Khái niệm nông thôn mới Trong Quyết định Số 800/QĐ-TTg [20] đưa ra mục tiêu chung về xây dựng môhình nông thôn mới: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từngbước h
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
Trang 2Thái Nguyên – 2021
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Mã số: 885 01 01
Người hướng dẫn khoa học: TS Vi Thùy Linh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Lê Thị Hương, xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cánhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Vi Thùy Linh, không sao chépcác công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từngđược công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác
Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, đượctrích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng quy cách
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn
Tác giả
Lê Thị Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian nghiên cứu và học tập tại Trường Đại học Khoa học, Đạihọc Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn tận tình của các thầy cô, tôi đã nghiên cứu vàtiếp thu được nhiều kiến thức bổ ích để vận dụng vào công việc hiện tại, nâng cao trình
độ năng lực của bản thân
Tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới TS Vi Thùy Linh- người đã tận
tìnhhướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi cũng xin cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo - QLKH&HTQ các thầy/côgiáo trong Khoa Tài nguyên và Môi trường, trường Đại học Khoa học, Đại học TháiNguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôitrong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường
Tôi xin gửi lời cám ơn đến các ban, ngành UBND huyện Tân Uyên; cán bộ,công chức Ủy ban nhân dân xã Nậm Sỏ cùng bà con nhân dân trong xã đã giúp đỡ tôithu thập các tài liệu và số liệu phục vụ cho Luận văn trong suốt quá trình thực hiệnnghiên cứu trên địa bàn
Cuối cùng, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân và bạn
bè đã luôn động viên, ủng hộ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Tôi trong suốt quátrình học tập cũng như thực hiện luận văn
Dù đã có nhiều cố gắng nhưng do giới hạn về trình độ nghiên cứu, giới hạn về tàiliệu nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý,chỉ bảo của các thầy cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp để Luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Lê Thị Hương
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
4 Cấu trúc luận văn 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở lý luận 3
1.1.1 Các khái niệm có liên quan 3
1.1.2 Quan điểm về xây dựng nông thôn mới 5
1.1.3 Căn cứ xác định tiêu chí xây dựng nông thôn mới theo bộ NN&PTNT 7
1.1.4 Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới 8
1.1.5 Nội dung chủ yếu về chương trình xây dựng nông thôn mới 9
1.1.6 Các bước xây dựng nông thôn mới 14
1.1.7 Căn cứ pháp lý để xây dựng nông thôn mới 14
1.2 Cơ sở thực tiễn về xây dựng nông thôn mới .15
1.2.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn ở một số nước trên thế giới 15
1.2.2 Tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến nông thôn mới ở Việt Nam 18
1.2.3 Các nghiên cứu đã có về nông thôn mới liên quan 20
1.2.4 Quá trình triển khai thực hiện chương trình nông thôn mới tỉnh Lai Châu 22
1.2.5 Thực hiện chương trình nông thôn mới tại huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu 27
1.3 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên thiên nhiên xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu 35
1.3.1 Điều kiện tự nhiên xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu 35
1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu 38
1.4 Nhận xét và đánh giá chung 40
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 42
NGHIÊN CỨU 42
Trang 62.1.2 Phạm vi nghiên cứu 42 2.2 Nội dung nghiên cứu 42
Trang 72.3 Phương pháp nghiên cứu 42
2.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp 42
2.3.2 Phương pháp điều tra, khảo sát 43
2.3.3 Phương pháp thống kê xử lý số liệu 44
2.3.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá, so sánh 44
2.3.5 Phương pháp chuyên gia 45
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46
3.1 Thực trạng xây dựng nông thôn mới tại xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu .46
3.1.1 Tiến trình triển khai xây dựng nông thôn mới tại xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu 46
3.1.2 Kết quả thực hiện bộ tiêu chí nông thôn mới tại xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu 48
3.1.3 Thực trạng việc thực hiện 3 tiêu chí giao thông, thu nhập và môi trường và an toàn thực phẩm của xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu 58
3.2 Kết quả nghiên cứu về vai trò của người dân trong thực hiện xây dựng nông thôn mới tại xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu .68
3.2.1 Sự hiểu biết của người dân địa phương về nông thôn mới 68
3.2.2 Sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới 69
3.3 Đánh giá việc thực hiện xây dựng nông thôn mới tại xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu .72
3.3.1 Đánh giá chung 72
3.3.2 Những thuận lợi trong xây dựng nông thôn mới tại địa phương 73
3.3.3 Những khó khăn trong việc xây dựng nông thôn mới ở địa phương 75
3.4 Đề xuất các giải pháp thực hiện trong xây dựng nông thôn mới tại xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu 77
3.4.1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền để nhân dân hiểu và tự giác thực hiện 77
3.4.2 Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ 78
3.4.3 Xây dựng và phát triển các tổ chức chính trị xã hội ở địa phương 79
3.4.4 Xây dựng một số công trình liên xã 80 3.4.5 Ban hành một số chính sách của địa phương trong xây dựng nông thôn mới 80
Trang 8Tài liệu tham khảo 83 PHỤ LỤC 85
Trang 10DANH MỤC HÌNH, BẢNG
Hình 1.1 Vị trí xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu 35
Hình 3.2 Tỷ lệ chuồng nuôi gia súc ở xã Nậm Sỏ 67
Bảng 3.1 Biểu tổng hợp kết quả thực hiện các tiêu chí nông thôn mới tại xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu 52
Bảng 3.2 Hiện trạng giao thông tại xã Nậm Sỏ 58
Bảng 3.3: Tình hình kinh tế của hộ gia đình tại xã Nậm Sỏ 60
Bảng 3.4: Cải thiện kinh tế hộ gia đình tại xã Nậm Sỏ 61
Bảng 3.5 Các nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho người dân xã Nậm Sỏ 63
Bảng 3.6 Chất lượng nước dùng trong sinh hoạt xã Nậm Sỏ 63
Bảng 3.7 Nước thải của hộ gia đình tại xã Nậm Sỏ 64
Bảng 3.8 Lượng rác thải hàng ngày của các hộ gia đình tại xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên 64
Bảng 3.9 Các hình thức đổ rác thải sinh hoạt của người dân tại xã Nậm Sỏ 65
Bảng 3.10 Thực trạng nhà vệ sinh xã Nậm Sỏ 65
Bảng 3.11 Các nguồn tiếp nhận nước thải từ nhà vệ sinh tại xã Nậm Sỏ 66
Bảng 3.12: Sự hiểu biết của người dân về chương trình NTM tại xã Nậm Sỏ 68
Bảng 3.13: Sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM tại xã Nậm Sỏ 69
Bảng 3.14 Phân loại đội ngũ cán bộ cấp huyện và xã năm 2013 76
Trang 111 Tính cấp thiết của đề tài
MỞ ĐẦU
Chương trình MTQG về xây dựng nông thôn mới đã và đang được triển khairộng khắp trên toàn quốc và đã mang lại những kết quả khả quan Đến nay bứctranh nông thôn Việt Nam có nhiều thay đổi, nhất là thay đổi tích cực về đời sống,
cơ sở hạ tầng cũng như cảnh quan môi trường nông thôn Bộ tiêu chí quốc gia về xãnông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020 được Thủ tướng Chính phủ ban hành tạiQuyết định số 1980/QĐ-TTg, bao gồm 19 tiêu chí là điều kiện quan trong cho cácđịa phương nỗ lực hướng tới thực hiện Những mô hình tiêu biểu mà nhiều xã, ấp,bản đã triển khai giúp thay đổi bộ mặt vùng nông thôn và nâng cao chất lượng sốngngười dân
Sau 10 năm triển khai Phong trào thi đua “Nhân dân các dân tộc tỉnh Lai Châuchung sức xây dựng nông thôn mới” với nhiều nội dung, biện pháp phù hợp sát vớitình hình thực tế của địa phương, Lai Châu đã huy động được cả hệ thống chính trị vàocuộc và nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của đông đảo cán bộ, công chức, viênchức, người dân trên địa bàn tỉnh Qua đó, đã đạt được những kết quả quan trọng, gópphần làm diện mạo nông thôn ngày càng thay đổi, đời sống người dân ngày càng đượcnâng cao
Tân Uyên nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Lai Châu, phía Đông giáp huyện Sa
Pa (tỉnh Lào Cai); phía Tây giáp huyện Sìn Hồ (tỉnh Lai Châu), phía Nam giáp huyệnThan Uyên (tỉnh Lai Châu), phía Bắc giáp huyện Tam Đường (tỉnh Lai Châu) Tổng
anh em sinh sống, trong đó: dân tộc Thái 47,64%; dân tộc Mông 16,88%; dân tộc Kinh13,63%; dân tộc Dao 4,25% Huyện Tân Uyên có 10 đơn vị hành chính trực thuộc,gồm các xã, thị trấn: Mường Khoa, Phúc Khoa, Nậm Sỏ, Nậm Cần, Thân Thuộc,Trung Đồng, Hố Mít, Pắc Ta, Tà Mít và thị trấn Tân Uyên Sau hơn chín năm thựchiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, bộ mặt nông thôn huyện miền núiTân Uyên hoàn toàn thay đổi, nông thôn mới góp phần cải thiện đời sống cả về vậtchất, tinh thần cho người dân trên địa bàn Năm 2019, thu nhập bình quân đầu ngườiđạt 32,33 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo trung bình các xã giảm còn 9,23%.Đến tháng 9/2020, huyện Tân Uyên có 8/9 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đến thời điểmnày, Nậm Sỏ là xã duy nhất của huyện chưa đạt chuẩn nông thôn mới Tính đến01/7/2020 xã đã đạt được 13/19 tiêu chí, còn lại 6 tiêu chí chưa hoàn thành
Trang 12Thực tế cho thấy, việc phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới ở các xã, đặc biệt tạicác tỉnh còn khó khăn như Lai Châu không chỉ mang tính phong trào, thi đua thànhtích Khi địa phương đạt chuẩn nông thôn mới là điều kiện cho đời sống bà con đượcnâng cao, góp phần vào sự phát triển chung của quốc gia Lí do nào khiến Nậm Sỏ là
xã duy nhất của huyện Tân Uyên chưa đạt nông thôn mới? Những khó khăn nào trongviệc thực hiên 6 tiêu chí mà xã gặp phải? Giải pháp sát thực là gì? Xuất phát từ những
lý do trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Đánh giá việc thực hiện và đề xuất giải pháp
đạt chuẩn nông thôn mới tại xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được thực trạng tiến trình triển khai thực hiện chương trình nôngthôn mới trên địa bàn xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
- Đề xuất một số giải pháp để đạt chuẩn nông thôn mới tại xã Nậm Sỏ, huyện Tân
Uyên, tỉnh Lai Châu
3 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Là cơ sở khoa học có thể áp dụng trong thực hiện kế hoạch xây dựng nông thônmới tại các khu vực khó khăn trên toàn quốc
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Phục vụ công tác xây dựng kế hoạch thực hiện các tiêu chí trong xây dựng nôngthôn mới trên địa bàn xã Nậm Sỏ và tiến tới thực hiện đạt nông thôn mới của huyện
4 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, Phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung của luậnvăn gồm 3 chương như sau:
- Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu 35 trang
- Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 5 trang
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 38 trang
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Các khái niệm có liên quan
1.1.1.1 Khái niệm về nông thôn
Hiện nay, trên thế giới các Nhà khoa học nghiên cứu về nông thôn và có nhiềuquan điểm khác nhau dựa trên nhiều các tiêu chí như về mật độ dân số, phát triển sảnxuất hàng hóa và nghề nghiệp Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độphát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa là vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không pháttriển bằng vùng đô thị Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếpcận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn vì cho rằng nông thôn
có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường so với đô thị là thấp hơn.Một quan điểm khác nêu ra, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủyếu,nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu và nguồn sinh kế chính của cư dântrong vùng là từ sản xuất nông nghiệp
Nếu so sánh nông thôn và thành thị bằng một trong những chỉ tiêu này thì chỉ
có thể nói lên một khía cạnh nào đó của vùng nông thôn Đó mới chỉ là cách nhìn đơn
lẻ chưa toàn diện, chưa thể hiện hết được bản chất của vùng nông thôn Vì vậy, để cócách nhìn tổng quát về nông thôn, chúng ta tổng hợp các chỉ tiêu này và rút ra được
một khái niệm chung nhất về vùng nông thôn như sau: Nông thôn là vùng sinh sống,
làm việc của cộng đồng chủ yếu là nông dân, là nơi có mật độ dân cư thấp, môi trường chủ yếu là thiên nhiên, cơ sở hạ tầng kém phát triển, tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp [14].
