32trồng trọt và ngành công nghiệp Thị trường này các điều kiện tuyển chọn không khó tính như thị trường Nhật Bản hoặc Đài Loan nhưng lại đòi hỏi NLĐ phải có sức khoẻ rất tốt mới bám trụ được do đặc điểm khí hậu nóng bức quanh năm, NLĐ làm việc chân tay là chính
* Từ những thông tin trên đây cho thấy thị trường nhận lao động tại các nước khác nhau trong cùng một khu vực có những đặc điểm và yêu cầu khác nhau Chính vì vậy, chúng ta phải biết lựa chọn và định hướng đúng, phù hợp với yêu cầu của từng thị trường, từng bước khắc phục khó khăn và những mặt còn tồn tại để không những giữ vững mà còn ngày càng mở rộng thị trường
3- Những thuận lợi và khó khăn trong việc cung ứng lao động Việt nam
3.1 Thị trường này có những thuận lợi sau:
- Có nhu cầu về lao động tại mọi khu vực công nghiệp, nông dân, thuyền viên tàu cá
- Sự tương đồng về phong tục tập quán và không xa về vị trí địa lý Thời tiết
và khí hậu không có sự khác biệt nhiều so với Việt nam
- Quan hệ ngoại giao giữa Chính phủ Việt nam và Chính phủ các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản cũng như với giới lãnh đạo Đài Loan ngày một cải thiện theo chiều hướng tích cực
- Các dự án đầu tư của các nước trên vào Việt nam chiếm tỷ trọng cao và vẫn
có xu hướng gia tăng, đã thu hút một số lượng lao động lớn được sử dụng
và đào tạo cho các dự án này
- Phần lớn các đối tác, giới chủ sử dụng lao động đã khá quen thuộc với phương thức làm việc của các Công ty cung ứng lao động Việt nam cũng như nắm vững các đặc điểm lao động Việt nam
- Thị trường Lào thu hút rất lớn lao động của ta đặc biệt ở các tỉnh miền Trung, nhận thầu các công trình và nhất là hai nước lại có quan hệ hữu nghị truyền thống
- Đài Loan về lâu dài vẫn sẽ là thị trường nhận nhiều lao động nước ngoài, trong đó có Việt nam
Trang 333.2 Tuy vậy, thị trường các nước này cũng có một số khó khăn:
- Có sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các nước XKLĐ với nhau, đặc biệt là với các nước Trung Quốc, Thái Lan, Philipin Đồng thời thị phần tại đây luôn
có xu hướng biến đổi bởi có nhiều nước XKLĐ tại các khu vực khác cũng muốn tham gia cung ứng lao động
- Ngoại trừ Đài Loan đã có luật sử dụng lao động ngoài nước, Hàn Quốc và Nhật Bản sử dụng lao động ngoài nước thông qua chương trình Tu nghiệp sinh đã tạo ra những hạn chế trong khi quản lý người lao động do sự chênh lệch lớn về thu nhập giữa người lao động ngoài nước và lao động bản địa
đã dẫn tới việc phá bỏ hợp đồng của người lao động
- Một bộ phận trong cộng đồng người Việt tại các thị trường này do những động cơ khác nhau đã có những hành động tiêu cực trong việc lôi kéo lao động Việt nam phá bỏ hợp đồng làm ăn bất hợp pháp, nhất là ở Hàn Quốc
1.1 Công tác phát triển nguồn nhân lực:
Thực tiễn trên thế giới đã minh chứng hùng hồn, nước nào có chiến lược đúng đắn về vấn đề con người, nguồn nhân lực, nguồn lao động, nước đó sẽ thành công và phát triển đi lên Điển hình như Nhật Bản, Singapore… với họ, chiến lược con người được tập trung vào những trọng điểm: tài năng, kỹ nghệ, sáng tạo và ý chí
