1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu chế tạo sensor huỳnh quang xác định dư lượng clenbuterol trong chăn nuôi (research and manufacture fluorescent sensor to determine residues of clenbuterol in livestock)

115 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 6,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay từ khi phát hiện ra sự nguy hiểm của hoạt chất này khi tồn dư trong thựcphẩm và cơ thể con người, đã có nhiều nghiêm cứu với mục đích phát hiện, địnhtính, định lượng một cách chính

Trang 1

CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Đào Văn Chương

NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO SENSOR HUỲNH QUANG

XÁC ĐỊNH DƯ LƯỢNG CLENBUTEROL TRONG CHĂN NUÔI

LUẬN ÁN TIẾN SỸ HÓA HỌC

Hà Nội - Năm 2021

Trang 2

CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Đào Văn Chương

NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO SENSOR HUỲNH QUANG XÁC ĐỊNH DƯ LƯỢNG CLENBUTEROL TRONG CHĂN NUÔI

LUẬN ÁN TIẾN SỸ HÓA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Hà Nội – Năm 2021

Trang 3

MỞ ĐẦU

Khi xã hội ngày càng phát triển thì vấn đề sức khoẻ của con người càng đượcchú trọng, trong đó vấn đề an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường được đặt lênhàng đầu vì nó có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của con người Sự tồn dư củacác chất độc hại có trong thực phẩm đang là vấn đề đáng lo ngại đối với người tiêudùng Hiện nay, vì lợi nhuận người chăn nuôi đã thêm các chất tăng trọng nhưclenbuterol (CLB), salbutamol (sal)… vào trong thức ăn để kích thích tăng trưởng,rút ngắn thời gian xuất chuồng Các chất tăng trọng tồn dư trong thực phẩm khó bịphân hủy và bay hơi trong quá trình chế biến, nếu ăn phải có thể gây ngộ độc cấpvới các triệu chứng: run cơ, đau tim, tim đập nhanh, tăng huyết áp, choáng váng,thậm chí tử vong Vì vậy việc nghiên cứu xác định hàm lượng chất tăng trọng trongthực phẩm là vấn đề cần thiết đối với sức khoẻ cộng đồng

CLB là một chất thuộc họ β-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhagonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhphần quan trọng của thuốc điều trị một số bệnh có liên quan tới đường hô hấp nhưsuyễn, hen suyễn, có tác dụng thông mũi và dãn phế quản do CLB có tác dụng làmdãn cơ trơn của cuống phổi Tuy nhiên từ những năm 1980 đã có những nghiên cứuchỉ ra rằng trong chăn nuôi với việc sử dụng CLB ở liều lượng cao gấp nhiều lầnđiều trị bệnh thì có các tác dụng phụ như giảm khả năng tích lũy chất béo tăng tínhlũy nạc, ức chế sự phát triển của xương và đặc biệt là có tốc độc tăng trưởng nhanh

do đó thời gian chăn nuôi được rút ngắn lại, mang lại lợi nhuận cao cho người chănnuôi Bằng cách nào đấy CLB xâm nhập vào cơ thể con người ở liều lượng cao hơnmức quy định trong điều trị bệnh sẽ gây ra một số tác dụng phụ ảnh hưởng nghiêmtrọng tới sức khỏe con người, có biểu hiện như nôn, chóng mặt, suy thận cấp, ảnhhưởng tới hệ thần kinh ở một liều lượng quá cao có thể gây tử vong CLB có thờigian bán hủy lâu do vậy tồn dư CLB trong vật nuôi khi xâm nhập vào cơ thể conngười được cho là vô cùng nguy hiểm Trên thế giới đã có nhiều vụ ngộ độc do sửdụng thực phẩm có chứa CLB, năm 2006 đã có trường hợp tử vong đầu tiên do ngộđộc thực phẩm có chứa CLB