Khái niệm nông thôn được thống nhất với quy định tại theo Thông tư số54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
[2], cụ thể: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố,
thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã".
1.1.1.2 Khái niệm nông thôn mới
Trong Quyết định Số 800/QĐ-TTg [20] đưa ra mục tiêu chung về xây dựng môhình nông thôn mới: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từngbước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nôngnghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị
Trang 14trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Như vậy nông thôn mới là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinhthần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn
và thành thị Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnhchính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới; có kinh tế phát triển toàndiện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quyhoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị Nông thôn
ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ Sức mạnh của
hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội
1.1.1.3 Khái niệm phát triển nông thôn
Phát triển nông thôn cũng chính là phát triển nông nghiệp Ở thập niên 80 củathế kỷ XX Ngân hàng Thế giới (WB) làm mới định nghĩa phát triển nông thôn: “là mộtchiến lược được hoạch định để cải thiện đời sống kinh tế - xã hội của người nghèo ởnông thôn” Phát triển nông thôn phải nhằm cải thiện mức sống của đa số người nghèo
ở nông thôn, làm cho họ có khả năng tự phát triển và cần có sự huy động và phân bốcác nguồn lực và sự phân phối công bằng đầu ra trong một khuôn khổ chính sách phùhợp ở các mức độ quốc gia và vùng, bao gồm cả việc nâng cấp thể chế và kỹ năng.Theo đó, vai trò của nhà nước trong phát triển nông thôn là thúc đẩy phát triển các thểchế, cung cấp các hàng hóa và dịch vụ công cũng như cung cấp kết cấu hạ tầng kỹthuật, xã hội, thông tin, liên lạc, hỗ trợ hình thành tổ chức nông dân, cung cấp dịch vụkhuyến nông và trợ cấp tín dụng, vật tư đầu vào
Phát triển nông thôn là một quá trình có sự tham gia, nhấn mạnh giao quyền cho
cư dân nông thôn để họ có thể kiểm soát tiến trình phát triển theo những ưu tiên mà họlựa chọn Phát triển nông thôn lại gắn với mục tiêu giảm nghèo của các quốc gia dựatrên tiếp cận lý thuyết sinh kế bền vững Giảm nghèo trở thành vấn đề trung tâm của áttriển nông thôn Các chính phủ hiện nay đang có xu hướng chuyển từ tiếp cận nghèođơn chiều sang nghèo đa chiều
Trong điều kiện của Việt Nam, tổng hợp quan điểm từ các chiến lược phát triểnkinh tế xã hội của Chính phủ, thuật ngữ này có thể hiều như sau: “ Phát triển nôngthôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa,môi trườn nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn Quá trình
Trang 15này trước hết là do chính người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước
và các tổ chức khác” theo Mai Thanh Cúc và cs (2005) [19]
Phát triển nông thôn là một quá trình thay đổi bền vững có chủ ý về xã hội, kinh
tế, văn hóa và môi trường nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người dân địa
phương, thể hiện ở ba mục tiêu: Một là, cải thiện năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Hai là, cải thiện môi trường và cảnh quan nông thôn Ba là, cải thiện chất
lượng đời sống nông thôn và khuyến khích đa dạng hóa các hoạt động kinh tế, là “cảithiện các điều kiện của cộng đồng nông thôn một cách tổng thể, bao gồm kinh tế vàchất lượng cuộc sống ở các phương diện, như môi trường, sức khỏe, kết cấu hạ tầng vànhà ở” Mô hình phát triển nông thôn bao gồm ba phương diện kinh tế, xã hội và chínhtrị, tạo ra năng lực và cơ hội để người dân nông thôn tham gia và hưởng lợi từ quátrình phát triển, tạo ra năng lực và cơ hội để tham gia quá trình chính trị và phát triển
xã hội toàn diện
Phát triển nông thôn chính là quá trình thu hút mọi người dân tham gia vào cácchương trình phát triển, nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng cuộc sống của các cư dânnông thôn, thực hiện hiện đại hóa nền văn hóa nông thôn nhưng vẫn bảo tồn đượcnhững giá trị truyền thống thông qua việc ứng dụng khoa học và công nghệ Phát triểnnông thôn là sự phát triển tổng hợp của tất cả các hoạt động có mối liên hệ tác độngqua lại lẫn nhau giữa các yếu tố vật chất, kinh tế, công nghệ, văn hóa, xã hội, thể chế
và môi trường Nó không thể tiến hành một cách độc lập mà phải được đặt trongkhuôn khổ của một chiến lược, chương trình phát triển quốc gia Sự phát triển của cácvùng nông thôn sẽ đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế nói riêng và sựphát triển chung của đất nước (Phạm Vân Đình và cs, 1997) [15]
1.1.2 Quan điểm về xây dựng nông thôn mới.
1.1.2.1 Yêu cầu xây dựng nông thôn mới
Theo Phan Xuân Sơn và Nguyễn Cảnh (2008) [16] Yêu cầu xây dựng nôngthôn mới:
Một là, đơn vị cơ bản của mô hình nông thôn mới là làng - xã Làng - xã thực
sự là một cộng đồng, trong đó quản lý của Nhà nước không can thiệp sâu vào đời sốngnông thôn trên tinh thần tôn trọng tính tự quản của người dân thông qua hương ước, lệlàng (không trái với pháp luật của Nhà nước) Quản lý của Nhà nước và tự quản của
Trang 16tạo ra bầu không khí tâm lý xã hội tích cực, bảo đảm trạng thái cân bằng trong đờisống kinh tế - xã hội ở nông thôn, giữ vững an ninh trật tự xã hội,…nhằm hình thànhmôi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông thôn.
Hai là, đáp ứng yêu cầu thị trường hoá, đô thị hoá, công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, chuẩn bị những điều kiện vật chất và tinh thần giúp nông dân làm ăn sinh sống
và trở nên thịnh vượng ngay trên mảnh đất mà họ đã gắn bó lâu đời Trước hết, cầntạo cho người dân có điều kiện để chuyển đổi lối sống và canh tác tự cung tự cấp,thuần nông (cổ truyền) sang sản xuất hàng hoá, dịch vụ, du lịch, để họ “ly nông bất
ly hương”
Ba là, có khả năng khai thác hợp lý và nuôi dưỡng các nguồn lực, đạt tăng
trưởng kinh tế cao và bền vững; môi trường sinh thái được giữ gìn; tiềm năng du lịchđược khai thác; làng nghề truyền thống, làng nghề tiểu thủ công nghiệp được khôiphục; ứng dụng công nghệ cao về quản lý, về sinh học ; cơ cấu kinh tế nông thônphát triển hài hoà, hội nhập địa phương, vùng, cả nước và quốc tế
Bốn là, dân chủ nông thôn mở rộng và đi vào thực chất.Các chủ thể nông thôn
(lao động nông thôn, chủ trang trại, hộ nông dân, các tổ chức phi chính phủ, nhà nước,
tư nhân…) có khả năng, điều kiện và trình độ để tham gia tích cực vào các quá trình raquyết định về chính sách phát triển nông thôn; thông tin minh bạch, thông suốt và hiệuquả giữa các tác nhân có liên quan; phân phối công bằng Người nông dân thực sự
“được tự do và quyết định trên luống cày và thửa ruộng của mình”, lựa chọn phương
án sản xuất kinh doanh làm giàu cho mình, cho quê hương theo đúng chủ trươngđường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước
Năm là, nông dân, nông thôn có văn hoá phát triển, dân trí được nâng lên, sức
lao động được giải phóng, nhiệt tình cách mạng được phát huy Đó chính là sức mạnh
nội sinh của làng xã trong công cuộc xây dựng nông thôn mới.Người nông dân có cuộcsống ổn định, giàu có, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật và tay nghề cao, lối sống vănminh hiện đại nhưng vẫn giữ được những giá trị văn hoá, bản sắc truyền thống “tắt lửatối đèn” có nhau, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tham gia tích cực mọi phong tràochính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, đối ngoại…nhằm vừa tự hoànthiện bản thân, nâng cao chất lượng cuộc sống của mình, vừa góp phần xây dựng quêhương văn minh giàu đẹp
Trang 171.1.2.2 Sự khác biệt giữa xây dựng nông thôn trước đây với xây dựng nông thôn mới
Có thể nói, xây dựng nông thôn cũng đã có từ lâu tại Việt Nam Trước đây, cóthời điểm chúng ta xây dựng mô hình nông thôn ở cấp huyện, cấp thôn, nay chúng taxây dựng nông thôn mới ở cấp xã Sự khác biệt giữa xây dựng nông thôn trước đây vớixây dựng nông thôn mới chính là ở những điểm sau:
Thứ nhất, xây dựng nông thôn mới là xây dựng nông thôn theo tiêu chí chung
cả nước được định trước
Thứ hai, xây dựng nông thôn địa bàn cấp xã và trong phạm vi cả nước, không
thí điểm, nơi làm nơi không, 9111 xã cùng làm
Thứ ba, cộng đồng dân cư là chủ thể của xây dựng nông thôn mới, không phải
ai làm hộ, người nông dân tự xây dựng
Thứ tư, đây là một chương trình khung, bao gồm 11 chương trình MTQG và 13
chương trình có tính chất mục tiêu đang diễn ra tại nông thôn [9]
1.1.3 Căn cứ xác định tiêu chí xây dựng nông thôn mới theo bộ NN&PTNT
1.1.3.1 Cấp tỉnh
UBND tỉnh xác định tiêu chí và chỉ tiêu phấn đấu cụ thể như sau:
- Tỉnh nông nghiệp: GDP nông nghiệp chiếm >30%
- Tỉnh nông-công nghiệp: GDP nông nghiệp chiếm 10-30%
- Tỉnh công nghiệp: GDP nông nghiệp chiếm <10%
Ngoài ra để đạt tiêu chuẩn nông thôn mới tỉnh phải có 75% số huyện trong tỉnhđạt tiêu chí nông thôn mới
1.1.3.2 Cấp huyện
UBND huyện có trách nhiệm chính trong lĩnh vực xây dựng nông thôn mới ởhuyện.tiêu chí nông thôn mới phụ thuộc đặc điểm, điều kiện tự nhiên của từng vùngnhư trung du, miền núi hay các huyện, đồng bằng, hải đảo
Huyện phải có 75% số xã trong huyện đạt tiêu chí nông thôn mới thì được côngnhận huyện nông thôn mới
1.1.3.3 Cấp xã
Chịu trách nhiệm chỉ đạo trực tiếp xây dựng nông thôn mới ở các thôn, xã.Kếthợp với tư vẫn của bộ, tham gia xây dựng kế hoạch tổng thể của thôn và giúp cho cộng
Trang 18Theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướngChính phủ về Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới.