Đánh giá được tầm quan trọng to lớn của nguồn lực con người, Đảng ta đã xác định, phát triển chiến lược con người luôn phải được đặt lên hàng đầu Là một quốc gia với gần 80 triệu dân, đây là một thị trường lao động dồi dao, một tiềm năng lợi thế của Việt nam Được biết, tính đến cuối năm 2000, lao động có trình độ từ Cao đẳng trở lên của Việt nam đạt khoảng 1,3 triệu người, số lao
Trang 34đang theo học các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề ngày một gia tăng Điều này chứng tỏ NLĐ đã ngày càng có ý thức hơn về cuộc sống và tương lai của bản thân, muốn cải thiện cuộc sống của chính mình và cũng là của cả đất nước Đây là nguồn vốn quý giá để Việt nam đẩy mạnh sự nghiệp Công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước nhanh chóng đi tới thành công và chủ động, tự tin bước lên “con tàu” toàn cầu hoá một cách vững chắc
Có thể nói, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã chăm lo phát triển và khai thác khá hiệu quả nguồn lực con người Việt nam Mọi mặt đời sống
xã hội của nhân dân được cải thiện đáng kể Các chính sách tăng trưởng, công bằng xã hội được thực hiện tương đối hài hoà Đặc biệt chúng ta đã và đang tiến hành cải cách giáo dục toàn dân, đa dạng hoá các hình thức đào tạo, có cơ chế khuyến khích tuyển dụng phát triển nhân tài… tất cả những việc làm đó là sự biểu hiện của một tư duy hành động đổi mới, với việc lấy yếu tố con người làm
cơ sở nền tảng vững chắc cho sự phát triển đi lên của đất nước và con người Việt nam
1.2 Xuất khẩu lao động ở trình độ cao:
Cùng với các quốc gia thuộc liên minh Châu Âu, Mỹ và Singapore, Đài Loan cũng muốn tuyển chuyên viên phần mềm Việt nam Đây là nhu cầu mà Việt nam hoàn toàn có khả năng đáp ứng, tuy nhiên cần phải có sự đầu tư kỹ lưỡng cho lĩnh vực này Chỉ riêng khu công nghiệp phần mềm Cao Hùng mỗi năm cần tuyển 300 – 500 chuyên viên phần mềm với yêu cầu tốt nghiệp Đại học
về công nghệ thông tin hoặc theo học 2 đến 3 năm chuyên viên phần mềm, Hiện Đài Loan đang nhắm vào các đối tượng này ở Việt nam và Trung Quốc Mức lương khởi điểm của các chuyên viên phần mềm tại Khu công nghiệp phần mềm Cao Hùng từ 500 đến 600USD/tháng So với các quốc gia khác đang muốn trực tiếp tuyển kỹ sư công nghệ thông tin từ các nước đang phát triển trong đó có Việt nam thì Singapore lại mời chào một cách gián tiếp hơn – tuyển lao động thông qua tuyển sinh Tháng 12/2000, Cơ quan phát triển Thương mại Singapore tài trợ cho một chiến dịch quảng cáo tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh nhằm chiêu sinh cho các trường đại học Singapore Rất nhiều đại diện của các trường đào tạo công nghệ thông tin tham gia vào chiến dịch quảng cáo đã cam kết sẽ ký hợp đồng lao động với các sinh viên Việt nam sau khi tốt nghiệp các khoá đào tạo tại Singapore với mức lương từ 2.000 – 3.000 USD/tháng Đây là
Trang 35một hình thức nhập khẩu lao động gián tiếp và Việt nam hoàn toàn có thể nghiên cứu để tham gia vì theo một báo cáo mới nhất về nguồn nhân lực trên thế giới thì trong thập kỷ tới riêng khu vực Châu Á - Thái Bình Dương sẽ thiếu từ 120.000 – 150.000 kỹ sư công nghệ thông tin Quả là một lượng cầu lớn qua lượng cung của bất kỳ quốc gia nào
1.3 Tổ chức tốt hoạt động marketting về xuất khẩu lao động:
Coi tiếp thị là một khâu hết sức quan trọng đối với các loại hoạt động kinh doanh Qui mô và chất lượng của nó góp phần quyết định hiệu quả của kinh doanh Nội dung chủ yếu của hoạt động này là nắm bắt nhanh nhạy nhu cầu lao động của các tổ chức kinh tế nước ngoài về số lượng, cơ cấu nghề nghiệp, đòi hỏi trình độ, giới tính, ngoại ngữ, điều kiện làm việc, giá sinh hoạt, tiền lương, bảo hiểm, bảo hộ lao động, dân cư, điều kiện hoà nhập của lao động Việt nam Hoạt động tiếp thị còn tìm ra những cơ sở để dự báo các yếu tố nêu trên trong tương lai Nó cũng phải bằng mọi phương thức tiến hành thông tin, quảng cáo về khả năng “cung” lao động với tính đa dạng của các loại nghề của ta đến với bạn hàng trên thế giới Thời gian qua, chúng ta đã rất quan tâm đến khu vực kinh tế năng động Châu á với các thị trường như Nhật Bản, Hàn Quốc, Malayxia, Đài Loan, Singapore là những nơi đang cần sử dụng lao động nước ngoài và đã đạt được những thành công đáng kể, một phần cũng là nhờ vào việc tuyên truyền và quảng cáo về chất lượng NLĐ của Việt nam và những dịch vụ để phục vụ công tác này
1.4 Xây dựng các cơ sở kinh tế đủ mạnh để hoạt động xuất khẩu lao động, tăng cường quản lý Nhà nước trên lĩnh vực này:
Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ người lao động và môi trường xã hội, Nhà nước thực hiện cấp giấy phép hoạt động cho những doanh nghiệp đủ điều kiện hoạt động trong lĩnh vực này, đồng thời tạm dừng hoặc đình chỉ đối với những doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả hoặc vi phạm qui chế “về xuất khẩu lao động”
1.5 Yếu tố con người:
Ưu thế của thị trường lao động Việt nam chính là người lao động cần cù, thông minh, tiếp thu nhanh nên dễ được chấp nhận vào làm việc ở các dây
Trang 36ta còn thấp, giá nhân công rẻ so với các nước khác trong cùng khu vực nên chúng ta có nhiều cơ hội thuận lợi, thành công trong cạnh tranh quốc tế (tuy nhiên đây cũng chỉ là cơ hội tạm thời)
2- Những thách thức trong công tác XKLĐ của Việt nam sang thị
2.1- Chính sách nhận lao động:
Việc đưa được người lao động Việt nam đi làm việc có thời hạn tại nước ngoài phụ thuộc rất nhiều vào chính sách nhận lao động của nước sở tại Thị trường tiếp nhận lao động vận động theo chiều hướng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng lao động, với cơ cấu lao động thay đổi và khác biệt về thu nhập, đồng thời nhu cầu lao động của thị trường chịu sự chi phối mạnh mẽ của các biến động về chính trị, kinh tế trong khu vực cũng như trên thế giới đặt ra thách thức lớn về dự báo tích cực về cung cầu lao động trong một bối cảnh có nhiều biến động Ví dụ như để giải quyết một phần nạn thất nghiệp trong nước, tháng 9/2001 Chính phủ Đài Loan đã áp dụng quy định mới trong Luật lao động nhằm hạn chế bớt việc nhận Người lao động nước ngoài vào làm việc tại Đài Loan bằng cách cho phép Chủ sử dụng lao động khấu trừ tiền ăn ở vào tiền lương hàng tháng của NLĐ làm việc tại công xưởng với mức từ 2500NT$ – 4000NT$ Gần đây nhất là bệnh dịch viêm đường hô hấp cấp (SARC) đang xảy ra tại nhiều quốc gia trên thế giới mà trong đó có Việt nam cũng đã gây trở ngại đến công tác XKLĐ của Việt nam, Chính phủ Malayxia đã tuyên bố tạm đóng cửa không cấp Visa và không cho NLĐ Việt nam nhập cảnh Malayxia, còn Văn phòng văn hoá kinh tế Đài Bắc tại Hà nội yêu cầu khi xin Visa cho NLĐ, các doanh nghiệp phải xuất trình thêm giấy xét nghiệm của bệnh viện quy định không mắc viruts bệnh SARS và giấy chứng nhận NLĐ đã được cách ly 2 tuần trước khi xuất cảnh của Sở y tế Như vậy chắc chắn trong vài tháng tới, số lượng lao động Việt nam
