1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu tác động của quản trị công ty tới chất lượng thông tin kế toán của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

212 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 212
Dung lượng 9,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dovậy, xuất phát từ tính thực tiễn của đề tài cũng như cơ sở khoa học, nhằm cung cấpbằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của QTCT tới chất lượng TTKT, theo các khíacạnh đa dạng bao gồm cả

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY TỚI CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG

KHOÁN VIỆT NAM

Ngành: Quản trị kinh doanh

NGUYỄN THỊ MAI ANH

Hà Nội – 2021

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY TỚI CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG

KHOÁN VIỆT NAM

Ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 9340101

Nghiên cứu sinh: Nguyễn Thị Mai Anh

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 PGS, TS Nguyễn Tiến Hoàng

2 TS Nguyễn Thị Hoàng Anh

Hà Nội – 2021

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Luận án

Báo cáo tài chính là sản phẩm đầu ra của hệ thống kế toán, phản ánh các thông tinkinh tế, tài chính của đơn vị, và được coi là một trong những cơ sở quan trọng nhất đểngười sử dụng thông tin bên trong và bên ngoài doanh nghiệp như nhà quản trị, nhà đầu

tư, chủ nợ có thể phân tích được năng lực tài chính của doanh nghiệp, từ đó đưa racác quyết định Nếu TTKT được phản ánh trên BCTC có chất lượng kém, người sửdụng thông tin không thể phân tích được bức tranh tài chính, kinh doanh của doanhnghiệp, không đánh giá đúng hiệu quả hoạt động cũng như không thể đánh giá tính sinhlời của dự án để đưa ra quyết định một cách hợp lý Chủ đề nghiên cứu về chất lượngTTKT được các nhà khoa học đặc biệt quan tâm, đặc biệt sau các gian lận TTKT củacác tổ chức lớn như Enron năm 2001, WorldCom năm 2002, hay gần đây là bê bối củatập đoàn Wirecard năm 2020 với khoản tiền gửi 2 tỷ USD khống Một trong những khíacạnh được được các nhà khoa học đặt ra và lý giải về sự suy giảm chất lượng TTKTđến từ vấn đề người đại diện và tính bất cân xứng thông tin Mặc dù được ủy quyềnquản lý từ chủ sở hữu với kỳ vọng sẽ tối ưu hóa lợi ích của cổ đông, song trên thực tế,trong quá trình ra quyết định, BGĐ có xu hướng đặt lợi ích cá nhân lên trước mục tiêucủa doanh nghiệp, tạo ra mâu thuẫn về lợi ích giữa chủ sở hữu và nhà điều hành Trongtrường hợp đó, BGĐ có động cơ và cơ hội để can thiệp, điều chỉnh các TTKT trênBCTC vì mục tiêu lương, thưởng hoặc nhằm che giấu các vấn đề của doanh nghiệp nhưkết quả kinh doanh thua lỗ do lo ngại bị sa thải Vấn đề thông tin bất cân xứng đã đặt cổđông, những người chủ sở hữu thực sự đồng thời cũng là người hưởng lợi cuối cùng,vào thế bị động trong việc tiếp cận TTKT Do đó các cổ đông cần có cơ chế kiểm soáthiệu quả hoạt động của BGĐ trong việc cung cấp TTKT được trình bày trên BCTC.Nghiên cứu của Loebbecke và cộng sự (1989), Beasley (1996) đã chỉ ra rằng việc giámsát hoạt động của BGĐ không hữu hiệu là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng suy giảm

chất lượng TTKT Trong bối cảnh đó, Quản trị công ty (corporate governance) được

coi là một giải pháp để khắc phục vấn đề này, thông qua việc gắn kết lợi ích của nhàđiều hành với lợi ích của cổ đông, giúp nâng cao độ tin cậy của thông tin trên BCTC(Watts và Zimmerman, 1986) Hệ thống

Trang 4

QTCT được kỳ vọng sẽ phát huy chức năng giám sát, nhằm ngăn ngừa và phát hiệncác hành vi gian lận, điều chỉnh thông tin, từ đó nâng cao chất lượng thông tin kếtoán.

Nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của QTCT tới chất lượngTTKT, các nhà khoa học đã nghiên cứu mối quan hệ này trong bối cảnh ở nhiều quốcgia khác nhau, ví như nghiên cứu tại Mỹ của Vafeas (2000), tại Hy Lạp củaDimitropoulos và Asteriou (2010), tại Pháp của Fathi (2013), tại Brazil của Holtz vàSarlo Neto (2014), tại Ghana của Kukah và cộng sự (2016), tại Indonesia củaFirmansyah và Irawan (2019), tại Trung Quốc của Wang và Yung (2011)… Nhữngnghiên cứu này tin rằng QTCT sẽ giúp nâng cao chất lượng TTKT Trong đó, QTCTthường được xem xét trên hai khía cạnh: một là đặc điểm về cấu trúc sở hữu và hai làđặc điểm của bộ máy QTCT Đối với đặc điểm của bộ máy quản trị, các nhà khoa họcthường tập trung khai thác các đặc thù của HĐQT Nguyên nhân do HĐQT được xem làmột cơ chế quản trị, là cơ quan đại diện cho cổ đông, được cổ đông bầu chọn, với chứcnăng quan trọng là kiểm tra, giám sát hoạt động của BGĐ, đóng vị thế quan trọng trongviệc kiểm soát vấn đề đại diện (Garciá Meca và Sánchez- Ballesta, 2009) Ngoài ra, ởmột số quốc gia như Trung Quốc, hệ thống quản trị công ty còn bao gồm BKS, với vaitrò đại diện cho cổ đông thực hiện chức năng giám sát việc thực thi quyền và nghĩa vụcủa cả các thành viên HĐQT và BGĐ Tuy nhiên, tùy vào đặc điểm kinh tế, chính trịcủa từng quốc gia, ảnh hưởng của từng khía cạnh QTCT tới chất lượng TTKT khôngđồng nhất, thậm chí mang tính trái chiều

Tại Việt Nam, cùng với sự phát triển của TTCK, vấn đề về chất lượng TTKT trênBCTC cũng nhận được quan tâm từ người sử dụng, đặc biệt là nhà đầu tư Tuy nhiêntrên thực tế, trong suốt 20 năm hoạt động và phát triển, đã có không ít những sai sótnghiêm trọng trên BCTC của các công ty niêm yết, có thể kể đến trường hợp Công ty

Cổ phần Tập đoàn Đại Dương (OGC), năm 2014 trước kiểm toán, tập đoàn này báo cáolợi nhuận là 408 tỷ đồng tuy nhiên sau kiểm toán báo lỗ lên tới 2.548 tỷ đồng Haytrường hợp Công ty Cổ phần Hoàng Anh Gia Lai (HAG) khi trước đó công ty này công

bố BCTC 2019 với khoản lợi nhuận chưa phân phối là 290 tỷ đồng, tuy nhiên, sangnăm 2020, HAG đã điều chỉnh hồi tố khoản lợi nhuận chưa phân phối năm 2019 lỗthêm 4.916 tỷ đồng do bổ sung dự phòng các khoản phải thu Những sai

Trang 5

sót diễn ra thường xuyên, liên tục cho thấy một bộ phận không nhỏ các công ty niêmyết đã công bố BCTC với chất lượng TTKT kém Điều này không chỉ ảnh hưởng tới lợiích của cổ đông các công ty nói trên, mà còn nghiêm trọng hơn là làm mất niềm tin từcác nhà đầu tư, từ đó dẫn tới sự rời bỏ thị trường Xuất phát từ thực tiễn đó, các nhàkhoa học tại Việt Nam cũng đặc biệt quan tâm tới vấn đề chất lượng TTKT, và quản trịcông ty được xem là một giải pháp nâng cao chất lượng TTKT Với mục tiêu đề xuấtcác giải pháp nhằm giúp các doanh nghiệp có thể phát huy được chức năng kiểm soátcủa QTCT, cần có các bằng chứng thực nghiệm về tác động của QTCT tới chất lượngTTKT, trong bối cảnh nghiên cứu trên TTCK Việt Nam Kế thừa các nghiên cứu trênthế giới, các nghiên cứu về tác động của QTCT tới chất lượng TTKT cũng được một sốnhà khoa học thực hiện tại Việt Nam, như nghiên cứu của Trần Thị Giang Tân và cộng

sự (2015), Bùi Văn Dương và Ngô Hoàng Điệp (2017), Nguyễn Thu Hằng và cộng sự(2018) Tuy nhiên, những nghiên cứu này được thực hiện với số quan sát nhỏ hoặckhai thác vấn đề QTCT trên một số ít khía cạnh riêng lẻ, chủ yếu tập trung vào khíacạnh cấu trúc sở hữu và đặc điểm HĐQT mà chưa chú ý tới các đặc thù về BKS Dovậy, xuất phát từ tính thực tiễn của đề tài cũng như cơ sở khoa học, nhằm cung cấpbằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của QTCT tới chất lượng TTKT, theo các khíacạnh đa dạng bao gồm cả cấu trúc sở hữu, đặc điểm của HĐQT và đặc điểm của BKS,

tác giả đã chọn đề tài “Nghiên cứu tác động của quản

trị công ty tới chất lượng thông tin kế toán của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm chủ đề nghiên cứu của Luận án.

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của

Luận án Mục tiêu nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu về tác động của QTCT tới chất lượng TTKT, từ

đó đưa ra các giải pháp về hoàn thiện QTCT, nhằm nâng cao chất lượng TTKT của các công ty niêm yết

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để thực hiện được những mục tiêu nghiên cứu trên, các nhiệm vụ cụ thể củaLuận án bao gồm:

Thứ nhất, Luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận về QTCT, chất lượng TTKT, và

tác động của QTCT tới chất lượng TTKT

Trang 6

Thứ hai, Luận án phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng TTKT của các

công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam

Thứ ba, trên cơ sở thu thập dữ liệu, xây dựng mô hình nghiên cứu, Luận án

thực hiện tìm hiểu và phân tích những tác động của QTCT lên chất lượng TTKT củacác công ty niêm yết thông qua ba khía cạnh: cấu trúc sở hữu, đặc điểm HĐQT vàđặc điểm của BKS

Thứ tư, dựa trên kết quả phân tích, Luận án đề xuất một số giải pháp nhằm

hoàn thiện QTCT, từ đó nâng cao chất lượng TTKT của các công ty niêm yết trênTTCK Việt Nam

Câu hỏi nghiên cứu:

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đặt ra, nghiên cứu xác định các câu hỏi chínhbao gồm:

(1) Cơ sở lý luận về QTCT, chất lượng TTKT và tác động của QTCT tới chất lượng TTKT là gì?

Nam?

có tác động như thế nào tới chất lượng TTKT của các công ty niêm yết trên TTCK Việt

Nam?