Bộ tiêu chí là căn cứ để xây dựng Chương trình MTQG về xây dựng nông thônmới, chỉ đạo thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới trong thời kì đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời là cở sở để kiểm tra, đánh giá công nhận xã,huyện, tỉnh đạt nông thôn mới Bộ tiêu chí được chia thành 5 nhóm như sau:
1.1.4 Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới
Điều 2 Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHDT-BTC, ngày
13 tháng 4 năm 2011 (liên bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Kế hoạch và đầu
tư, Bộ Tài chính) [12] về hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trìnhMTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 đã đề ra 6 nguyên tắc trongxây dựng nông thôn mới như sau:
800/QĐ-(1) Các nội dung, hoạt động của Chương trình xây dựng nông thôn mới phảihướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mớiban hành tại Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướngChính phủ
(2) Xây dựng NTM theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cộng đồngdân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí,quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện Các hoạtđộng cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định
và tổ chức thực hiện
(3) Được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình MTQG,chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai ở nôngthôn, có bổ sung dự án hỗ trợ các lĩnh vực cần thiết, cơ chế, chính sách khuyến khíchmạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế, huy động đóng góp của các tầng lớp dân
cư (4) Thực hiện Chương trình xây dựng NTM phải gắn với kế hoạch phát triểnkinh tế, xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện các quy
Trang 19hoạch XDNTM đã được cấp có thẩm quyền xây dựng.
(5) Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường phâncấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình, dự án củaChương trình xây dựng nông thôn mới; phát huy vai trò làm chủ của người dân vàcộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện vàgiám sát đánh giá
(6) Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xãhội; cấp ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quyhoạch, đề án, kế hoạch, và tổ chức thực hiện Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chínhtrị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựngnông thôn mới
1.1.5 Nội dung chủ yếu về chương trình xây dựng nông thôn mới
1.1.5.1 Quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Quy hoạch nông thôn mới là vấn đề có ý nghĩa quan trọng quyết định thànhcông của chương trình xây dựng NTM Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thônhướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới [21], xây dựng quy hoạchNTM có 7 bước gồm:
Bước 1: Xác định nội dung quy hoạch: Quy hoạch NTM là quy hoạch không
gian và quy hoạch hạ tầng kinh tế-xã hội trên địa bàn xã, bao gồm: Quy hoạch mạnglưới điểm dân cư nông thôn và vùng sản xuất nông nghiệp với thời hạn 10-15 năm
Bước 2: Quy trình thẩm định, phê duyệt quy hoạch: Do UBND xã làm chủ đầu
tư và trình UBND huyện phê duyệt quy hoạch
Bước 3: Công bố quy hoạch: Hồ sơ công bố quy hoạch gồm quyết định phê
duyệt quy hoạch, báo cáo thuyết minh, các văn bản pháp lý liên quan
Bước 4: Cấp giấy phép xây dựng tại xã: Sở Xây dựng có thẩm quyền cấp phép
công trình của tổ chức được xây dựng ven quốc lộ, tỉnh lộ UBND huyện cấp phép xâydựng của các tổ chức xây dựng tại xã UBND xã cấp phép xây dựng nhà ở của dântheo quy hoạch được phê duyệt
Bước: Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm: UBND xã thực hiện chức năng kiểm
tra, giám sát trực tiếp hoạt động của các tổ chức, cá nhân trong việc xây dựng
trên địa bàn mình quản lý Quyết định xử lý theo quy định của pháp luật
Bước 6: Hồ sơ quy hoạch xây dựng NTM: Hồ sơ quy hoạch chung gồm bản vẽ
với sơ đồ vị trí xã và liên hệ vùng, tỷ lệ 1/5.000-1/10.000 thể hiện liên kết hệ thống hạ
Trang 20hướng phát triển điểm dân cư nông thôn và vùng sản xuất nông nghiệp được lập theo
tỷ lệ 1/5.000 Bản vẽ định hướng hạ tầng kỹ thuật, kể cả thuỷ lợi và giao thông nộiđồng…
Bước 7: Kinh phí lập quy hoạch xây dựng: Định mức chi phí lập quy hoạch
chung NTM từ 80-115 triệu đồng tuỳ theo quy mô dân số mỗi xã Chi phí lập quyhoạch chi tiết trung tâm xã và từng điểm dân cư trên địa bàn xã là 8,5 triệu đồng/ha.Chi phí lập quy hoạch chi tiết hệ thống thuỷ lợi, giao thông nội đồng cho mỗi xãkhoảng 10-15 triệu đồng
1.1.5.2 Xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội
Nội dung tiếp theo cần thiết cho một địa phương xây dựng nông thôn mới lànông thôn có một bộ mặt đổi mới, trong đó xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội làyếu tố thiết yếu Cơ sở hạ tầng không những là nhân tố đảm bảo thúc đẩy sản xuất vàphát triển kinh tế mà còn nâng cao đời sống cho người dân Đối với cơ sở hạ tầng nhưđường giao thông: liên xóm, liên xã, đường nối các cụm dân cư với hệ thống trục giaothống, hệ thống thuỷ lợi, các công trình chăm sóc y tế, trường học, công trình vănhoá được xếp thứ tự là các hạng mục ưu tiên cần được phát triển để đáp ứng với yêucầu thiết yếu của đời sống và sản xuất
Những công trình phát triển cơ sở hạ tầng trực tiếp ảnh hưởng đến sản xuất như
hệ thống thuỷ lợi, hệ thống chuồng trại chăn nuôi tập trung để thay đổi phương thứcchăn nuôi nhỏ lẻ trong khu dân cư, các hộ có khả năng chăn nuôi lớn có thể mở rộngchăn nuôi ở khu tập trung này thường được quan tâm và đầu tư thích đáng để nhanhchóng đẩy mạnh sản xuất và tạo ra các động lực cho việc phát triển các cơ sở hạ tầngkhác phục vụ cho phát triển kinh tế và đời sống Việc phát triển cơ sở hạ tầng đẩymạnh phát triển kinh tế là việc đưa các ngành nghề mới vào địa phương hoặc trang bịnhững thiết bị mới những biện pháp sản xuất mới gắn liền với tìm kiếm và định hướngthị trường
Xây dựng NTM không chỉ tập trung vào sản xuất hàng hoá mà còn đảm bảo cácvấn đề an sinh xã hội khác, trong đó các công trình y tế, giáo dục, văn hoá cũng cầnđược ưu tiên phát triển Tuy nhiên, cần phải xác định rõ quy mô và mức độ phục vụcủa các công trình an sinh xã hội để đảm bảo các công trình đó có quy mô phù hợp vớinhu cầu thực sự của xã hội và cộng đồng
1.1.5.3 Phát triển kinh tế, tổ chức sản xuất và nâng cao thu nhập
Trang 21Sản xuất phát triển, nhất là sản xuất hàng hoá là điều kiện cơ bản để pháttriển kinh tế của cộng đồng mỗi địa phương Kinh tế có phát triển thì những yếu tố
xã hội mới có cơ hội phát triển theo và đây là động lực chính cho những tiến bộ xãhội được thực hiện Sau khi đã có thu nhập bảo đảm cuộc sống, người dân mới cóđiều kiện xây dựng những công trình phục vụ đời sống cho gia đình họ và đóng góp cho sự phát triển chung
Trong các nội dung xây dựng NTM thì nội dung phát triển sản xuất hàng hoá làquan trọng nhất Tuy vậy không phải bất cứ địa phương nào cũng có điều kiện để sảnxuất hàng hoá mà phải tạo ra hoặc lựa chọn những sản phẩm nhất định có thể sản xuấthàng hoá Nói một cách cụ thể, những địa phương đã phát triển ngành nghề thì đẩymạnh hơn nữa các ngành nghề là biện pháp để nâng cao sản xuất hàng hoá; địa phươngnào có điều kiện phát triển trang trại là đã có điều kiện sản xuất nông sản hàng hoá vàcần phải đẩy mạnh các hoạt động sản xuất hàng hoá quy mô trang trại để tạo cơ sở chophát triển nông thôn và xây dựng NTM
Phát triển kinh tế nông thôn trước hết là phát triển nông nghiệp theo hướng sảnxuất hàng hoá với năng suất và hiệu quả ngày càng cao, đồng thời phát triển tiểu thủcông nghiệp, công nghiệp nông thôn, phát triển dịch vụ nông thôn để từng bước giảm
tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ Chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông thôn theo hướng tiến bộ, phân công lại lao động, phát triển nông thôn theohướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công, khuyến thươngtrong xây dựng NTM cần được đẩy mạnh thông qua các chương trình phát triển nông,lâm, ngư nghiệp và ngành nghề Trong những năm qua, công tác khuyến nông khuyếnlâm, khuyến ngư đã được triển khai mạnh mẽ và thu được nhiều kế quả, nhưng côngtác khuyến công còn là những lĩnh vực tương đối mới mẻ, chưa được triển khai nhiềutrên địa bàn nông thôn Có điều này là do bản thân ngành nghề nông thôn, hoạt độngkinh doanh trên địa bàn nông thôn nói chung còn rất hạn chế Để có thể đẩy mạnhkhuyến công thì các địa phương phải có ngành nghề và nhiều người hoạt động ngànhnghề (công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ) Thông qua hoạt động khuyến công, các xãxây dựng nông thôn mới có thể phát triển nguồn lực con người để từ đó không nhữngnâng cao trình độ nhiều mặt nhất là phát triển các ngành nghề mới, khôi phục các
Trang 22trình hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn.
