1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3

156 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về nghĩamiêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc giảng dạy ở lớp 2, 3 có thể giúp hiểu thêm về nghĩa của câu và các phương tiện biểu đạt cùng đặcđ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ HƯỜNG

NGHĨA MIÊU TẢ VÀ NGHĨA TÌNH THÁI CHỦ QUAN CỦA CÂU TRONG CÁC VĂN BẢN TẬP ĐỌC Ở LỚP 2, 3

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thái Nguyên, năm 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Nhung

Thái Nguyên, năm 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu khảosát, thống kê, nghiên cứu, kết luận trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố

ở bất kì công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 7 năm 2021

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và làm luận văn này, em đã nhận được sự quantâm, tạo điều kiện và giúp đỡ tận tình của các thầy cô giảng viên, Ban lãnh đạo khoaNgữ Văn, Phòng Sau Đại học, Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Nhung

đã tận tình hướng dẫn em trong việc nghiên cứu, tìm hiểu và hoàn thành đề tài luậnvăn này

Em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, đã nhiệt tình ủng hộ,chia sẻ khó khăn, khích lệ, động viên tinh thần trong suốt thời gian em học tập vàhoàn thành luận văn

Em xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 7 năm 2021

Tác giả luận văn Nguyễn Thị Hường

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC .iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Dự kiến đóng góp của đề tài 5

7 Bố cục của luận văn 6

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7

1.1 Một số khái niệm công cụ 7

1.1.1 Các khái niệm liên quan đến từ ngữ 7

1.1.2 Các khái niệm liên quan đến câu 8

1.2 Khái quát về nghĩa của câu 9

1.2.1 Nghĩa miêu tả 9

1.2.2 Nghĩa tình thái 12

1.3 Các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3 và nội dung, mục đích dạy học tiếng Việt ở bậc tiểu học 25

1.3.1 Các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3 25

1.3.2 Nội dung, mục đích dạy học tiếng Việt ở bậc tiểu học 26

1.4 Một số đặc điểm phát triển tâm lí của học sinh lớp 2, 3 27

1.5 Tiểu kết chương 1 29

Chương 2: KHẢO SÁT NGHĨA MIÊU TẢ VÀ NGHĨA TÌNH THÁI CHỦ QUAN CỦA CÂU TRONG CÁC VĂN BẢN TẬP ĐỌC LỚP 2, 3 30

Trang 6

2.1 Nhận xét chung 30

2.2 Nghĩa miêu tả của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 32

2.2.1 Khái quát về nghĩa miêu tả của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 32

2.2.2 Sự tình hành động của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 33

2.2.3 Sự tình quá trình của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 35

2.2.4 Sự tình tư thế của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 37

2.2.5 Sự tình tính chất, quan hệ của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 39

2.3 Nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 41

2.3.1 Khái quát về nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 41

2.3.2 Nghĩa tình thái nhận thức của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 44

2.3.3 Nghĩa tình thái đánh giá của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 48

Chương 3: ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA NGHĨA MIÊU TẢ, NGHĨA TÌNH THÁI Ở CÂU TRONG CÁC VĂN BẢN TẬP ĐỌC LỚP 2, 3 69

3.1 Một số đặc điểm của nghĩa ở câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 69

3.1.1 Đặc điểm về số lượng câu có nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái trên tổng số câu khảo sát 69

3.1.2 Đặc điểm nghĩa miêu tả của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 70

3.1.3 Đặc điểm nghĩa tình thái của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 72

3.2 Nghĩa của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 với việc thực hiện mục tiêu của môn Tiếng Việt ở trường tiểu học 75

3.2.1 Nghĩa của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 với việc cung cấp kiến thức cho học sinh 76

3.2.2 Nghĩa của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 với việc góp phần hình thành nhân cách cho học sinh 86

3.3 Tiểu kết chương 3 94

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHẦN PHỤ LỤC

Trang 7

NTTĐG : Nghĩa tình thái đánh giá

NTTĐL : Nghĩa tình thái đạo lí

NTTKQ : Nghĩa tình thái khách quan

NTTNT : Nghĩa tình thái nhận thức

NTTTĐ : Nghĩa tình thái thái độ

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái của câu trong các văn bản tập đọc lớp

2, 3 xét về mặt số lượng 30Bảng 2.2: Bốn loại nghĩa miêu tả của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 32Bảng 2.3: Năm loại nghĩa tình thái của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 41Bảng 3.1: Đối chiếu kết quả khảo sát trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 và

trong một số văn bản tự sự, trữ tình về tỉ lệ câu có nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái 69Bảng 3.2: Đối chiếu tỉ lệ xuất hiện của mỗi loại nghĩa miêu tả ở câu trong các

văn bản tập đọc lớp 2, 3 và trong một số văn bản tự sự, trữ tình 71Bảng 3.3: Đối chiếu tỉ lệ xuất hiện mỗi loại nghĩa tình thái của câu trong các văn

bản tập đọc lớp 2, 3 và một số văn bản tự sự, trữ tình 72

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Tỉ lệ xuất hiện của nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái của câu trong

các văn bản tập đọc lớp 2, 3 31Biểu đồ 2.2: Tỉ lệ xuất hiện bốn loại nghĩa miêu tả của câu trong các văn bản

tập đọc lớp 2, 3 33

Sơ đồ 2.3: Tỉ lệ xuất hiện mỗi loại nghĩa tình thái trên tổng số câu có nghĩa

tình thái 43Biểu đồ 2.4: Tỉ lệ xuất hiện của mỗi loại nghĩa tình thái trên tổng số lần xuất

hiện của nghĩa tình thái 44Biểu đồ 3.1: Đối chiếu kết quả khảo sát trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 và

trong một số văn bản tự sự, trữ tình về tỉ lệ câu có nghĩa miêu tả,nghĩa tình thái 70

Trang 10

1 Lí do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Trang 11

1.1 Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất Câu là một đơn vị

thông báo nhỏ nhất, và nghĩa của câu phục vụ trực tiếp cho việc giao tiếp Nghĩa củacâu góp phần quan trọng tạo nên nội dung của các văn bản tập đọc ở cấp Tiểu học.Muốn tìm hiểu những nội dung cơ bản của các văn bản tập đọc không thể không dựavào nghĩa của câu

Những năm gần đây, nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái nổi lên như một trongnhững trọng tâm nghiên cứu của ngôn ngữ học Có thể nói sự quan tâm đến nghĩa củacâu là một tất yếu trong quá trình phát triển của ngôn ngữ học Bởi lẽ không quan tâmđến nghĩa của câu thì chúng ta sẽ không hiểu được bản chất của ngôn ngữ, với tưcách là công cụ con người dùng để phản ánh thế giới trong hoạt động nhận thức vàtương tác xã hội

1.2 Qua thực tế, chúng tôi nhận thấy:

Các văn bản tập đọc giảng dạy ở Tiểu học nói chung, các văn bản tập đọcgiảng dạy ở lớp 2, 3 nói riêng (trong Chương trình hiện hành) tương đối đa dạng.Nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái trong những văn bản tập đọc đó có những biểu hiệnphong phú Việc tìm hiểu chúng có thể giúp thấy được các nét bản chất của nghĩamiêu tả, nghĩa tình thái trong câu, góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lí luận chung

về nghĩa của câu và các bộ phận của nó trong các văn bản văn học tiếng Việt Điều đó

có thể phục vụ thiết thực cho việc nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt, đồngthời giúp học sinh hình thành và phát triển các năng lực học tập các môn học khác

1.3 Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái có một vai trò hết sức quan trọng trong

lời nói Nó bao gồm một phạm trù rất rộng các ý nghĩa liên quan đến chức năng diễnđạt nghĩa miêu tả/ biểu hiện và chức năng liên nhân của câu Nghiên cứu về nghĩamiêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc giảng dạy ở lớp

2, 3 có thể giúp hiểu thêm về nghĩa của câu và các phương tiện biểu đạt cùng đặcđiểm của các văn bản tập đọc được giảng dạy ở lớp 2, 3; phát hiện những nét riêngcủa nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong những văn bản văn họcdành cho thiếu nhi

1.4 Từ trước đến nay, chưa có nhiều công trình quan tâm nghiên cứu nghĩa của

câu trong các văn bản dành cho thiếu nhi, đặc biệt là nghĩa miêu tả và nghĩa tình tháicủa

Trang 12

câu trong các văn bản tập đọc giảng dạy ở lớp 2, 3 Trong các nhà trường, khi phântích, tiếp nhận các văn bản tập đọc, người dạy và người học cũng chưa có ý thức rõràng về việc vận dụng tri thức nghĩa của câu Trong khi những tri thức này có vai tròquan trọng trong việc giúp học sinh đọc hiểu văn bản tập đọc, trên cơ sở đó, có rèn kĩnăng tạo lập các loại văn bản tương ứng

Vì những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài luận văn của mình là Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3.