đi làm việc có thời hạn tại nước ngoài sẽ giảm đáng kể
2.2 Địa bàn xuất khẩu lao động và chuyên gia tuy đã được mở rộng nhưng chưa tập trung và ổn định; hình thức cung ứng lao động chưa đa dạng
Có thể nói, công tác thị trường còn chưa được đầu tư thoả đáng Nhiều Bộ, ngành, địa phương chưa thực sự đầu tư mở thị trường xuất khẩu lao động như
đã đầu tư xuất khẩu hàng hoá Khả năng tiếp cận với nước ngoài của các doanh
Trang 37nghiệp còn yếu, còn thụ động trong khai thác thị trường, địa bàn xuất khẩu lao động còn hẹp, tại nhiều thị trường đã có, thị phần của ta còn nhỏ bé
Nhiều doanh nghiệp còn thiếu vốn, thiếu thông tin, kinh nghiệm trong việc
mở thị trường Trong khi đó, các cơ quan đại diện ở nước ngoài và cơ quan Nhà nước có liên quan gần đây đã có những đóng góp tích cực song không ít khu vực, cơ quan dại diện ta còn chưa đầu tư đúng mức thời gian và vật chất để nghiên cứu nhu cầu của thị trường lao động nhằm kiến nghị với Nhà nước những biện pháp cần thiết Hiện tại ta chưa có được nhiều doanh nghiệp mạnh,
đủ năng lực về kinh nghiệm và vốn để cạnh tranh trên thị trường lao động quốc
tế
Thị trường thu hút nhiều lao động là lĩnh vực nhận thầu các công trình xây dựng, nhưng doanh nghiệp ta còn yếu về quản lý, thiếu vốn và còn thiếu đội ngũ cán bộ thông thạo về thị trường, giỏi về chỉ đạo để làm ăn có lãi trong lĩnh vực này Hiện nay, nước ta chưa có trường lớp chính quy đào tạo cán bộ làm công tác xuất khẩu lao động, chính vì vậy đội ngũ cán bộ làm công tác này chủ yếu là
tự tìm hiểu, nghiên cứu và dựa vào kinh nghiệm
2.3 Hệ thống văn bản pháp luật chưa đồng bộ, còn thiếu một số chính sách, cơ chế cụ thể để điều chỉnh và quản lý xuất khẩu lao động như chính sách
hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thị trường, chính sách đầu tư cho đào tạo nguồn lao động xuất khẩu, còn thiếu các chế tài để xử lý tình trạng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng cũng như chính sách sử dụng lao động kết thúc hợp đồng khi về nước
2.4 Công tác đào tạo và chuẩn bị nguồn lao động xuất khẩu của một số doanh nghiệp trong khâu đào tạo ngoại ngữ, giáo dục định hướng còn tự phát, manh mún, chưa được coi trọng đầu tư theo yêu cầu của thị trường Giáo dục chưa tại nền tảng tốt về ngoại ngữ cho người lao động
Chất lượng đội ngũ lao động xuất khẩu của ta mặc dù bước đầu được cải thiện song nhìn chung còn hạn chế, yếu nhất là ngoại ngữ, tay nghề chưa đáp ứng được nhu cầu của công nghệ sản xuất hiện đại, ý thức kỷ luật và chấp hành hợp đồng đã ký kết của một bộ phận lao động còn kém Hầu hết những NLĐ đi làm việc ở nước ngoài đều là lao động phổ thông, không có nghề, lại ở nông
Trang 38trong thời gian đầu mới đến sẽ cảm thấy không thoải mái và dẫn đến nhiều sai sót trong khi làm việc Không ít người lao động quan niệm đi làm việc ở nước ngoài là dễ kiếm tiền, khi không đạt được thì vô kỷ luật, bỏ hợp đồng lao động