1.1.5.4 Phát triển văn hoá - xã hội - môi trường
Việc phát triển văn hoá là một trong những động lực để giải phóng sức laođộng, giải phóng sức tư duy sáng tạo trong việc đẩy mạnh sản xuất cho chính ngườidân và cho cộng đồng Giải phóng tư duy trí tuệ được xem là sức mạnh nội sinh củacộng đồng cư dân nông thôn trong công cuộc phát triển nông nghiệp và nông thôn nóichung và xây dựng NTM nói riêng Người nông dân có kinh tế ổn định, có trình độvăn hoá khoa học cao, có phong cách sống văn minh hiện đại là mẫu người nông dânmới trong nông thôn đổi mới không những là mục tiêu trước mắt mà còn là mục tiêulâu dài của công cuộc phát triển nông thôn ở nước ta
Để thực hiện được yêu cầu này, việc xây dựng các cơ sở văn hoá xã hội tốt hơn,khang trang hơn chỉ là một trong nhiều yếu tố mang tính hình thức Cần có nhữngnội dung thiết thực trong việc xây dựng con người vừa có trình độ chuyên môn vừa cóvăn hoá là một nhiệm vụ hết sức nặng nề và có tính lâu dài Trong xây dựng NTM,không chỉ tạo ra các nhà văn hoá, các công trình phúc lợi công cộng mà điều cốt yếu làphải xây dựng các phong trào hoạt động văn hoá, thể thao, phát triển dân trí có tínhthiết thực và được cộng đồng tham gia Do đó xây dựng cơ sở hạ tầng văn hoá xã hộiluôn luôn phải đi đôi với những nội dung của những hoạt động này
Địa phương xây dựng NTM cần phải là địa phương có phong trào văn hoá mới,
vì văn hoá mới là tiêu chí cần thiết trong xây dựng con người mới, phát huy nền dânchủ nhân dân, xây dựng một cuộc sống văn hoá tinh thần lành mạnh
Tăng trưởng kinh tế cao và bền vững là điều kiện thiết yếu để phát triển nôngthôn, song điều đó không có nghĩa là phát triển kinh tế với bất cứ giá nào Trong pháttriển kinh tế, việc giữ gìn và BVMT là yếu tố quan trọng để tăng trưởng một cách bềnvững Bên cạnh đó, việc giữ gìn và BVMT cũng là một trong những nội dung đảm bảocho cuộc sống tốt đẹp hơn, hơn nữa nếu có điều kiện kết hợp giữa BVMT với pháttriển cảnh quan thiên nhiên ở khu vực nông thôn còn tạo điều kiện lớn cho mục tiêukhai thác tiềm năng du lịch sinh thái Trong nội dung giữ gìn và BVMT của xây dựngNTM, trước mắt đó là cuộc vận động về một nông thôn mới xanh - sạch - đẹp, không
có rác thải vứt bừa bãi, không có phế thải của sản xuất và sinh hoạt thải thẳng ra cáccánh đồng, ao hồ mà không được xử lý Tiếp theo là việc cả cộng đồng cùng thamgia đầu tư xây dựng hệ thống cống rãnh trong các xóm làng, xây dựng hệ thống xử lýnước thải và thu gom rác thải Về lâu dài, nông thôn phải đúng là nơi cảnh quan và
Trang 23môi trường thực sự lý tưởng cho cuộc sống và là lá phổi xanh trong sự nghiệp côngnghiệp hóa đất nước.
1.1.5.5 Củng cố và xây dựng hệ thống chính trị xã hội vững mạnh
Yêu cầu cấp thiết trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nôngnghiệp nông thôn là xây dựng được hệ thống chính trị, xã hội ở địa phương thật sựtrong sạch và vững mạnh là điều rất quan trọng, mà điều quan trọng ở đây là nâng caotrình độ, đào tạo nguồn nhân lực cho đội ngũ cán bộ tại địa phương về chuyên mônnghiệp vụ để có đủ năng lực đáp ứng nhu cầu của người dân Người nông dân giờ đâyđang tự chủ vươn lên, nắm bắt thị trường, chuyển đổi mục đích, phương pháp canh tác
để làm giàu trên mảnh đất của mình rất cần có sự định hướng, có người dẫn dắt Đểnông dân làm được như vậy, Nhà nước cần đầu tư và giúp đỡ nhiều hơn, cụ thể hơncho nông dân nâng cao trình độ về sản xuất, quản lý, thị trường…
Xây dựng hệ thống chính trị tại địa phương không thể không nhắc đến tính dânchủ ở cơ sở Đặc biệt sự tham gia của người dân, của cộng đồng trong xây dựng NTM(trong đó tất cả những nội dung của chương trình xây dựng này đều cần có sự tham giagóp ý kiến cũng như sự đồng thuận của cộng đồng) là một trong những yếu tố cơ bản
để nâng cao tính dân chủ ở nông thôn và từ đó mở rộng hơn nữa vấn đề dân chủ ởnông thôn trong nhiều lĩnh vực khác kể cả những vấn đề về kinh tế, chính trị, xãhội Từ đó cộng đồng dân cư sẽ được tham gia vào mọi quá trình ra quyết định cũngnhư thực hiện các quyết sách của các cấp chính quyền ở địa phương mà mục tiêucuối cùng cũng là để dân giàu, nước mạnh, văn minh và hiện đại
Trong quá trình xây dựng NTM cũng phải đánh giá xem một địa phương có khảnăng xây dựng mô hình NTM hoặc đã trở thành một mô hình NTM hay chưa? Tuynhiên đây là vấn đề rất phức tạp, hơn nữa trong hoàn cảnh nông thôn nước ta nhìnchung còn nghèo và cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật lạc hậu thì yêu cầu đồng thờiphải đạt tất cả các các nội dung sẽ trở nên khó khả thi Tuỳ từng điều kiện cụ thể củamỗi địa phương mà thứ tự ưu tiên của mỗi nội dung sẽ được thay đổi cho phù hợp vàđảm bảo để công cuộc xây dựng NTM theo chủ trương của Đảng thu được thắng lợi
Trang 241.1.6 Các bước xây dựng nông thôn mới
Điều 3 Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13tháng 4 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch đầu tư,
Bộ Tài chính quy định các bước xây dựng nông thôn mới như sau:
Bước 1: Thành lập hệ thống quản lý, thực hiện
Bước 2: Tổ chức thông tin tuyên truyền về thực hiện Chương trình xây dựngnông thôn mới
Bước 3: Khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn theo 19 tiêu chí của Bộ tiêu chíquốc gia nông thôn mới
Bước 4: Xây dựng quy hoạch nông thôn mới của xã
Bước 5: Lập, phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới của xã
Bước 6: Tổ chức thực hiện đề án
Bước 7: Giám sát đánh giá và báo cáo về tình hình thực hiện Chương trình
1.1.7 Căn cứ pháp lý để xây dựng nông thôn mới
Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 của BCH Trung ương khoá X vềnông nghiệp, nông dân, nông thôn;
Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP, ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hànhchương trình hành động thực hiện nghị quyết hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ươngĐảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg, ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;
Quyết định số 342/QĐ-TTg, ngày20/2/2013 của Thủ tướng Chính phủ về sửađổi một số tiêu chí của bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
Quyết định số 22/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ ngày 05 tháng 01 năm
2010 Phê duyệt đề án "Phát triển văn hóa nông thôn đến năm 2015, định hướng đến năm 2020
Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc phê duyệt Chương trình MTQG về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 -2020;
Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT, ngày 4/10/2013 của Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn về việc hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn
mới; Quyết định số 1760/QĐ-TTg ngày 16 tháng 8 năm 2016 của Thủ tướng
Trang 25phủ phê duyệt Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020;
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Quyết định số4781/QĐ-BNN-VPĐP ngày 21/11/2017 về ban hành Sổ tay hướng dẫn phát triển sản xuất trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020;
Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính
phủ về Bộ tiêu chí Quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020 (Phụ lục 2)
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Namthống nhất “Chương trình phối hợp về đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, vậnđộng, hỗ trợ phụ nữ tham gia xây dựng nông thôn mới gắn với cơ cấu lại ngành nôngnghiệp giai đoạn 2018-2020”;
Quyết định số 435/QĐ-TTg ngày 21/4/2018 của Thủ tướng chính phủ về Banhành Chương trình công tác năm 2018 của BCĐ Trung ương các chương trình MTQGgiai đoạn 2016-2020;
Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 07/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việcPhê duyệt Chương trình Mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2018 – 2020;
Quyết định số 691/QĐ-TTg ngày 05 tháng 6 năm 2018 của Thủ tướng Chínhphủ về việc Ban hành tiêu chí xã nông thôn mới kiểu mẫu giai đoạn 2018-2020;
Thông tư số 04/2019/TT-BNNPTNT ngày 01 tháng 4 năm 2019 về việc sửa
năm 2017 của BNN&PTNT hướng dẫn một số nội dung thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020.
1.2 Cơ sở thực tiễn về xây dựng nông thôn mới
1.2.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn ở một số nước trên thế giới
* Ở Hà Lan
Hà Lan đạt được nhiều thành tựu đáng kể, đặc biệt là nông nghiệp cây trồng
trong nhà kính và yếu tố thành công này chính là hạt nhân “nông thôn mới” ở đây Tỷ
lệ sản xuất rau quả và hoa góp phần cung cấp nhu cầu khổng lồ trên toàn thế giới Cácnhà quản lý và xây dựng hình tượng nông thôn mới ở Hà Lan đã rất xuất sắc trong việcnắm bắt các thị trường khác về hoa, cây cảnh và các sản phẩm vườn ươm Bên cạnh
hoa tulip là loại hoa làm cho Hà Lan trên thế giới, các loại hoa khác như: hoa hồng,
hoa cúc, hoa cẩm chướng… cũng là đặc sản mà Hà Lan sản xuất trong các “nhà máy
Trang 26Hệ thống sản xuất và phân phối của nông dân Hà Lan được tổ chức rất tốt ởtất cả các quy trình Việc trồng cây trong nhà kính đại diện cho hình thức nông nghiệpnhân tạo thành công Đây là quá trình nỗ lực sử dụng các kỹ thuật như trong ốngnghiệm tăng trưởng, thủy văn, chế ngự khí hậu hoàn toàn chủ động Đây là loại hìnhsản xuất có sự kết hợp của các hoạt động công nghiệp và nông nghiệp [11].
