LỜI MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 I. Tìm hiểu về quan hệ chủ thể của pháp luật Dân sự Việt Nam hiện hành. 2 1. Chủ thể quan hệ pháp luật 2 2. Năng lực pháp luật và năng lực hành vi pháp luật của cá nhân 3 3. Các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự 4 3.1. Cá nhân 4 3.2. Pháp nhân 5 3.3. Hộ gia đình, tổ hợp tác 5 4. Tư cách chủ thể của cá nhân khi tham gia giao dịch dân sự 6 5. Nguyên tắc xác định năng lực pháp luật của các chủ thể nước ngoài 10 II. Ví dụ về quan hệ chủ thể pháp luật dân sự 11 KẾT LUẬN 13 DANH MỤC THAM KHẢO 14
Trang 1TIỂU LUẬN LUẬT KINH TẾ 1
Đề 7: Tìm hiểu về quan hệ chủ thể của pháp luật Dân sự Việt Nam hiện hành.
M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
I Tìm hiểu về quan hệ chủ thể của pháp luật Dân sự Việt Nam hiện hành 2
1 Chủ thể quan hệ pháp luật 2
2 Năng lực pháp luật và năng lực hành vi pháp luật của cá nhân 3
3 Các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự 4
3.1 Cá nhân 4
3.2 Pháp nhân 5
3.3 Hộ gia đình, tổ hợp tác 5
4 Tư cách chủ thể của cá nhân khi tham gia giao dịch dân sự 6
5 Nguyên tắc xác định năng lực pháp luật của các chủ thể nước ngoài 10
II Ví dụ về quan hệ chủ thể pháp luật dân sự 11
KẾT LUẬN 13
DANH MỤC THAM KHẢO 14
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Con người là chủ thể đầu tiên và cơ bản trong tất cả các mối quan hệ xã hội Nhà nước ra đời với bản chất gia cấp đồng thời cũng mang bản chất xã hội Bản chất xã hội của nhà nước thể hiện bằng việc thông qua các cơ quan quyền lực của mình, nhà nước điều chỉnh các mối quan hệ chủ yếu và quan trọng xã hội Nói như vậy có nghĩa là nhà nước điều chỉnh con người trong xã hội thông qua việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Nói riêng về các mối quan hệ trong xã hội dân sự, luật pháp nước ta chia làm hai mảng chính: quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân nhưng điều
đó không nói lên rằng quan hệ dân sự thiếu tính đa dạng mà chính là thể hiện sự phức tạp của vấn đề Tham gia vào các mối quan hệ pháp luật dân sự, con người thể hiện những tư cách chủ thể khác nhau
Tại sao phân chia tư cách chủ thể? Một lý do có thể thấy: trong dân sự các chủ thể tham gia với mong muốn đó là sự giao dịch này phải có đảm bảo được độ tin cậy, người tham gia làm sao thoả mãn được ý chí của mình (có thể giao dịch hoặc không thể giao dịch) Luật dân sự có quy định riêng cho mỗi chủ thể tham gia, tính bảo đảm tư cách chủ thể được luật dân sự đảm bảo về quyền và nghĩa vụ: cá nhân tham gia có quyền, nghĩa vụ khác với quyền và nghĩa vụ pháp nhân tham gia
Vì những vấn đề trên, em sẽ nghiên cứu con người với tư cách chủ thề trong quan
hệ pháp luật dân sự Và vấn đề nghiên cứu đề cập trong bài nghiên cứu này là:
“Tìm hiểu về quan hệ chủ thể của pháp luật Dân sự Việt Nam hiện hành” con nguời tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự là cá nhân - một chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự
Trang 3NỘI DUNG
I Tìm hiểu về quan hệ chủ thể của pháp luật Dân sự Việt Nam hiện hành.