(4) Các giải pháp về hoàn thiện QTCT nhằm nâng cao chất lượng TTKT

là gì?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận án:

Đối tượng nghiên cứu của Luận án là tác động của quản trị công ty tới chấtlượng thông tin kế toán

Phạm vi nghiên cứu của Luận án:

Phạm vi nội dung: Trong nghiên cứu này, Luận án tiếp cận vấn đề chất lượng

TTKT trên khía cạnh tính trung thực của thông tin trên BCTC Đây được coi là đặc tính

cơ bản của TTKT theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam 01 ban hành bởi Bộ Tài chính(2002), phù hợp với quy định của Chuẩn mực kế toán quốc tế Theo đó, TTKT được coi

là trung thực khi đảm bảo được tính đầy đủ, khách quan và không có sai sót trọng yếu(IASB, 2018) Việc đo lường chất lượng TTKT tập trung vào tính trung thực của chỉtiêu lợi nhuận, thực hiện thông qua hai mô hình là quản trị lợi nhuận trên

Trang 7

cơ sở dồn tích và sai sót trên BCTC Theo đó, chất lượng TTKT được đánh giá caokhi hạn chế hiện tượng quản trị lợi nhuận và không có sai sót trọng yếu Nhằm phântích ảnh hưởng của QTCT tới chất lượng TTKT, Luận án khai thác các vấn đề vềQTCT trên khía cạnh nội bộ, với ba yếu tố quan trọng là cấu trúc sở hữu, đặc điểmcủa HĐQT và đặc điểm của BKS Trong đó, cấu trúc sở hữu bao gồm sở hữu Nhànước, sở hữu tổ chức và sở hữu BGĐ; đặc điểm HĐQT bao gồm: quy mô, tính kiêmnhiệm, tính độc lập, giới tính, thâm niên, và trình độ chuyên môn kế toán, tài chínhcủa thành viên HĐQT; đặc điểm BKS bao gồm: quy mô, giới tính, thâm niên vàtrình độ chuyên môn kế toán, tài chính của thành viên BKS

Phạm vi không gian

Phạm vi không gian của Luận án là các công ty niêm yết trên trên Sở Giao dịchChứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội(HNX), không bao gồm các định chế tài chính (như ngân hàng, công ty bảo hiểm, công

ty chứng khoán…) vì bảng cân đối kế toán của nhóm công ty này cũng như những đặcthù trong hoạt động kinh doanh và đầu tư khác với các doanh nghiệp thông thường.Đây là hai sàn giao dịch chứng khoán lớn và có uy tín nhất Việt Nam Bên cạnh đó, cáccông ty niêm yết trên hai sàn này là các công ty đại chúng, với báo cáo tài chính đượckiểm toán bởi các công ty kiểm toán lớn của Việt Nam và trên thế giới

Phạm vi thời gian

Phạm vi thời gian của Luận án là giai đoạn 2009-2020 Luận án không sử dụnggiai đoạn trước năm 2009 là giai đoạn thị trường có nhiều bất ổn, dữ liệu biến độnglớn và thiếu hụt một số chỉ tiêu quan trọng

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập dữ liệu:

Luận án sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp là BCTC chưa kiểm toán và đã đượckiểm toán của các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố HồChí Minh (HOSE) và Hà Nội (HNX), không bao gồm các định chế tài chính (nhưngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán…), được cung cấp bởi Stoxplus.Bên cạnh đó, dữ liệu về quản trị được cung cấp bởi Công ty Cổ phần Tài Việt(Vietstock) Dữ liệu về trình độ chuyên môn của HĐQT và BKS do tác giả thu thập

từ Báo cáo thường niên của các công ty niêm yết Các dữ liệu được kiểm tra tính lặp

Trang 8

và loại bỏ các quan sát bị trùng và các quan sát có giá trị bất thường (outliers) Dữliệu được thao tác và xử lý trên phần mềm Stata 14.2.

Phương pháp xử lý dữ liệu:

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, Luận án sử dụng phương pháp định lượng Để

đánh giá ảnh hưởng của QTCT tới chất lượng TTKT, với biến phụ thuộc đo

bằng quản trị lợi nhuận trên cơ sở dồn tích, tác giả sử dụng phương pháp hồi quybình phương thông thường nhỏ nhất (Ordinary Least Square - OLS) Trong mô hìnhđánh giá ảnh hưởng của QTCT tới chất lượng TTKT, với biến phụ thuộc đo bằng saisót trên BCTC, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy binary logistic Hai mô hìnhđều kiểm soát hiệu ứng cố định ngành và năm, kết hợp với ước lượng sai số chuẩnmạnh (robust standard errors) trong trường hợp mô hình nghiên cứu xuất hiện hiệntượng phương sai thay đổi Ngoài ra, nhằm mô tả thực trạng chất lượng TTKT, tácgiả sử dụng phương pháp thống kê mô tả trên hai khía cạnh là mức độ quản trị lợinhuận và sai sót trên BCTC

5 Những đóng góp mới của Luận án

Những đóng góp về mặt lý luận

Thứ nhất, Luận án đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về chất lượng TTKT,

QTCT và ảnh hưởng của QTCT tới chất lượng TTKT từ các nghiên cứu trên thế giới

và Việt Nam Luận án đã tổng hợp các phương pháp đo lường chất lượng TTKT.Theo đó các nghiên cứu về chất lượng TTKT được thực hiện theo hai hướng chính:một là đo lường chất lượng TTKT bằng cách xây dựng thang đo tổng hợp trên cáckhía cạnh về thuộc tính chung của TTKT, dựa vào dữ liệu khảo sát; hai là nghiêncứu về từng đặc điểm riêng lẻ của TTKT với hai thuộc tính cơ bản là tính trung thực

và tính thích hợp, dựa vào dữ liệu thứ cấp trên BCTC và dữ liệu thị trường Từ đó,Luận án lựa chọn hướng nghiên cứu về chất lượng TTKT theo đặc điểm riêng lẻ, với

dữ liệu tài chính được thu thập từ BCTC và dữ liệu về đặc thù quản trị được thu thập

từ báo cáo thường niên để đảm bảo tính khách quan và tin cậy của kết quả nghiêncứu Luận án tập trung vào đặc điểm tính trung thực của TTKT do đây là đặc điểm

cơ bản, được quy định trong Chuẩn mực kế toán Việt Nam, phù hợp với Chuẩn mực

kế toán quốc tế

Trang 9

Thứ hai, nhằm đo lường tính trung thực của TTKT, Luận án sử dụng cả hai thước

đo quản trị lợi nhuận và sai sót trên BCTC để phản ánh về chất lượng TTKT Cụ thể,quản trị lợi nhuận được xác định dựa trên mức độ dồn tích bất thường, sai sót trên báocáo tài chính được xác định bằng chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán Việc sửdụng cả hai mô hình đo lường chất lượng TTKT sẽ giúp việc nghiên cứu về chất lượngTTKT trở nên sâu sắc hơn, do quản trị lợi nhuận thể hiện mức độ can thiệp nhằm điềuchỉnh thông tin trên báo cáo tài chính, cho thấy việc vi phạm tính khách quan trong ghinhận TTKT, còn sai sót trên BCTC thể hiện BCTC được công bố tồn tại sai sót trọngyếu Kết quả nghiên cứu vì vậy cũng trở nên đáng tin cậy hơn

Thứ ba, để xác định sai sót trên BCTC, Luận án là công trình nghiên cứu đầu

tiên bổ sung ý kiến kiểm toán bên cạnh thước đo doanh nghiệp có chênh lệch lợinhuận trước và sau kiểm toán vượt ngưỡng trọng yếu hay không Việc công ty phảiđiều chỉnh lợi nhuận sau kiểm toán vượt ngưỡng trọng yếu thể hiện BCTC của công

ty có sai sót, gây ảnh hưởng tới quyết định của người sử dụng thông tin Tuy nhiên,trên thực tế, có một số công ty có sai sót trên BCTC nhưng không điều chỉnh báocáo theo ý kiến của kiểm toán viên, do đó sẽ không phát sinh chênh lệch lợi nhuận ởngưỡng trọng yếu, nhưng phải nhận ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toànphần Do vậy, Luận án mở rộng việc xác định công ty có sai sót trên BCTC là nhữngcông ty có chênh lệch lợi nhuận sau kiểm toán vượt ngưỡng trọng yếu hoặc nhận ýkiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần

Thứ tư, Luận án khai thác về quản trị công ty trên cả ba khía cạnh là cấu trúc

sở hữu, đặc điểm HĐQT và đặc điểm BKS, trong khi các công trình nghiên cứutrước đó chỉ tập trung vào cấu trúc sở hữu hoặc đặc điểm của HĐQT Mô hìnhQTCT có BKS là một đặc trưng của các công ty cổ phần tại Việt Nam Do vậy, sovới các nghiên cứu trước đó về tác động của QTCT tới chất lượng TTKT, các khíacạnh quản trị được khai thác đa dạng hơn Ngoài ra, việc mở rộng dữ liệu nghiêncứu là các công ty niêm yết trong khoảng thời gian từ 2009-2020 được kỳ vọng sẽgiúp cho kết quả nghiên cứu trở nên đáng tin cậy hơn trong việc cung cấp bằngchứng thực nghiệm về ảnh hưởng của QTCT tới chất lượng TTKT

Trang 10

Những đóng góp về mặt thực tiễn:

Thứ nhất, Luận án đã mô tả về thực trạng chất lượng TTKT của các công ty

niêm yết trên TTCK Việt Nam Kết quả nghiên cứu đặt ra mối lo ngại về tính trungthực của TTKT được các công ty công bố thông qua BCTC, đồng thời nhận thứctầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng TTKT, và QTCT được xem là một giảipháp cho vấn đề nói trên

Thứ hai, kết quả nghiên cứu của Luận án cung cấp bằng chứng thực nghiệm về

ảnh hưởng của QTCT tới chất lượng TTKT của các công ty niêm yết trên ba khía cạnh

là cấu trúc sở hữu, đặc điểm của HĐQT và đặc điểm của BKS Đó là ảnh hưởng tíchcực của sở hữu Nhà nước, sở hữu tổ chức, sở hữu BGĐ lên chất lượng TTKT Mặtkhác, việc các công ty có HĐQT quy mô lớn, độc lập, thành viên HĐQT có thâm niên,

có chuyên môn kế toán tài chính, sự có mặt của các thành viên nữ trong HĐQT và cácthành viên BKS có thâm niên sẽ giúp gia tăng hiệu quả giám sát, đảm bảo chất lượngTTKT Kết quả nghiên cứu là cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các chínhsách về QTCT nhằm giúp các công ty nâng cao chất lượng TTKT

6 Kết cấu của Luận án

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án bao gồmnăm chương:

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận về chất lượng thông tin kế toán và tác động của quản trị công ty tới chất lượng thông tin kế toán

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu về tác động quản trị công ty tới chất lượng thông tin kế toán của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Chương 5: Hoàn thiện quản trị công ty nhằm nâng cao chất lượng thông tin kế toán tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan tới chất lượng thông tin kế toán

Nghiên cứu về CLTT kế toán là một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhàkhoa học trong lĩnh vực tài chính kế toán TTKT là sản phẩm của hệ thống kế toán(Mulyani và Arum, 2016), được các bên có liên quan như cổ đông, nhà đầu tư, chủnợ… sử dụng làm cơ sở để ra quyết định Các thông tin kém chất lượng sẽ gây ảnhhưởng tới hiệu quả quyết định của người sử dụng thông tin Ví dụ nhà đầu tư khi sửdụng TTKT thiếu chính xác sẽ dẫn tới việc đánh giá sai về tình hình kinh doanh củadoanh nghiệp, từ đó có thể đưa các quyết định đầu tư bất lợi; chủ nợ sử dụng cácTTKT từ doanh nghiệp thiếu trung thực trong quá trình thẩm định có thể dẫn tới sailầm trong việc ra quyết định cho vay hoặc thu hồi nợ CLTT kế toán thể hiện tínhhữu ích của thông tin (Azar và cộng sự, 2019), cho thấy sự đáp ứng của thông tinđối với nhu cầu của người sử dụng (Mulyani và Arum, 2016) Vì vậy câu hỏi đượcđặt ra là TTKT như thế nào được coi là đáp ứng nhu cầu của người sử dụng, hay nóicách khác CLTT kế toán cần đảm bảo các đặc điểm như thế nào?