Chính do những hậu quả to lớn của việc sử dụng chất tạo nạc một cách bấthợp pháp trong chăn nuôi, trên thế giới từ năm 1990 đã có những văn bản quy phạm

rõ ràng, ban hành danh mục chất tạo nạc nghiêm cấm được sử dụng trong chăn nuôi,

đã có những hình thức cũng như các biện pháp xử lý mạnh mẽ được áp dụng

Trang 4

trong đó có sử dụng tới hình thức khởi tố, phạt tù, phạt tiền Mặc dù đã nghiêm cấm

sử dụng cùng với việc áp dụng các hình thức sử phạt nặng song do những lợi íchkinh tế to lớn từ việc sử dụng một cách bất hợp pháp chất cấm CLB mang lại, điềunày khiến cho một bộ phận không nhỏ người chăn nuôi vẫn đang lén lút sử dụngchất này trong chăn nuôi Chính vì vậy đòi hỏi phải có phương pháp phù hợp phục

vụ cho việc phát hiện tồn dư CLB trong thực phẩm cũng như trong hoạt động chănnuôi là vô cùng cần thiết Đã có nhiều phương pháp phân tích CLB được áp dụng,các phương pháp này chủ yếu dựa trên các sensor hiện có như MS, ECL, ELISA.Gần đây một công nghệ mới sử dụng chấm lượng tử đang được ứng dụng rộng rãi

CLB được được phát hiện tại phòng phân tích thức ăn và sản phẩm chăn nuôithuộc Viện chăn nuôi bằng quy trình phân tích của nhà sản xuất bộ kít chuẩn CLB.Trung tâm dịch vụ phân tích và thí nghiệm thành phố Hồ Chí Minh đã nghiên cứuphương pháp phân tích CLB bằng phương pháp phân tích sắc ký khí ghép khối phổGC/MS Cục cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường hiện đang sử dụngphương pháp HPLC/MS để phát hiện CLB trong công tác phòng, chống tội phạm về

vi phạm an toàn vệ sinh thực phẩm Trên thế giới CLB được phát hiện bằng nhiềuphương pháp khác nhau như ELISA, HPLC/MS, GC/MS, ECL.v.v Hầu hết các phươngpháp này đòi hỏi quá trình xử lý mẫu phức tạp và thời gian phân tích kéo

dài Chính vì vậy việc tìm ra một phương pháp mới tiết kiệm thời gian phân tích, cóquy trình thực hiện đơn giản, phù hợp với khả năng đầu tư trang thiết bị, với điềukiện quản lý là vô cùng cần thiết

Chấm lượng tử (Qds) với nhiều tính chất vượt trội, hiện đang được nghiêncứu ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực quang học Với cáctính chất quang học đặc biệt như hiệu suất truyền quang cao, cường độ phát quangmạnh, hệ số dập tắt huỳnh quang cao, thời gian phát quang dài và có khả năng cóhiệu ứng cộng hưởng huỳnh quang trong nhiều trường hợp Chính do những đặcđiểm đó từ những năm đầu của thế kỷ XX đã có nhiều nghiên cứu ứng dụng Qds đểchế tạo sensor quang học nhằm phát hiện, nhận biết và định lượng một số tác nhân,đặc biệt là các tác nhân hóa học và sinh học

Dựa trên nhu cầu thực tế của cơ quan quản lý, thực trạng sử dụng chất cấmCLB trong chăn nuôi và khả năng ứng dụng của Qds trong việc chế tạo sensor

huỳnh quang, tôi đã lựa chọn đề tài luận án “Nghiên cứu chế tạo sensor huỳnh quang xác định dư lượng clenbuterol trong chăn nuôi”.

Trang 5

Nghiên cứu này giúp chỉ ra một cách thức mới, một phương pháp mới phục

vụ công tác quản lý, phát hiện và kiểm soát các hoạt động vi phạm về việc sử dụngchất cấm CLB trong chăn nuôi

Mục tiêu nghiên cứu:

Thiết lập qui trình chế tạo sensor huỳnh quang từ chấm lượng tử CdTe, CdS

và graphen sử dụng hiệu ứng truyền năng lượng cộng hưởng huỳnh quang (FRET)

có khả năng nhận biết CLB

Nội dung nghiên cứu:

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Chế tạo sensor huỳnh quang sử dụng Qds bán dẫn

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Nghiên cứu khả năng xác định CLB của sensor huỳnh quang được chế tạo

từ Qds CdS, CdTe và graphen sử dụng hiệu ứng FRET

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Nghiên cứu khả năng xác định CLB của sensor huỳnh quang chế tạo từ Qds

sử dụng hiệu ứng FRET trong mẫu thực

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Đánh giá khả năng xác định CLB của phương pháp sensor huỳnh quang chếtạo từ Qds sử dụng hiệu ứng FRET với phương pháp ELISA và HPLC/MS