đi làm việc khác gây ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín lao động Việt nam Vì nhận thức về quan hệ chủ thợ chưa rõ ràng nên tình trạng thắc mắc về quy định, việc
xử lý sai sót, phản đối những yêu cầu của chủ sử dụng lao động thường xuyên xảy ra và còn có thể dẫn đến lãn công, đình công, kiện cáo
2.5 Công tác quản lý còn bất cập so với sự phát triển của thị trường
Mô hình quản lý lao động theo cơ chế thị trường chưa được nghiên cứu cụ thể trong điều kiện lao động làm việc phân tán, xen ghép với lao động nhiều nước tác
Hệ thống tuỳ viên lao động chưa được hình thành tại những địa bàn có nhiều lao động làm việc hoặc có khả năng tiếp nhận lao động, tạo nên những khó khăn nhất định trong quản lý lao động cũng như có được những đối sách hợp lý trong củng cố và phát triển thị trường
Quản lý NLĐ trong thời gian làm việc tại nước ngoài: Cục quản lý lao động với nước ngoài yêu cầu các doanh nghiệp làm công tác XKLĐ phải có đại diện tại nước nhận lao động, phối hợp với Ban quản lý lao động Việt nam bảo vệ quyền lợi và giải quyết kịp thời mọi phát sinh có thể xảy ra với người lao động Tuy nhiên chi phí cho một đại diện tại nước ngoài là rất lớn, nếu như số lượng lao động phải quản lý không nhiều thì thu không đủ bù chi, vì vậy nhiều doanh nghiệp với số lượng lao động đưa đi ít ỏi thì không thể cử đại diện của mình, hoặc số lượng đại diện không cân xứng với số lượng lao động mà doanh nghiệp đang quản lý, dẫn đến tình trạng NLĐ khi xảy ra vấn đề cảm thấy mình như bị
“đem con bỏ chợ”
2.6 Tình trạng cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu lao động, giữa các doanh nghiệp làm công tác XKLĐ của nước ngoài nói chung và và của Việt nam nói riêng rất gay gắt
Nhiều nước và trước hết là các nước trong khu vực hiện nay đều nhận thức
là dặt XKLĐ như một chiến lược quốc gia về giải quyết việc làm Đây là một thách thức lớn tạo nên sự cạnh tranh gay gắt tại các thị trường tiếp nhận lao động của nhiều nước, đặc biệt là các thị trường trọng điểm mà ta hướng tới
Trang 39Không giống như hợp tác lao động của những năm 80 giữa Việt nam với các nước trong cùng hệ thống XHCN, NLĐ giờ đây muốn được đi xuất khẩu lao động phải trả cho các Công ty, tổ chức, tập đoàn nước ngoài giới thiệu chỗ làm một khoản chi phí gọi là phí môi giới Tuỳ đặc điểm của từng thị trường nhận lao động, Chính phủ Việt nam quy định NLĐ phải nộp phí này ở một mức nhất định, tuy nhiên do cạnh tranh giành đơn hàng của phía đối tác, chính các Công
ty làm công tác xuất khẩu lao động của Việt nam lại tự ý nâng cao phí này lên,
vi phạm quy định của Chính phủ đồng thời cũng làm rối loạn thị trường lao động trong nước, ảnh hưởng đến quyền lợi của NLĐ
2.7 Sự khác biệt về văn hoá, ngôn ngữ và tôn giáo tại các thị trường tiếp nhận lao động hiện nay sẽ luôn là thách thức không nhỏ đối với XKLĐ Việt nam
Người lao động trước khi đi làm việc tại nước ngoài được học qua một lớp đào tạo tiếng và giáo dục định hướng theo quy định của Bộ lao động Tuy nhiên thời gian học không nhiều thường là 3 tháng, với thời lượng ít ỏi đó, NLĐ mà hầu hết lại là những người nông dân, trình độ văn hoá thấp khi sang đến nơi làm việc không thể đáp ứng ngay công việc Ngoài ra đối với những nước tôn giáo như Malayxia theo đạo Hồi thì NLĐ phải được giáo dục định hướng thật kỹ trước khi đi mới có thể tránh được những điều tối kỵ của nước bạn ví dụ như uống rượu, trộm cắp…
