Nâng cao chất lượng giao tiếp trong môn Ngữ văn cho học sinh trường THCS ; Nâng cao chất lượng giao tiếp trong môn Ngữ văn cho học sinh trường THCS ; Nâng cao chất lượng giao tiếp trong môn Ngữ văn cho học sinh trường THCS ; Nâng cao chất lượng giao tiếp trong môn Ngữ văn cho học sinh trường THCS Nâng cao chất lượng giao tiếp trong môn Ngữ văn cho học sinh trường THCS
Trang 1MỤC LỤC
1.2 Tổng quan các vấn đề liên quan đến giải pháp 4
1.5 Các phương pháp thực hiện ở trường THCS 7
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 21.1 Sự cần thiết hình thành giải pháp: có hai yếu tố cần sau đây:
* Thứ nhất là dựa vào tình hình thực tế chung của xã hội hiện nay:
- Một trong những yếu tố khá quan trọng góp phần thành công trong cuộc sống của mỗi cá nhân chính là giao tiếp bằng ngôn ngữ ( nói hoặc viết).
Trang 3- Ví dụ:
+ Một sinh viên muốn có bằng tốt nghiệp, ngoài thi cử phải có luận án,nhưng nếu như bản luận án ấy viết lan man, dài dòng, dùng sai từ, câu cụt, câuquè, thiếu tính thuyết phục khiến người đọc, người chấm khó hiểu thì chắc
chắn hậu quả lớn nhất dành cho “tác gia” thiếu năng lực sử dụng ngôn ngữ kia
là: về xin tiền ba má học lại năm nữa
+ Đủ 18 tuổi, xin việc làm để không trở thành người ăn bám, các công dâncủa chúng ta lao vào làm hồ sơ, đăng kí phỏng vấn, hi vọng con đường tương lai
mở rộng như họ ước mơ, chỉ tiếc vốn ngôn ngữ giao tiếp quá tệ, ấp úng, nói
chẳng thành câu, chẳng diễn đạt nỗi bằng lời những ý tưởng, nguyện vọng, tiêu chí, mục đích của bản thân Và điều tệ hại gì đã xảy ra? Xách giỏ về nhà tiếp
tục làm “ Khúc thịt thừa của xã hội”, và gặm nhấm sự hối hận trong tim “ Vì
sao ngày xưa mình không rèn luyện ngôn ngữ trong mỗi giờ học Ngữ Văn?”
- Còn rất nhiều tình huống đau lòng xảy ra trong cuộc sống sau này khi conngười từng vô tình xem thường những giây phút quí báu hiếm hoi rèn ngôn ngữgiao tiếp
* Thứ hai là căn cứ vào tình hình thực tiễn về việc nói, viết văn của HS
trường THCS : không đạt yêu cầu chung Mà HS đã không đạt yêu cầu chung thì
hậu quả thứ nhất là thi lại, thứ hai là ở lại, thứ ba là sau này vần đề đứng vững
trong xã hội bằng năng lực bản thân là vấn đề nan giải.
- Chính vì vậy, tôi cho rằng tất cả những yếu tố trên là sự cần thiết và đủđiều kiện để hình thành giải pháp Năm học 2019-2020, tôi đã viết sáng kiến
kinh nghiệm: “ Nâng cao chất lượng giao tiếp trong môn Ngữ văn cho học
sinh trường THCS ” Sau một năm ứng dụng, tôi thấy sáng kiến này có hiệu quả nên năm học 2018-2019, tôi tiếp tục rút kinh nghiệm, điều chỉnh và hoàn
thiện sáng kiến trên và đặt tên cho giải pháp ấy là: Một số biện pháp nâng cao
kĩ năng nói, viết trong môn Ngữ văn cho học sinh khối 6,7 ở trường THCS
” Giải pháp này chỉ tập trung vào các kinh nghiệm dùng các phương pháp áp
dụng nâng cao kĩ năng viết, nói, làm bài đạt yêu cầu với mục đích giúp HS làm
chủ vốn ngôn ngữ giàu có để vững tin với bản thân và thành công trong cuộcsống
Trang 4-Tôi nghĩ rằng tôi sẽ còn chỉnh sửa, rút kinh nghiệm để hoàn chỉnh sáng kiến kinh nghiệm này qua nhiều thực nghiệm ở trường.