Các nghiên cứu về CLTT kế toán được các nhà khoa học tập trung vào một sốthuộc tính của TTKT như tính trung thực, thích hợp, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu và có thểkiểm chứng được (Jonas và Banchet, 2004) Việc đề xuất các thuộc tính này của TTKTbắt nguồn từ khuôn khổ các khái niệm về TTKT ban hành bởi các tổ chức nghề nghiệpquốc tế như Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB), Hội đồng chuẩn mực kế toántài chính của Hoa Kỳ (FASB), hoặc xuất phát từ quy định của nước sở tại Vào năm

1966, Hiệp hội kế toán Mỹ (AAA) đã công bố một báo cáo về nền tảng lý thuyết của kếtoán (A statement of Basic Accounting Theory) và nêu rõ rằng mục tiêu chính của lýthuyết kế toán là phải đưa ra được các thuộc tính của thông tin nhằm đảm bảo tính hữuích đối với người sử dụng thông tin Các đặc tính về CLTT kế toán được Hội đồngchuẩn mực kế toán Hoa Kỳ FASB đề xuất lần đầu vào năm 1980, theo đó TTKT sẽ hữuích cho người sử dụng trong việc ra quyết định khi đảm bảo được hai thuộc tính cơ bản

là tính thích hợp (relevance) và tính tin cậy (reliability), bên

Trang 12

cạnh các thuộc tính có liên quan là phản hồi, dự báo, kịp thời, có thể kiểm chứng, trunglập, trung thực, có thể so sánh Sau này, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế IASB(2001) đã đưa ra các khái niệm làm nền tảng cho việc lập và trình bày BCTC, theo đó,CLTT kế toán cần đảm bảo các đặc tính cơ bản là dễ hiểu, thích hợp, tin cậy và so sánhđược Như vậy, IASB và FASB có sự tương đồng nhất định về quan điểm, từ đó làmtiền đề cho việc hợp nhất khung khái niệm của IASB và FASB (2010), nhằm hướng tớiviệc phát triển một khuôn khổ khái niệm chung giữa hai tổ chức, mà trước hết là thốngnhất về mục tiêu và các thuộc tính về CLTT Theo đó CLTT kế toán được hợp nhất vớichất lượng BCTC, TTKT phản ánh trên BCTC được coi là hữu ích khi đảm bảo hai

thuộc tính cơ bản là thích hợp (relevance), trung thực (faithful representation) Ngoài

ra, quan điểm hòa hợp của IASB và FASB (2010) còn đề cập tới các thuộc tính làm giatăng CLTT: có thể so sánh (comparability), có thể kiểm chứng (verifiability), kịp thời(timeliness) và dễ hiểu (understandability) Tại Việt Nam, trước yêu cầu khách quan vềviệc xây dựng một bộ chuẩn mực kế toán chung, năm 2002, Hệ thống Chuẩn mực Kếtoán Việt Nam ra đời, trong đó trước hết quy định và hướng dẫn về các nguyên tắc, cácyêu cầu kế toán cơ bản Theo đó, TTKT phải đảm bảo yêu cầu về tính trung thực, kháchquan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu và có thể so sánh, trong đó tính trung thực được coi làđặc tính cơ bản của TTKT

Từ quy định về các thuộc tính thông tin, khi nghiên cứu về CLTT kế toán, các

nhà khoa học thực hiện theo hai hướng: một là, nghiên cứu CLTT kế toán tổng hợp

theo các thuộc tính về thông tin, trong đó, dữ liệu thường là dữ liệu sơ cấp, thu thập

thông qua khảo sát; hai là, nghiên cứu theo từng thuộc tính riêng lẻ, trong đó, dữ

liệu thường là dữ liệu thứ cấp, được thu thập từ BCTC của các công ty và dữ liệu thịtrường

Đối với các nghiên cứu xây dựng thang đo tổng hợp về CLTT kế toán theo các thuộc tính thông tin:

Jonas và Banchet (2000) đã khảo sát và xây dựng thang đo tổng hợp về CLTTtrên nền tảng của FASB (1980) gồm hai đặc tính quan trọng nhất là tính tin cậy vàthích hợp, cùng với 11 thuộc tính có liên quan bao gồm: phản hồi, dự báo, kịp thời,

Trang 13

dễ hiểu, thích hợp, chính xác và kịp thời Thông qua dữ liệu sơ cấp thu thập từ khảosát, nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của CLTT kế toán tới hiệu quả tài chính của khuvực công với tương quan dương.

Ngoài ra, trong nghiên cứu của Gacheru (2017) tại Kenya, tác giả đã tiến hànhkhảo sát 200 người trong lĩnh vực kế toán tài chính và đề xuất các biến đo lườngCLTT kế toán bao gồm tính tin cậy, thích hợp và có thể so sánh Kết quả nghiên cứucho thấy CLTT kế toán có tác động dương tới hiệu quả của việc ra quyết định

Kế thừa các nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới, tại Việt Nam, các nhàkhoa học cũng đã xây dựng các thang đo tổng hợp để đo lường chất lượng TTKT.Nguyễn Tố Tâm (2014) đã tiến hành phỏng vấn chuyên gia, xây dựng thang đo và khảosát các cán bộ đảm nhiệm trực tiếp công tác kế toán, tài chính, kiểm soát thuộc các công

ty niêm yết thuộc Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh để đo lường,đánh giá CLTT kế toán và mối liên hệ giữa tổ chức kiểm soát nội bộ với CLTT kế toán.Trong phần đánh giá về CLTT kế toán, tác giả đã xây dựng thang đo dựa trên

6yếu tố cơ bản của TTKT, bao gồm: tính thích hợp, trung thực, xác nhận, dễ hiểu,

có thể so sánh và kịp thời Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố cơ bản về CLTT

kế toán đều được đánh giá tốt, ngoại trừ yếu tố kịp thời được đánh giá trên mứctrung bình

Trần Thị Thanh Tú và cộng sự (2014) đã xây dựng mô hình các nhân tố ảnhhưởng tới CLTT của các công ty niêm yết, trong đó việc đo lường CLTT dựa trên nềntảng quan điểm của các tổ chức kế toán như FASB, IASB và Hệ thống Chuẩn mực kế

Trang 14

toán Việt Nam, bao gồm: tính phù hợp, đáng tin cậy, trung thực và khách quan, đầy

đủ, kịp thời, dễ hiểu, có thể so sánh được, tính xác nhận Bài nghiên cứu dừng lại ởviệc đề xuất mô hình, tuy vậy đây có thể được coi là cơ sở để tác giả vận dụng kiểmđịnh tại TTCK Việt Nam

Phạm Quốc Thuần (2015) đã tổng hợp một số công trình nghiên cứu về CLTT

kế toán Bằng phương pháp phân tích, nghiên cứu đã kết luận mô hình đo lường vềCLTT kế toán được công bố bởi IASB và FASB là mô hình đạt được sự đồng thuậncủa phần lớn nhà nghiên cứu, phù hợp với xu hướng hòa hợp và hội tụ quốc tế vềchuẩn mực kế toán

Nguyễn Trọng Nguyên (2015) đã đo lường CLTT BCTC bằng cách sử dụngthang đo 16 thuộc tính dựa trên đặc điểm chất lượng của IASB và FASB Kết quảnghiên cứu cho thấy CLTT kế toán ở dưới mức trung bình, thậm chí có 158/195công ty trong mẫu nghiên cứu chiếm 81,1% có chất lượng yếu kém, thể hiện chủyếu ở hai hoạt động trình bày và công bố báo cáo

Đối với các nghiên cứu về chất lượng thông tin kế toán theo từng đặc tính riêng lẻ: các nhà khoa học tập trung vào hai đặc tính quan trọng nhất của thông tin

đó là tính trung thực và tính thích hợp (FASB và IASB, 2010)

Nghiên cứu về chất lượng thông tin kế toán gắn liền với tính trung thực của thông tin

Dựa trên khung khái niệm của các tổ chức quốc tế về kế toán, nghiên cứu củaDechow và cộng sự (1996), Beasley (1996), Jonas & Blanchet (2000), Willekens(2008) đã xây dựng cách đo lường về CLTT theo đặc điểm trung thực với ba yếu tố:tính đầy đủ (complete), trung lập (neutral), không có sai sót trọng yếu (free frommaterial error) Nhằm đo lường CLTT kế toán, các nhà khoa học đã nghiên cứu vềCLTT kế toán thông qua hai khái niệm là quản trị lợi nhuận và sai sót trên BCTC.Theo đó, TTKT được coi là trung thực khi không có hiện tượng quản trị lợi nhuậntức là thông tin đã đảm bảo trung lập, khách quan, đầy đủ; và không có các sai sóttrên BCTC đồng nghĩa với việc không còn sai sót trọng yếu

Các nghiên cứu về chất lượng thông tin kế toán trên khía cạnh quản trị lợi nhuận

Trang 15

Như đã phân tích, CLTT kế toán được đảm bảo khi thông tin phản ánh trungthực tình hình về hoạt động kinh doanh của công ty, hay nói cách khác thông tin cầnphải được phản ánh đầy đủ, khách quan, trung lập, không bị can thiệp làm phát sinhcác điều chỉnh như thay đổi các ghi chép kế toán, điều chỉnh các ước tính, hay khaikhống các thông tin về tài sản, thu nhập của đơn vị…, làm sai lệch thông tin khicông bố Các hành vi điều chỉnh thường tập trung vào con số lợi nhuận cuối cùngtrên BCTC, vì vậy được gọi là quản trị lợi nhuận Quản trị lợi nhuận là một chủ đềsớm được các học giả kinh tế quan tâm, xảy ra khi nhà quản trị can thiệp vào việcghi nhận thông tin tài chính hay cấu trúc lại những giao dịch mua bán thông thường

để thay đổi con số cuối cùng trên BCTC, nhằm làm sai lệch kỳ vọng của cổ đôngvào tình trạng kinh tế thực sự của công ty hoặc nhằm tác động tích cực lên kết quảcác hợp đồng dựa vào số liệu kế toán được công bố như hợp đồng lương, thưởngcủa nhà quản lý (Healy và Wahlen, 1999) BCTC có hiện tượng quản trị lợi nhuậnthể hiện CLTT kế toán thấp Các nhà khoa học cho rằng quản trị lợi nhuận có thểthực hiện bằng cách điều chỉnh giao dịch thực tế xảy ra trong năm tài chính (quản trịlợi nhuận thông qua giao dịch thực) hoặc thay đổi phương pháp kế toán hay các ướclượng khi thể hiện trên BCTC làm phát sinh các khoản dồn tích bất thường (quản trịlợi nhuận trên cơ sở dồn tích)