Qua việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hy vọng sẽ có những đóng góp nhất định vềmặt lí luận và thực tiễn

2 Lịch sử vấn đề

Trong hệ thống các nghiên cứu, tìm hiểu tiếng Việt, đã có một số công trình đềcập đến lí luận về các thành phần nghĩa của câu và một số công trình khảo sát mộtthành phần nghĩa hoặc một loại nghĩa trong một thành phần nghĩa của câu tiếng Việt

2.1 Các công trình đề cập tới tri thức lí luận về nghĩa và các thành phần nghĩa của câu

Những tri thức cơ bản về nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái đã được đề cập trong:

Cơ sở ngữ nghĩa phân tích ngữ pháp của Nguyễn Văn Hiệp [14]; Ngữ pháp tiếng Việt [24]; Một số vấn đề cơ bản về ngữ nghĩa học (trên cứ liệu tiếng Việt) - Đề cương bài giảng dành cho học viên Cao học, ĐHSP-ĐH Thái Nguyên, 2013 [21]; Vận dụng tri thức ngữ nghĩa học trong dạy học Ngữ Văn, Đề cương bài giảng dành cho học viên Cao học, ĐHSP - ĐH Thái Nguyên, 2018 [28]; Nghĩa tình thái của câu tiếng Việt và việc vận dụng trong dạy học Ngữ Văn [27] và bài báo: “Phân loại nghĩa tình thái của câu tiếng Việt” [26], của Nguyễn Thị Nhung Cuốn Câu tiếng Việt [16] của Nguyễn

Thị Lương cũng ít nhiều đề cập đến hai thành phần nghĩa này

2.2 Các công trình nghiên cứu việc vận dụng tri thức nghĩa của câu vào phân tích tác phẩm văn chương

Đã có một số luận văn, khóa luận tìm hiểu về nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái

trong tác phẩm văn chương Đó là luận văn cao học: Phương tiện biểu hiện tình thái nhận thức trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu của Lương Văn Hưng [15]; và các

luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Nhung như:

Nghĩa tình thái của câu trong đoạn hội thoại (trên những văn bản ở SGK Ngữ Văn 11

Trang 13

- tập 1) của Vũ Thị Kim Thoa [36]; Nghĩa tình thái đánh giá của câu trong các văn bản truyện và kí giảng dạy ở trường THPT của Phùng Thanh Hảo [10] Bên cạnh đó

là các khóa luận tốt nghiệp của sinh viên trường ĐHSP Thái Nguyên do PGS.TS

Nguyễn Thị Nhung hướng dẫn như: Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái của câu trong đoạn trích “Hồn Trương Ba da hàng thịt” (Lưu Quang Vũ) của Lê Mai Hoa Hiên [13]; Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái của câu trong “Nghèo” (Nam Cao) (của Phạm Thị Ngọc) [30]; Nghĩa tình thái nhận thức của câu trong một số văn bản truyện và kí được giảng dạy ở trường THPT (của Hoàng Thị Thương) [39]; Nghĩa tình thái đạo lí của câu trong Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Nguyễn Huy Tưởng) và Hồn Trương Ba da hàng thịt (Lưu Quang Vũ) (của Nguyễn Thị Liên) [17]; Nghĩa tình thái của câu trong trích đoạn “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” trích kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng (của Lê Thị Mai) [19]; Nghĩa tình thái của câu trong “Vội vàng”, “Tràng Giang”,

“Đây thôn Vĩ Dạ” và “Từ ấy” (của Hoàng Thị Kiều Lý) [18]; Nghĩa tình thái thái độ của câu trong một số văn bản truyện được giảng dạy ở trường THPT (của Dương Thị Thúy Quỳnh) [33]; Nghĩa tình thái nhận thức của câu đối thoại trong truyện ngắn Nam Cao trước cách mạng tháng Tám (của Nguyễn Thị Thúy) [38].

Tác giả Nguyễn Thị Nhung cũng có một số bài báo về vấn đề vận dụng tri thứcnghĩa tình thái vào việc tìm hiểu tác phẩm văn chương Đó là: “Nghĩa tình thái của

phát ngôn thuộc ngôn ngữ nhân vật trong Hai đứa trẻ (Thạch Lam)” [22]; “Tìm hiểu

tính cách nhân vật Bá Kiến thông qua nghĩa tình thái của câu” [25]; “Mấy nét về vănhóa Việt Nam qua các câu chứa nghĩa tình thái đạo nghĩa” [23]; …

Đây là những nghiên cứu giúp thấy được các biểu hiện sinh động của nghĩamiêu tả và đặc biệt là nghĩa tình thái chủ quan với các loại, các sắc thái của mỗi loạitrong sử dụng Bên cạnh đó, cũng giúp hiểu sâu sắc hơn về văn hóa Việt Nam, về cáctác phẩm văn chương, phục vụ tốt cho việc tiếp nhận hay giảng dạy về các tác phẩmnày

Tuy vậy, chưa có công trình nào nghiên cứu tập trung, đầy đủ các thành phầnnghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản dành cho thiếunhi nói chung, trong các văn bản tập đọc giảng dạy ở lớp 2, 3 nói riêng

Do đó, chúng tôi lựa chọn đề tài Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3 với hi vọng công trình sẽ đem lại

những hiểu biết sâu sắc hơn lí luận về nghĩa của câu nói chung và kiến thức về

Trang 14

nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái nói riêng Từ đó giúp nâng cao kĩ năng vận dụng trithức về các thành phần nghĩa của câu vào tìm hiểu các văn bản tập đọc giảng dạy ởlớp 2, 3 nói riêng, các văn bản tiếng Việt dành cho trẻ em nói chung nhằm nâng caochất lượng dạy và học bộ môn tiếng Việt ở trường Tiểu học

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Qua việc tìm hiểu nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái của câu với các sắc thái cụthể, phong phú của nó trong các văn bản tập đọc được giảng dạy ở lớp 2, 3, củng cốtri thức về các thành phần nghĩa chính trong câu tiếng Việt và rút ra những kết luậnbước đầu về đặc điểm nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái của câu trong các văn bản dànhcho thiếu nhi

- Qua việc xác định vai trò của nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái của câu trong cácvăn bản tập đọc giảng dạy ở lớp 2, 3 với việc thực hiện mục tiêu của môn Tiếng Việt

ở trường tiểu học, có những kết luận bước đầu về vai trò của các thành phần nghĩachính của câu với văn bản văn học

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định cơ sở lí luận, thực tiễn của đề tài

- Khảo sát, thống kê, chỉ ra đặc điểm của sự xuất hiện các loại nghĩa miêu tả

và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc được giảng dạy ởlớp 2, 3

- Phân tích đặc điểm, xác định vai trò của nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái chủquan của câu trong các văn bản tập đọc được giảng dạy ở lớp 2, 3 với việc thực hiệnmục tiêu của môn Tiếng Việt ở trường tiểu học

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái chủ quan củacâu trong các văn bản tập đọc đang được giảng dạy ở lớp 2, 3

4.2 Phạm vi nghiên cứu, phạm vi khảo sát

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các loại nghĩa của nghĩa miêu tả, các loạinghĩa tình thái chủ quan và những sắc thái nghĩa của mỗi loại nghĩa đó, cùng phươngtiện biểu đạt của chúng trong các văn bản tập đọc được giảng dạy ở lớp 2, 3

Trang 15

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sẽ vận dụng một số phương pháp sau:

- Phương pháp điều tra khảo sát để tìm các loại nghĩa miêu tả và nghĩa tìnhthái khác nhau trong các câu

- Các phương pháp nghiên cứu lí thuyết:

+ Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết

+ Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lí thuyết

- Phương pháp miêu tả: được sử dụng để thấy được về cơ bản diện mạo củanghĩa miêu tả, nghĩa tình thái, của từng bộ phận nghĩa miêu tả, từng sắc thái của mỗiloại nghĩa tình thái trong câu văn của các văn bản tập đọc được giảng dạy ở lớp 2, 3.Trong phương pháp này, chúng tôi sử dụng những thủ pháp giải thích bên trong vàgiải thích bên ngoài