1.2 Tổng quan các vấn đề liên quan đến giải pháp:
- Căn cứ vào nội dung giải pháp “Một số biện pháp nâng cao kĩ năng nói, viết trong môn Ngữ văn cho học sinh khối 6,7 ở trường THCS ” của mình, tôi trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu giải pháp tập trung các mặt
sau:
* Nội dung:
+ Hệ thống hóa, chọn lọc, tổng hợp tất cả tài liệu, bài viết đã được công
bố từ SGK, SGV Ngữ văn 6,7,8,9; sách chuẩn kĩ năng kiến thức, sách giáo dục
kĩ năng sống có liên quan mật thiết đến đề tài giải pháp của tôi hoặc liên quanmật thiết đến các vấn đề, các mục cần được đề cập trong giải pháp
+Cung cấp các phương pháp, giải pháp, thủ pháp, biện pháp cụ thể của đềtài, có những ví dụ hoặc bằng chứng minh họa
+Tôi đã phân tích, đánh giá và nêu rõ những mặt thành công và mức độthành công của giải pháp này, đồng thời đưa ra những bằng chứng cụ thể (nhữngbài làm của những HS yếu tưởng chừng như khó có khả năng lên lớp môn Ngữvăn trước khi áp dụng giải pháp này thì phạm phải nhiều khiếm khuyết và điểmthấp như thế nào; sau khi áp dụng giải pháp thì bài đã đạt yêu cầu ra sao; hoặcnhững HS có bài làm tương đối tốt khi áp dụng giải pháp này) trong việc giảiquyết các vấn đề liên quan đến đề tài hoặc liên quan mật thiết đến các vấn đềcần được đề cập trong đề tài này; những quan điểm, luận điểm về ngôn ngữ đãđược thừa nhận rộng rãi, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu đã được sửdụng trong sáng kiến này
- Lựa chọn và xác định những vấn đề thuộc nội dung giải pháp cần và sẽ tập trung giải quyết
* Cấu trúc: Hình thành cấu trúc rõ ràng gồm 4 phần.
* Văn phong:
-Văn phong khoa học (Tôi sẽ lí giải hai nguyên nhân dùng văn phong
khoa học:Thứ nhất đề tài này là một nghiên cứu khoa học nên phải dùng văn
Trang 5phong khoa học, có sự gọt giũa, tập hợp, chọn lọc, tổng hợp của tôi khi đọc các
sách tham khảo sao cho phù hợp với sáng kiến của bản thân- điều đó có nghĩa là
sáng kiến này ra đời trước hết là dựa vào tình hình thực tế ở trường trong quá trình giảng dạy mà đúc kết kinh nghiệm, sau đó căn cứ vào các sách tham khảo mang tính khoa học có liên quan đến giải pháp)
- Văn phong tự sự, biểu cảm, nghị luận ( là ý kiến của bản thân trong
quá trình áp dụng sáng kiến vào thực tế với từng trường hợp cụ thể đã có quátrình, kết quả như thế nào)
* Độ lớn: khoảng 7 ngàn từ
* Nguồn tin: Tham khảo sách giáo khoa, sách giáo viên Ngữ văn 6,7,8,9 ,
sách chuẩn kiến thức kĩ năng, Đại từ điển Tiếng Việt, nguồn tin online
* Sử dụng: là sáng kiến kinh nghiệm hoàn toàn độc lập.
1.3 Mục tiêu của giải pháp:
-Để khám phá và lĩnh hội tri thức thì năng lực tư duy là yêu cầu đầu tiên vàquan trọng nhất cần phải có Trong xu thế hội nhập ngày càng cao và toàn diệncủa thế giới, tri thức tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của kinh tế và văn hóathì yêu cầu rèn luyện tư duy cho con người nói chung và HS nói riêng là vấn đềđược đặt lên hàng đầu của mọi nền giáo dục và toàn xã hội
-Trong thực tế, phát triển tư duy cho HS đã được xem là mục tiêu quantrọng của dạy học trong nhà trường Để đạt được mục tiêu đó, chương trình dạyhọc phải xây dựng theo hướng đồng tâm và phát triển; phát huy tính tích cực,chủ động, sáng tạo của HS Đây là những điều kiện tốt để tư duy HS hình thành
và phát triển Thực tiễn giảng dạy đã cho thấy rằng học sinh nào yếu về tư duyđồng thời cũng yếu về ngôn ngữ và ngược lại, em nào yếu về ngôn ngữ cũngyếu về năng lực tư duy
-Nhằm phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, để đạt đến mục tiêu
là hình thành và phát triển năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ( nói, viết) cho các
em, giúp HS làm bài đạt yêu cầu, góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục của môn Ngữ văn, ngoài ra còn giúp ích các em trau dồi vốn ngôn ngữ giao
Trang 6tiếp hiệu quả khi vào cuộc sống Và bản thân tôi tích lũy kinh nghiệm tìm kiếm
kiến thức mạnh dạn đưa ra những biện pháp giảng dạy nhằm nâng cao kĩ
năng nói, viết cho học sinh.