Trang 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Chất tăng trọng CLB

1.1.1 Chất tăng trọng trong chăn nuôi

Chất tăng trọng hay chất tạo nạc là một hợp chất hóa học thuộc họ β-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành agonistđược xếp vào loại chất độc cấm sử dụng trong chăn nuôi trên toàn thế giới Họ β-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhagonist gồm 2 nhóm:

- Nhóm β1-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành agonist: gồm các chất có tác dụng kích thích tim, được dùng đểđiều trị sốc tim, suy tim cấp tính như dobutamine, isoproterenol, xamoterol,epinephrine…

- Nhóm β2-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành agonist: Gồm các chất làm giãn cơ, được dùng để điều trị hensuyễn, bệnh phổi mãn tính: sal (salbuterol), CLB, ractopamin, epinephrin (thúc chíntố), fenoterol, formoterol, fsoproterenol (β1 và β2), metaproterenol, salmeterol, terbutalin, isoetarin, pirbuterol, procaterol, ritodrin, epinephrin

Hình 1.1 Cấu trúc chung của họ β2-agonist [1,2]agonist [1,2]

Tương ứng với các R1, R2, R3, R4, R5 là các chất β2-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành agonist khác nhau(Bảng 1.1)

Trong những chất nêu ở Bảng 1.1 phía dưới thì sal, CLB và ractopamin là bachất đứng đầu trong danh mục 18 chất kháng sinh, hóa chất bị cấm sử dụng trongchăn nuôi

Họ β-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành agonist là các hợp chất tổng hợp phenethanolamin được sử dụng như

là một tác nhân dùng để trị các bệnh về hô hấp trong y học [1] Chúng còn có tác

dụng làm tăng hàm lượng protein, kích thích tăng trưởng nhờ quá trình chuyển hóahàm lượng mỡ tích tụ thành các mô cơ ở vật nuôi [1,3] Tuy nhiên, chúng lại gâyảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người khi tiêu thụ những thức ăn có nguồn gốc từđộng vật bị nhiễm các chất này, gây ra những vụ ngộ độc thực phẩm do sự tích tụ

Trang 7

trong gan, các bệnh liên quan đến tim mạch, hệ thần kinh trung ương… Sở dĩ nhưvậy là do các hợp chất này được sử dụng như là một chất kích thích tăng trưởng,phân phối lại dưỡng chất trong vật nuôi một cách quá mức và bất hợp pháp.

CLB được hấp thụ dễ dàng qua đường tiêu hóa Vì vậy, những chất này còntồn dư trong thịt bao nhiêu thì người sử dụng sẽ hấp thụ bấy nhiêu Và khi sử dụngtrái phép trong chăn nuôi, thì người ta thường dùng với liều lượng cao hơn gấp 5-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành10lần so với quy định, gây nguy hiểm cho sức khỏe

Bảng 1.1 Họ β2-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành agonist [1]

Trang 8

Khi người ăn thịt gia súc có chứa nhóm β-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhagonist về lâu dài có thể ảnhhưởng xấu tới sức khỏe như tim đập nhanh, tăng huyết áp, nhức đầu, chân tay run,buồn nôn, rối loạn tiêu hóa Nhóm β-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhagonist còn gây giãn nở cơ trơn tử cung nênnguy cơ cao đối với phụ nữ mang thai Năm 2006, Đại học Cornell và đại học

Trang 9

Stanford nghiên cứu trên những người thường xuyên hít β-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhagonist có nguy cơ tửvong do bệnh hô hấp tăng gấp đôi so với nhóm dùng giả dược khi sử dụng để điềutrị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính [1,4].