HTX ở Puisserguier do Guy Lautier đứng đầu đã đổi mới trong việc tái tổchức cơ cấu, cải thiện các giống cây trồng và các phương pháp sản xuất rượu vang,giao dịch tiếp thị với các khách hàng tiềm năng Tất cả những điều này đã làm thay đổi
và hiện đại hóa cách thức của người nông dân Nhà sản xuất rượu vangcủa Languedoc-Roussillon ngày nay đã trở thành nhà sản xuất các loại rượu vang tuyệt đỉnh đang được bán trên toàn thế giới [11]
* Phong trào Làng mới của Hàn Quốc
Từ năm 1970, Chính phủ Hàn Quốc thực hiện mô hình “Nông thôn mới”(Saemaul Undong SMU) với mục tiêu công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn Môhình này thực hiện 16 dự án với mục tiêu là cải thiện môi trường sống cho người dân ởnông thôn: Mở rộng đường giao thông, hoàn thiên hệ thống nước thải sinh hoạt, xâydựng nhà sinh hoạt công cộng và trồng thêm nhiều cây xanh, xây dựng sân chơi chotrẻ em…Cải thiện môi trường sống cho nông thôn được coi là nền tảng cho quá trìnhphát triển nông thôn [1]
Phong trào “Làng mới” của Hàn Quốc là một trong các phong trào điển hình
Trang 27thực hiện phát triển nông thôn cấp cơ sở Nguyên tắc thực hiện của phong trào về thựcchất là phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng Việc thực hiện phong trào được đánhgiá là rất thành công khi có đóng góp đáng kể vào sự phát triển của Hàn Quốc từ mộtnước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu trong những năm 1960 trở thành một nước côngnghiệp hiện đại vào những năm 1990 trở lại đây Các kinh nghiệm và bài học từchương trình làng mới có thể đóng góp đáng kể cho việc nghiên cứu xây dựng chươngtrình MTQG về xây dựng NTM của Việt Nam để thực hiện thành công quá trình côngnghệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn [1].
* Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc
Xây dựng “NTM xã hội chủ nghĩa” được trung ương đảng cộng sản và Quốc vụviện Trung Quốc nêu ra vào năm 2006, với phương châm “cho nhiều, lấy ít, nuôisống” Cũng giống như Việt Nam, nông nghiệp Trung Quốc chưa đảm bảo mức sốngcủa nhân dân, khoảng cách đô thị và nông thôn ngày càng xa, nông dân thiếu đất sảnxuất Do vậy, mục tiêu của xây dựng NTM ở Trung Quốc là: tăng năng suất sản xuất ởnông thôn, xây dựng CSHT nông thôn, phát triển xã hội và mức sống Trong kế hoạch
5 năm (2006-2010), Trung Quốc đề ra 7 nhiệm vụ chính để tăng lợi nhuận cho nôngdân và 32 biện pháp có lợi cho nông dân để phát triển nông nghiệp hiện đại [5]
Trung Quốc không xây dựng Bộ tiêu chí NTM cụ thể như Việt Nam mà chỉ đặt
ra 5 tiêu chí chung: sản xuất phát triển, cuộc sống sung túc, diện mạo sạch sẽ, thônxóm văn minh, quản lý dân chủ Vấn đề đất đai được đặc biệt quan tâm trong xây dựngNTM ở Trung Quốc
Song song với công tác quy hoạch, nhà nước Trung Quốc cũng rất chăm lo và
có bước đi hợp lý trên 2 lĩnh vực: áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và cơ khí hoá vàosản xuất nông nghiệp Điều quan trọng nữa là vấn đề giải quyết công ăn việc làm đượccoi trọng, chính sách xã hội với người nông dân được đặc biệt quan tâm, gắn tráchnhiệm của các đơn vị sử dụng đất của nông dân với quyền lợi lâu dài của nông dân.Làm như vậy, trong trường hợp bị thu hồi đất, người nông dân vẫn không bị giảmquyền lợi
Bên cạnh đó, khi xây dựng NTM, Trung Quốc xây dựng một đội ngũ cán bộthôn có năng lực, có trình độ quản lý, hiểu biết khoa học kỹ thuật Đây là vấn đề quantrọng mà xây dựng NTM ở Việt Nam cần phải học hỏi để tăng cường năng lực cho cán
bộ cơ sở, có như vậy mới vận động được quần chúng nhân dân hưởng ứng tham giaxây dựng NTM [5]
Trang 28* Phong trào mỗi làng một sản phẩm ở Nhật Bản
Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” (One Village, one Product – OVOP) hìnhthành và phát triển đầu tiên tại Nhật Bản Qua gần 25 năm, sự thành công và kinhnghiệm của phong trào đã lôi cuốn không chỉ các địa phương trên khắp Nhật Bản màcòn lôi cuốn rất nhiều các quốc gia khác quan tâm tìm hiểu và áp dụng (Thái Lan,Campuchia, Myanmar, Malawi…) [7]
Kinh nghiệm từ OVOP có thể áp dụng cho hoạt động xây dựng NTM ở ViệtNam tại những địa phương có làng nghề và có sản phẩm đặc sản Các cơ quan quản lýcác cấp cũng đã có những hỗ trợ nhất định, nhằm giúp các địa phương phát hiện đượcthế mạnh của mình và tìm cách bán sản phẩm ra thị trường
Người dân ở Việt Nam có kỹ năng sản xuất khéo léo, tạo ra được nhiều sảnphẩm độc đáo, nhiều đặc sản có giá trị cao, song chưa tham gia tốt trên thị trường,chưa có cách quản lý khoa học để sản phẩm có chất lượng tốt Mặt khác, trong nội bộnhiều làng, do tập quán giữ bí quyết làng nghề nên chưa có sự chia sẻ Vì vậy, để khơidậy năng lực và thúc đẩy người dân phát triển các ngành nghề của mình, công táctuyên truyền, vận động xây dựng NTM cần lồng ghép giới thiệu những bài học kinhnghiệm hay trong nước và trên thế giới
1.2.2 Tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến nông thôn mới ở Việt Nam
Mục tiêu của Chương trình Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 banhành kèm theo Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủlà: “Xây dựng nông thôn mới để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho ngườidân; có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù hợp; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổchức sản xuất hợp lý, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ; gắn pháttriển nông thôn với đô thị; xã hội nông thôn dân chủ, bình đẳng, ổn định, giàu bản sắcvăn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; quốc phòng và an ninh, trật tựđược giữ vững”
* Xây dựng nông thôn mới tại Hà Giang
Nếu như ở các tỉnh đồng bằng, xây dựng nông thôn mới (NTM) cần rất nhiều
nỗ lực thì với tỉnh Hà Giang, nhất là các huyện vùng biên giới như: Mèo Vạc, ĐồngVăn, Quản Bạ , việc xây dựng NTM càng khó khăn gấp bội Hà Giang là tỉnh có điềukiện địa lý đồi núi chia cắt, sạt lở, lũ quét thường xuyên xảy ra Thế nhưng, nhờ cách
Trang 29làm phù hợp, các huyện vùng cao của tỉnh Hà Giang đã thu được kết quả ban đầutrong xây dựng NTM.
Năm 2019 Hà Giang đặt mục tiêu thực hiện nâng tiêu chí nông thôn mới, toàntỉnh không còn xã đạt dưới 7 tiêu chí, hoàn thành 5 xã đạt chuẩn nông thôn mới Tínhđến hết tháng 6/2019, tổng nguồn lực huy động để thực hiện chương trình xây dựngnông thôn mới tại Hà Giang đạt gần 590 tỷ đồng, trong đó vốn xã hội hóa đạt khoảng
65 tỷ đồng Triển khai chương trình mỗi xã một sản phẩm nhằm nâng cao hiệu lực,hiệu quả thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới gắn với cơ cấu lại ngànhnông nghiệp, tỉnh Hà Giang đã phân bổ 3 tỷ đồng cho các đơn vị thực hiện các hoạtđộng có liên quan đến chương trình này như xúc tiến thương mại, giới thiệu sản phẩm,nâng cao chất lượng sản phẩm [13]
* Xây dựng nông thôn mới tại Yên Bái
Năm 2018, tỉnh Yên Bái có thêm 13 xã đạt chuẩn nông thôn mới, nâng tổng số
xã về đích nông thôn mới của tỉnh lên 46 xã
Điển hình về xây dựng nông thôn mới tại Yên Bái là huyện Trấn Yên Tính đếnhết năm 2018, 100% các xã trên địa bàn huyện Trấn Yên đạt từ 10 tiêu chí trở lên,trong đó có 15 xã đã được tỉnh Yên Bái thẩm định, công nhận đạt chuẩn nông thônmới Đối với tiêu chí nông thôn mới cấp huyện cũng đạt 6/9 tiêu chí
Trong năm 2018, Yên Bái có thêm 13 xã đạt chuẩn nông thôn mới, nâng tổng
số xã của tỉnh được công nhận nông thôn mới lên con số 46 Cũng từ xây dựng nôngthôn mới, tỉnh Yên Bái đã hình thành được các vùng chuyên canh như: vùng lúa chấtlượng cao; vùng cây ăn quả có múi, vùng trồng sơn tra, vùng quế…với tổng diện tíchtrên 260 nghìn héc ta Từ đó, góp phần thúc đẩy tăng trưởng bình quân của ngànhnông nghiệp đạt 4,5%/năm [23]
* Xây dựng nông thôn mới tại Hà Tĩnh
Đến thời điểm hiện nay, tỉnh Hà Tĩnh có 158 xã đạt chuẩn NTM, chiếm 68,99%tổng số xã, đạt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Tỉnh, nhiệm kỳ 2015 –
2020 trước 2 năm; bình quân mỗi xã của tỉnh Hà Tĩnh đã đạt 18,12 tiêu chí (năm 2010
là 3,5 tiêu chí); không còn xã dưới 11 tiêu chí; xây dựng được 283/1.755 khu dân cưđạt chuẩn NTM kiểu mẫu, 3.382 vườn mẫu đạt chuẩn Đây thực sự là kết quả ấn tượngbởi năm 2010 tỉnh Hà Tĩnh có đến 183 xã dưới 5 tiêu chí, trong đó có 20 xã không đạt
Trang 30khu vực nông thôn của Hà Tĩnh đạt 28 triệu đồng/người/năm, tăng 3,3 lần so với năm2010; tỷ lệ hộ nghèo còn 5,82%; toàn tỉnh có 5 xã cơ bản đạt chuẩn NTM kiểu mẫu và huyện Nghi Xuân đạt chuẩn huyện NTM cuối năm 2018.