1.4 Các căn cứ đề xuất giải pháp:
1.4.1 Căn cứ cơ sở lí luận:
- Theo tôi, ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong việc phát triển trí tuệ cho trẻ Ngôn ngữ là phương tiện nhận thức thế giới xung quanh, là cơ sở của mọi sự suy nghĩ, là công cụ của tư duy HS phải ý thức được chức năng của ngôn ngữ,
nắm vững các phương tiện, kết cấu và quy luật cũng như hoạt động hành chức
của nó HS cần hiểu rõ người ta nói và viết không phải chỉ để cho mình mà còn
cho người khác, do đó ngôn ngữ cần chính xác, rõ ràng, đúng đắn, dễ hiểu.
Đồng thời, vì ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp nên phải lấy hoạt động giao tiếplàm phương tiện để dạy và học Ngữ văn Ngôn ngữ luôn luôn gắn bó chặt chẽ
với tư duy, “Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng” (C.Mác) Tư duy của
con người không thể phát triển nếu thiếu ngôn ngữ Việc chiếm lĩnh ngôn ngữ nhằm tạo ra những tiền đề để phát triển tư duy
- Mà hiện nay, một trong những định hướng phát triển năng lực của HSchính là phát triển tư duy, sáng tạo nên tôi cho rằng nâng cao kĩ năng nói, viết là
một trong những con đường tương đối bằng phẳng và ngắn nhất để góp phần
thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo học sinh thành những con người năng động, sáng tạo, độc lập, tiếp thu được những tri thức khoa học kĩ thuật hiện đại, biết vận dụng tìm ra các giải pháp để ứng xử hợp lí cho những vấn đề trong cuộc sống của bản thân và xã hội, thì việc giảng dạy cho học sinh biết vận dụng ngôn ngữ trong giao tiếp là một nghĩa vụ của người giáo viên ngữ văn được làm
và phải làm.
1.4.2 Căn cứ cơ sở thực tiễn:
-Xuất phát từ thực tế học sinh của trường THCS chất lượng môn văn còn
thấp, nhiều học sinh xem nhẹ không thích học thậm chí quan niệm sai lầm nó là
Trang 7môn xã hội cần gì phải học,… những sai lầm này là nguyên nhân dẫn đến sự
yếu kém trong việc tạo lập văn bản nói-viết Cụ thể qua những tiết học luyện nói,
bài Tập làm văn học sinh viết, nói vụng về, câu cụt, câu què, không biết dùng từ
đặt câu, bài viết thiếu tính mạch lạc, không thống nhất nội dung, làm bài thì
không đạt yêu cầu… Từ thực tiễn trên mà bản thân tôi có sự trăn trở và cuối
cùng rút ra được kinh nghiệm sử dụng các phương pháp nâng cao kĩ năng giaotiếp cho học sinh
1.5 Phương pháp thực hiện ở trường THCS:
-Thông qua giảng dạy môn Ngữ văn ở THCS và kinh nghiệm qua nhiềunăm thực hiện đổi mới chương trình sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạyhọc tích cực, dạy học theo định hướng và phát triển năng lực của HS, tôi đã kếthợp nhiều phương pháp hỗ trợ để triệt để sử dụng được giải pháp nêu trong phần2
+ Phương pháp thực tiễn
+ Phương pháp so sánh, đối chiếu
+ Phương pháp thống kê
+Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ
+ Phương pháp đối chiếu chọn lựa từ ngữ giao tiếp
+ Phương pháp phân loại đối tượng giao tiếp
+ Phương pháp thực hành trong văn nói, tạo lập văn bản
+ Phương pháp thăm dò, điều tra, tiếp cận, trao đổi, tìm hiểu đối tượng HS.+ Phương pháp trực quan sinh động
+ Phương pháp tăng cường sử dụng công nghệ thông tin hỗ trợ dạy học.+ Phương pháp vận dụng dạy học theo tình huống
+ Phương pháp bằng lời, vấn đáp
1.6 Đối tượng và phạm vi áp dụng:
- Đối tượng là học sinh lớp 6/1,6/2,7/3,7/4 THCS
Trang 8- Phạm vi áp dụng là trường THCS nói riêng và các trường THCS nói chung.