1 Chủ thể quan hệ pháp luật
Cá nhân hay tổ chức có năng lực pháp luật và năng lực hành vi pháp luật, tham gia vào các quan hệ pháp luật, có quyền và nghĩa vụ pháp lí nhất định
Nói một cách chung nhất, cá nhân, tổ chức có thể là chủ thể quan hệ pháp luật, nhưng đi vào cụ thể thì có sự phân biệt giữa cá nhân và tổ chức với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật
Cá nhân có thể là công dân, người nước ngoài, người không quốc tịch Với tư cách
là công dân, cá nhân là chủ thể của quan hệ pháp luật ở những mức đô khác nhau Mọi cá nhân - công dân từ khi sinh ra được pháp luật công nhận là có năng lực pháp luật, khả năng có quyển và có nghĩa vụ pháp lí Cá nhân công dân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ Cá nhân -công dân từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi xác lập, tham gia các quan hệ pháp luật, xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi Cá nhân - công dân từ khi sinh ra đến chưa đủ 6 tuổi chỉ có năng lực pháp luật mà chưa có năng lực hành vi dân sự, mọi giao dịch dân sự đều phải
do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện Cá nhân - công dân mất năng
Trang 4lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự cũng là chủ thể quan hệ pháp luật hạn chế theo quy định của pháp luật
Tổ chức chỉ khi là pháp nhân mới là chủ thể đầy đủ của quan hệ pháp luật, các tổ chức khác phụ thuộc vào tư cách pháp lí khác nhau, cũng có thể là chủ thể của các quan hệ pháp luật, nhưng ở phạm vi nhất định
Người nước ngoài, người không quốc tịch đều là chủ thể quan hệ pháp luật, trừ những quan hệ pháp luật mà chỉ công dân mới được thực hiện
2 Năng lực pháp luật và năng lực hành vi pháp luật của cá nhân
a) Năng lực hành vi dân sự
Theo quy định tại điều 19 Bộ luật Dân sự 2015, năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự
Ví dụ: Khi đủ 18 tuổi, con gái có quyền đăng ký kết hôn
Điều 19 Bộ luật Dân sự 2015 quy định năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự Theo đó tùy theo từng điều kiện, năng lực hành vi dân sự của mỗi cá nhân là khác nhau
=> Việc đăng ký kết hôn thể hiện năng lực hành vi dân sự
b) Năng lực pháp luật dân sự
Điều 16 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự”
Trang 5Có nghĩa là, Nhà nước công nhận và trao cho cá nhân quyền cũng như nghĩa vụ dân sự
Đây là tiền đề, điều kiện cần thiết để công dân có quyền, có nghĩa vụ; là thành phần không thể thiếu được của cá nhân với tư cách chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự,
là một mặt của năng lực chủ thể
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết
Ví dụ: Con người ngay từ khi sinh ra đã có quyền được khai sinh, có họ tên
3 Các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự
3.1 Cá nhân
Đây là chủ thể chủ yếu tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự và tham gia thường xuyên bao gồm: công dân Việt Nam, người nước ngoài , người không có quốc tịch sống ở Việt Nam được quy định tại Chương III Bộ luật Dân sự Để có tư cách chủ thể thì cá nhân phải có các điều kiện đầy đủ năng lực pháp luật dân sự (Điều 14) “
1 Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự
và nghĩa vụ dân sự
2 Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau
3 Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết” và năng lực hành vi dân sự (Điều 17) “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.” Năng lực hành vi dân sự của cá nhân chỉ có được khi đạt
độ tuổi nhất định:
Trang 6– Năng lực hành vi dân sự đầy đủ: Theo quy định tại Điều 19 người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi đủ 18 tuổi trở lên nhưng không bị mắc bệnh tâm thần, bệnh khác (Điều 22) hoặc người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác (Điều 23)
– Năng lực hành vi một phần: Điều 20 quy định Năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác, trường hợp có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
-Không có năng lực hành vi dân sự : là người chưa đủ 6 tuổi theo quy định Điều 21 – Mất năng lực hành vi dân sự và hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định Điều 22 và Điều 23
3.2 Pháp nhân
Cơ quan, tổ chức, chủ thể khác tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập có các kiện quy định tại Điều 84 về Pháp nhân: Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ 4 điều kiện sau đây:
Thứ nhất, là được thành lập hợp pháp: thành lập theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định;
– Thứ hai, là có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;
Trang 7– Thứ ba, là có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó: pháp nhân phải có tài sản riêng không phụ thuộc và bị chi phối bởi bất kì chủ thể tham gia quan hệ pháp luật nào khác, trên cơ sở tài sản riêng đó pháp nhân phải chịu trách nhiệm, thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình
– Thứ tư, là nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập: vì tham gia vào quan hệ pháp luật một cách độc lập nên pháp nhân sẽ được hưởng các quyền và gánh vác các nghĩa vụ dân sự phù hợp với pháp nhân nên pháp nhân phải nhân danh chính mình
3.3 Hộ gia đình, tổ hợp tác
Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự là hộ gia đình
Điều 106 quy định: “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này.”