Kết quả lớn nhất trong xây dựng NTM ở Hà Tĩnh là đa số người dân và cán bộ
đã chuyển biến cơ bản tư duy, nhận thức, không còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại Mọingười, mọi nhà, xóm làng đã nhận thức được xây dựng NTM là xây dựng đời sốngmới cho chính mình, vì vậy xác định mình là chủ thể, tự giác thực hiện Đội ngũ cán
bộ từ tỉnh đến huyện, xã, thôn vào cuộc với tinh thần trách nhiệm cao, tâm huyết…[8]
1.2.3 Các nghiên cứu đã có về nông thôn mới liên quan
Trong những năm đổi mới, phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn
đề nông thôn là những chủ đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cơ quan lãnhđạo, quản lý, các cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học trên thế giới cũng như ởnước ta Nhiều công trình nghiên cứu về nông thôn mới đã được xây dựng như:
- GS Phạm Xuân Nam (chủ biên) 1997, “Phát triển nông thôn”, NXB Khoa học
xã hội Trong công trình tác giả đã phân tích sâu sắc về một số nội dung phát triển kinh
tế - xã hội ở nông thôn nước ta; phân tích những mặt đạt được và chỉ ra các tồn tại, yếukém trong phát triển nông thôn ở nước ta, từ đó tác giả đưa ra các giải pháp về hệ thốngchính sách và cách chỉ đạo thực hiện của Nhà nước đề phát triển nông thôn Việt Nam
- PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc (2003) với công trình nghiên cứu: “Nông nghiệp,
nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới”, NXB Thống kê Công trình đã nghiên cứu rất
công phu, phân tích thuyết phục về nông nghiệp Việt Nấmu gần 20 năm đổi mới; cungcấp hệ thống tư liệu về phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta như một niên giámthống kê nông nghiệp thu nhỏ; luận giải rõ những thành tựu và những vấn đề đặt racủa quá trình đổi mới, hoàn thiện chính sách nông nghiệp, nông thôn nước ta trongnhững năm đổi mới; gợi mở những vấn đề cần giải quyết của phát triển nông nghiệp,nông thôn nước ta như vấn đề đầu tư, vấn đề phân hóa giàu nghèo, vấn đề nâng caocạnh tranh, xuất khẩu nông sản đã được tác giả lý giải với nhiều luận chứng có tínhthuyết phục
- Đề tài: “Nghiên cứu hệ thống giải pháp phát triển mô hình NTM” của tác giá
TS Hoàng Trung Lập Viện QKTK Nông nghiệp, thời gian thực hiện 2006-2007 Tácgiả nghiên cứu các chỉ tiêu cơ bản của các xã NTM và các xã lân cận để so sánh sựkhác nha: Xác định những đặc điểm cơ bản mà các mô hình NTM vùng đồng bằng,
Trang 31vùng trung du, vùng miền núi làm cơ sở xác định chỉ tiêu xây dựng chỉ tiêu xây dựng
mô hình NTM: về cơ sở hạ tầng, sản xuất nông nghiệp và những tồn tại Khảo sát các
xã NTM vùng Duyên hải Nam Trung bộ Khảo sát 4 xã NTM và 4 xã kế cần để sosánh tại Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Ninh Thuận; Vùng Đông Nam bộKhảo sát 4 xã NTM và 4 xã kế cần để so sánh tại Bình Dương, Tây Ninh, Bà Rịa VũngTàu, Đồng Nai
- Công trình nghiên cứu: “Giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới trên địabàn huyện Thanh Trương, tỉnh Nghệ An” của tác giả Phan Đình Hà (2011), đưa ra giảipháp để đẩy mạnh nông thôn mới: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền để nhân dân tựhiểu và tự giác thực hiện, tiếp tục vận động nhân dân chuyển đổi, tích tụ ruộng đất, đẩymạnh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Xây dựng và phát triển các tổ chức chính trị
xã hội nông thôn vững mạnh, vận động nhân dân hiến đất để xây dựng nông thôn mới,xây dựng một số công trình liên xã, đẩy mạnh công tác quy hoạch và xây dựng các thịtrấn, thị tứ trên địa bàn
- Công trình nghiên cứu: “Xây dựng NTM về kinh tế tại tỉnh Bến Tre” của tácgiả Nguyễn Văn Ngoan (2014) Luận văn đã phân tích kỹ lưỡng về thực trạng kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội của nông thôn Việt Nam nói chung và của nông thôn tỉnh BếnTre nói riêng; đánh giá những hạn chế trong quá trình tổ chức xây dựng NTM trên địabàn tỉnh Bến Tre, trong đó có những hạn chế cơ chế , chính sách chung của trungương; trên cơ sở đó, luận văn đã đề ra các nhóm giải pháp tăng cường hiệu quả về xâydựng NTM tại tỉnh Bến Tre
Phạm Đi (Nxb Chính trị Quốc gia, 2016) Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn xây dựngnông thôn mới ở các tỉnh Duyên hải miền Trung, tác giả đã phát hiện những khó khăn,vấn đề mới phát sinh, rút ra những bài học kinh nghiệm, từ đó đưa ra một số giải phápnhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chủ trương xây dựng nông thôn mới
Nhận xét:
Các công trình nghiên cứu đã có thể hiện nhiều khía cạnh trong việc xây dựngnông thôn mới tại một số nước trên thế giới cũng như tại Việt Nam và một số địaphương trong cả nước Các nghiên cứu đã chỉ ra một số vấn đề liên quan đến xây dựngnông thôn mới như: Các công cụ, chính sách về xây dựng nông thôn mới; việc tham
Trang 32gia của toàn bộ hệ thống chính trị cũng như sự chung tay của toàn thể nhân dân; từ đóđưa ra các giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới.
Dựa trên các kết quả của các công trình nghiên cứu trên, đề tài luận văn có kếthừa một số điểm chung về kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn, giải pháp đẩymạnh xây dựng nông thôn mới tại xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
Tuy nhiên, với đặc thù là một xã miền núi còn nhiều khó khăn, phong tục tậpquán của đồng bào dân tộc thiểu số còn lạc hậu, ý thức trong việc giữ gìn vệ sinh môitrường còn chưa cao… thì việc đạt chuẩn nông thôn mới tại xã là một thách thứckhông chỉ cho các nhà quản lý mà còn cho nhân dân sinh sống tại xã Các nghiên cứutrong luận văn sẽ chỉ ra những khó khăn trong công tác xây dựng nông thôn mớicũng như các giải pháp để hoàn thành tiêu chí tại xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên, tỉnhLai Châu
1.2.4 Quá trình triển khai thực hiện chương trình nông thôn mới tỉnh Lai Châu
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền vận động, triển khai chương trình: Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã ban hành văn bản lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện
Chương trình xây dựng nông thôn mới; các huyện, thành phố, các xã đã ban hành Nghịquyết để triển khai thực hiện BCĐ các cấp được thành lập, ban hành quy chế hoạtđộng và phân công nhiệm vụ cho các thành viên
Tổ chức Hội nghị quán triệt và triển khai chương trình MTQG xây dựng nôngthôn mới từ tỉnh đến huyện, thành phố, 100% các xã triển khai nội dung chương trìnhNTM gắn với cuộc vận động, lễ phát động thi đua Tổ chức tuyên truyền trên 700 buổivới trên 128.768 lượt người tham gia
Tổ chức đào tạo, tập huấn cán bộ thực hiện chương trình: Tổ chức 59 hội
nghị tập huấn với trên 5.400 lượt người tham gia về: Chủ trương chính sách của Đảng
và Nhà nước về XDNTM; hướng dẫn triển khai xây dựng quy hoạch nông thôn mới, tổchức đánh giá 19 tiêu chí NTM, công tác tuyên truyền vận động trong xây dựngNTM
Công tác huy động nguồn lực: Tổng nguồn vốn đầu tư cho nông thôn mới giai
đoạn 2011-2015: 6.219 tỷ đồng, trong đó: vốn trực tiếp Chương trình: 289 tỷ đồng,chiếm 4,6%; vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án khác: 5.328 tỷ đồng, chiếm85,3%; vốn tín dụng: 465 tỷ đồng, chiếm 7,9%; vốn huy động từ các doanh nghiệp: 34
tỷ đồng, chiếm 0,5%; vốn đóng góp của cộng đồng dân cư: 105 tỷ đồng, chiếm 1,7%
Trang 33Công tác lập quy hoạch, đề án xây dựng nông thôn mới: Hoàn thành công
tác lập quy hoạch chung và xây dựng đề án xây dựng NTM ở 100% số xã theo hướngdẫn của Trung ương, đảm bảo phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xãhội của các huyện, thành phố; triển khai thí điểm quy hoạch chi tiết, quy hoạch khusản xuất tập trung ở một số xã trên cơ sở đó đánh giá hiệu quả và triển khai ở các xãcòn lại trên địa bàn tỉnh
Phát triển hạ tầng nông thôn: 96/96 xã có đường ô tô đến trung tâm xã, 93/96
xã có đường ô tô đến trung tâm đi được 4 mùa (còn 03 xã với 50km chưa được cứnghóa); 931 thôn bản có đường xe máy đi lại thuận tiện (còn 609 km chưa được cứnghóa); cứng hóa 865 km đường giao thông dân sinh, 76 km đường nội đồng; 348 kmkênh mương thủy lợi được cứng hóa; đầu tư xây dựng mới và sửa chữa 801 công trìnhnước sinh hoạt tập trung; 96/96 xã có điện lưới quốc gia; 89/96 xã có điểm bưu điệnvăn hóa, tỷ lệ xã có điện thoại công cộng là 97%, 610 trạm BTS phủ sóng di động gầnhết các xã vùng sâu, vùng biên giới Tỷ lệ phòng học kiên cố và bán kiên cố đạt84,7%; số xã đạt tiêu chí chợ theo quy định là 89 xã
Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân: An ninh lương thực