+ Các thủ pháp giải thích bên trong: thủ pháp phân loại và hệ thống hóa, thủpháp phân tích nghĩa tố để xác định hệ thống nghĩa

+ Các thủ pháp giải thích bên ngoài: thủ pháp giải thích ngôn cảnh được sửdụng để thấy được những yếu tố cụ thể, phương diện cụ thể của ngôn cảnh tình huống

và ngôn cảnh văn hóa trong đó câu được sử dụng

6 Dự kiến đóng góp của đề tài

Đề tài nghiên cứu thành công có thể đem lại những đóng góp về lí luận và thực tiễn:

- Về mặt lí luận: Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể góp phần làm sáng tỏtri thức lí luận về nghĩa của câu trong các văn bản tiếng Việt dành cho trẻ em

Trang 16

- Về mặt thực tiễn: Tri thức nghĩa của câu có thể vận dụng vào việc rèn kĩnăng tiếp nhận văn bản tập đọc được giảng dạy ở lớp 2, 3 nói riêng, các văn bản tậpđọc được giảng dạy ở chương trình Tiểu học nói chung

Kết quả nghiên cứu đề tài còn có thể trở thành tài liệu tham khảo cho việcnghiên cứu văn bản nghệ thuật cho học sinh Tiểu học nói riêng và văn bản nghệ thuậtcho trẻ em nói chung

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục

Phần nội dung, chia làm 3 chương với các nội dung chính sau:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Khảo sát nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái chủ quan của câu trong cácvăn bản tập đọc lớp 2, 3

Chương 3: Đặc điểm và vai trò của nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái ở câu trongcác văn bản tập đọc lớp 2, 3

Trang 17

“Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ được vận dụng độc lập, tái hiện

tự do trong lời nói để xây dựng nên câu” [42, tr.330]

- Có rất nhiều cách phân loại từ như: phân loại theo nguồn gốc, phân loại theongữ nghĩa, phân loại theo đặc điểm cấu tạo, v.v Ở đây, chúng tôi xin được đề cập tớicách phân loại từ theo đặc điểm cấu tạo và đặc điểm mặt ngữ pháp bởi nó cần thiếtvới việc nghiên cứu đề tài luận văn

Tổ hợp từ là một khái niệm được sử để chỉ một đơn vị gồm từ hai từ trở lên,

kết hợp với nhau theo một mối quan hệ ngữ pháp, ngữ nghĩa nhất định Chúng có thể

do các thực từ hoặc hư từ tạo thành hay bao gồm cả thực từ và hư từ như: hay hớm gì, hằng nghe, quái lạ, chao ôi, may mà, đã đành,…

Các tổ hợp từ cố định đã dùng lâu thành quen, nghĩa có thể được suy ra từ

nghĩa của các yếu tố hợp thành (được gọi là quán ngữ như là cùng, là may, thì khốn, chắc chắn, miễn sao,…) cũng được chúng tôi xếp vào đây Tổ hợp từ - quán ngữ

xuất hiện phổ biến trong phong cách hội thoại, khẩu ngữ; cũng có khi được dùng

Trang 18

1.1.2 Các khái niệm liên quan đến câu

- “Câu” là một khái niệm được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trong và ngoàinước quan tâm từ lâu Khái niệm này đã được tiếp cận theo nhiều phương diện khácnhau Để thuận tiện cho việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi lựa chọn một địnhnghĩa có thể đề cập đến câu một cách toàn diện, từ sự hình thành tới chức năng, từ nộidung đến hình thức của câu Đó là định nghĩa của PGS.T.S Nguyễn Thị Nhung:

“Câu là đơn vị ngôn ngữ được tạo ra trong quá trình tư duy và giao tiếp, do các từ, ngữ trực tiếp tạo thành theo một quy tắc ngữ pháp, sử dụng một ngữ điệu kết thúc nhất định, thường biểu đạt một sự tình kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói hoặc chỉ biểu thị thái độ, sự đánh giá của người nói Câu đồng thời là đơn vị lời nói nhỏ nhất có chức năng thông báo” [24, tr.148].

- Có thể phân loại câu dựa vào 2 tiêu chí là cấu tạo ngữ pháp và mục đích nói

Để thuận tiện cho việc nghiên cứu, trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn cách phânloại câu theo cấu tạo ngữ pháp

Theo Nguyễn Thị Nhung, dựa vào cấu trúc, có thể chia câu tiếng Việt thànhmột hệ thống các kiểu loại ở các cấp độ khác nhau

Trước hết dựa vào tiêu chí kiểu nòng cốt, có thể chia câu tiếng Việt thành 2

nhóm: nhóm nòng cốt không phải là cụm C-V (gọi là câu đặc biệt) và nhóm nòng cốt

là cụm C-V (bao gồm tất cả các kiểu câu còn lại mà chúng tôi gọi tạm là câu bình thường).

Dựa vào số lượng cụm nòng cốt, có thể chia nhóm thứ nhất thành câu đặc biệt đơn (có 1 nòng cốt) và câu đặc biệt phức (có 2 nòng cốt trở lên), và chia nhóm thứ hai thành 2 kiểu: câu đơn (câu có 1 cụm C-V) và câu phức (câu có hai cụm C-V trở

lên)

Dựa vào quan hệ giữa các cụm C-V, có thể tiếp tục chia câu phức thành câu

phức mà quan hệ giữa các cụm C-V là quan hệ bao nhau và câu phức mà quan hệ giữa

Trang 19

các cụm C-V là không bao nhau Loại thứ nhất (gọi là câu phức thành phần) chỉ có

một kết cấu

Trang 20

V làm nòng cốt câu, các kết cấu C-V còn lại giữ vai trò làm thành phần bên trong của

nòng cốt câu Loại thứ hai (gọi là câu ghép) không kết cấu C-V nào bao kết cấu C-V

nào Ở mỗi kiểu này, lại có thể tiếp tục chia thành những kiểu câu nhỏ hơn nữa

Ngoài ra, dựa vào sự có mặt hay tạm thời vắng mặt của bộ phận nòng cốt, cóthể chia câu đơn, câu phức thành 2 kiểu đối lập nhau là câu tỉnh lược và câu khôngtỉnh lược

1.2 Khái quát về nghĩa của câu

1.2.1 Nghĩa miêu tả

1.2.1.1 Khái quát về nghĩa miêu tả

Nghĩa miêu tả (nghĩa biểu hiện, nghĩa trình bày, nghĩa kinh nghiệm) là phầnphản ánh những mảng của thế giới hiện thực hay một thế giới nào khác ở ngoài ngônngữ Hagege gọi đây là bình diện “nghĩa học sở chỉ”, Cao Xuân Hạo gọi là “nghĩabiểu hiện phản ánh cái sự tình của thế giới được nói đến trong câu” [11] Đó là việcphản ánh sự tri nhận, kinh nghiệm của con người về thế giới Mỗi sự tình là một cấutrúc nghĩa bao gồm bản thân sự tình đó do vị từ đảm nhiệm làm cốt lõi và quây quầnxung quanh là những tham thể, biểu thị những vai nghĩa nào đó

Vị từ là những từ có thể làm vị tố Vị tố của câu là phần còn lại sau khi bỏ đicác biểu thức quy chiếu Trường hợp còn lại hơn một yếu tố thì vị tố là yếu tố chủchốt mang gánh nặng từ vựng, là tâm điểm tổ chức để gắn kết các biểu thức quy chiếutrong câu Vị từ có thể là động từ, tính từ, danh từ, kết từ Những tham tố/ vai nghĩa

bắt buộc phải có (để tạo với vị từ một câu trọn vẹn về nghĩa) gọi là diễn tố Những tham tố không mang tính bắt buộc được gọi là chu tố.