1.1.2 Công thức hóa học và tính chất của CLB

Công thức cấu tạo của clenbuterol (hình 1.2) [4]:

Hình 1.2 Công thức cấu tạo của CLB Công thức phân tử: C12H18Cl2N2O

Khối lượng phân tử: 277,19 g/mol

Tên hóa học do tổ chức IUPAC: 1-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành(4-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhamino-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành3,5-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhdichlorophenyl)-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành2-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành (tertbutylamino)ethanol

Loại dẫn xuất: hydrochlorid, công thức phân tử: C12H18Cl2N2O.HCl, khốilượng phân tử: 313,66 g/mol

Tính chất vật lý: dạng bột vi tinh thể không màu, tan nhiều trong methanol,

ethanol, nước, ít tan trong chloroform, không tan trong benzen, nóng chảy ở 174 -agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành175,5oC

LD50 đối với chuột nhắt: 170 mg/kg, chuột cống: 350 mg/kg, chuột bạch:67,1 mg/kg (qua đường miệng) CLB là một trong 15 chất thuộc họ β2-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhagonist đượcdùng làm thuốc trị bệnh đường hô hấp ở người, ngoài ra còn được dùng trong một

số mục đích khác như sản xuất thịt động vật [2]

1.1.3 Ứng dụng của CLB

CLB là chất thuộc nhóm β2-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhagonist có tác dụng làm giãn phế quản, giãn cơ trơn

ở cuống phổi [5], được sử dụng để điều trị các chứng bệnh liên quan đến hô hấp nhưhen suyễn, suyễn ở người, các trường hợp viêm phổi dị ứng trên ngựa và viêm đường hôhấp cấp trên trên trâu, bò, (tên thương mại là Ventipulmin) [4,5]

Trang 10

Những năm 1980 của thế kỉ 20, công ty Cianamid Hoa Kỳ đã thực hiệnchứng minh CLB còn là chất điều trị sinh trưởng ở động vật Khi dùng CLB ở liềucao 5‚10 lần liều trị bệnh cho người và động vật (hàm lượng CLB dùng trong kíchthích tăng trưởng từ 10‚20 μg/kg/ngày theo đường miệng) nó có tác dụng thúc đẩyg/kg/ngày theo đường miệng) nó có tác dụng thúc đẩyphát triển cơ bắp và phân giải lipit, khiến xương vai và xương đùi thu nhỏ lại, tăngcao tỉ lệ thịt nạc, giảm khả năng tích trữ chất béo, thịt có màu đỏ hơn Có tác dụngphân phối năng lượng, nâng cao hiệu quả sử dụng, giảm chi phí thức ăn Vì vậy,CLB thường bị lợi dụng làm chất tăng trưởng trong chăn nuôi nhằm tăng tỉ lệ thịtnạc so với tỉ lệ thịt mỡ Hormone sinh lực là cái tên mĩ miều mà giới chăn nuôi đãđặt cho CLB [2,6].

Ngoài ra, CLB còn được sử dụng làm thuốc giảm béo cho người mập bằngcách giải phóng axit béo tự do từ mô mỡ và tăng khối lượng cơ Trong thể thao, đã

có vận động viên sử dụng doping bằng CLB với hi vọng ngoài việc tăng khối cơcòn làm cho nhịp tim và nhịp thở tốt hơn nhằm đạt thành tích cao trong thi đấu Vớimột liều lượng chỉ hơn 1 mcg/lb thể trọng (một võ sĩ 60 kg chỉ dùng liều 30 mcg),dùng 2 liều trong ngày và 3 ngày trong một tuần, võ sĩ này có thể giảm được 19,5%khối lượng mỡ của cơ thể

Đến năm 2001, uỷ ban thể thao Olympic quốc tế đã ra lệnh cấm sử dụngCLB và các chất β2-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhagonist khác nhằm đảm bảo công bằng khi thi đấu và bảo đảmsức khoẻ của vận động viên [4]

1.1.4 Thực trạng sử dụng CLB trên thế giới và ở Việt Nam

Trang 11

Hình 1.3 Bò và lợn được nuôi bằng thức ăn có chứa CLB

Từ những năm đầu của thập niên 80, Mỹ đã cấm sử dụng CLB bổ sung vào thức

ăn chăn nuôi [7] Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm FDA và FSIS (FoodSafety and Inspection Service) thuộc Bộ nông nghiệp Mỹ cho là CLB có thể gây chếtnếu người vốn nhạy cảm hay đang được trị liệu bằng một loại thuốc có tác dụng tương

tự ăn phải thịt bị tồn dư CLB Năm 1991, FDA đã khuyến cáo người dân nên cảnh giácvới CLB, cũng công bố khả năng gây tác hại cho hệ tim mạch khi vào cơ thể bằngđường tiêu hóa hơn là đường hô hấp Ngày 18 tháng 11 năm 2005, FDA đã cảnh báorằng các bệnh nhân sử dụng thuốc chứa CLB có tác dụng lâu dài để trị bệnh hô hấp làmtăng nguy cơ bệnh viêm phế quản ở người điều trị và đề nghị các nhà sản xuất các loạithuốc này phải ghi thêm các cảnh báo như trên vào nhãn thuốc của họ Từ 2006, CLB