2 Quá trình hình thành và nội dung giải pháp:
2.1 Quá trình hình thành giải pháp:
-Trước khi nghiên cứu và thực hiện giải pháp này, tôi thấy thực trạng họcsinh học môn Ngữ Văn khó cảm nhận văn bản, không hiểu được từ ngữ trongvăn bản, từ đó dẫn đến việc nói, viết không được trôi chảy khi tạo lập văn bản.Nội dung viết nghèo, sử dụng từ ngữ sai, không có ý nghĩa, thậm chí viết saichính tả trong văn bản quá nhiều Đặc biệt khi nói hay trả lời bất kì một vấn đềnào luôn ấp úng, nói không trôi chảy, mạch lạc, thiếu tính hệ thống Tệ hại hơn
thế nữa chính là làm bài kiểm tra không đạt yêu cầu Tất cả những thực trạng
trên là do nguyên nhân vốn từ của học sinh nghèo dẫn dến việc giao tiếp kém thiếu tính thuyết phục đối tượng.
- Thật ra các phương pháp nâng cao kĩ năng nói, viết, làm bài kiểm tra đạt yêu cầu cho học sinh không bắt nguồn từ sự nghiên cứu khoa học mà hình thành trong thực tiễn đứng lớp giảng dạy Ngữ văn cấp THCS Trước năm học 2015-
2016, tôi đã nhận thấy được môn văn tuy là tiếng mẹ đẻ, nhưng học sinh lại không giỏi, điểm thì luôn luôn chỉ là trung bình 4, 5, 6 Các giáo viên thì cho rằng đây là môn năng khiếu, thuộc về khả năng trời phú Đứng về góc độ, phương diện nghệ thuật văn chương với những đại thi hào, đại văn hào thì tôi cũng đồng ý những ý kiến như vậy Nhưng đứng về lãnh vực người Việt dùng tiếng Việt để nói hoặc viết thì tôi lại không chấp nhận Vì sao? Vì con người ta sinh ra, ngay từ lúc bé đã bập bẹ tiếng mẹ đẻ, lí nào tiếng bản ngữ đã ăn sâu vào máu thịt lại không rành Thật vô lí! Vậy lỗi học sinh Việt giao tiếp nói/viết bằng tiếng Việt không nhuần nhuyễn là do ai? Ông bà ta có dạy “Tiên trách kỉ, hậu trách nhân” Vậy trước hết phải quy trách nhiệm nặng nề này cho giáo viên đứng lớp dạy Ngữ văn Việc quy trách nhiệm về mặt chất lượng bộ môn của
HS thuộc về giáo viên đảm nhận không đơn thuần là xuất phát từ lòng tự trọng,
ý thức trách nhiệm, lương tâm- đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mà còn là yêu cầu thiết thực của nghành giáo dục Chính vì lẽ đó, trong quá trình giảng
Trang 9dạy từ năm học 2015-2016, tôi đã bắt đầu áp dụng các phương pháp để nâng
cao chất lượng kĩ năng nói, viết cho học sinh.
- Thấy được áp dụng giải pháp này, học sinh giao tiếp tốt, nâng cao kĩ
năng nói, viết có hiệu quả, làm bài kiểm tra đạt yêu cầu, tôi đã tăng cường và tích cực sử dụng nó
+ Sau một năm học thì tôi thấy áp dụng như thế đã đem lại kết quả như ýmuốn Tôi cho rằng học sinh không chỉ dùng từ viết câu tương đối tốt mà phảiđạt hiệu quả trong giao tiếp HS nói hay viết, yêu cầu không chỉ dừng lại ở đúng,
mà còn phải hay, súc tích, có hồn, gợi hình, gợi cảm, sinh động, bay bổng, đi vào được lòng người và có hộ khẩu trong trái tim của người đọc, người nghe.