Chẳng hạn, các cấu trúc đặc trưng- vai nghĩa (có vị từ là động từ, tính từ, danhtừ) như:

(1) Con trâu đứng dậy (ĐT một tham thể; vật chất; động)

(2) Chúng tôi coi Hồng như người chị (ĐT ba tham thể; tinh thần; tĩnh)

(3) Cậu bé lớn lên như thổi (TT hai tham thể; vật chất; biến động)

(4) Cầu vồng rất đẹp (TT một tham thể, vật chất, tĩnh)

(5) Cái đồng hồ này hai kim (DT một tham thể, quan hệ sở hữu, tĩnh)

Hay các cấu trúc quan hệ- vai nghĩa mà vị từ là kết từ hoặc động từ quan

hệ như:

+ Cấu trúc biểu thị sự việc có quan hệ nguyên nhân:

Việc này tại nó

[thể kết quả] [qh nguyên nhân] [thể nguyên nhân]

Trang 21

+ Cấu trúc biểu thị sự việc có quan hệ vật - nguyên liệu:

Cái ô tô này bằng nhựa

[vật] [qh nguyên liệu] [ nguyên liệu]

+ Cấu trúc biểu thị sự việc có quan hệ biến hoá:

Tằm hoá thành nhộng

[nguyên thể] [quan hệ biến hóa] [thể kết quả (biến hoá)]

Mỗi một sự tình được biểu đạt bằng một cú Cú là đơn vị được làm thành từmột khúc đoạn ngôn ngữ tập trung xung quanh một vị tố, được dùng để diễn tả một

sự tình Một câu có thể bao hàm một số cú

Một sự tình có thể được nhìn nhận, diễn đạt theo những cách khác nhau Đó là

sự khác nhau do cấu trúc các ngôn ngữ, do phương tiện cụ thể của một ngôn ngữ, docách nhìn nhận của từng con người, từng lần nhìn nhận của một con người,… (theo[25 tr.92-103])

1.2.1.2 Phân loại các kiểu sự tình

a Tiêu chí phân loại

Mai nói đi! (+) - Mai mệt đi! (-)

Mai cố gắng nói (+) - Mai cố gắng mệt (-)

Mai hứa sẽ nói (+) - Mai hứa sẽ mệt (-)

Mai nói hộ tôi (+) - Mai mệt hộ tôi (-)

*Tính [+/- động]

Một sự tình [+ động] liên quan đến một sự thay đổi nào đó Ngược lại, một

sự tình [- động] là sự tình được tri nhận là không liên quan đến bất kì sự thay đổinào Ví dụ:

Trang 22

(1) Cái áo màu nâu [- động] (3) Cái áo trở thành có màu nâu [+ động]

(2) Cô ấy chăm chỉ [- động] (4) Cô ấy trở nên chăm chỉ [+ động]

Trong ví dụ (1), (2), màu nâu và tính chăm chỉ có sẵn ở cái áo và cô ấy, trước

sau không đổi Ở ví dụ (3), (4), thì tình hình ngược lại

Các sự tình [+ động] phân biệt với sự tình [- động] ở khả năng dung nạp cácngữ đoạn chỉ tốc độ diễn tiến của sự tình hoặc định vị sự tình trong tham chiếu vớimột thời gian nào đó Ví dụ:

(5) Đột nhiên cái áo trở thành có màu nâu (+)

(6) Cô ấy nhanh chóng trở nên chăm chỉ (+)

Trong hai ví dụ trên, đột nhiên là ngữ đoạn chỉ tốc độ diễn biến của sự tình, nhanh chóng thì định vị sự tình trong tham chiếu với một thời gian nào đó:

* Tính [+/- hữu kết]

Sự tình [+ hữu kết] là sự tình kết thúc tự nhiên Sự tình [- hữu kết] là sự tìnhkhông có sự kết thúc, hoặc không được nhìn từ góc độ quá trình có sự kết thúc Ví dụ:

(1) Nó chạy đến công viên.[+ hữu kết]

(2) Quả bom nổ.[- hữu kết]

(3) Hồ Gươm ở Hà Nội.[- hữu kết]

(4) Nó chạy trong công viên.[- hữu kết]

* Tính [+/- nhất thời]

Sự tình [+ hữu kết] có thể phân biệt theo tính [+/- nhất thời] Sự tình [+/- nhấtthời] là sự tình mà điểm bắt đầu và kết thúc có thể coi là trùng nhau, tức điểm khởiđầu cũng là điểm kết thúc Sự tình này còn được gọi là sự tình điểm tính Ví dụ:

(5) Quả bom nổ.[+ nhất thời] (6) Cậu bé giật mình.[+ nhất thời]

Sự tình [- nhất thời] là sự tình mà điểm bắt đầu và kết thúc không trùnglàm một

(7) Nó giảng cách làm bài toán khó cho cậu em.[- nhất thời]

Trong tiếng Việt có thể phân biệt hai sự tình bằng khả năng kết hợp với phó từ

đang, vị từ tình thái tính tiếp tục, thôi Các sự tình [- nhất thời] có khả năng kết hợp

với các từ này

Ngoài các tính chất được coi là những tham số ngữ nghĩa chính trên, một sốnhà ngôn ngữ học còn dùng các tham số ngữ nghĩa khác như tính [+/- chuyển tác],[+/- nội tại], [+/- định vị], [+/- thường tồn], [+/- thể chất]

Trang 23

b Kết quả phân loại sự tình

Dik (1989, 98) lại phân loại sự tình như sau

Sự tình

[- động] [+ động]

Tình hình Biến cố

[+/- hữu kết] [- hữu kết] [+ hữu kết] [- hữu kết]

Nhiệm vụ Hoạt động Thay đổi Công năng

Để phù hợp với điều kiện nghiên cứu của đề tài, chúng tôi phân loại các sự tìnhtrong những câu khảo sát theo Dik Và chọn phân loại đến bậc thứ hai, thành 4 lại sự

tình: tư thế, trạng thái, hành động, quá trình Nhưng riêng sự tình trạng thái, chúng tôi xin đổi tên là sự tình tính chất, quan hệ để cho sát với ý nghĩa của nó (theo [24.

tr.106])

1.2.2 Nghĩa tình thái

1.2.2.1 Khái niệm nghĩa tình thái

Chúng tôi theo quan niệm của tác giả Nguyễn Thị Nhung về nghĩa tình thái

“Nghĩa tình thái là một bộ phận nghĩa của câu, giúp biến nội dung mệnh đề ởthế tiềm năng trở thành các phát ngôn khi giao tiếp Nó bao gồm tất cả những gì màngười nói thể hiện kèm theo nội dung mệnh đề khi thực hiện một lời nói, nhằm biểuthị quan hệ của điều được nói đến trong câu với hiện thực khách quan; biểu thị nhậnthức, sự đánh giá, cảm xúc của người nói với điều được nói đến trong câu, và mongmuốn, thái độ của người nói với người nghe.” [27, tr.28]

Nghĩa tình thái có vị trí bên cạnh nghĩa miêu tả, có một vai trò hết sức quantrọng trong lời nói Nghĩa tình thái được thể hiện kèm theo nội dung mệnh đề - cái thểhiện thành tố nghĩa miêu tả- khi thực hiện một câu nói, giúp biến nội dung mệnh đề ởthế tiềm năng trở thành các phát ngôn khi giao tiếp Nghĩa tình thái khác nghĩa hàm

ẩn ở chỗ được tiếp nhận được một cách trực tiếp bằng các từ ngữ có trong câu

Trang 24

Nghĩa tình thái của câu là thứ tình thái không được đánh giá qua từ cô lập, màtrong câu Một từ tình thái có thể có tính chủ quan trong một số cách dùng, nhưngkhông có trong những cách khác Nghĩa tình thái có một vai trò hết sức quan trọngtrong câu Nếu như câu là đơn vị cơ sở của giao tiếp thì nghĩa tình thái là linh hồn củacâu

1.2.2.2 Sự phân loại nghĩa tình thái của câu tiếng Việt

Chúng tôi theo quan điểm của tác giả Nguyễn Thị Nhung về sự phân loạinghĩa tình thái

A Quan điểm phân loại

Qua phân tích ưu nhược điểm của những cách phân loại đã có, chúng tôi xinđưa ra quan điểm về sự phân loại các thành phần nghĩa tình thái của câu tiếng Việtnhư sau:

1) Sự phân loại nghĩa tình thái của câu tiếng Việt phải phù hợp với đặc điểmtiếng Việt

2) Cách phân loại cần đem tới kết quả là các nhóm, tiểu nhóm và sắc tháinghĩa tình thái trong mỗi nhóm loại phải tạo thành một hệ thống Giữa các đơn vịkhác cấp độ phải có quan hệ chỉnh thể - bộ phận Giữa các đơn vị cùng cấp độ phải cómột đường ranh giới nhất định

B Tiêu chí phân loại và kết quả sơ bộ

1) Dựa vào tính ± chủ quan để phân chia các nhóm nghĩa tình thái

Thuật ngữ chủ quan ở đây cần hiểu là lấy cái tôi của người nói làm trung tâm

để chi phối các hệ tọa độ Tính chủ quan thể hiện ở vai trò của người nói, còn tínhkhách quan thì thể hiện ở sự loại trừ vai trò của người nói Tiêu chí chính để xác địnhtính chủ quan trong nghĩa tình thái của câu là phải nhận diện được người nói ra câu

đó Việc nhận diện có thể tiến hành qua các dấu ấn thể hiện cái tôi, cái bản ngã của chủ thể như các phương tiện trực chỉ (tôi, tao, mày, hôm nay, hôm qua, đây, kia, ).