đã bị FDA-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Mỹ cấm sử dụng kể cả trong điều trị cho người.

Nuôi heo bằng clen (tên gọi khác cho CLB ở Trung Quốc) khá phổ biến màngười dân địa phương thường gọi là bột làm nạc thịt [8] Báo chí Trung Quốc cũng đãđưa tin việc nuôi heo bằng CLB tại nhiều trang trại chăn nuôi ở Triết Giang Nông dânTrung Quốc cho biết bổ sung CLB vào thức ăn cho lợn vẫn thông dụng ở nhiều trạichăn nuôi, mặc dù chính phủ Trung Quốc cấm sử dụng chất này từ năm 1990

Vào năm 2001, hơn 1000 ở Quảng Đông – Trung Quốc đã phải nhập viện do

ăn phải tim và gan lợn có nhiễm CLB

Vào tháng 9 năm 2006, hơn 330 người ở Thượng Hải đã bị ngộ độc thựcphẩm do ăn thịt lợn có nhiễm CLB

Ngày 16 tháng 3 năm 2006, tại Quảng Đông – Trung Quốc đã có một trườnghợp tử vong do ăn phải thịt lợn có chứa CLB, đây là trường hợp đầu tiên được ghinhận là tử vong do ngộ độc thực phẩm có nhiễm CLB

Trang 12

Tháng 9/2006, 336 người ở Thượng Hải bị ngộ độc do ăn thịt lợn có chứa chấtCLB Vào tháng 02 năm 2009, ít nhất 70 người tại tỉnh Quảng Đông -agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Trung Quốc bịngộ độc thực phẩm sau khi ăn nội tạng lợn được cho là có chứa CLB dư lượng [7].

Trong tháng 3 năm 2011, Bộ Nông nghiệp Trung Quốc đã mở chiến dịch trấn

áp về phụ gia bất hợp pháp trong thức ăn cho lợn, sau khi một công ty con của Tậpđoàn Shuanghui, nhà sản xuất thịt lớn nhất Trung Quốc, sử dụng CLB trong các sảnphẩm thịt lợn Tổng cộng có 72 người ở tỉnh Hà Nam, nơi Shuanghui đặt trụ sở, đã

bị bắt vì sản xuất, bán hoặc sử dụng CLB Tình hình đã được cải thiện đáng kể ởTrung Quốc kể từ tháng 4 năm 2011 khi Bộ nông nghiệp Trung Quốc công bố lệnhcấm sử dụng CLB trong chăn nuôi

Tại Tây Ban Nha

Tình hình sử dụng chất kích thích tăng trưởng cũng khá phổ biến Người dânnơi đây xem việc sử dụng chất kích thích tăng trưởng cho vào thức ăn chăn nuôiđem lại cho họ nhiều lợi nhuận nhưng họ không thể lường trước được những tai hại

mà nó gây ra Hậu quả là sau khi ăn gan heo, 43 gia đình đã bị nhiễm CLB, các triệuchứng biểu hiện như chân tay run, nhịp tim đập nhanh, bồn chồn, đau đầu, chóngmặt, buồn nôn, sốt, lạnh Kết quả kiểm tra nước tiểu của các bệnh nhân cho thấyhàm lượng CLB là 160 – 291 ppb [9]

Tại Italia

Tình hình sử dụng CLB cũng được biết đến từ những năm 1990, tại đâyngười ta đã ghi nhận một số vụ ngộ độc do sử dung phải thực phẩm có nhiễm CLB,năm 1996 đã có 62 người phải nhập viện do ăn phải thịt bò có chứa dư lượng chấttăng trọng CLB [10]