Để có tư cách chủ thể hộ gia đinh phải xác định được các thành viên của hộ Chỉ những hộ gia đình đáp ứng đủ các điều kiện sau mới trở thành chủ thể của quan hệ dân sự:
– Các thành viên trong hộ gia đình có tài sản chung;
– Cùng đóng góp công sức hoạt động kinh tế chung;
– Phạm vi những loại việc dân sự mà hộ gia đình tham gia chỉ giới hạn trong một
số lĩnh vực do pháp luật quy định
Trang 8Thời điểm phát sinh và chấm dứt tư cách chủ thể của hộ gia đình là không xác định.
Tư cách chủ thể của hộ gia đình được xác định thông qua mục đích của giao dịch
và lĩnh vực giao dịch
Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự là Tổ hợp tác
Quy định tại Điều 111: “1 Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác
có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn của từ ba cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm là chủ thể trong các quan hệ dân sự.”
Tư cách tổ hợp tác được hình thành khi có hợp đồng hợp tác và tiến hành đăng ký tại UBND cấp xã
4 Tư cách chủ thể của cá nhân khi tham gia giao dịch dân sự
Tư cách chủ thể của cá nhân khi tham gia giao dịch dân sự được hiểu là năng lực chủ thể của cá nhân đó, tùy từng trường hợp mà Bộ luật dân sự 2015 sẽ có quy định
về những cá nhân không được quyền tham gia giao dịch dân sự cụ thể
Năng lực chủ thể của cá nhân bao gồm năng lực hành vi dân sự và năng lực pháp luật dân sự Trong đó năng lực pháp luật là quyền xử sự của chủ thể được ghi nhận
và được phép thực hiện Năng lực hành vi là khả năng tự có của chủ thể trong việc thực hiện, kiểm soát và làm chủ hành vi của mình
Bộ luật dân sự 2015 định nghĩa về năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự như sau:
Điều 14 Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
Trang 91 Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự
và nghĩa vụ dân sự
Điều 17 Năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự
Chủ thể giao dịch Dân sự bao gồm nhiều loại cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình … Mặt khác, thuật ngữ “cá nhân” bao gồm cả công dân Việt Nam và người nước ngoài Như vậy, có thể hiểu năng lực pháp luật Dân sự của cá nhân là phạm vi các quyền mà bằng pháp luật Nhà nước đã ghi nhận cho công dân mình Theo quy định tại Điều 18 Bộ luật dân sự 2015 thì năng lực pháp luật Dân sự của cá nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp do pháp luật quy định Vì thế, mọi cá nhân đều được coi là đủ năng lực pháp luật Dân sự khi tham gia giao dịch, ngoại trừ những trường hợp cá nhân đó đã bị pháp luật hạn chế một quyền nào đó vốn là mục đích của giao dịch mà cá nhân đó tham gia
Do vậy, chủ yếu chỉ cần xem xét đến năng lực hành vi của chủ thể là có thể xác định được năng lực chủ thể trong giao dịch dân sự Có thể hiểu năng lực hành vi dân sự cụ thể như sau: “năng lực” là điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện hoạt động nào đó, “hành vi” là cách cư xử biểu hiện ra ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định Vì thế, năng lực hành vi là khả năng thực hiện xử sự và kiểm soát làm chủ các xử sự đó của cá nhân Đồng thời cũng có thể hiểu năng lực hành vi dân sự ở góc độ là sự tổng hợp giữa 2 yếu tố: lý trí, mong muốn và khả năng thực hiện, kiểm soát hành vi
Trang 10Có thể nói rằng khi ban hành Bộ luật dân sự 2015, các nhà làm luật đã căn cứ vào các phương diện trên để xác định và ghi nhận các mức độ năng lực hành vi Dân sự
cá nhân Bộ luật dân sự 2015 căn cứ vào độ trưởng thành về thể chất và nhận thức của cá nhân để xác định cá nhân ở độ tuổi nào, nhận thức ra sao thì được thừa nhận