Quản trị lợi nhuận thông qua giao dịch thực là hành vi cố ý thay đổi doanh thu

được công bố theo ý muốn của nhà quản trị bằng cách đổi thời gian hay cấu trúc hoạtđộng, đầu tư hay giao dịch tài chính để đạt được hiệu quả kinh tế (Zang, 2011) TheoRoychowdhury (2006), các nhà quản lý có thể sử dụng chiết khấu hoặc các các khoảntín dụng để tạm thời đẩy nhanh doanh số bán hàng, dẫn đến sự gia tăng lợi nhuận tronggiai đoạn hiện tại, tuy nhiên điều này không ảnh hưởng tới dòng tiền hoạt động Bêncạnh đó, các điều chỉnh về chi phí như chi phí quảng cáo, chi phí nghiên cứu và pháttriển và chi phí bán hàng, chi phí quản lý công ty dẫn tới tổng chi phí thấp bất thườngcũng được coi là dấu hiệu của quản trị lợi nhuận Biểu hiện thứ ba liên quan tới chi phísản xuất khi mà các nhà quản lý cố tình đẩy mạnh sản xuất hơn mức cần thiết, từ đógiảm tổng chi phí sản xuất trung bình cho mỗi đơn vị, nhằm giảm giá vốn hàng bán vàtăng lợi nhuận biên Những hành vi cố ý thông qua giao dịch nhằm điều

Trang 16

chỉnh lợi nhuận trên báo cáo đều làm TTKT không còn khách quan, trung thực, haynói cách khác là làm suy giảm CLTT kế toán

Khác với quản trị lợi nhuận thông qua giao dịch thực, quản trị lợi nhuận trên cơ

sở dồn tích được thực hiện bằng thay đổi phương pháp kế toán hoặc phương pháp ước

lượng (Zang, 2011) như thay đổi ước tính dự phòng, thay đổi cách tính giá hàng xuấtkho… từ đó làm thay đổi lợi nhuận kế toán nhưng không làm phát sinh dòng tiền Cáchlàm này dẫn tới sự chênh lệch giữa lợi nhuận và dòng tiền, và được gọi là quản trị lợinhuận trên cơ sở dồn tích Mặc dù việc thay đổi các phương pháp kế toán hay thay đổicác ước lượng là vấn đề được chuẩn mực kế toán cho phép, tuy vậy việc thay đổi này

có thể làm làm TTKT không giữ được tính trung lập, khách quan, nói các khác, CLTT

kế toán sẽ không được đảm bảo Về mặt bản chất, trong hoạt động kinh doanh, cácdoanh nghiệp sẽ xuất hiện các khoản dồn tích do phát sinh chênh lệch giữa dòng tiền vàlợi nhuận kế toán, tuy nhiên khoản dồn tích quá cao so với đặc điểm của ngành và củaquy mô doanh nghiệp là dấu hiệu cho thấy hiện tượng quản trị lợi nhuận Vì vậy để đolường CLTT kế toán trên khía cạnh quản trị lợi nhuận, các nhà khoa học dựa vào cáckhoản dồn tích bất thường, trong đó khoản dồn tích bất thường chính là chênh lệch giữadồn tích trong kỳ của doanh nghiệp với các khoản dồn tích thông thường Khoản dồntích bất thường thể hiện sự mức độ áp đặt chủ quan của nhà quản trị để điều chỉnh lợinhuận Nghiên cứu của Jones (1991) được xem là đặt nền móng cho việc xác định mức

độ quản trị lợi nhuận qua các khoản dồn tích Trong mô hình gốc, Jones (1991) địnhnghĩa khoản dồn tích thông thường là ước tính dồn tích dựa trên sự thay đổi doanh thu

và giá trị tài sản cố định của các doanh nghiệp cùng ngành nghề Dồn tích bất thường làchênh lệch giữa tổng giá trị của dồn tích doanh nghiệp với phần dồn tích thông thườngđược ước lượng bằng cách trên Các nghiên cứu về sau khi thực hiện các đánh giá liênquan tới CLTT kế toán cũng đã kế thừa nghiên cứu về quản trị lợi nhuận dựa trên biếndồn tích của Jones (1991) như Becker (1998), Krishnan (2003) và bổ sung một số yếu

tố thích hợp như của Dechow và cộng sự (1995) với các khoản phải thu, Kothari vàcộng sự (2005) đưa thêm biến hiệu quả hoạt động, hay Chaney và cộng sự (2011) bổsung biến lạm phát và tăng trưởng GDP; hoặc Fathi (2013) bổ sung chỉ số BM (giá trịghi sổ trên giá trị thị trường) khi ước lượng các khoản dồn tích thông thường

Trang 17

Tại Việt Nam, các nhà khoa học rất quan tâm và sử dụng quản trị lợi nhuậntrên cơ sở dồn tích làm thước đo chính về chất lượng TTKT Nghiên cứu của tác giảPhùng Anh Thư và Nguyễn Vĩnh Khương (2018) và tác giả Phùng Anh Thư và TháiHồng Thụy Khánh (2018) đều sử dụng quản trị lợi nhuận để phản ánh CLTT kếtoán Kết quả nghiên cứu của Phùng Anh Thư và Nguyễn Vĩnh Khương (2018) chothấy khả năng hoạt động liên tục có tác động thuận chiều tới CLTT BCTC, phản ánhtình hình sức khỏe tài chính của công ty có ảnh hưởng tới CLTT BCTC Bên cạnh

đó, nghiên cứu của Phùng Anh Thư và Thái Hồng Thụy Khánh (2018) cung cấpbằng chứng thực nghiệm cho thấy quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, đòn bẩytài chính có ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của công ty niêm yết Cả hai nghiêncứu đều sử dụng dữ liệu từ 279 công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam trong khoảngthời gian 2009-2015

Cùng sử dụng quản trị lợi nhuận thông qua các khoản dồn tích để đo lường CLTT

kế toán, Nguyễn Thu Hằng và cộng sự (2018) trong nghiên cứu đã sử dụng mô hìnhJones (1991), Dechow và cộng sự (1995), Kothari và cộng sự (2005) Kết quả đo lườngcác khoản dồn tích bất thường bằng 3 phương pháp này khá tương đương Kết quả hồiquy cho thấy có mối tương quan giữa QTCT và quản trị lợi nhuận

Nghiên cứu về chất lượng thông tin kế toán trên khía cạnh sai sót trên báo cáo tài chính

Các chuẩn mực kiểm toán của Mỹ định nghĩa sai sót/ gian lận BCTC là hành vi gây

ra sai lệch trọng yếu của BCTC Theo Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ, sai sót/gian lận BCTC là sự xuyên tạc về tình trạng tài chính của một doanh nghiệp, được thựchiện thông qua sự trình bày sai hoặc bỏ sót số tiền hoặc thông tin thuyết minh trong BCTC

để đánh lừa người sử dụng BCTC Theo đó các hành vi sai sót mang tính chất cố

ý được coi là gian lận Các BCTC tồn tại các sai sót/ gian lận được coi là BCTC thiếu trungthực, đồng nghĩa với việc CLTT kém, gây phương hại tới quyền lợi của người sử dụngthông tin Các nghiên cứu về CLTT kế toán thông qua sai sót/ gian lận trên BCTC xác địnhdoanh nghiệp có sai sót/gian lận trên BCTC bằng cách dựa vào báo cáo về gian

Trang 18

lận như báo cáo AAERs1 (Accounting and Auditing enforcement Release) (Roden vàcộng sự, 2016) Ngoài ra một số nghiên cứu khác dựa vào chênh lệch BCTC trước vàsau kiểm toán vượt ngưỡng trọng yếu, tính trên lợi nhuận, doanh thu, hoặc tài sản(Kinney và cộng sự, 1994), cho thấy công ty đã công bố BCTC không đảm bảochất

lượng

Một hướng tiếp cận khác về CLTT kế toán qua sai sót đó là dựa vào ýkiến của đơn vị kiểm toán độc lập Các nghiên cứu của Kim và Yang (2007),Willekens (2008) đều cho rằng báo cáo kiểm toán có khả năng cung cấp một sựđảm bảo phù hợp về tính trung thực của báo cáo kế toán Maines và Wahen (2006)cho rằng báo cáo kiểm toán chấp nhận toàn phần chính là điều kiện cần thiết đểthể hiện TTKT là đáng tin cậy và được trung thực Do vậy, bên cạnh quản trị lợinhuận, ý kiến kiểm toán thể hiện báo cáo không còn sai sót trọng yếu được coi làthước đo thể hiện CLTT kế toán (Dechow và cộng sự, 2011; Pucheta‐Martínez

kê mô tả với thước đo chênh lệch BCTC trước và sau kiểm toán cho thấy chấtlượng BCTC thiếu tin cậy của các công ty niêm yết trên thị trường Số liệu trongnăm nghiên cứu cho thấy hầu hết doanh nghiệp đều có hiện tượng giảm lợinhuận sau kiểm toán, thậm chí chuyển lãi thành lỗ, từ lỗ nhẹ sang lỗ nặng, chủ yếuđiều chỉnh ở chỉ tiêu chi phí tài chính Từ đó, bài viết đề xuất một số giải pháptập trung hoàn thiện khung pháp lý và hệ thống văn bản hướng dẫn, tăng khảnăng thực thi của cơ quan quản lý thị trường, nâng cao trách nhiệm xã hội củacông ty niêm yết

Trang 19

1 Kể từ năm 1982, Ủy ban chứng khoán và Sàn giao dịch Mỹ (SEC) đã phát hành báo cáo AAERs nhằm cung cấp thông tin về các sai phạm của các cá nhân hoặc đơn vị và ảnh hưởng của các sai phạm này tới

BCTC (Nguồn: Beasley, M.S., 1996 An empirical analysis of the relation between the board of director

composition and financial statement fraud Accounting review, pp.443-465.)

Trang 20

Nghiên cứu về chất lượng thông tin kế toán gắn liền với tính thích hợp của thông tin

Bên cạnh đặc điểm trung thực, tính thích hợp cũng được xem là một yếu tố đểđánh giá CLTT kế toán TTKT thích hợp sẽ hữu ích cho người sử dụng, thể hiện cóchất lượng tốt IASB (2018) định nghĩa TTKT có tính thích hợp khi có khả năng tạo

ra được sự khác biệt trong quyết định của người sử dụng, nghĩa là thông tin đó cókhả năng dự báo và khả năng xác nhận Khả năng dự báo có được khi người sử dụngdùng những thông tin đó để dự đoán dòng thu nhập của doanh nghiệp trong tươnglai Thông tin tài chính có khả năng xác nhận khi thông tin cung cấp các phản hồi vềcác đánh giá trước đó Đây là hai tính chất có liên quan mật thiết với nhau, ví dụthông tin về doanh thu của năm hiện tại của doanh nghiệp có thể xác định được mức

độ thích hợp thông qua việc so sánh các chỉ số của những năm trước, và cũng được

sử dụng để dự đoán doanh thu của năm tiếp theo Kết quả của việc so sánh sẽ giúpngười sử dụng cải thiện việc dự đoán của mình Theo đó, TTKT có giá trị thích hợpnếu tồn tại một mối quan hệ giữa các thông tin công bố trên BCTC với giá trị thịtrường của cổ phiếu hoặc lợi nhuận của cổ phiếu (Francis và Schipper, 1999) Nóicách khác, giá trị thích hợp của TTKT là khả năng của các số liệu kế toán trong việctóm tắt các thông tin cơ bản của giá cổ phiếu (Liu và Liu, 2007) Do vậy các môhình hồi quy để đo lường tính thích hợp đều tập trung vào giá cổ phiếu và thông tinBCTC Nếu mối liên hệ này chặt chẽ nghĩa là thông tin thích hợp và ngược lại.Nghiên cứu của Azar và cộng sự (2019) cho rằng có hai mô hình gốc thường đượccác học giả sử dụng để đo lường tính thích hợp của TTKT: mô hình về thu nhập cổphiếu (Easton và Harris, 1991) và mô hình giá cổ phiếu (Ohlson, 1999)