Các tiêu chí tiếp theo là cam kết của người nói, rồi sự phân định giữa biểu hiện tìnhthái và nội dung mệnh đề Tính chủ quan ở trong nghĩa của câu cao hay thấp thể hiện

ở chỗ câu đáp ứng nhiều hay ít các tiêu chí trên

Tính ± chủ quan là đặc điểm điển hình của nghĩa tình thái nên là tiêu chí hàngđầu để phân loại nghĩa tình thái Theo tiêu chí này, nghĩa tình thái trước hết đượcphân thành 2 nhóm lớn: nhóm nghĩa tình thái có tính chủ quan (+ chủ quan) gọi là

Trang 25

nghĩa tình thái chủ quan và nhóm nghĩa tình thái không có tính chủ quan (- chủ quan)gọi là nhóm NTTKQ Nhóm NTTCQ có dung lượng ngữ nghĩa rộng hơn dung lượngngữ nghĩa của tình thái khách quan và hết sức phức tạp nên sẽ là mối quan tâm chủyếu tiếp theo của chúng tôi

2) Dựa vào đối tượng có quan hệ với người nói để phân chia các tiểu nhóm NTTCQ

Do tính chủ quan là sự tập trung vào người nói nên các tiểu nhóm nằm trong

nhóm nghĩa tình thái chủ quan cần phải được phân xuất dựa vào tiêu chí các đối tượng có quan hệ với người nói Mà qua câu thì người nói thường có quan hệ với hai

đối tượng: điều được nói tới trong câu và người nghe Vì vậy, các quan hệ đó là tiêu

chí thứ hai để tiếp tục chia nhóm nghĩa tình thái chủ quan thành 2 tiểu nhóm là tiểu nhóm biểu thị quan hệ giữa người nói với điều được nói tới trong câu và tiểu nhóm biểu thị quan hệ giữa người nói với người nghe.

3) Dựa vào kiểu quan hệ có thể xác lập giữa người nói với từng đối tượng để phân chia các loại nghĩa tình thái trong hai tiểu nhóm NTTCQ

Với đối tượng được nói tới trong câu, người nói có thể bộc lộ sự hiểu biết vềđối tượng, sự nhận định về giá trị của đối tượng hay tình cảm, cảm xúc với đối tượng

Vì vậy, tiểu nhóm biểu thị quan hệ giữa người nói với đối tượng được nói tới sẽ bao gồm 3 loại nghĩa tình thái: NTTNT, NTTĐG và NTTCX.

Với người nghe, người nói có thể bộc lộ những mong muốn hay thái độ, tình

cảm Vì vậy, tiểu nhóm biểu thị quan hệ giữa người nói với người nghe gồm: nghĩa tình thái tập trung vào nghĩa vụ hay sự cho phép - gọi là NTTĐL và nghĩa tình thái biểu thị tình cảm, thái độ với người nghe - gọi là NTTTĐ.

4) Tiêu chí phân chia các sắc thái của mỗi loại nghĩa tình thái

4.a) Tính khả năng và tính tất yếu/ bắt buộc, tính hiện thực và tính phi hiện thực Tính khả năng phản ánh xác suất có mặt hay vắng mặt của một đặc trưng nhất

định ở đối tượng, tức đối tượng có thể mang đặc trưng đó ít nhất trong một thế giớikhả hữu nào đó

Tính tất yếu phản ánh đặc trưng được gán cho đối tượng ở mọi điều kiện, tức đối tượng mang đặc trưng đó ở mọi thế giới khả hữu Với tất yếu, nó là trường hợp

thực trị có một trong hai cực giá trị (ĐÚNG/ SAI), có thể coi là thuộc tính của sự vật

Trang 26

mà con người nhận thức được Còn bắt buộc phản ánh đặc trưng xét về trách nhiệm của tác thể hành động với gia đình, xã hội Mối quan hệ giữa tất yếu hay bắt buộc và khả năng là tất cả những cái mang tính tất yếu/ bắt buộc đều mang tính khả năng nhưng những cái mang tính khả năng thì chưa chắc đã mang tính tất yếu/ bắt buộc.

Diễn tả khả năng và tất yếu/ bắt buộc là vấn đề nòng cốt của tình thái, chúng

Tính khả năng và tính tất yếu/ bắt buộc, tính hiện thực và tính phi hiện thực là

những thuộc tính của nghĩa tình thái khách quan, nghĩa tình thái nhận thức và nghĩatình thái đạo lí nên chúng được chọn làm tiêu chí phân chia sắc thái của các loại nghĩatình thái này Chẳng hạn, nghĩa tình thái nhận thức sẽ có các sắc thái: khả năng hiệnthực, khả năng phi hiện thực, tất yếu hiện thực, tất yếu phi hiện thực

4.b) Các tiêu chí khác

Để phân chia các sắc thái của nghĩa tình thái cảm xúc và nghĩa tình thái thái

độ có thể dựa vào các xu hướng chính của cảm xúc hay thái độ, đó là tính tích cực, tiêu cực hay trung hòa Riêng với nghĩa tình thái đánh giá, có thể chọn các đối tượng được đánh giá làm tiêu chí phân loại, đó là lượng và chất.

Đến đây, có thể hình dung sự phân loại nghĩa tình thái của câu tiếng Việt qua

sơ đồ sau:

Trang 27

Sơ đồ phân loại nghĩa tình thái của câu tiếng Việt

NTT CỦA CÂU TIẾNG VIỆT

Nhóm NTTKQ Nhóm NTTCQ

Trang 28

ST CX tiêu cực

ST CX trung hòa

NTTĐL

ST KN HT

ST KN PHT

ST BB HT

ST BB PHT

Tiểu nhóm biểu thị quan hệ giữa

người nói với điều được nói tới Tiểu nhóm biểu thị quan hệ giữangười nói với người nghe

KN KN ĐG

PHT về

ST TĐ tích cực

ST TĐ tiêu cực

ST

TY TY ĐG

PHT về

(Ghi chú viết tắt: Nghĩa tình thái khách quan: NTTKQ; Nghĩa tình thái chủ quan: NTTCQ;

Nghĩa tình thái nhận thức: NTTNT; Nghĩa tình thái đánh giá: NTTĐG; Nghĩa tình thái cảm xúc: NTTCX; Nghĩa tình thái đạo lí: NTTĐL; Nghĩa tình thái thái độ: NTTTĐ; Sắc thái khả năng hiện thực: STKNHT; Sắc thái khả năng phi hiện thực: STKNPHT; Sắc thái tất yếu hiện thực: STTYHT; Sắc thái tất yếu phi hiện thực: STTYPHT; Sắc thái bắt buộc hiện thực: STBBHT; Sắc thái bắt buộc phi hiện thực: STBBPHT; Sắc thái đánh giá: STĐG, Sắc thái cảm xúc: STCX; Sắc thái thái độ: STTĐ).

Trang 29

C Miêu tả hệ thống nghĩa tình thái chủ quan của câu tiếng Việt

Nghĩa tình thái của câu tiếng Việt gồm NTTCQ và NTTKQ, nhưng chúng tôichỉ đi sâu vào NTTCQ

C.1 Tiểu nhóm nghĩa tình thái biểu thị quan hệ giữa người nói với điều được

Trang 30

nói tới

C.1.1 Nghĩa tình thái nhận thức

a) Khái niệm, đặc điểm

Nghĩa tình thái nhận thức là một loại của tiểu nhóm nghĩa tình thái biểu thị quan hệ giữa người nói với điều được nói tới nằm trong nhóm nghĩa tình thái chủ quan, thể hiện sự hiểu biết của người nói bao gồm cả sự xác nhận cũng như những

cam kết của cá nhân người nói đối với tính chân thật của điều được nói ra trong câu.Tính chủ quan trong nghĩa tình thái nhận thức thể hiện ở những bằng chứng về kinhnghiệm, về sự cảm nhận tức thời qua các giác quan, về thông tin nghe qua người kháchay về sự suy luận mang tính cá nhân của người nói nhằm thể hiện những cam kết cóphạm vi, mức độ vào tính chân thực của điều được nói ra

Có thể xếp vào đây cả thứ nghĩa tình thái mà Diệp Quang Ban gọi là tình thái

ý kiến - tức bộ phận nghĩa tình thái dùng để diễn đạt ý kiến của người nói đối với điều

được nói đến trong câu [1, tr.204], bởi các biểu thức thể hiện nó thường có giá trị camkết về phạm vi tác động hay mức độ hiệu lực, khẳng định giá trị tương đối hay có sựxác thực hạn chế của nội dung sự việc nói trong câu Ví dụ:

(5a) Theo mẹ, con chưa chăm đâu.