Thế mới gọi có chút thành công trong giao tiếp Và Hs làm được bài kiểm tra Điều quan trọng nhất là HS trên trung bình môn Ngữ văn đạt 100%; đây mới chính là động lực to lớn để tôi sử dụng giải pháp này.
+ Nhưng dạy để HS thẩm thấu được bài học, trả bài tốt, kiểm tra điểm cao,
làm chủ vốn ngôn ngữ quả thật là nan giải Vì vậy, rút kinh nghiệm từ năm học
2015-2016, năm học 2016-2017 tôi tiếp tục tiến hành dạy Ngữ văn với rất nhiều
kĩ thuật, phương pháp, thủ thuật và luôn có những thay đổi phương pháp một cách linh hoạt để thực hiện giải pháp nhằm đem lại hiệu quả thiết thực hơn nữa
trong việc nâng cao chất lượng kĩ năng nói, viết của HS
+ Cũng cần trình bày thêm vấn đề sau: Ở năm học 2015-2016, các lớp tôigiảng dạy chỉ có những HS yếu Ngữ văn Ở năm học 2016-2017 này, các lớp tôigiảng dạy ngoài những đối tượng HS yếu Ngữ văn thì có hai trường hợp khá đặcbiệt có tiền sử bị động kinh, có những biểu hiện khù khờ, không linh hoạt, códấu hiệu thiểu năng trí tuệ ( Em Nguyễn Thị Quỳnh Hương lớp 6/1, em TrầnTrung Hiếu- HS lưu ban lớp 6/2), tôi cho rằng có khả năng hai em HS này sẽphải thi lại hoặc ở lại vì thường phải giải thích đến 3 lần thì các em mới hiểu ýnghĩa câu hỏi hoặc rơi vào tình trạng làm bài theo kiểu bắt chước, không tư duy;tôi áp dụng giải pháp trên thì hai HS này làm kiểm tra tương đối có hiệu quảtrong các bài kiểm tra 15p, một tiết, hai tiết, hoặc kiểm tra miệng, thi giữa học kì
I Chính vì vậy tôi kết luận rằng giải pháp này rất dễ sử dụng và vô cùng hiệuquả
2.2.Nội dung của giải pháp:
Trang 10-Để việc giảng dạy môn Ngữ Văn đạt hiệu quả cao hơn, tôi đã mạnh dạn áp
dụng các phương pháp nâng cao chất lượng kĩ năng nói, viết cho học sinh là
một giải pháp rất quan trọng và đặc trưng của phân môn Ngữ văn đồng thời kết
hợp dùng các phương pháp hỗ trợ đã giới thiệu ở mục 1.5 nhằm phát huy tính
tích cực chủ động của học sinh để đạt đến mục đích hình thành và phát triển năng lực giao tiếp ngôn ngữ, nói lưu loát, viết mạch lạc cho học sinh, đủ điểm trong các bài kiểm tra, tôi có những đề xuất nội dung cụ thể các phương pháp sau:
2.2.1.Phương pháp tăng cường rèn luyện ngôn ngữ nói cho học sinh qua các tiết luyện nói trên lớp: mục đích là tập cho học sinh có thói quen sử
dụng từ ngữ phù hợp với ngữ cảnh và đối tượng giao tiếp, tự tin trong giao tiếp.Kết quả cuối cùng là phải nói trước lớp đạt một yêu cầu giáo viên đưa ra Khicác em đã nói được tất yếu sẽ viết tốt
- Ví dụ: Ở các tiết luyện nói: nói về bản thân, gia đình, kể câu chuyện văn
tự sự, miêu tả, biểu cảm , tôi đã dùng các phương pháp hỗ trợ là phân loại đối
tượng HS: giỏi, khá, trung bình, yếu, kém đều có trong một nhóm, Hs giỏi khá sẽ hướng dẫn nói thế nào, nói những gì, lựa chọn từ ngữ nói phù hợp; còn HS
trung bình, yếu, kém tiếp thu, cảm nhận, bắt chước, thực hiện theo mô hình như
vậy, hiệu quả rất cao; rồi yêu cầu HS thảo luận nhóm nhỏ, sau đó cá nhân đứng
trước lớp trình bày, thực hành các vấn đề đã thảo luận Ban đầu có thể các em chưa tự tin, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn áp dụng phương pháp này, HS có thể nói nhuần nhuyễn, lưu loát, chính xác, kể cả những em HS học rất yếu ở các lớp 6/1,6/2 như Nguyễn Thị Quỳnh Hương, Bùi Thanh Lạc, Võ Thị Mỹ Dung, Trần Trung Hiếu, Từ chỗ nói thành thạo, các em làm bài viết mới đạt yêu cầu.