Đối với mô hình của Easton và Harris (1991), giá trị thích hợp chính là phần

dư của mô hình đo lường ảnh hưởng của thu nhập cổ phiếu EPS lên lợi nhuận của

cổ phiếu, trong đó lợi nhuận cổ phiếu được xác định bằng chênh lệch giá cổ phiếutrong hai năm liền kề cộng cổ tức được chia Các nghiên cứu sau này như nghiêncứu của Niu (2006), Klai và Omri (2011) tiếp tục kế thừa mô hình nói trên để đolường giá trị thích hợp của TTKT

Trang 21

Đối với mô hình của Ohlson (1999) hay còn gọi là mô hình EBO, giá trị thíchhợp là phần dư của mô hình đo lường mối quan hệ của giá trị sổ sách vốn chủ sởhữu, thu nhập cổ phiếu EPS và giá trị thị trường Sau này mô hình EBO còn được bổsung biến sự thay đổi trong thu nhập trên một cổ phiếu, tạo nên mô hình EBO điềuchỉnh Vận dụng mô hình của Ohlson (1999), Adaa và Hanefah (2018) đã nghiêncứu về CLTT kế toán thông qua tính thích hợp của TTKT

Tại Việt Nam, hướng nghiên cứu dựa trên đặc tính thích hợp của chất lượngthông tin kế toán không thực sự bổ biến Nghiên cứu của tác giả Nguyễn ThịPhương Hồng (2016) sử dụng mẫu dữ liệu từ 2012-2014 với số lượng 123 công tyniêm yết Tính thích hợp của thông tin được đo lường bằng mô hình EBO điều chỉnh(Ohlson, 1999) Tuy nhiên khi sử dụng mô hình EBO điều chỉnh, hệ số xác định R2

đo lường khả năng giải thích của mô hình chỉ ở mức 39%, thấp hơn so với cácnghiên cứu được thực hiện tại các thị trường khác Bên cạnh đó, khi sử dụng thang

đo về đặc tính thích hợp để nghiên cứu về ảnh hưởng của QTCT tới CLTT BCTC,biến chất lượng đo bằng mô hình EBO chỉ có tương quan với duy nhất một yếu tốtrên 11 biến quản trị đề xuất

Ngoài ra, các học giả còn tiến hành mở rộng việc đo lường đánh giá CLTT kếtoán thông qua việc đánh giá các thuộc tính làm gia tăng CLTT Beest (2009) đolường tính kịp thời bằng cách lấy logarit tự nhiên số ngày kể từ kết thúc năm tàichính cho tới thời điểm ký báo cáo kiểm toán Tính có thể so sánh được xác địnhbằng cách xem xét công ty có thay đổi chính sách kế toán qua các thời kỳ hay không(Jonas và Blanchet, 2000) Tính dễ hiểu thể hiện TTKT phải được phân loại, đặctính hóa và trình bày một cách rõ ràng (Jonas & Blanchet, 2000) Khi người sử dụngcàng hiểu được thông tin, chất lượng BCTC càng được nâng cao Việc sử dụng đồthị và bảng biểu giúp thông tin được trình bày rõ ràng (Courtis, 2005)

1.2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan tới tác động của quản trị công ty tới chất lượng thông tin kế toán

Các nghi vấn về CLTT kế toán xuất phát từ vấn đề đại diện giữa nhà quản trị và

cổ đông Mặt khác, Lý thuyết thông tin bất cân xứng cho thấy mặc dù là người chủ sởhữu thực sự, tuy nhiên cổ đông luôn là người ở thế bị động trong việc tiếp cận thông

Trang 22

tin BCTC được cung cấp bởi BGĐ BGĐ trong quá trình vận hành hệ thống TTKT, cóđầy đủ vị thế và động cơ để cung cấp thông tin thiếu chất lượng cho cổ đông, xuất phát

từ lợi ích cá nhân Động cơ có thể liên quan tới lương, thưởng, hoặc lo ngại bị sa thảikhi tình hình kinh doanh của công ty không hiệu quả như kỳ vọng của cổ đông Nhằmhạn chế hành vi can thiệp làm giảm CLTT kế toán, các cổ đông cần có sự kiểm soáthiệu quả hoạt động của BGĐ QTCT được xem là giải pháp hiệu quả cho vấn đề này.QTCT được hiểu là các cơ chế nội bộ để kiểm soát công ty, liên quan tới các mối quan

hệ giữa BGĐ, HĐQT, các cổ đông và các bên có liên quan (OECD, 2004) Ngoài ra,theo La Porta và cộng sự (2000), QTCT còn giúp các bên liên quan bên ngoài doanhnghiệp, đặc biệt là các cổ đông thiểu số, bảo vệ mình khỏi những hành vi tổn hại đếnquyền sở hữu trước các cổ đông kiểm soát Do đó, các nghiên cứu về tác động của tácđộng của QTCT tới chất lượng TTKT thường tiếp cận về QTCT trên hai khía cạnhchính là cấu trúc sở hữu và đặc điểm của thành phần quản trị Trong đó, thành phầnquản trị chủ yếu bao gồm HĐQT và BKS HĐQT bao gồm các thành viên do cổ đôngbầu chọn, nhằm đại diện cho các chủ sở hữu, thực hiện chức năng giám sát hoạt độngcủa BGĐ, qua đó bảo vệ quyền lợi của cổ đông và các bên liên quan khỏi các nguy cơ

bị phương hại lợi ích từ BGĐ Ở một số quốc gia như Anh, Mỹ, HĐQT có thể chiathành nhiều Ủy ban như Ủy ban kiểm toán, Ủy ban lương thưởng Trong khi đó, tại một

số quốc gia như Trung Quốc, Indonesia, cấu trúc QTCT còn bao gồm BKS, là cơ quan

do các cổ đông bầu ra nhằm giám sát và đánh giá việc thực hiện các quyền và nghĩa vụcủa thành viên HĐQT và BGĐ

Các nghiên cứu về tác động của cấu trúc sở hữu tới chất lượng thông tin kế

toán

Cấu trúc sở hữu được hiểu là sự phân bổ vốn chủ sở hữu theo quyền, có mốitương quan với tỷ lệ vốn chủ sở hữu được nắm giữ bởi các chủ sở hữu, chi phối bởivấn đề người đại diện, bao gồm: vấn đề giữa ban quản lý và chủ sở hữu, vấn đề giữa

cổ đông kiểm soát và cổ đông nhỏ lẻ (Liu và Lu, 2007) Donnelly và Lynch (2002)tin rằng tính tập trung của cấu trúc sở hữu làm cho các cổ đông kiểm soát có độnglực bảo vệ quyền lợi của mình bằng cách gia tăng sự giám sát

Trang 23

Bài nghiên cứu của hai tác giả Wang và Yung (2011) đề cập về ảnh hưởng của

sở hữu Nhà nước tới CLTT kế toán qua thang đo quản trị lợi nhuận Nghiên cứu bắtđầu từ việc lật lại nghi ngờ về việc các doanh nghiệp Nhà nước thường hoạt độngkhông hiệu quả vì những lý do như mâu thuẫn lợi ích, sự ỷ lại vào trợ cấp chínhphủ, hoạt động quản trị yếu kém Tuy vậy kết quả nghiên cứu lại cho thấy doanhnghiệp càng có nhiều vốn Nhà nước lại càng có ít hành vi quản trị lợi nhuận.Nguyên nhân là do sự bảo hộ từ phía Nhà nước làm giảm động lực để nhà quản trịtìm cách sửa đổi BCTC Kết quả này có ý nghĩa thống kê khi mô hình được chạycho toàn mẫu hay cho giai đoạn trước quá trình tự do hóa kinh tế diễn ra ở TrungQuốc Khi mở rộng nghiên cứu về sở hữu của BGĐ, tác giả chưa tìm thấy bằngchứng về mối quan hệ giữa sở hữu của BGĐ và CLTT kế toán

Tương tự, Kao (2014) đã tìm hiểu về ảnh hưởng của IFRS, tính bất cân xứngthông tin và QTCT lên CLTT kế toán Nghiên cứu được thực hiện trên TTCK TrungQuốc Xét riêng trên góc độ QTCT, nghiên cứu tập trung phân tích về cấu trúc sởhữu và chỉ ra rằng sở hữu Nhà nước có ảnh hưởng tích cực lên CLTT kế toán ở khíacạnh trung thực và thích hợp; sở hữu của nhà quản lý cấp cao có tác động tích cựclên tính kịp thời và thích hợp của TTKT; trong khi đó tỷ lệ sở hữu của HĐQT có tácđộng tích cực trên cả 3 đặc tính trung thực, kịp thời và thích hợp Ở chiều ngược lại,các doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu cổ đông tổ chức càng cao sẽ cung cấp thông tinthiếu trung thực, thích hợp và không kịp thời Tuy vậy, nghiên cứu chưa tìm đượcbằng chứng về ảnh hưởng của sở hữu BGĐ tới tính trung thực của TTKT

Sử dụng mô hình đo lường CLTT kế toán thông qua thước đo quản trị lợinhuận, cụ thể là mô hình của Kothari và cộng sự (2005), Anwar và Buvanendra(2019) đã kiểm định sự ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu lên quản trị lợi nhuận củacác công ty niêm yết tại Sri Lanka Kết quả nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp

có tỷ lệ sở hữu của cổ đông tổ chức và của nhà điều hành càng lớn, được kiểm toánbởi Big4 sẽ hạn chế hiện tượng thao túng lợi nhuận, cho thấy CLTT kế toán tốt Mặtkhác, doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài càng cao thì mức độthao túng lợi nhuận càng lớn Tuy vậy, mẫu nghiên cứu chỉ bao gồm 355 quan sát từ

71 công ty trong khoảng thời gian từ 2013-2018

Trang 24

Tương tự nghiên cứu của Anwar và Buvanendra (2019), Firmansyah và Irawan(2019) cũng sử dụng mô hình của Kothari và cộng sự (2005) để đo lường CLTT

kế toán thông qua thước đo quản trị lợi nhuận Trên cơ sở dữ liệu tài chính vàquản trị của các công ty niêm yết tại Indonesia, nghiên cứu đã chỉ ra mối tươngquan âm giữa sở hữu tổ chức với mức độ quản trị lợi nhuận, hay nói cách khácdoanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư tổ chức lớn sẽ có CLTT kế toán tốt.Tuy nhiên, nghiên cứu chưa cung cấp được bằng chứng về vai trò của thành viênđộc lập với CLTT kế toán

Tại Việt Nam, Nguyễn Thu Hằng và cộng sự (2018) đã tìm hiểu tác độngcủa QTCT đến hành vi thao túng lợi nhuận thông qua các khoản dồn tích của cáccông ty niêm yết Sử dụng dữ liệu BCTC của 652 công ty phi tài chính niêm yết trên

Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội và TP.HCM trong giai đoạn 2010-2016, kếtquả nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp có sở hữu của BGĐ và sở hữu Nhànước lớn sẽ hạn chế hành vi thao túng lợi nhuận, tuy nhiên nghiên cứu không tìmthấy bằng chứng về ảnh hưởng của sở hữu cổ đông tổ chức tới CLTT kế toán

Các nghiên cứu về tác động của đặc điểm Hội đồng quản trị tới chất lượng thông tin kế toán