(5b) Thật ra, các bà muốn xem Chí Phèo làm ăn ra sao? (Nam Cao)

Những phương tiện chính biểu thị nghĩa tình thái nhận thức là các động từ chỉ

khả năng, cảm nghĩ (có thể, chưa thể, nghĩ, e ), các tổ hợp từ và quán ngữ (làm như thể, chưa biết chừng, nói trộm vía, ), các cặp tác tử (hễ thì, giá thì, ) và các cụm chủ - vị (tôi sợ rằng, tôi tưởng rằng, ).

b) Các sắc thái của nghĩa tình thái nhận thức

* Sắc thái nghĩa tình thái nhận thức khả năng hiện thực

Ở sắc thái này, người nói không cam kết điều mình nói là đúng hay sai, mà chỉđưa ra phỏng đoán về một điều gì đó có thể đã xảy ra, đang, sẽ xảy ra nhưng ngườinói không biết chắc chắn Cơ sở của những phỏng đoán ở đây có thể là các hiểu biết

Trang 31

trước đó mà người nói học tập hoặc trải nghiệm, những cảm nhận tức thời hay những thông tin không chính thức mà người nói nghe được về đối tượng được nói tới.

Sắc thái này lại bao gồm các tiểu sắc thái:

- Thiên về khẳng định điều nói trong câu là có thật, ví dụ:

(7) Chắc nó trừ mình ra (Nam Cao)

Loại tình thái ý kiến theo cách phân loại của Diệp Quang Ban cũng thuộc

nhóm này

- Nửa tin nửa ngờ về tính chân thực, ví dụ:

(8) Có lẽ cụ lớn chết rồi (Nguyễn Huy Tưởng)

* Sắc thái nghĩa tình thái nhận thức khả năng phi hiện thực

Đây là trường hợp người nói không cam kết điều mình nói là đúng hay sai, màchỉ đưa ra phỏng đoán về khả năng không có thật, không xảy ra của điều được nói tới,dựa trên những cơ sở như trên Ví dụ:

(9) Chẳng lẽ ông không xao xuyến chút gì? (Lưu Quang Vũ)

* Sắc thái nghĩa tình thái nhận thức tất yếu hiện thực

Ở trường hợp này, người nói khẳng định tính chân lí của điều được nói đếntrong câu trên cơ sở những hiểu biết, trải nghiệm, quan sát thực tế của mình, hoặc sựsuy luận dựa vào các lẽ thường hay luận cứ trong câu Ví dụ:

(10) Chắc chắn họ không trông thấy chúng tôi (Nguyễn Minh Châu)

* Sắc thái nghĩa tình thái nhận thức tất yếu phi hiện thực

Đây là trường hợp dùng để khẳng định tính chân lí của một nội dung mangtính phủ định được nói đến trong câu Người nói cam kết điều nói trong câu là saihoặc không có khả năng xảy ra, cũng dựa trên cơ sở là những hiểu biết, trải nghiệmhay sự suy luận Ví dụ:

(11) Tao không đến đây xin năm hào (Nam Cao)

C.1.2 Nghĩa tình thái đánh giá

a) Khái niệm, đặc điểm

Nghĩa tình thái đánh giá là một loại của tiểu nhóm nghĩa tình thái biểu thị quan hệ giữa người nói với điều được nói tới nằm trong nhóm Nghĩa tình thái chủ quan, biểu thị sự đánh giá của người nói về sự thể được nói tới trong câu Phương

tiện chính để biểu thị loại nghĩa này là các trợ từ, tổ hợp từ biểu thị sự đánh giá và cáckết cấu có cặp phó từ, cặp kết từ

Trang 32

b) Các sắc thái

* Nhóm sắc thái nghĩa tình thái đánh giá về lượng

Nhóm sắc thái này rất phong phú, gồm những đánh giá về lượng, mức độ, tínhcực cấp tồn tại theo từng cặp mang ý nghĩa đối lập:

- Đánh giá về lượng nhiều/ ít của sự vật, ví dụ:

(12) Cháu ăn mỗi vài thìa cháo.

- Đánh giá về tính chất ngắn/ dài, sớm/ muộn của thời gian; gần/ xa của khônggian; nhanh/ chậm của tốc độ; Ví dụ:

(13) A Phủ mới 10 tuổi (Tô Hoài)

(14) Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa (Tố Hữu)

- Đánh giá về mức độ cao/ thấp của tính chất, trạng thái, ví dụ:

(15) Lòng cậu học trò phơi phới làm sao! (Xuân Diệu)

(16) Cậu đã cố gắng là mấy đâu.

- Đánh giá về tính cực cấp của con số, tính chất, trạng thái, ví dụ:

(17) Ít nhất thì nó cũng phải có dăm chục triệu chứ.

(18) Cùng lắm thì nó có ba chục triệu.

* Nhóm sắc thái nghĩa tình thái đánh giá về chất

Nhóm này bao gồm những đánh giá về tính tích cực hay tiêu cực, hợp lí haykhông hợp lí, ưu thế, tính bất ngờ, bất thường, và tầm quan trọng của thông tin (nhấnmạnh thông tin)

- Đánh giá về tính tích cực hay tiêu cực là đánh giá rằng hiện tượng nào đó cótác dụng thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển, nảy sinh những điều tốt đẹp Ví dụ:

(19) Nhà vua, may sao, vẫn còn tỉnh táo để nhận ra mối nguy cơ đó (Trần

Đức Tiến)

(20) vui lẻ thì có hay hớm gì (Nguyễn Khải)

- Đánh giá về tính hợp lí hay không hợp lí biểu hiện ở chỗ người nói cho rằng

sự thể được nói tới trong câu nên hay không nên tồn tại Ở nội dung nghĩa này thường

có kèm nét nghĩa biểu thị sự mong muốn, tiếc nuối Ví dụ:

(21) Đáng lẽ gặp khó khăn phải nói với anh.

- Đánh giá về ưu thế là sự đánh giá rằng, dù đều không hay nhưng điều A còntốt hơn, có ưu thế hơn điều B Ví dụ:

Trang 33

(22) Thà ăn cơm rau sạch còn hơn ăn thịt cá chẳng rõ nguồn gốc.

- Đánh giá về tính bất ngờ, bất thường, hiếm có nhằm biểu thị rằng, điều nóitới trong câu nằm ngoài dự tính của người nói hoặc khác với thường lệ Ví dụ:

(23) Không ngờ thị về thật (Kim Lân)

- Đánh giá về tầm quan trọng của thông tin là sự nhấn mạnh nêu bật thông tinquan trọng đáng chú ý trong văn bản để hướng dẫn người nghe phân bổ sự chú ý củamình một cách thích hợp và xử lí chúng chính xác Ví dụ:

(24) Nói cho thật, Dũng mới là nhân vật chính, (Nguyễn Khải)

Ở loại nghĩa tình thái đánh giá, cũng cần nói thêm rằng, có những trường hợpmột phương tiện nhưng có thể biểu hiện một vài sắc thái đánh giá Đặc biệt là khi xétcác sắc thái không nên chỉ dựa vào biểu thức tình thái mà phải dựa vào ý nghĩa của cảcâu Đôi khi, một biểu thức trong câu vừa biểu thị nghĩa tình thái đánh giá vừa thểhiện một loại nghĩa tình thái chủ quan khác

C.1.3 Nghĩa tình thái cảm xúc

a) Khái niệm, đặc điểm

Nghĩa tình thái cảm xúc là một loại của tiểu nhóm nghĩa tình thái biểu thị quan

hệ giữa người nói với điều được nói tới, nằm trong nhóm Nghĩa tình thái chủ quan

biểu thị các cung bậc của cảm xúc hay thái độ của người nói với điều được đề cậptrong câu