Có một HS yếu tiến bộ nhanh nhất qua phương pháp luyện nói, đó chính là em Bùi Thanh Lạc, không có một tiết luyện nói nào mà em không tham gia, thậm
chí một đề tài, em giơ tay phát biểu đến hai bài, em có ý kiến là: Thưa cô, em
muốn nói lần nữa vì em có thêm ý tưởng mới và đặc biệt, em ấy có tinh thần
học tập rất hăng hái, phấn khởi.
Trang 11+ Tôi đã áp dụng việc tăng cường rèn luyện ngôn ngữ nói cho học sinh quacác tiết luyện nói trên lớp, bài viết Tập Làm văn 1- của HS đạt yêu cầu: 135/139
Hs lớp 6/1, 6/2, 7/3, 7/4 trên trung bình Còn bốn HS dưới trung bình : Lạc,
Dung, Hương, Hiếu (Minh chứng- phụ lục 1,3,8,9,11), tôi tiếp tục dành thêm
thời gian ngoài giờ học chính quy, ví dụ như trong tiết học phụ đạo học sinh yếukém luyện nói riêng với các em, ngoài ra còn sử dụng thêm các phương phápkhác như trực quan sinh động, bốn HS trên đã làm bài tốt hơn
* Cụ thể như em Bùi Thanh Lạc lớp 6/1, học rất yếu, tiếp thu rất chậm, viết
chữ thì không rõ ràng, dù đã học truyền thuyết Thánh Gióng nhưng vẫn không
kể lại được bằng cách kiểm tra viết, đã vậy cũng không nắm được kĩ năng làmbài văn tự sự, các tình tiết trong truyện bị em làm đảo lộn không theo trình tựkhông gian, thời gian; thuộc dạng nhớ đâu thì kể đấy, có những chi tiết không rõ
là em đang kể vấn đề gì; bài làm của em thì rất dài, nhưng thực chất không bảo
đảm yêu cầu ( Minh chứng-Phụ lục 1) Sau khi kiểm tra lần 2, em Lạc đã tiến bộ
rất nhiều: kể lại truyện Thánh Gióng một cách logic, mạch lạc, rõ ràng hơn Tuy
là vẫn còn nhiều sai sót, nhưng với một HS sức học yếu như em Lạc thì sự cố
gắng như thế đã rất tốt (Minh chứng- Phụ lục 2).
* Hay như em Võ Thị Mỹ Dung, 90 phút mà em vẫn không làm hết đượcbài, hỏi lí do tại sao, em khóc kể là suy nghĩ và nhớ lại không kịp chứ không
phải là do lười biếng không muốn viết (Minh chứng- Phụ lục 3) Nếu thế thì
trường hợp này áp dụng cho em Dung thực hành, kể bằng văn nói truyền thuyết
”Thánh Gióng” trong bất kì thời gian nào: kiểm tra bài cũ, học bài mới về văn tự
sự để em có đủ thời gian nhớ cốt truyện Ở lần kiểm tra 2, em Dung lại có ýtưởng là kể tóm gọn truyện Thánh Gióng lại, cắt xén một số chi tiết, nhưng lạiđưa ra những lời bình luận về Gióng vô cùng thú vị Chứng tỏ, sau khi áp dụnggiải pháp luyện nói và trực quan sinh động là xem phim hoạt hình Thánh Gióng,được thuyết minh phim, em Dung đã hiểu khá sâu sắc về nhân vật chính Đấy làdấu hiệu đáng mừng Em là một HS mà hứa hẹn khi lên lớp 9, có thể sẽ làm nghị
luận văn học khá tốt (Minh chứng- Phụ lục 4).