Do những hậu quả to lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe người tiêudùng do vậy tại Châu Âu đã cấm dùng CLB trong chăn nuôi kể từ năm 1988 Tháng

3 năm 1996, cộng đồng Châu Âu chính thức cấm sử dụng các chất hormon kíchthích tăng trưởng thuộc nhóm β-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhagonists [11]

Năm 1992 – 1993, chương trình giám sát β-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhagonists của khối EU đã lấy vàphân tích các chất thuộc nhóm β-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhagonists của 30.000 mẫu, được lấy một cách ngẫunhiên từ các nước thành viên EU Kết quả cho thấy có tới 7% mẫu thịt thu thập từ

cơ sở giết mổ có tồn dư CLB

Trang 13

Năm 1994 hội người tiêu dùng châu Âu đã tiến hành phân tích thử nghiệm β-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhagonists trên các mẫu gan lợn, đã phát hiện thấy mẫu dương tính với CLB rất cao như

ở Tây Ban Nha là 36%, Thụy Sĩ là 25%, Pháp là 13%, Hà Lan là 10% CLB tồn dư 100% trong cơ thể động vật, 60% tồn lưu trong gan, thận ngay cả khi nấu chín [11]

Châu Âu cho rằng dù với một liều lượng cực nhỏ, CLB vẫn có thể gây ảnhhưởng không tốt cho sức khỏe Mối liên hệ giữa sự tiêu thụ thịt đỏ (thịt bò, lợn,cừu) và ung thư đã được giới khoa học nhìn nhận từ lâu và họ rất nghiêm túc trongviệc sử dụng CLB để kích thích sinh trưởng ở trâu, bò, lợn và cừu

Ngày 23/7/2003 Uỷ ban an toàn thực phẩm EU chính thức khẳng định việcban bố lệnh cấm sử dụng tất cả các loại chất kích thích sinh trưởng trong thức ăn

chăn nuôi và lệnh cấm này đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 [TLTKT This Scientific Opinion, European Food Safety Authority (EFSA), Parma, Italy,

published on 10 July 2012]

1.1.4.2 Thực trạng sử dụng CLB tại Việt Nam

Ngay từ khi phát hiện CLB và những chất cùng nhóm có tác dụng làm tăngcân trong chăn nuôi và dư lượng tồn tại của nó trong thực phẩm gây ảnh hưởngnghiêm trọng tới sức khỏe con người Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã

ký quyết định số 54/2002/QĐ-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhBNN, ngày 20 tháng 06 năm 2002, về việc cấm sảnxuất, nhập khẩu, lưu thông và sử dụng một số hóa chất, kích thích tố trong đó cóCLB Tuy nhiên từ đó đến nay các cơ quan quản lý đã liên tục phát hiện ra những viphạm về việc sử dụng chất cấm CLB trong chăn nuôi:

Theo báo tuổi trẻ ra ngày 30/01/2005 tại trại chăn nuôi của hộ gia đình bàNguyễn Thị Đẹp ở quận Cái Răng, Tp Cần Thơ, đã xảy ra hiện tượng hơn 1000 con

gà chết khi ăn phải thức ăn chăn nuôi New Hope Bà Đẹp đã đem mẫu thức ăn chănnuôi trên tới Trung tâm Dịch vụ Phân tích Thí nghiệm Kết quả thấy mẫu thức ăntrên có hàm lượng CLB rất cao (149,76 µg/kg)

Tháng 7/2006 Chi cục an toàn vệ sinh thực phẩm -agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Sở y tế Tp Hồ Chí Minh

đã lấy ngẫu nhiên 2 mẫu thịt lợn và 3 mẫu thịt tại một số chợ Tp Hồ Chí Minh đểxét nghiệm trong đó có 1 mẫu CLB tồn dư rất cao

Tháng 8/2006 Cục Chăn nuôi tiến hành lấy 295 mẫu của 114 công ty sảnxuất thức ăn chăn nuôi trên 25 tỉnh, thành của cả nước Cục Chăn nuôi đã phát hiệnthấy trong thức ăn nuôi heo của 6 công ty có dư lượng chất CLB là Công ty HàNam, New Hope, Safanutro, Hoàng Long, Uni-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhPresident VN và Minh Quân

Trang 14

Tháng 8/2006, Chi cục an toàn vệ sinh thực phẩm -agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Sở y tế Tp Hồ Chí Minh đãlấy 100 mẫu thịt lợn tại các lò giết mổ lớn ở Tp Hồ Chí Minh, có tới 17 mẫu dươngtính với chất tăng trọng Phân tích 200 mẫu thức ăn là thịt trâu bò, kết quả 47 mẫudương tính nhiều mẫu đã qua chế biến nhưng vẫn còn lượng tồn dư chất tăng trọng cao.