được đảm bảo, củng cố và phát triển vùng nguyên liệu chè tập trung gắn với côngnghiệp chế biến; phát triển vùng sản xuất tập trung trồng cây ăn quả, cây quế; phươngthức chăn nuôi đã có những bước chuyển biến rõ nét, phát triển nuôi cá nước lạnh tậptrung, nuôi cá lồng trên các hồ thủy điện mang lại hiệu quả kinh tế cao; thực hiện tốtcông tác bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng, phát triển rừng gắn với chi trả dịch vụ môitrường rừng Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 khu vực nông thôn đạt 9,2 triệuđồng/người/năm
Về giáo dục, y tế, văn hóa và môi trường: Đã hoàn thành phổ cập giáo dục
Mầm non, Trung học cơ sở, giáo dục Tiểu học đạt trên 99%; tỷ lệ lao động qua đào tạochuyên môn kỹ thuật đạt 40,11% Hệ thống y tế phát triển khá đồng bộ từ tuyến tỉnhđến cơ sở, với 8 bác sỹ/vạn dân, trên 50% trạm y tế xã có bác sỹ làm việc, trên 50% số
xã đạt tiêu chuẩn quốc gia về y tế, 100% trạm y tế có y sỹ đa khoa Tỷ lệ thôn, bản đạtchuẩn văn hóa đạt 60%, gia đình đạt chuẩn văn hóa đạt 80% Cơ quan, đơn vị, trườnghọc đạt chuẩn văn hóa đạt 90%; trên 75% cư dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệsinh, trên 32% số hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh
Trang 34Hệ thống chính trị: Toàn tỉnh có 2.203 cán bộ, công chức cấp xã, trong đó:
Trình độ chuyên môn Trung cấp trở lên: 1.581/2.203 đạt 71%; trình độ văn hóa: Trunghọc phổ thông: 1.097/2.203 đạt 49,8%; trình độ lý luận chính trị từ Trung cấp trở lên895/2.203 đạt 40,6% 96/96 xã, có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theoquy định; có 92/96 xã Đảng bộ xã đạt tiêu chuẩn "Hoàn thành tốt nhiệm vụ" trở lêntheo quy định; có 94/96 Chính quyền xã đạt danh hiệu "Tập thể Lao động tiên tiến" trởlên;
An ninh trật tự xã hội được giữ vững, không có tổ chức, cá nhân hoạt độngchống Đảng, chính quyền, phá hoại kinh tế; khiếu kiện đông người kéo dài, các thôn,bản ổn định; không có tụ điểm phức tạp về trật tự xã hội và không phát sinh thêmngười mắc tệ nạn xã hội trên địa bàn
Kết quả thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới: Chương trình
Nông thôn mới được cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở quan tâm triển khai, Nhândân các dân tộc trên địa bàn tích cực hưởng ứng tham gia; công tác lập, phê duyệt quyhoạch, đề án đã được thực hiện tại 96/96 xã Bình quân tiêu chí chung toàn tỉnh đếnhết năm 2015 đạt 11,08 tiêu chí/xã Có 15 xã đạt chuẩn, 5 xã đạt 15-18 tiêu chí, 33 xãđạt 10-14 tiêu chí, 43 xã đạt 5-9 tiêu chí và không còn xã dưới 5 tiêu chí Đời sốngnông dân và bộ mặt kinh tế nông thôn có nhiều thay đổi, nhất là nông thôn vùng chè,vùng cao su, vùng có nhiều rừng tự nhiên và các vùng tập trung thâm canh, tăng vụlúa, ngô
Những kết quả đạt được
- Sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa và chú trọngvào những sản phẩm có lợi thế để nâng cao giá trị gia tăng; cơ cấu cây trồng vật nuôiđược chuyển đổi theo hướng tăng dần giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chấtlượng cao Sản phẩm nông nghiệp ngày càng đa dạng, phong phú, giá trị thu nhập trênmột đơn vị diện tích ngày càng tăng; phòng ngừa có hiệu quả dịch bệnh trên cây trồng,vật nuôi Thúc đẩy liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp trong sản xuất, chế biến,tiêu thụ sản phẩm và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất; hình thành rõ nét một sốvùng sản xuất tập trung Tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp bình quân đạt5%/năm Năm 2015, thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn đạt 9,22 triệuđồng/năm, tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn giảm xuống còn 22,95% (theo chuẩnnghèo giai đoạn 2011-2015)
Trang 35- Chương trình xây dựng nông thôn mới có sự vào cuộc quyết liệt của cả hệthống chính trị từ tỉnh đến cơ sở; sự tham gia hưởng ứng nhiệt tình của Nhân dân vàcác tổ chức, doanh nghiệp trong phong trào chung sức xây dựng nông thôn mới, đượcthể hiện thông qua việc hiến đất, góp công, góp tiền của Nhân dân Hệ thống quản lýthực hiện Chương trình các cấp được thành lập, củng cố và kiện toàn; cơ sở hạ tầngthiết yếu từng bước được nâng cấp, hệ thống chính trị cơ sở tiếp tục được củng cố, anninh trật tự được giữ vững, diện mạo nông thôn có nhiều thay đổi
- Hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn được quan tâm đầu tư xây dựng mới vànâng cấp, nhất là giao thông, thủy lợi, nước sạch, mạng lưới điện và hệ thống thông tin.Các hoạt động dịch vụ ở nông thôn từng bước phát triển, cơ bản đáp ứng nhu cầu sảnxuất, tiêu dùng của Nhân dân Một số doanh nghiệp sản xuất, chế biến đã và đang hoạtđộng có hiệu quả, góp phần nâng cao thu nhập, tạo việc làm ổn định cho người dân
Những hạn chế, yếu kém
- Một số nơi cấp ủy đảng, chính quyền chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa và tầmquan trọng của Chương trình xây dựng nông thôn mới; công tác lãnh đạo, chỉ đạo cónơi chưa thực sự quyết liệt, bộ máy giúp việc BCĐ các cấp hoạt động đa số là kiêmnhiệm; năng lực quản lý điều hành của một số cán bộ trong triển khai thực hiệnChương trình chưa đáp ứng được yêu cầu
- Kinh tế nông nghiệp phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế củatỉnh; mô hình tăng trưởng nông nghiệp chủ yếu theo chiều rộng, thông qua tăng vụ,tăng diện tích Phát triển vùng sản xuất hàng hóa tập trung chuyên canh còn chậm, sảnxuất nông nghiệp chủ yếu vẫn là quy mô nhỏ, phân tán, chất lượng và hiệu quả cònthấp Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới và thiếu bền vững, chưa đáp ứngyêu cầu phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa Kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nôngthôn thiếu đồng bộ; ý thức bảo vệ, quản lý khai thác các công trình sau đầu tư trên địabàn nông thôn chưa cao Cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi còn nghèo nàn, chưa chủđộng được giống cây trồng, vật nuôi đảm bảo chất lượng, an toàn dịch bệnh phục vụcho sản xuất
- Chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, sốlượng các HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn còn ít, hiệu quả hoạtđộng của các HTX còn thấp; việc thực hiện liên doanh, liên kết 4 nhà còn hạn chế,
Trang 36chưa hình thành được nhiều sản phẩm hàng hóa nông nghiệp có giá trị và thương hiệu trên thị trường, khả năng cạnh tranh các mặt hàng nông sản còn thấp.
- Nông thôn còn tiềm ẩn một số yếu tố phức tạp; chất lượng giáo dục - đào tạo,
y tế và nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển Thiết chế văn hóa cơ sở cònthiếu; vệ sinh môi trường nông thôn chưa được chú trọng, tình trạng chăn nuôi không
có chuồng trại và không có hố ủ phân còn phổ biến, hộ gia đình không có nhà vệ sinh,rác thải chưa được xử lý làm môi trường sống bị ô nhiễm, ảnh hưởng đến chất lượngcuộc sống cư dân nông thôn
- Nguồn vốn đầu tư của nhà nước cho nông nghiệp, nông thôn chưa đáp ứng đủ
so với nhu cầu, việc tham gia đóng góp từ doanh nghiệp và Nhân dân còn rất hạn chế.Việc lồng ghép các chương trình, dự án trong xây dựng NTM chưa thực sự phát huyhiệu quả
- Công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc chỉ đạo thực hiện Chương trình xây dựngnông thôn mới ở một số địa phương chưa thường xuyên
Nguyên nhân hạn chế, yếu kém
- Nông nghiệp, nông thôn Lai Châu xuất phát điểm thấp so với mặt bằng chungcủa cả nước, trình độ phát triển giữa các dân tộc không đồng đều; xa các trung tâmkinh tế lớn, địa hình chia cắt, trong khi cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là mạnglưới giao thông còn khó khăn là nguyên nhân làm tăng suất đầu tư, tăng giá thành sảnphẩm, hạn chế trong thu hút đầu tư từ bên ngoài vào nông nghiệp, nông thôn Dân cưthưa thớt, rải rác, tỷ lệ hộ nghèo cao, do đó huy động vốn từ Nhân dân khó khăn
- Việc vận dụng, cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách củanhà nước vào thực tế ở một số địa phương còn chậm Sự phối hợp giữa các cấp, cácngành có lúc chưa chặt chẽ; một bộ phận Nhân dân còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào
sự đầu tư hỗ trợ của nhà nước; một số cán bộ quản lý năng lực còn yếu và chưa thực
sự quan tâm đến nông nghiệp, nông thôn Công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành,các đoàn thể trong việc triển khai thực hiện có lúc, có nơi còn thiếu chủ động
- Thiên tai, dịch bệnh xảy ra ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của ngườidân; phong tục, tập quán canh tác lạc hậu tồn tại lâu đời, việc áp dụng tiến bộ khoahọc kỹ thuật và nhân rộng các mô hình có hiệu quả vào sản xuất còn hạn chế; một sốsản phẩm có lợi thế của tỉnh như: Lúa đặc sản địa phương, cá nước lạnh, cây dược
Trang 37liệu chưa được quan tâm đúng mức nên đầu ra của sản phẩm chưa ổn định, giá trị thu được thấp.