Trang 12* Còn em Nguyễn Thị Quỳnh Hương mới là một HS đặc biệt cần phải chú
ý tuyệt đối Qua thăm dò điều tra, tôi biết em Hương lúc còn học Tiểu họcPhước Hội, em học yếu đến mức hễ tới kì thi, bị áp lực là em nghỉ học, giáo viênchủ nhiệm, Ban giám hiệu, ban ấp phải vào nhà động viên khuyến khích em tiếptục đi thi Bản thân tôi luôn cho rằng việc làm trên của thầy cô trường Tiểu họcPhước Hội là đúng Tôi thiết nghĩ đây không phải là bệnh chạy theo thành tích,
mà là nền giáo dục nhân đạo và đúng theo quy chế của ngành giáo dục Vì đâymới chính là các đối tượng mà chúng ta cần phải dìu dắt, nâng đỡ; chúng ta phải
xác định rõ quan điểm làm việc còn nước là còn tát; đến khi nào em Hương
không đủ sức để tiếp tục hành trình học tập nữa thì ta mới tính cách khác Ngay
cả chính quyền nhà nước của ta đã tiến hành cải cách, giảm tải chương trìnhSGK rất nhiều, dạy theo chuẩn kĩ năng kiến thức, và các tầng kiến thức đều phùhợp với nhiều đối tượng HS khác nhau, vậy hà cớ gì bản thân giáo viên cứ nângquan điểm bắt HS học quá nhiều khiến các em chán nản, mất niềm tin vào bản
thân, tuyệt vọng, có cảm giác bị bỏ rơi trong chính ngôi nhà thứ hai của mình
rồi lặng lẽ bỏ học, xa rời môi trường giáo dục lẽ ra là chốn bình yên, là thế giớinhiều màu sắc nhất của các em Quay lại vấn đề ứng dụng các giải pháp, qua bàilàm của em, ta nhận xét được em không đơn thuần là một HS tiếp thu chậm, mà
ta nhìn thấy rất rõ em Hương bị thiểu năng trí tuệ ở cấp độ cao hơn em BùiThanh Lạc và Võ Thị Mỹ Dung rất nhiều, nói nôm na là trong thực tế, em ấy làmột HS vô cùng khờ khạo, lúc nào cũng ngơ ngác, gương mặt đù đẫn thẩn thờ,
nghe mà chẳng hiểu, nhìn mà không thấy, thật tội nghiệp, rất đáng thương Tôi
nhìn thấy trong mắt em sự tuyệt vọng, sự đau khổ, lúc nào cũng ủ dột, buồn bã
vì em không bì kịp với bạn bè; các bạn xung quanh em lanh lợi, tư duy, tự tin,sáng tạo; còn em thu mình vào sự mặc cảm, tự ti, chán nản; hình như tôi có cảmgiác em muốn trốn chạy khỏi lớp, mỗi ngày như thế em cứ mụ mẫm hơn trong
lo lắng, em chết chìm trong khối kiến thức mà em tự cho rằng quá khổng lồ Phải sử dụng rất nhiều phương pháp cho em này thì trong một bài kiểm tra mớiđạt yêu cầu Có bài kiểm tra 15p thôi với hai câu hỏi rất đơn giản: "Nêu ý nghĩa
truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh; Theo em,vua Hùng thiên vị Sơn Tinh như thế
Trang 13có hợp lí không? Lí giải theo ý kiến bản thân" mà phải kiểm tra đến 3 lần emmới đạt, hai lần kiểm tra đầu em không hiểu được câu hỏi (Minh chứng- Phụ lục5,6,7) Bài viết Tập làm văn số 1 em cũng phải làm kiểm tra lại đến 3 lần (Minh
chứng- Phụ lục 8,9,10) Nhưng theo tôi nghĩ đây mới chính là những em HS ta
cần quan tâm Và có những em HS như thế này thì các phương pháp của tôi mới
có cơ hội thể hiện, phát huy được hết các tác dụng Chứ một giải pháp mà chỉdạy những HS tiếp thu được, tư duy tốt, có sáng tạo thì giải pháp ấy chưa thật sự
có giá trị Với những em HS như thế, đòi hỏi tôi phải nhẫn nại, phải biết thông
cảm, luôn động viên, khuyến khích, đỡ nâng Từ đấy, tôi cho rằng, giải pháp chỉ
thật sự hoàn hảo khi nhờ vào các phương pháp mà ta thực hiện được những việc tưởng chừng như sẽ bỏ cuộc.