2.8 Thủ tục hành chính còn rườm rà, tốn kém thời gian và công sức Thủ tục làm hồ sơ và xin cấp Visa nhập cảnh cho NLĐ đi làm việc tại nước ngoài đòi hỏi quá nhiều loại giấy tờ khác nhau
Bên cạnh đó thủ tục nhân sự xuất cảnh không tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và người lao động Để làm thủ tục đi XKLĐ mọi người đều phải trải qua các công đoạn như khám sức khoẻ, học ngoại ngữ, làm hộ chiếu Theo quy định của Bộ công an thì thời hạn cho một trường hợp xin cấp hộ chiếu xuất cảnh là từ
3 đến 4 tuần với mức phí là 200.000 đồng/1 hộ chiếu Nhưng trên thực tế nhiều người đã phải chấp nhận “tiêu cực phí” mất tới gấp nhiều lần so với mức phí quy định mới có được một quyển hộ chiếu Tình hình khám sức khoẻ ở các Bệnh
Trang 40viện quy định cũng không sáng sủa gì hơn Những tiêu cực nêu trên là nguyên nhân khiến cho tâm lý NLĐ trước khi xuất cảnh cảm thấy lo lắng hơn
2.9 Thủ tục cho NLĐ vay vốn đến thời điểm này còn nhiều bất cập như yêu cầu về thủ tục hành chính quá nhiều loại giấy tờ, quy định về đối tượng không phải thế chấp chưa rõ, còn có khó khăn cho NLĐ trong điều kiện vay vốn như phải có hợp đồng lao động mới được vay tiền, trong khi đó phía doanh nghiệp XKLĐ lại đòi hỏi phải có tiền mới được ký hợp đồng lao động…
2.10 Thu phí dịch vụ: Theo quy định của Bộ lao động, các doanh nghiệp
được phép thu phí dịch vụ hàng tháng đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài với mức cao nhất là 10%/lương cơ bản sau khi đã trừ tiền ăn ở (nếu có) Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp đều cho rằng việc thu phí theo đúng quy định này cũng không phải là dễ dàng Nguyên nhân chính là do các doanh nghiệp Việt nam không được uỷ quyền cho các đối tác (Các công ty môi giới nhân lực nước ngoài) và các chủ sử dụng lao động thu phí hộ mà phải tự mình
cử đại diện trực tiếp đến thu Người lao động sau khi đã ổn định được việc làm của mình tại nước ngoài thì tâm lý đều không muốn nộp khoản phí này, nên khi
có đại diện của doanh nghiệp đến thu đều lấy lý do để tránh né việc thực hiện nghĩa vụ mà đã được quy định rõ trong hợp đồng lao động ký trước khi xuất cảnh Điều này gây không ít khó khăn đồng thời khiến cho doanh nghiệp phải bỏ
ra chi phí giao thông khá lớn khi mà NLĐ do doanh nghiệp quản lý nằm rải rác
ở nhiều vùng khác nhau, nhất là đối với trường hợp những NLĐ là người giúp việc trong gia đình Nhiều trường hợp NLĐ sau khi về nước đã không đến doanh nghiệp để làm thanh lý hợp đồng theo đúng quy định của hợp đồng lao động không muốn phải trả khoản phí dịch vụ mà họ đã nợ doanh nghiệp
2.11 Trường hợp NLĐ tự ý bỏ hợp đồng ra ngoài làm việc:
Do còn quen với nếp sống của nền sản xuất vừa và nhỏ, người lao động chưa quen tác phong sống công nghiệp, kỷ luật chưa cao, chưa quen chấp nhận quan hệ chỉ – thợ và thường chỉ nghĩ đến lợi ích ngay trước mắt Người lao động khi đi làm việc, họ đã không đánh giá được đúng công việc và con người khi tham gia lao động xuất khẩu Nhiều lao động đã coi việc đi lao động xuất khẩu