là có năng lực hành vi ở mức độ tương ứng Theo quy định tại các Điều 20, 21, 22,
23, 24, 25 của Bộ luật dân sự 2015 pháp luật đã thừa nhận năng lực hành vi Dân sự của cá nhân theo các mức độ khác nhau Trong mỗi mức độ đó, các cá nhân có quyền tham gia giao dịch Dân sự trong một phạm vi tương ứng
– Cá nhân có năng lực hành vi đầy đủ: Điều 21 Bộ luật dân sự 2015 quy định: Người thành niên có năng lực hành vi Dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại Điều 24 và Điều 25 của Bộ luật này Và các cá nhân nhận được thừa nhận là có năng lực hành vi Dân sự đầy đủ sẽ được coi là có đủ năng lực để tự tham gia mọi giao dịch Dân sự
– Cá nhân có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ: Bao gồm các cá nhân từ đủ 16 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, có sự phát triển bình thường về nhận thức Ở lứa tuổi này,
họ là những người có nhận thức lí trí nhưng chưa đủ để có thể làm chủ, kiểm soát mọi hành vi của mình Họ có thể nhận thức hành vi này nếu hành vi đó có tính chất
và mức độ giản đơn nhưng lại không hề nhận thức được các hành vi khác nếu hành
vi đó có tính chất mức độ phức tạp
Vì thế luật chỉ thừa nhận họ có tư cách chủ thể để xác lập, thực hiện các giao dịch Dân sự nào nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của họ và có sự phù hợp giữa giao dịch đó với lứa tuổi của họ Mặt khác, để đảm bảo nhu cầu chính đáng của các cá nhân ở mức độ năng lực hành vi này, luật còn cho phép họ xác lập các giao dịch khác nếu có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật hoặc tự
Trang 11mình xác lập, thực hiện các giao dịch Dân sự nếu họ có đủ tài sản riêng để đảm bảo việc thực hiện các giao dịch Dân sự nếu họ có đủ tài sản riêng để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ (Điều 22 Bộ luật dân sự 2015)
– Cá nhân chưa có năng lực hành vi dân sự: Bộ luật dân sự 2015 không quy định về mức độ này mà chỉ quy định về người không có năng lực hành vi Dân sự ( Điều 23
Bộ luật dân sự 2015) Tuy nhiên, những cá nhân ở độ tuổi này là người không thể bằng nhận thức suy luận để có thể điều khiển được hành vi nào của mình Vì vậy,
họ là người không có năng lực chủ thể để tham gia bất kì một giao dịch Dân sự nào Các giao dịch nhằm phục vụ cho nhu cầu của những người này đều phải do người đại diện theo pháp luật của họ xác lập và thực hiện
– Cá nhân bị hạn chế năng lực hành vi dân sự: Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự trước hết là người đã thành niên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nhưng lại rơi vào tình trạng như điều 2 của Bộ luật dân sự 2015 đã dự liệu Nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho những người liên quan, pháp luật quy định tòa án được quyền tuyên bố hạn chế năng lực hành vi của những người rơi vào tình trạng
“Nghiện ma túy hoặc các chất kích thích khác dẫn đến phá tài sản của gia đình” theo yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan
Kể từ thời điểm quyết định tuyên bố người bị hạn chế năng lực hành vi Dân sự của tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi quyết định đó bị hủy bỏ thì cá nhân không được tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự Họ chỉ được coi là có đủ năng lực để tự xác lập, thực hiện những giao dịch nhỏ nhằm khắc phục cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của bản thân họ Họ muốn tham gia các giao dịch khác phải có
sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật của họ