Phương tiện chủ yếu để bộc lộ nghĩa tình thái cảm xúc là các thán từ biểu thịtiếng kêu la, tiếng than, tiếng than gọi kèm sự hỗ trợ đặc biệt của ngữ điệu, nét mặt, cửchỉ Trong mỗi tình huống, một biểu thức ngôn ngữ có thể biểu thị một số cảm xúc,thái độ khác nhau Thậm chí, trong một tình huống, một phương tiện cũng có thể biểu

thị một số cảm xúc đan xen nhau Chẳng hạn như ôi là thán từ vừa có thể biểu lộ sự

xúc động mạnh mẽ trước điều bất ngờ (khi được thể hiện bằng ngữ điệu to, kéo dài),vừa biểu lộ ý than thở (ngữ điệu nhỏ, ngắn) hay để bày tỏ tình cảm tha thiết (bằng ngữđiệu nhỏ, kéo dài) trong từng ngữ cảnh

b) Các sắc thái

Vì rất khó phân tách và khó có thể kể hết các sắc thái cảm xúc trong nghĩa tìnhthái cảm xúc, cho nên chỉ phân biệt các nhóm đối lập nhau rõ ràng là nhóm sắc tháicảm xúc tích cực, nhóm sắc thái cảm xúc tiêu cực và nhóm sắc thái cảm xúc trung

Trang 34

tính Trong mỗi nhóm, chúng tôi sẽ đề cập đến một số sắc thái cảm xúc thường gặp.Vẫn còn nhiều sắc thái cảm xúc với điều được nói tới được người nói thường biểu thịđơn thuần bằng ngữ điệu (kèm cử chỉ, nét mặt) như ưa thích, xúc động, dửng dưng,ghê tởm, khó kể ra hết ở đây.

- Sắc thái thích thú, sung sướng, ví dụ:

(26) Ôi, chữ cô giáo này! (Hà Đình Cẩn)

- Sắc thái ngưỡng mộ, tự hào, ví dụ:

(27) Chà, quả là đáng nể!

- Sắc thái tán thưởng, khen ngợi, ví dụ:

(28) Cậu có cái tên mới đẹp làm sao! (Trần Hồng Thắng)

* Nhóm sắc thái cảm xúc tiêu cực

Đây là những xúc cảm biểu hiện sự không thỏa mãn, có thể làm mất hứng thú, giảm nghị lực của con người, bao gồm:

- Sắc thái băn khoăn, lo lắng, ví dụ:

(29) Rồi đây biết làm ăn, buôn bán ra sao? (Kim Lân).

- Sắc thái sợ hãi, ghê sợ, ví dụ:

(30) Lo thay! Nguy thay! (Phạm Duy Tốn)

- Sắc thái buồn khổ, nuối tiếc, xót xa, ví dụ:

(31) Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu? (Thế Lữ)

- Sắc thái đau đớn về thể xác hay tinh thần, ví dụ:

(32) Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt gian! (Kim Lân)

- Sắc thái khó chịu, chán ghét, cay cú, bực bội, tức giận, ví dụ:

(33) Tiên sư cái anh già! (Nguyễn Khải).

- Sắc thái tuyệt vọng, cam chịu, ví dụ:

(34) Thôi thì thôi có tiếc gì! (Nguyễn Du)

Trang 35

* Nhóm sắc thái cảm xúc trung tính

Thuật ngữ này được dùng để chỉ nhóm xúc cảm có tính đan xen giữa xúc cảmtích cực và tiêu cực nhưng đều ở cường độ vừa phải, hoặc loại cảm xúc về cơ bảnchưa làm mất đi trạng thái cân bằng trong tinh thần của con người, bao gồm:

- Sắc thái phân vân, ví dụ:

(35) Thôi thì là, thì là giải quyết thế vậy.

- Sắc thái phấp phỏng buồn lo, hi vọng, ví dụ:

(36) Liệu có thật không hở bác? Hay là chỉ lại (Kim Lân)

- Sắc thái ngạc nhiên, ví dụ:

(37) - Úi, đã về à?

C.2 Tiểu nhóm nghĩa tình thái biểu thị quan hệ giữa người nói với người nghe

C.2.1 Nghĩa tình thái đạo lý

a) Khái niệm, đặc điểm

Nghĩa tình thái đạo lý là loại của tiểu nhóm nghĩa tình thái biểu thị quan hệ giữa người nói với người nghe nằm trong nhóm nghĩa tình thái chủ quan thể hiện hiện

ý chí, mức độ áp đặt của người nói đối với hành động do một người nào đó hay chínhngười nói thực hiện dựa trên những quy tắc, chế định mà một cộng đồng xã hội quyước hay nhà nước đặt ra, hoặc những nguyên tắc của một loại hành động bắt buộcphải tuân theo cho hợp với quy luật tự nhiên hay xã hội Trong nghĩa tình thái đạo lý,tính chủ quan thể hiện ở thái độ, ý chí và mong muốn của người nói đối với hànhđộng Người nói cho rằng hành động là bắt buộc, là bị cấm đoán, là được phép hayđược miễn trừ Qua đó, người nói thể hiện mong muốn người nghe thực hiện hànhđộng hay ý chí tự mình thực hiện hành động

Phương tiện chính biểu thị nghĩa tình thái đạo lý là ngữ điệu, các động từ tình

thái, động từ ngôn hành, phó từ, tình thái từ (cần, yêu cầu, hãy, đi, ), các tổ hợp tình thái (làm phúc, hay là, ), kết cấu có cặp hư từ (cứ thì).

Trong nghĩa tình thái đạo lý, cần phân biệt ý chí mạnh, ý chí yếu; ý chí trong,

ý chí ngoài và ý chí chủ thể

Ý chí mạnh liên quan tới ám chỉ rằng có trở ngại thực tế hoặc ý chí ngoài nào

có thể ngăn cản sự hoàn thành của hành động Trường hợp (38) “Tôi sẽ ở đây.” chứa

ý có thể nói rõ ra nhờ việc thêm vào “…dù anh có thích hay không” Ý chí mạnh là

cơ sở của sắc thái bắt buộc (tương ứng với hành động yêu cầu, ra lệnh, thề) trongnghĩa tình thái đạo lý

Trang 36

Ý chí yếu (hay sự sẵn lòng) cũng liên quan tới ám chỉ rằng có sự xuất hiện của

ý chí ngoài nào đó điều khiển việc hoàn thành của hành động Do đó, (39) “Ok, tôi sẽ

ở lại.” có thể là câu trả lời trước yêu cầu của người nghe với ý “Tôi sẵn lòng ở lại” (dù “Tôi không có ham muốn ở lại”) Phân biệt ý chí mạnh và ý chí yếu là cơ sở để

phân biệt hai nhóm sắc thái bắt buộc và khả năng trong nghĩa tình thái đạo lý

b) Các sắc thái

Sự phân loại nghĩa tình thái đạo lý giống với sự phân loại nghĩa tình thái nhậnthức cũng dựa trên tính khả năng, tính hiện thực Điểm khác chỉ là nghĩa tình thái đạo

lý không dựa trên tính tất yếu mà dựa trên tính bắt buộc Ngoài ra, ở mỗi sắc thái còn

có biểu hiện của ý chí ngoài và ý chí chủ thể

* Sắc thái nghĩa khả năng hiện thực

Đây là sắc thái biểu thị rằng hành động nêu trong câu có thể trở thành hiệnthực bởi nó phù hợp về mặt đạo lí Đó là hành động được cho phép, được khuyên, yêucầu hay xin cho diễn ra (ý chí ngoài), hoặc đang xin phép, ngỏ ý hay hứa (ý chí chủthể) để được thực hiện Sắc thái này được coi là biểu thị ý chí yếu hay sự sẵn lòng Vídụ:

(40) Cố gắng học cho tốt nghe!

(41) Xin tướng quân sinh phúc (Nguyễn Huy Tưởng)

* Sắc thái nghĩa khả năng phi hiện thực

Sắc thái này biểu thị rằng hành động nêu trong câu có thể không trở thành hiệnthực Bởi nó được phép không thực hiện do về mặt đạo lí, tác thể được nói tới trongcâu (có thể là chính chủ thể lời nói) không phải có trách nhiệm thực hiện hành động

đó Sắc thái này cũng được coi là có ý chí yếu, là sự miễn trừ hay tự miễn trừ Nó liênquan đến sự xuất hiện của ý chí ngoài nào đó hoặc ý chí chủ thể điều khiển sự phủđịnh một hành động Ví dụ:

(42) Hà tất con phải nhiều quà mới thể hiện được tình cảm với mẹ (Lời người

mẹ) (43) (Nhặt mãi từ sáng đến giờ mới được ba mẩu khoai ranh!) Con

không

phải tội mà bới nữa (Ngô Tất Tố)

* Sắc thái nghĩa bắt buộc hiện thực

Đây là sắc thái biểu thị rằng hành động nêu trong câu buộc phải được thựchiện vì về mặt đạo lí, tác thể được nói tới trong câu phải có trách nhiệm thực hiện

Trang 37

hành động đó Ý chí ngoài hay ý chí chủ thể ở đây đều mang tính chất mạnh Đó là sựbắt buộc hay tự ép buộc Ví dụ:

Trang 38

(44) Hãy nói cho ta biết vì sao cháu cười được! (Trần Đức Tiến)

(45) Đời nào cháu quên ơn hai bác.