Với chức năng là cơ quan quản lý, HĐQT đại diện cho cổ đôngthực hiện kiểm tra, theo dõi hoạt động của BGĐ, đóng một vị thếquan trọng trong việc kiểm soát vấn đề đại diện (García‐Meca vàSánchez‐Ballesta, 2009)

Vafeas (2000) tìm hiểu ảnh hưởng của đặc thù HĐQT tới CLTT kế toán Nghiên cứu thu thập dữ liệu từ 350 doanh nghiệp ở Mỹ Kết quả nghiên cứu cho thấy công ty có số lượng thành viên HĐQT càng ít thì khả năng cung cấp thông tin về thu nhập của doanh nghiệp đó càng cao Tuy nhiên nghiên cứu này không tìm ra được bằng chứng về tác động của tính độc lập của các thành viên HĐQT đến khả năng cung cấp

thông tin

Nghiên cứu của Xie và cộng sự (2003) sử dụng quản trị lợi nhuận thông qua các khoản dồn tích làm thước đo chất lượng kế toán Kết quả nghiên cứu cho thấy HĐQT có vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn hiện tượng

Trang 25

quản trị thu nhập, trong đó, quy mô HĐQT, tỷ lệ thành viên độc lập là các tổ chức và thành viên độc lập trong HĐQT có chuyên môn về tài chính có tác động tích cực tới CLTT kế toán Tuy nhiên, nghiên

Trang 26

cứu không tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ giữa tính kiêm nhiệm và CLTT kếtoán

Khác với nghiên cứu của Vafeas (2000) và Xie và cộng sự (2003),Dimitropoulos và Asteriou (2010) lại không tìm thấy mối liên hệ giữa số lượngthành viên HĐQT tới CLTT kế toán Thay vào đó, kết quả nghiên cứu cho thấy mốiquan hệ tích cực giữa CLTT kế toán và tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập Dữ liệuđược thu thập trong thời gian 5 năm từ năm 2000 đến năm 2004 tại Hy Lạp

Fathi (2013) đã kiểm định mối quan hệ giữa QTCT với CLTT kế toán tài chínhdựa trên các khía cạnh: đặc điểm của HĐQT, cơ cấu sở hữu và hệ thống kiểm soát.Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu là các công ty niêm yết trong khoảng thời gian

5năm từ 2004 đến 2008, với số lượng quan sát là 505 Kết quả nghiên cứu cho thấytương quan dương giữa quy mô của HĐQT và được kiểm toán bởi Big4 với CLTT

kế toán Tuy nhiên, nghiên cứu chưa tìm thấy mối quan hệ giữa tính độc lập củaHĐQT với CLTT kế toán

Holtz và Sarlo Neto (2014) lại cho thấy số lượng thành viên HĐQT lại có mốiquan hệ ngược chiều đến CLTT kế toán Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng ủng hộ quanđiểm cho rằng mức độ độc lập giữa các thành viên ban quản trị và việc tách biệt vaitrò của chủ tịch HĐQT và giám đốc điều hành có tác động tích cực đến CLTT kếtoán được báo cáo Nghiên cứu sử dụng dữ liệu là 207 công ty tại Brazil trong giaiđoạn từ năm 2008 – 2011, với cỡ mẫu chỉ bao gồm 678 quan sát

Tương tự kết quả nghiên cứu của Holtz và Sarlo Neto (2014), Kukah và cộng

sự (2016) xem xét QTCT trên các góc độ đặc điểm HĐQT, cấu trúc sở hữu Kết quảcho thấy doanh nghiệp có HĐQT độc lập, không có sự kiêm nhiệm giữa CEO vàchủ tịch HĐQT sẽ có CLTT kế toán tốt

Sử dụng mô hình tam giác gian lận làm nền tảng, Roden và cộng sự (2016) đã coicác đặc điểm của HĐQT là nhân tố có ảnh hưởng tới khả năng gian lận trên BCTC, làmsuy yếu CLTT kế toán Nghiên cứu sử dụng dữ liệu của các doanh nghiệp ở Mỹ từ năm2003-2010 Kết quả cho thấy việc HĐQT có thâm niên công tác, kiêm nhiệm chức danhCEO và chủ tịch HĐQT, và có tỷ lệ nam giới cao có thể tạo cơ hội cho gian lận diễn ra.Mặt khác tỷ lệ thành viên độc lập trong Hội đồng cao có thể hạn chế

Trang 27

khả năng phát sinh gian lận trên BCTC Tuy nhiên, nghiên cứu chưa chỉ ra được bằngchứng về ảnh hưởng chuyên môn tài chính của thành viên HĐQT tới CLTT kế toán

Tại Việt Nam, Nguyễn Trọng Nguyên (2015) đã thực hiện khảo sát đánh giá ở

195công ty niêm yết Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố về tính độc lập của

HĐQT, tần suất cuộc họp, thành viên HĐQT có kiến thức về chuyên môn tài chính

kế toán, công ty niêm yết có bộ phận kiểm toán nội bộ có ảnh hưởng đến chất lượngBCTC Tuy vậy, nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ giữa sựkiêm nhiệm chức danh của HĐQT tới chất lượng BCTC

Trần Thị Giang Tân và cộng sự (2015) đã xem xét nhân tố thuộc về đặc thùquản trị, cụ thể là sự kiêm nhiệm chức danh giám đốc điều hành và chủ tịch HĐQT,

là yếu tố ảnh hưởng tới gian lận BCTC Sử dụng mẫu nghiên cứu là 78 công ty niêmyết tại Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh năm 2012, kết quảnghiên cứu cho thấy, việc kiêm nhiệm hai chức danh nói trên dẫn đến rủi ro phátsinh gian lận BCTC, hay nói cách khác làm suy giảm chất lượng BCTC

Nguyễn Thị Phương Hồng (2016) coi QTCT là một nhân tố tác động tới chấtlượng BCTC Kết quả nghiên cứu thể hiện các doanh nghiệp có giám đốc điều hànhkiêm nhiệm chủ tịch HĐQT, có tỷ lệ thành viên độc lập thấp, thành viên HĐQT hạnchế về chuyên môn tài chính sẽ có chất lượng BCTC thấp

Bùi Văn Dương và Ngô Hoàng Điệp (2017) đã xem xét ảnh hưởng của HĐQTlên hành vi quản trị lợi nhuận Kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng quy mô củaHĐQT, tỷ lệ thành viên HĐQT có chuyên môn tài chính, tỷ lệ thành viên nữ thuộcHĐQT có mối quan hệ cùng chiều với chất lượng TTKT Tuy vậy nghiên cứu khôngtìm thấy bằng chứng về mối quan hệ giữa mô hình kiêm nhiệm hai chức danh Chủtịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc điều hành, tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập khôngđiều hành, số lần họp HĐQT với hành vi QTLN của người quản lý doanh nghiệp.Nghiên cứu được thực hiện dựa trên số liệu BCTC, Báo cáo thường niên và Báo cáoquản trị của 430 công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam, giai đoạn2010-2015

Các nghiên cứu về tác động của đặc điểm Ban kiểm soát tới chất lượng thông tin kế toán

Trang 28

BKS là bộ phận do Đại hội đồng cổ đông bầu chọn nhằm kiểm tra, giám sáttính hợp pháp, chính xác và trung thực trong việc quản lý, điều hành hoạt động kinhdoanh, ghi chép sổ sách kế toán doanh nghiệp, BCTC và việc chấp hành điều lệcông ty, nghị quyết, quyết định của HĐQT Theo đó, BKS là giải pháp cho vấn đềđại diện bởi vì sự giám sát này sẽ góp phần ngăn cản những hành vi cơ hội của BGĐ

và vấn đề thông tin bất cân xứng giữa cổ đông và nhà điều hành Mô hình có sựtham gia của BKS áp dụng tại một số ít quốc gia như Trung Quốc và Đức

Nghiên cứu của Firth và cộng sự (2007) được thực hiện tại Trung Quốc nhằmtìm hiểu mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu, cơ cấu quản trị hai tầng và CLTT kếtoán Kết quả nghiên cứu cho thấy bên cạnh cấu trúc sở hữu, đặc điểm của BKS, mà

cụ thể là quy mô BKS có tác động tích cực tới CLTT, tuy nhiên nghiên cứu khôngtìm thấy bằng chứng về ảnh hưởng của các cuộc họp BKS tới CLTT kế toán khi đolường CLTT kế toán theo ý kiến của kiểm toán

Nghiên cứu của Ran và cộng sự (2014) đã kiểm định ảnh hưởng của đặc điểmBKS trong mối quan hệ với CLTT kế toán với dữ liệu là các công ty niêm yết trênTTCK Trung Quốc Nhóm tác giả đã đo lường CLTT kế toán thông qua mức độquản trị lợi nhuận dồn tích của Kothari và cộng sự (2005) Kết quả nghiên cứu chothấy thành viên BKS có chuyên môn về kế toán và BKS có tỷ lệ nữ cao sẽ tác độngtích cực tới CLTT kế toán Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu chưa cung cấp được bằngchứng về ảnh hưởng của quy mô BKS tới CLTT kế toán

Nghiên cứu của Panzer và Müller (2015) đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm

về ảnh hưởng tích cực của vai trò nữ giới trong BKS tới chất lượng thu nhập Ngoài

ra, các doanh nghiệp có trưởng, phó BKS là nữ giới sẽ có CLTT kế toán tốt hơn.Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu là 320 quan sát với 64 công ty niêm yết

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về đặc điểm của BKS tới chất lượng TTKT hiệnnay rất hạn chế Nghiên cứu của Nguyễn Trọng Nguyên (2015) là một trong số ítcác nghiên cứu xem xét tác động của đặc điểm BKS tới CLTT kế toán tại Việt Nam.Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chưa cung cấp được bằng chứng thực nghiệm về mốiquan hệ này

Trang 29

Bảng 1.1 tóm tắt một số kết quả nghiên cứu chủ yếu liên quan tới ảnh hưởng của QTCT tới CLTT kế toán

Bảng 1.1: Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị công ty tới

chất lượng thông tin kế toán Tác giả

Các nghiên cứu về ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu tới CLTT kế toán

Trang 30

Xie và cộng

sự (2003)

Dimitropoulos

và Asteriou(2010)

Fathi (2013)

Holtz và SarloNeto (2014)

Kukah vàcộng sự

(2016)

Roden vàcộng sự

(2015)

Trang 31

1.3 Khoảng trống cho nghiên cứu

Qua các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan tới đề tài

nghiên cứu của Luận án “Ảnh hưởng của quản trị công ty đến chất lượng thông tin

kế toán của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, có thể

thấy rằng đây là một chủ đề nghiên cứu có tính thực tiễn cao và thu hút được sự

quan tâm của các nhà khoa học trong lĩnh vực tài chính, kế toán và quản trị Từ cácphân tích về tổng quan nghiên cứu, nghiên cứu sinh tổng kết và tìm ra khoảng trốngnghiên cứu và hướng đi của Luận án như sau:

Về việc đo lường chất lượng thông tin kế toán

Trước hết, tổng quan các nghiên cứu về CLTT kế toán đều thừa nhận quan điểm

về CLTT kế toán trên cơ sở tính hữu ích của thông tin đối với người sử dụng Các

Trang 32

thuộc tính về TTKT được nghiên cứu theo các đặc điểm chất lượng thông tin do các

tổ chức, hiệp hội nghề nghiệp về kế toán như FASB và IASB xây dựng, hoặc phùhợp với quy định của quốc gia sở tại Các nghiên cứu về CLTT kế toán hiện đại chủyếu được thực hiện theo phương pháp định lượng với hai hướng đo lường chính:một là xây dựng thang đo tổng hợp trên cơ sở đặc tính của CLTT Các nghiên cứunày thực hiện khảo sát đối tượng sử dụng thông tin, đối tượng tạo lập thông tin; hai

là nghiên cứu theo từng đặc điểm riêng lẻ với hai đặc điểm cơ bản là tính trung thực

và tính thích hợp dựa trên số liệu BCTC và diễn biến giá cổ phiếu trên thị trường.Tại Việt Nam, các nghiên cứu gần đây chủ yếu đi theo hai hướng này Hướng tiếpcận của Luận án là nghiên cứu CLTT kế toán theo đặc điểm riêng lẻ, sử dụng dữ liệuthứ cấp là báo cáo tài chính của các công ty niêm yết Mặt khác theo Chuẩn mực Kếtoán Việt Nam, TTKT cần đảm bảo tính trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễhiểu và có thể so sánh, trong đó đặc tính trung thực là yêu cầu cơ bản và quan trọnghàng đầu Do vậy, tác giả sẽ triển khai Luận án theo hướng nghiên cứu về CLTT kếtoán theo đặc điểm trung thực, phù hợp với quan điểm của FASB, IASB và thốngnhất với chuẩn mực kế toán Việt Nam

Hai là, các nghiên cứu về CLTT kế toán theo đặc điểm trung thực cho rằng thông

tin kế toán trung thực khi báo cáo tài chính không có hiện tượng quản trị lợi nhuận hoặckhông có sai sót Tổng quan nghiên cứu cho thấy, hai vấn đề này được các nhà khoahọc nghiên cứu độc lập Nghiên cứu về quản trị lợi nhuận được thực hiện trên quanđiểm các nhà quản trị thay đổi các phương pháp kế toán, các ước tính theo chủ quandẫn đến thay đổi lợi nhuận Vấn đề quản trị lợi nhuận làm suy giảm CLTT kế toán do viphạm tính khách quan, khiến TTKT được điều chỉnh theo ý muốn của nhà quản trị hơn

là phản ánh trung thực tình hình tài chính của công ty Các nghiên cứu này sử dụng báocáo đã kiểm toán và đặt nghi ngờ về CLTT kém tại các công ty có các khoản dồn tíchbất thường lớn Trong khi đó nghiên cứu về sai sót trọng yếu lại dựa trên đánh giá củakiểm toán viên về BCTC của đơn vị được kiểm toán, cho thấy đơn vị đã có những saiphạm trong việc lập và trình bày báo cáo và bị phát hiện bởi các kiểm toán viên Cácnghiên cứu này dựa trên mức độ chênh lệch báo cáo trước, sau kiểm toán, ý kiến củacông ty kiểm toán toán, cho thấy mức độ trung thực của báo cáo trước kiểm toán hoặcdựa vào thống kê các công ty gian lận BCTC Căn

Trang 33

cứ vào các phân tích trên, khác với các nghiên cứu trước đó, Luận án sẽ thực hiệnnghiên cứu về CLTT kế toán thông qua việc sử dụng hai thước đo là quản trị lợinhuận và sai sót trọng yếu, thể hiện việc nghiên cứu về CLTT kế toán được toàndiện hơn, dựa vào BCTC cả trước và sau kiểm toán

Ba là, khi nghiên cứu về CLTT kế toán trong mối tương quan ngược chiều với sai

sót trọng yếu, lược khảo các nghiên cứu trước đó tác giả nhận thấy sai sót trọng yếuđược đo lường theo ba hướng: một là BCTC sau kiểm toán bị chỉnh sửa trên mức trọngyếu, hai là báo cáo kiểm toán không nhận được ý kiến chấp nhận toàn phần, ba là dựavào báo cáo về các công ty có gian lận trên BCTC Tại Việt Nam, chưa có báo cáochính thức thống kê về các công ty gian lận BCTC, do vậy trong Luận án, tác giả lựachọn hướng nghiên cứu dựa vào chênh lệch lợi nhuận sau kiểm toán Bên cạnh đó, tácgiả đề xuất các đo lường sai sót trọng yếu theo hướng kết hợp, tức là, công ty không cósai sót trọng yếu cần được hiểu là công ty nhận báo cáo kiểm toán dạng chấp nhận toànphần và không có chênh lệch trên mức trọng yếu Đề xuất được thực hiện trên cơ sởChuẩn mực Kiểm toán VSA 700, cho phép kiểm toán đưa ra ý kiến chấp nhận toànphần trong trường hợp báo cáo có sai sót trọng yếu và được công ty chỉnh sửa Như vậynếu chỉ sử dụng chênh lệch trên mức trọng yếu là chưa đủ để thể hiện BCTC có sai sót

mà cần kết hợp ý kiến kiểm toán Đây được coi là khoảng trống nghiên cứu và sẽ đượctác giả khai thác trong Luận án

Về các khía cạnh quản trị công ty trong nghiên cứu tác động của quản trị công ty tới chất lượng thông tin kế toán

Một là, tại Việt Nam, các nghiên cứu về đặc điểm của BKS tới CLTT kế toán

rất hạn chế, chủ yếu tập trung vào hai khía cạnh đặc điểm HĐQT và cấu trúc sở hữu.Trong khi đó, BKS là một cơ quan có vai trò quan trọng, đại diện cho cổ đông đểgiám sát hoạt động của HĐQT và BGĐ Do vậy, trong nghiên cứu này, tác giả sẽ bổsung các yếu tố liên quan tới BKS bao gồm quy mô, giới tính và chuyên môn tàichính kế toán và kiểm định ảnh hưởng của các yếu tố này lên CLTT kế toán

Hai là, tổng quan nghiên cứu cho thấy các nghiên cứu trước đây chỉ nghiên cứu

một số các yếu tố riêng lẻ về QTCT, hơn nữa mỗi quốc gia khác nhau, tùy thuộc vàođặc điểm kinh tế chính trị, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này tới CLTT kế toán

Trang 34

lại thể hiện khác nhau, thậm chí ngược chiều Ngay tại Việt Nam, theo cách đolường và dữ liệu khác nhau, các nghiên cứu cũng không đồng nhất về mối quan hệnày Điều này cho thấy cần một nghiên cứu tổng hợp với phạm vi nghiên cứu baogồm không gian và thời gian nghiên cứu đủ lớn để tìm hiểu về ảnh hưởng củaQTCT tới CLTT kế toán Trong Luận án, tác giả nghiên cứu và đưa vào mô hình cả

ba khía cạnh của QTCT bao gồm đặc điểm HĐQT, đặc điểm BKS và cấu trúc sởhữu với kỳ vọng, QTCT là giải pháp nâng cao CLTT kế toán Với dữ liệu thứ cấpmang tính khách quan từ các công ty niêm yết và trong khoảng thời gian 12 năm từ2009-2020, Luận án kỳ vọng sẽ cung cấp kết quả đáng tin cậy về ảnh hưởng củaQTCT lên CLTT kế toán

Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về chất lượng thôngtin kế toán và tác động của quản trị công ty tới chất lượng thông tin kế, Luận án đãphân tích và đề ra khoảng trống nghiên cứu Luận án mong muốn sẽ đóng góp bằngchứng thực nghiệm về ảnh hưởng của QTCT lên CLTT kế toán trên các khía cạnh đadạng của quản trị, từ đó đề xuất các giải pháp, khuyến nghị thích hợp về việc hoànthiện quản trị công ty đối với công ty niêm yết, cơ quan quản lý, nhằm nâng caoCLTT kế toán

Trang 35

2.1.1 Những vấn đề chung về chất lượng thông tin kế toán

2.1.1.1.Thông tin kế toán

Khái niệm thông tin kế toán

Thông tin kế toán là sản phẩm của hệ thống kế toán (Mulyani và Arum, 2016),

có được thông qua quá trình thu thập, lưu trữ, phân phối và xử lý thông tin tronglĩnh vực tài chính, kinh tế Thông tin kế toán phản ánh các vấn đề về kinh tế, tàichính của một doanh nghiệp (Kaplan và Roll, 1972) Mặt khác, theo Gelinas andDull (2008), thông tin là những sự kiện, con số thể hiện tính hữu ích với người sửdụng để phục vụ việc ra quyết định bởi vì nó giảm sự không chắc chắn và tăng trithức về vấn đề được đề cập Do vậy các nghiên cứu về thông tin kế toán thường gắnliền với tính hữu ích của thông tin

Đối tượng sử dụng thông tin kế toán

Theo Weigandt và cộng sự (2013), đối tượng sử thông tin kế toán bao gồmngười sử dụng bên trong và người sử dụng bên ngoài đơn vị

Đối tượng sử dụng thông tin kế toán bên trong đơn vị là các nhà quản lý công

ty, có thể kể đến như BGĐ, giám đốc tài chính, trưởng bộ phận marketing, bộ phậngiám sát sản phẩm Các nhà quản lý sử dụng thông tin kế toán làm cơ sở cho việclập kế hoạch, tổ chức và kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh của đơn vị Mặtkhác, thông tin kế toán đối với nhà quản lý là cơ sở cho các nhận định, đánh giá vềtình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó giúp cho các nhàquản lý thực hiện hoặc điều chỉnh các chiến lược, mục tiêu đã đề ra

Đối tượng sử dụng thông tin kế toán bên ngoài đơn vị rất đa dạng, bao gồm chủ

sở hữu là các cổ đông không điều hành, các nhà đầu tư, chủ nợ, hay cơ quan Nhà

Trang 36

nước Dựa trên thông tin kế toán, chủ sở hữu có thể đánh giá được mức độ hiệu quảcủa đồng vốn bỏ ra, đánh giá được năng lực quản lý, điều hành doanh nghiệp củaBGĐ, từ đó đưa ra quyết định để tối ưu hóa lợi ích Với nhà đầu tư, trên cơ sở phântích về tình hình tài sản, nguồn vốn, hoạt động và kết quả kinh doanh hàng năm vàdòng tiền, các nhà đầu tư sẽ đánh giá được khả năng sinh lợi và triển vọng phát triểncủa doanh nghiệp, và quyết định có nên đầu tư vào doanh nghiệp hay không Ở vịthế là chủ nợ, thông tin kế toán là cơ sở quan trọng giúp đánh giá được tình hình tàichính như tính thanh khoản, hiệu quả hoạt động hay khả năng trả nợ của doanhnghiệp, nhờ vậy, các tổ chức tín dụng có thể đưa ra quyết định về việc có nên chodoanh nghiệp vay tiền hay không, hoặc giám sát tình hình trả nợ của doanh nghiệpkhi đã giải ngân Trên khía cạnh vĩ mô, thông tin kế toán là cơ sở để các cơ quanNhà nước giám sát các hoạt động của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các chính sách phùhợp hỗ trợ các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.