* Lớp 6/2 có một em HS lưu ban Trần Trung Hiếu, năm học 2015-2016,
giáo viên các bộ môn đánh giá em không biết gì cả, không tiếp thu được gì,
không thể học được, từ đó em trở thành một HS bị bỏ xó, không ai đá động đến
nữa, vì cho rằng Hiếu là cục đá vô tri Khi vào chủ nhiệm và giảng dạy Ngữ
văn tôi cũng thấy như thế thật Gương mặt em ấy lúc nào cũng mơ màng, cặpmắt thì ngây dại, cộng thêm bệnh đau đầu kinh niên, gia đình em cũng cho biết
em có bệnh động kinh, chỉ cần giáo viên hơi lớn tiếng là em bị chấn động thầnkinh, nằm vật ra bàn, không động đậy, cô giáo dạy em những năm tiểu học đãtừng nhiều phen hoảng vía Tôi động viên em Hiếu cố gắng học, còn bản thântôi thì dùng các phương pháp hỗ trợ cho em hiểu bài và làm kiểm tra Lần đầutiên kiểm tra 15 phút, tôi dặn dò em học bài rất kĩ, sau đó trước khi kiểm tra, vào
15 phút truy bài đầu giờ, tôi đã mời riêng em lên văn phòng và dò bài sẽ kiểmtra cho em, em đã thuộc Khi kiểm tra, em được 6 điểm, đó là 6 điểm đầu tiênsau khi vào trung học cơ sở, em rất vui mừng, nhảy cẩng lên, hét to sung sướng,
từ đó em có tinh thần học tập hơn, hăng hái, nỗ lực, cố gắng hơn, có hi vọng, cóniềm tin rằng mình sẽ lên lớp Nhưng khi qua bài viết Tập làm văn số 1, em phảiqua hai lần kiểm tra mới đạt được, lần đầu em chỉ đạt được 2 điểm, (Minhchứng- Phụ lục 11) lần hai tôi thì phải áp dụng hết phương pháp này đến phươngpháp khác mới có hiệu quả Đầu tiên cho em đọc truyền thuyết Thánh Gióng
Trang 14trong Sách giáo khoa, rồi diễn giảng cho em nghe, sau đó cho em luyện nói, emvẫn không kể lại được truyền thuyết Thánh Gióng bằng văn nói, tôi tiếp tục cho
em xem phim hoạt hình Thánh Gióng vừa bắt em thuyết minh phim Để thựchiện được điều này, tôi điện thoại trình bày với phụ huynh của em trường hợp
em không làm được bài kiểm tra, yêu cầu gia đình chiều thứ bảy chở em vàotrường cho tôi dạy em bằng những phương pháp trên và cho em làm bài Và cuốicùng bài làm của em cũng có kết quả Đúng là nghề chơi cũng lắm công phu! Vàtôi chợt nhớ đến lời nói của một đồng nghiệp dạy Toán khi chúng tôi dạy một
lớp có quá nhiều HS yếu : Không gì là không thể! (Minh chứng- Phụ lục 12).
2.2.2.Phương pháp làm việc với sách giáo khoa và các tài liệu giáo khoa:
-Sách giáo khoa và các tài liệu giáo khoa là một trong những nguồn cung
cấp tri thức và kĩ năng cho học sinh Các tài liệu này chiếm một vị trí quan trọng
trong quá trình dạy học Trong một tiết học, SGK, TLGK được giáo viên sửdụng để giải thích các kiến thức lí thuyết và làm các bài tập mẫu SGK có thểđược dùng ở đầu, giữa hoặc cuối tiết học, dùng để học bài, làm bài ở nhà và khi
ôn tập Phương pháp làm việc với SGK được tiến hành ở những dạng sau:
+ Giáo viên đọc nội dung SGK; có thể đọc kĩ từng dòng, từng phần và giảithích rồi đặt những câu hỏi để học sinh tìm hiểu, phát hiện kiến thức Ở nhữngphần khó ( nhiều khái niệm mới, phức tạp) giáo viên cần đọc và giải thích kĩ đểhọc sinh lĩnh hội
+Cho học sinh đọc to SGK có sự bổ sung, giải thích kịp thời của giáo viên.Khi này cần hướng dẫn học sinh đọc đúng tinh thần của tài liệu để có cơ sở hiểuđúng nội dung của nó
+Cho học sinh tóm tắt lại nội dung những phần đã đọc và trả lời các câu hỏi nhằm xác định mức độ hiểu tài liệu đã đọc đến đâu.