* Sắc thái nghĩa bắt buộc phi hiện thực

Sắc thái này biểu thị rằng hành động, trạng thái nêu trong câu buộc khôngđược thực hiện hay không được diễn ra vì về mặt đạo lí, tác thể được nói tới trong câuphải có trách nhiệm không thực hiện hành động đó hay không để điều đó diễn ra Đâycũng có thể là ý chí ngoài hay ý chí chủ thể, mang tính chất mạnh Ví dụ:

(46) Đừng để phí tài trời! (Nguyễn Huy Tưởng)

(47) Chúng con không dám nói dối cửa cụ (Ngô Tất Tố)

C.2.2 Nghĩa tình thái thái độ

a) Khái niệm, đặc điểm

Nghĩa tình thái thái độ là loại của tiểu nhóm nghĩa tình thái biểu thị quan hệ giữa người nói với người nghe nằm trong nhóm nghĩa tình thái chủ quan, cho thấy

tình cảm, thái độ, quan hệ của người nói đối với người nghe Loại nghĩa tình thái này

chủ yếu được biểu hiện bằng ngữ điệu, các đại từ, danh từ xưng hô (tao, chú, giáo sư, nhóc, đằng ấy), động từ hô gọi (thưa, lạy, ), tình thái từ (ạ, nhỉ, nhé,…), thán từ (nè, vâng, ờ, ), dạng kết cấu ngữ pháp của câu (đầy đủ hay tỉnh lược), câu chửi rủa Mỗi

phương tiện biểu thị nghĩa tình thái thái độ có thể biểu thị những sắc thái nghĩa tìnhthái thái độ khác nhau trong những tình huống khác nhau

b) Các sắc thái

Các sắc thái nghĩa tình thái thái độ được tạo thành bởi tổng hợp các phươngdiện: lĩnh vực giao tiếp, quan hệ, thái độ, tình cảm giữa người nói với người nghe.Lĩnh vực có thể là gia đình hay xã hội; quan hệ là bằng vai hay không bằng vai (xácđịnh bằng tuổi tác, địa vị xã hội giữa người nói với người nghe); thái độ chủ yếu làtôn trọng hay không tôn trọng; còn tình cảm chủ yếu là yêu hay ghét

Có thể chia nghĩa tình thái thái độ thành 2 nhóm chính: nhóm sắc thái tích cực

và nhóm sắc thái tiêu cực Cũng như nghĩa tình thái cảm xúc, sự phân chia các sắcthái trong mỗi nhóm chỉ là tương đối

* Nhóm sắc thái tích cực

- Sắc thái khen ngợi, đồng tình, ví dụ:

(48) Khôn! (Nguyễn Thi)

(49) Ừ, ừ ! (Nguyễn Minh Châu)

Trang 39

- Sắc thái thân mật trìu mến, ví dụ:

(50) Thầy em về rồi à? (Vợ gọi thay vai con)

- Sắc thái thân mật + ý nhị, ví dụ:

(51) - Đằng ấy không vui ư?

- Sắc thái thân mật + lịch sự (thân mật nhưng vẫn giữ khoảng cách), ví dụ:

(52) Anh Chí ơi, sao anh lại làm ra thế? (Nam Cao)

- Sắc thái thân mật + suồng sã, ví dụ:

(53) Ữ, thì thôi Mẹ mày! (Nam Cao)

- Sắc thái lịch sự, tôn trọng, ví dụ:

(54) Xin đa tạ tấm lòng tri kỉ (Nguyễn Huy Tưởng)

* Nhóm sắc thái tiêu cực

- Sắc thái căm ghét, giận dữ, bực tức, oán hờn, ví dụ:

(55) Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ! (Nguyễn Minh Châu)

- Sắc thái trịch thượng, khinh miệt, ví dụ:

(56) Điếu, mày! (Phạm Duy Tốn)

- Sắc thái quỵ lụy, ví dụ:

(57) Lạy thầy thầy nói giúp con thầy làm ơn (Thạch Lam)

- Sắc thái chê cười, mỉa mai, ví dụ:

(58) Vâng, thì anh giỏi!

- Sắc thái lạnh nhạt, trách móc, ví dụ:

(59) Chỉ tại ông không nghe tôi, dùng dằng mãi (Nguyễn Huy Tưởng)

- Sắc thái không đồng tình, đồng ý, ví dụ:

(60) Chả nhẽ tao gọi mày vào chỉ để bóp chân thế này thôi ư? (Nam Cao)

1.3 Các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3 và nội dung, mục đích dạy học tiếng Việt ở bậc tiểu học

1.3.1 Các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3

Các văn bản/ bài tập đọc của các tác giả Việt Nam thuộc phong cách nghệthuật là đối tượng khảo sát của chúng tôi Trong chương trình lớp 2, 3 có 143 vănbản Trong đó, chương trình tiếng Việt lớp 2 có 67 văn bản tập đọc (học kì I: 33 bài;học kì 2: 34 bài, có 54 bài văn xuôi, 13 bài thơ) Chương trình tiếng Việt lớp 3 có 76văn bản (học kì I: 41 bài; học kì 2: 35 bài, có 50 bài văn xuôi, 26 bài thơ)

Trang 40

Nếu như ở lớp 1, học sinh được học theo các chủ điểm tương đối rộng: Nhàtrường, Gia đình, Thiên nhiên và Đất nước thì lên lớp 2, các chủ điểm được chia nhỏhơn Thí dụ: chủ điểm Nhà trường và Gia đình ở lớp 2 được chia thành 8 chủ điểmnhỏ: Em là học sinh, Bạn bè, Trường học, Thầy cô, Cha mẹ, Anh em, Ông bà, Bạn ởtrong nhà Lớp 3, ngoài các chủ điểm đã học ở lớp 1 và 2, học sinh được tiếp cận vớicác chủ điểm mới mở rộng hơn như Quê hương, Cộng đồng, Bắc Trung Nam, Ngôinhà chung, Khoa học, Thể thao, Lễ hội Việc chia nhỏ các chủ điểm phù hợp với sựphát triển nhận thức của trẻ và giúp trẻ duy trì hứng thú học tập, loại trừ cảm giácnhàm chán dễ xảy ra khi học một chủ điểm trong một thời gian quá dài Ở lớp 1, thờigian học dành cho mỗi đơn vị học là 1 tuần; các chủ điểm lần lượt trở đi trở lại theokiểu đồng tâm xoáy ốc; mỗi lần trở lại là một lần khai thác sâu hơn Từ lớp 2 trở lên,mỗi chủ điểm được dạy trong 2 tuần, vòng đồng tâm xoáy ốc thưa hơn Phải sau mộtnăm, học sinh mới trở lại với chủ điểm đã học.

1.3.2 Nội dung, mục đích dạy học tiếng Việt ở bậc tiểu học

a Nội dung dạy học tiếng Việt ở bậc tiểu học

Nội dung dạy học tiếng Việt ở bậc tiểu học bao gồm 3 bộ phận chính có quan

hệ mật thiết với nhau Đó là:

- Kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, đọc, nói, viết) thông qua các hình thứcluyện tập: tập đọc, học thuộc lòng, tập viết, viết chính tả, viết văn bản (tập làm văn),luyện nghe, luyện nói (kể chuyện, làm văn miệng, tập nói trong tình huống giao tiếp)

- Tri thức tiếng Việt gồm một số hiểu biết sơ giản về ngữ âm, chính tả, từ

vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp, văn bản, phong cách Trong đó, tri thức từ vựng, ngữpháp có vai trò trung tâm

- Nội dung ngữ liệu để học tiếng Việt mang tính tích hợp nhằm cung cấp một

số hiểu biết tối thiểu về văn học và cách tiếp cận chúng, về tự nhiên, xã hội, đất nước,con người Việt Nam

(theo [2, tr.18])Các bài tập đọc trên chính là bộ phận ngữ liệu quan trọng thể hiện nội dungdạy học

Ngày đăng: 23/10/2021, 20:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w