Phân loại thông tin kế toán

Thông tin kế toán rất đa dạng Căn cứ vào đối tượng sử dụng, thông tin kế toánđược chia thành thông tin kế toán tài chính và thông tin kế toán quản trị

Thông tin kế toán tài chính là sản phẩm của kế toán tài chính Theo Luật Kế

toán Việt Nam số 88/2015/QH13 ban hành bởi Quốc hội (2015), kế toán tài chính làviệc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính bằngBCTC cho đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin của đơn vị kế toán Với sảnphẩm là BCTC, thông tin kế toán tài chính cung cấp các dữ liệu về tình hình tàichính, kết quả tài chính và các luồng tiền của doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu của sốđông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế, đồng thời chothấy kết quả quản lý của BGĐ đối với các nguồn lực được giao (IASB, 2012) TạiViệt Nam, theo Thông tư 200/2014/TT-BTC ban hành bởi Bộ Tài chính (2014),BCTC bao gồm: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báocáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh BCTC Mục đích của thông tin kế toán tàichính là cung cấp các thông tin hữu ích cho người sử dụng thông tin bên trong vàbên ngoài doanh nghiệp nhằm làm cơ sở cho các quyết định Thông tin kế toán tàichính được phản ánh trên BCTC, do đó còn được gọi là thông tin BCTC

Trang 37

Thông tin kế toán quản trị là sản phẩm của kế toán quản trị Theo Luật Kế toán

Việt Nam số 88/2015/QH13 ban hành bởi Quốc hội (2015), kế toán quản trị là việcthu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quảntrị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán Thông tin kế toánquản trị được phản ánh qua các báo cáo quản trị như báo cáo kế hoạch ngân sách,báo cáo phân tích mối quan hệ giữa doanh thu, chi phí và lợi nhuận Thông tin kếtoán quản trị hướng tới đối tượng sử dụng thông tin là người bên trong đơn vị nhưBGĐ, các nhà quản lý cấp trung Khác với kế toán tài chính, kế toán quản trị khôngmang tính bắt buộc Tuy nhiên thông tin kế toán quản trị có ý nghĩa vô cùng quantrọng, hướng tới mục tiêu tạo thêm giá trị cho doanh nghiệp thông qua việc kiểmsoát và sử dụng nguồn lực một cách tối ưu, và được coi là công cụ hữu hiệu củaquản trị doanh nghiệp trong việc thực hiện các mục tiêu quản lý

Như vậy, thông tin kế toán rất đa dạng Trong phạm vi luận án, tác giả hướngtới đối tượng thông tin kế toán tài chính, là các thông tin kế toán được phản ánhtrong BCTC (sau đây gọi tắt là TTKT) Nguyên nhân do BCTC là báo cáo phục vụcho mọi đối tượng sử dụng thông tin cả bên trong và bên ngoài đơn vị, làm cơ sởcho việc ra quyết định, phù hợp với việc phân tích về CLTT kế toán trên góc độngười sử dụng Mặt khác, đây là báo cáo mang tính chất bắt buộc, do vậy việc thuthập thông tin sẽ mang tính khách quan

2.1.1.2 Chất lượng thông tin kế toán

Khái niệm chất lượng thông tin

Theo Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) ISO 9000:2005, chất lượng là mức

độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu Trong các nghiên cứutrước đây, các nhà khoa học đã đưa ra một số quan điểm về CLTT Theo Huang vàcộng sự (1999), CLTT thể hiện sự thích hợp của thông tin đối với người sử dụng.Trong khi đó Kahn và Strong (1998) lại cho rằng CLTT là đặc tính của thông tin đểgiúp đạt được các yêu cầu hay sự mong đợi của người sử dụng thông tin

Theo Baltzan (2012), thông tin có chất lượng tốt nếu nó được xem là phù hợpvới các yêu cầu của người sử dụng thông tin bao gồm: chính xác, đầy đủ, phù hợp,kịp thời và nhất quán Mở rộng hơn, nghiên cứu của Wang và Strong (1996) chỉ ra

Trang 38

chất lượng thông tin cần đảm bảo các yêu cầu cơ bản là: (1) Tính nội tại của chấtlượng thông tin gồm: Tính chính xác, tính khách quan, độ tin cậy và uy tín cung cấpthông tin; (2) Chất lượng thông tin trong tình huống cụ thể gồm: Sự phù hợp, giá trịgia tăng, kịp thời, đầy đủ; (3) Tính đại diện của chất lượng thông tin gồm: Sự dễhiểu, biểu mẫu quy định, tính phổ thông, có thể so sánh được; (4) Khả năng tiếp cậnthông tin gồm khả năng tiếp cận thông tin, tính bảo mật thông tin

Như vậy các khái niệm về CLTT đều tập trung vào vấn đề tính hữu ích củathông tin Nhìn chung, CLTT là được hiểu là mức độ tập hợp các đặc tính của thôngtin nhằm đáp ứng yêu cầu của người sử dụng

Khái niệm chất lượng thông tin kế toán

Về cơ bản, thông tin kế toán là một loại thông tin, do đó khái niệm về CLTT kếtoán gắn liền với khái niệm về CLTT, nghĩa là gắn liền với người sử dụng thông tin.Theo Azar và cộng sự (2019), CLTT kế toán là khái niệm gắn liền với tính hữu íchcủa thông tin kế toán đối với người sử dụng Trong khi đó, Mulyani và Arum (2016)cho rằng CLTT kế toán thể hiện sự đáp ứng của thông tin kế toán đối với nhu cầucủa người sử dụng TTKT được coi là hữu ích, đáp ứng nhu cầu của người sử dụngkhi đảm bảo được những thuộc tính cơ bản

Các thuộc tính cơ bản của thông tin kế toán

Với mục tiêu hướng tới tính hữu ích trong việc ra quyết định của người sửdụng thông tin, các tổ chức, hiệp hội nghề nghiệp về kế toán đã ban hành các khungkhái niệm liên quan tới các thuộc tính về thông tin kế toán Tại mỗi quốc gia, việc

áp dụng các hướng dẫn liên quan tới thuộc tính cơ bản về thông tin kế toán có thểđược ghi nhận theo Chuẩn mực kế toán quốc tế hoặc điều chỉnh theo quy định củanước sở tại Trong đó, quy định về thuộc tính cơ bản của TTKT được thừa nhậnrộng rãi là theo quan điểm hòa hợp của FASB và IASB (2010)

Các yêu cầu về thông tin kế toán quan điểm của Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ (FASB) và Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB)

Các đặc tính về CLTT kế toán được Hội đồng chuẩn mực kế toán Hoa Kỳ FASB

đề xuất lần đầu vào năm 1980, theo đó thông tin kế toán sẽ hữu ích cho người sử dụng

Trang 39

trong việc ra quyết định khi đảm bảo được hai thuộc tính cơ bản là tính thích hợp

(relevance) và tính tin cậy (reliability), ngoài ra bổ sung đặc tính có thể so sánh (comparability) Sau này, theo quan điểm đồng thuận với FASB, Hội đồng Chuẩn

mực kế toán quốc tế IASB đã ban hành một bộ khung khái niệm về các quy tắc trìnhbày và công bố thông tin kế toán, theo đó CLTT kế toán thể hiện trong BCTC phảnánh khả năng ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng được xác định qua hai

nhóm đặc tính cơ bản là tính trình bày trung thực (faithful representation), tính

thích hợp (relevance) và một số đặc điểm nâng cao nhằm gia tăng CLTT kế toán bao

gồm có thể so sánh (comparability), dễ hiểu (understandability), kịp thời

(timeliness) và khả năng kiểm chứng (verifiability) Mô hình về CLTT kế toán được

thể hiện qua sơ đồ 2.1

Sơ đồ 2.1 Mô hình chất lượng thông tin kế toán theo FASB và IASB (2010)

Tính hữu ích

Khôngsai sót

Kiểmchứng

Nguồn: IASB (2010)

Trình bày trung thực: Đặc tính trình bày trung thực thể hiện việc các TTKT phản

ánh được vị thế kinh tế thực sự của doanh nghiệp, nghĩa là các nghĩa vụ và nguồn

Trang 40

lực kinh tế, bao gồm các giao dịch và sự kiện, được thể hiện đầy đủ trong BCTC.Trình bày trung thực chỉ đạt được khi diễn giải của một sự kiện kinh tế phải được

đầy đủ, khách quan và không có những sai sót trọng yếu Những thông tin tài chính

được trình bày trung thực sẽ thể hiện được bản chất của hiện tượng kinh tế thông

qua các giao dịch, sự kiện kinh tế phát sinh

Tính thích hợp: Thông tin kế toán tài chính có tính thích hợp khi có khả năng

tạo ra được sự khác biệt trong quyết định của người sử dụng, nghĩa là thông tin đó

có khả năng dự báo và khả năng xác nhận Khả năng dự báo có được khi người sử

dụng dùng những thông tin đó để dự đoán dòng thu nhập của doanh nghiệp trong

tương lai Thông tin tài chính có khả năng xác nhận khi thông tin cung cấp các phản

hồi về các đánh giá trước đó Đây là hai tính chất có liên quan mật thiết với nhau, ví

dụ thông tin về doanh thu của năm hiện tại của doanh nghiệp có thể xác định đượcmức độ thích hợp thông qua việc so sánh các chỉ số của những năm trước, và cũngđược sử dụng để dự đoán doanh thu của năm tiếp theo Kết quả của việc so sánh sẽgiúp người sử dụng cải thiện việc dự đoán của mình

Khả năng so sánh: Khả năng so sánh cho phép người sử dụng BCTC so sánh

thông tin tài chính như vị thế tài chính, dòng tiền hay kết quả kinh doanh của doanhnghiệp Người sử dụng có thể so sánh số liệu theo chuỗi thời gian hoặc giữa cácdoanh nghiệp trên cùng một thời điểm

Tính dễ hiểu: Tính dễ hiểu được định nghĩa là khi người sử dụng có những

hiểu biết nhất định về kế toán có thể đọc và hiểu thông tin tài chính được trình bày

Tính kịp thời: Tính kịp thời của thông tin tài chính thể hiện khi thông tin đó được

cung cấp kịp thời cho người sử dụng để đưa ra quyết định trước khi mất đi giá trị

Khả năng kiểm chứng: Khả năng kiểm chứng nghĩa là các nhà quan sát độc lập

và có trình độ chuyên môn đạt được sự đồng thuận, rằng một thông tin hoặc mộtnhóm thông tin là chính xác

Các thuộc tính thông tin kế toán quan điểm của chuẩn mực kế toán Việt Nam

Ngày đăng: 23/10/2021, 15:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Bùi Văn Dương và Ngô Hoàng Điệp, 2017, Đặc điểm Hội đồng quản trị và hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Tạp chí khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, Số 54(3) 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm Hội đồng quản trị vàhành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứngkhoán Việt Nam
11.Chính phủ, 2019, Nghị định số 05/2019/NĐ-CP về kiểm toán nội bộ 12. Chính phủ, 2017, Nghị định 71/2017/NĐ-CP về quy chế quản trị công ty Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 05/2019/NĐ-CP về kiểm toán nội bộ"12. Chính phủ, 2017
13. Chính phủ, 2013, Nghị định 108/2013/NĐ-CP về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán 14. Nguyễn Thị Hải Hà, 2014, Chất lượng công bố thông tin của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và kinh doanh, Tập 30, số 3 (2014) 37-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 108/2013/NĐ-CP về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán"14. Nguyễn Thị Hải Hà, 2014, "Chất lượng công bố thông tin của cáccông ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Thực trạng và giảipháp
4. Bộ Tài chính, 2012, Chuẩn mực kiểm toán 260- Trao đổi các vấn đề với Ban quản trị đơn vị được kiểm toán Khác
5. Bộ Tài chính, 2012, Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 320 – Mức trọng yếu trong lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán Khác
6. Bộ Tài chính, 2012, Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 450 - Đánh giá các sai sót phát hiện trong quá trình kiểm toán Khác
7. Bộ Tài chính, 2012, Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 705 - Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần Khác
10. Chính phủ, 2020, Nghị định số 155/2020/NĐ-CP về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w