1.2.5 Thực hiện chương trình nông thôn mới tại huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
Sau 10 năm triển khai xây dựng NTM, đời sống vật chất, tinh thần của ngườidân dân trên địa bàn huyện đã được nâng lên rõ rệt; kết cấu hạ tầng nông thôn đượcđầu tư đồng bộ và từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế - xã hội và các hình thức tổ chứcsản xuất được chuyển đổi, phát triển theo hướng đa dạng, hợp lý; nông nghiệp pháttriển gắn với phát triển công nghiệp, dịch vụ; đời sống vật chất, tinh thần của nông dânngày càng được cải thiện, xã hội dân chủ, bình đẳng, ổn định, phát huy bản sắc dântộc; môi trường sinh thái được bản vệ; quốc phòng, an ninh được giữ vững
Quy hoạch và thực hiện quy hoạch
Quy hoạch chung NTM mới các xã được xây dựng trên cơ sở các thế mạnh củavùng, bám sát các tiêu chí, đồng thời đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã hộicủa xã đến năm 2020 Nội dung đề án xây dựng nông thôn mới của các xã cơ bản bámsát các nội dung quy hoạch; tiến độ và giải pháp thực hiện phù hợp với kế hoạch hỗ trợđầu tư của Nhà nước và khả năng huy động các nguồn lực khác của địa phương Tuynhiên, công tác xây dựng quy hoạch, đề án vẫn có một số mặt hạn chế nhất định Việc
rà soát điều chỉnh, bổ sung quy hoạch và xác định các nội dung thiết yếu để ưu tiêntriển khai thực hiện còn chậm; một số tiêu chí trong bộ tiêu chí xây dựng nông thônmới không phù hợp với tình hình thực tế của địa phương (như Chợ nông thôn;Internet; diện tích sân thể thao) do vậy rất khó khăn trong việc quy hoạch để đạt cáctiêu chí
Hạ tầng kinh tế - xã hội
+ Giao thông
Phát triển giao thông nông thôn được xác định là khâu đột phá, đáp ứng yêu cầu
đi lại của người dân nên được chú trọng đầu tư, người dân đồng tình và tự nguyện thựchiện góp tiền, ngày công, hiến đất làm đường Phong trào làm đường giao thông nôngthôn với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, được cán bộ, đảng viên vànhân dân đồng thuận cao, kết quả:
- Đường trụ xã, liên xã: Từ năm 2010 đến tháng 9/2020, thực hiện nâng cấp 96
km đương GTNT trục xã, liên xã (giai đoạn 2010 - 2015 thực hiện 89km, giai đoạn
Trang 38hóa đạt chuẩn nông thôn mới là 145/145 km, đạt 100% (tăng, tăng 66,66 % so với năm
2010, tăng 6,9% so với năm 2015) 9/9 xã đạt tiêu chí
- Đường liên bản, trục bản: Từ 2010 đến tháng 9/2020 thực hiện đầu tư nâng cấp,
mở mới bê tông hóa 111,093km đường liên bản, trục bản (giai đoạn 2010 - 2015 thựchiện 62,8km, giai đoạn 2016 - 2020 thực hiện 48,293km) Tổng số km đường được cứnghóa 149,62/178,68 km km, đạt 83,74% (tăng 80,5% so với năm 2010, tăng 49,99% sovới năm 2015) Đến tháng 9/2020, 6/9 xã đạt chỉ tiêu của tiêu chí
- Đường nội bản: Từ năm 2010 đến tháng 9/2020 thực hiện nâng cấp, sửa chữa49,80 km đường nội bản (giai đoạn 2010 - 2015 thực hiện 8,94km, giai đoạn 2016 -
2020 thực hiện 40,860km) Tổng số km đường được cứng hóa 68,618/120,981 km, đạt56,718% (tăng 46,83% so với năm 2011; tăng 42,82% so với năm 2015) Có 07/09 xãđạt nội dung tiêu chí (Xã Hố Mít, Mường Khoa chưa đạt)
- Đầu tư nâng cấp, mở mới được 45,353km đường GTNT nội đồng (giai đoạn
2010 - 2015 thực hiện 9,07km, giai đoạn 2016- 2020 thực hiện 36,283km) Tổng số
km đường nội đồng đã được cứng hóa đạt chuẩn là 46,367/106,467km, đạt 43,6%(tăng 31,49% so với năm 2011, tăng 23,04% so với năm 2015) Có 06/09 xã đạt nộidung tiêu chí (Xã Mường Khoa, Nậm Sỏ, Hố Mít chưa đạt)
+ Thủy lợi
Thực hiện đầu tư, nâng cấp, sửa chữa 68 công trình thủy lợi, 60,2km thủy lợi đãđược đầu tư (giai đoạn 2010-2015 đầu tư 43 công trình thủy lợi, 45,55km; giai đoạn2016-2020 đầu tư 25 công trình, 14,65km) Đến tháng 9/2020 toàn huyện có 103 côngtrình, với tổng số 193,24km kênh mương thủy lợi, với tỷ lệ kiên cố hóa đạt trên 90%.Các công trình xây dựng các đảm bảo đủ điều kiện đáp ứng yêu cầu dân sinh và theoquy định về phòng chống thiên tai, tỷ lệ diện tích đất sản xuất nông nghiệp được tưới
và tiêu nước chủ động đạt từ 90% trở lên (tăng 60,9 % so với năm 2011, 5,0% so vớinăm 2015) Có 9/9 xã đạt tiêu chí
+ Điện nông thôn
Huy động tối đa các nguồn lực đầu tư cơ sở hạ tầng lưới điện nông thôn, khuvực vùng sâu, vùng xa Thực hiện lắp đặt mới 4 trạm biến áp (01 TBA ở xã Nậm Sỏ,công suất 100KVA, 01 TBA ở xã Mường Khoa, công suất 160KVA, 02 TBA ở xãTrung Đồng, công suất 100KVA) Đến tháng 9/2020, toàn huyện đã có 186,8 kmđường dây 35 kv; 250,5 km đường dây 0,4 kv; 116/116 máy biến áp tổng công xuất
Trang 3914.139 Kba Từ năm 2010 đến tháng 9/2020, tiến hành lắp điện thêm cho 3.309 hộ(giai đoạn 2010 - 2015 lắp thêm 2.793 hộ , giai đoạn 2016 -2020 lắp thêm 516 hộ),nâng số hộ được sử dụng điện thường xuyên an toàn từ điện lưới quốc gia của các xãlên 8.442 hộ/8.614 hộ, đạt 97,71% (tăng 23,71% so với năm 2010, tăng 2,71% so vớinăm 2015) Có 9/9 xã có hệ thống điện đạt chuẩn.
+ Trường học
Từ năm 2010 đến tháng 9/2020, đã đầu tư, nâng cấp sửa chữa 30 trường họccác cấp, với 105 phòng học, 30 phòng bộ môn, 17 phòng chức năng, 01 nhà đa năng.Thực hiện sáp nhập 24 trường học các cấp trên địa bàn các xã, số trường sau khi sápnhập giảm từ 38 xuống 26 trường, có 11 trường đạt chuẩn Quốc gia, đạt 42,31% (tăng42,31% so với năm 2010, tăng 24,37% so với năm 2015) Trong đó số trường đạtchuẩn Quốc gia về CSVC 17 trường, chiếm 65,38% Có 6/9 xã đạt tiêu chí
+ Cơ sở vật chất văn hóa
Từ năm 2010 đến tháng 9/2020, thực hiện đầu tư xây dựng 06 nhà văn hóa xã,
74 nhà văn hóa tại các bản Đến tháng 9/2020, 6/9 xã có nhà văn hóa và sân thể thaophục vụ sinh hoạt văn hóa, thể thao, điểm vui chơi, giải trí và thể thao cho trẻ em vàngười cao tuổi theo quy định (tăng 06 xã so với 2011, tăng 03 xã so với 2015); có78/111 bản có nhà văn hóa, đạt tỷ lệ 70,27% đảm bảo nơi sinh hoạt văn hóa, thể thaophục vụ cộng đồng 100% các bản đã xây dựng hương ước, quy ước của bản, xã và môhình lành mạnh hóa việc cưới, tang lễ chống thủ tục lạc hậu và quản lý các công trìnhsau đầu tư
+ Hệ thống chợ, cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn
Giai đoạn 2006-2015 trên địa bàn huyện có 02 xã quy hoạch chợ là xã PhúcKhoa, Pắc Ta Năm 2007 đầu tư xây dựng 01 chợ xã Phúc Khoa, năm 2012 đã nângcấp sửa chữa 01 chợ xã Pắc Ta Tuy nhiên do hoạt động của các chợ kém hiệu quả Dovậy đã điều chỉnh quy hoạch chợ xã Phúc Khoa thành nhà văn hóa xã
Đến tháng 9/2020, trên toàn huyện duy trì trì thực hiện 01 chợ tại xã Pắc Ta, lànơi trảo đổi, mua bán của xã Pắc Ta và xã Hố Mít Các giao dịch của Nhân dân của các
xã còn lại chủ yếu ở chợ trung tâm huyện, tại một số xã xa trung tâm như Tà Mít, Nậm
Sỏ, đã hình thành các điểm mua bán nhỏ lẻ, là nơi để Nhân dân tập trung để giaodịch, trao đổi mu bán hàng hóa Hiện có 09/09 xã đạt tiêu chí
Trang 40Từ năm 2010 đến tháng 9/2020, thực hiện đầu tư lắp đặt 21 cụm loa khôngdây tại các bản trên địa bàn xã Trung Đồng với tổng kinh phí đầu tư là 145.404.000đồng, lắp đặt mới 02 Trạm Truyền thanh không dây tại 02 xã (Trung Đồng, Hố Mít),lắp đặt mới 30 cụm thu FM đài huyện tại các bản trên địa bàn các xã: Pắc Ta, PhúcKhoa, Thân Thuộc; lắp đặt mới 03 trạm truyền thanh không dây tại các xã: Tà Mít,Nậm Sỏ, Mường Khoa; nâng cấp Trạm Truyền thanh xã Pắc Ta với tổng kinh phí đầu
tư là 913.275.000 đồng Di chuyển Trạm phát sóng truyền thanh xã Thân Thuộc vớikinh phí 30.000.000 đồng Kế hoạch trong năm 2019 đầu tư, lắp đặt bổ sung 01 trạmtruyền thanh không dây tại bản Hô Ít, xã Nậm Sỏ; lắp đặt các cụm loa không dây trênđịa bàn xã Hố Mít với tổng kinh phí dự kiến là 296.000.000 đồng Góp phần duy trì,nâng cao kết quả thực hiện tiêu chí số 8 về Thông tin và Truyền thông UBND huyện
đã thực hiện tốt ứng dụng phần mềm theo dõi văn bản của huyện và ứng dụng CNTT
để giải quyết thủ tục hành chính tại bộ phận một cửa 100% xã có ứng dụng côngnghệ thông tin và trên 90% công chức, viên chức cấp xã có máy tính phục vụ nhiệm
vụ chuyên môn
+ Nhà ở dân cư
Từ năm 2010 đến tháng 9/2020, thực hiện vận động, hỗ trợ các hộ gia đình xóađược 550 nhà tạm (giai đoạn 2010 - 2015 xóa được 215 nhà, giai đoạn 2016-2020 xóađược được 335 nhà tạm) Đến tháng 9/2020, toàn huyện còn 140 nhà tạm; 6/9 xã khôngcòn nhà tạm, dột nát, tăng 06 xã so với 2011, tăng 04 xã so với năm 2015.Tỷ lệ nhà đạtchuẩn theo quy định 81,06% (tăng 24,46% so với năm 2011, tăng 21,16% so với năm2015); có 6/9 xã đạt nội dung tiêu chí
Kinh tế và tổ chức sản xuất
Công tác phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho Nhân dân luôn đượcUBND huyện quan tâm và tập trung chỉ đạo như đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nôngnghiệp gắn với thực hiện các đề án chè, quế, mắc ca, đề án sản xuất nông sản hànghóa, … Triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, cácchính sách từ chương trình MTQG giảm nghèo, …đã góp phần tạo thêm nhiều việclàm mới, nâng cao thu nhập gắn với giảm nghèo cho người dân Kết quả: Có 08 xã đạttiêu chí thu nhập, hộ nghèo (Phúc Khoa, Nậm Cần, Pắc Ta; Thân Thuộc; Trung đồng,
Tà Mít; Mường Khoa;Hố Mít); 09/09 xã đạt tiêu chí lao động có việc làm Cụ thể cáctiêu chí như sau:
+ Thu nhập
Thu nhập bình quân đầu người các xã trên địa bàn huyện đạt 32,67 triệu