Năm 2006, qua một nghiên cứu khảo sát của Viện Khoa học kĩ thuật nôngnghiệp Miền Nam phát hiện thấy 1/12 mẫu thức ăn chăn nuôi và 6% mẫu thịt dươngtính với CLB

Năm 2006 Chi cục Thú y Tp Hồ Chí Minh đã xét nghiệm gần 500 mẫu thịtlợn tại Tp Hồ Chí Minh, đã phát hiện gần 30% mẫu dương tính với CLB

Tháng 11/2009 Chi cục Thú y Tp.HCM phối hợp với Sở Y tế Tp.HCM kiểmtra định kỳ thịt lợn đã phát hiện có đến 10% của 500 mẫu thịt dương tính với CLB

Năm 2015, thanh tra Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã phối hợp vớiCục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (C49) -agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Bộ Công an, tiến hành trinhsát khoảng 20 doanh nghiệp (DN) sản xuất thức ăn chăn nuôi có dấu hiệu vi phạm Khithanh tra phát hiện 80% DN được thanh tra có sử dụng chất cấm vào sản xuất thức ănchăn nuôi Kết quả thanh, kiểm tra cho thấy, tình hình sử dụng chất cấm trong chănnuôi diễn biến phức tạp, có tới 16% các mẫu thịt được kiểm tra có chất tăng trọng, tạonạc, 7,6% mẫu thịt có dư lượng chất kháng sinh vượt ngưỡng cho phép [13]

Hình 1.4 Đoàn kiểm tra và lấy mẫu tại chợ đầu mối của thành phố Hồ Chí Minh [13]

Trang 15

Năm 2016, Cục Hải quan Đồng Nai đã có báo cáo về hoạt động kiểm tra, kiểm soátcác mặt hàng chất cấm sử dụng trong chăn nuôi, chế biến thực phẩm, phân bón, thuốc bảo

vệ thực vật, thú y và thức ăn chăn nuôi giả Kết quả lực lượng chức năng Đồng Nai đã pháthiện khoảng 40 vụ sử dụng chất cấm trong chăn nuôi Cụ thể, Đồng Nai đã xử lý hơn 38

vụ, cảnh cáo hơn 2 trường hợp và phạt số tiền hơn 2,3 tỷ đồng [14]

Hình 1.5 Đoàn thanh tra, kiểm tra chất tăng trọng trong mẫu thức ăn chăn nuôi Ngày 20/6/2002 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành

Trang 16

dụng hoạt chất này một cách bất hợp pháp Điều này đòi hỏi cơ quan chức năngcũng như những người chăn nuôi chân chính và người tiêu dùng cần có biện phápphù hợp để phát hiện, đấu tranh, xử lý và truy tố những hành vi vi phạm nguy hiểmnày Ngay từ khi phát hiện ra sự nguy hiểm của hoạt chất này khi tồn dư trong thựcphẩm và cơ thể con người, đã có nhiều nghiêm cứu với mục đích phát hiện, địnhtính, định lượng một cách chính xác CLB, các phương pháp được nghiên cứu chủyếu như: Phương pháp ELISA, LC/MS, GC/MS, điện hóa, huỳnh quang, cảm biếnsinh học, …

1.1.5 Tình hình nghiên cứu phát hiện CLB

1.1.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu khả năng phát hiện cũng nhưđịnh lượng CLB được công bố như:

Năm 2007 nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy, Lâm Văn Xự, Phạm Thị

Ánh, Trần Kim Tính, Chu Phạm Ngọc Sơn, đã nghiên cứu thành công phương pháp

phân tích CLB trong thức ăn chăn nuôi và sản phẩm thịt bằng sắc ký lỏng ghép khốiphổ một tứ cực (LC/MS) [15] Phương pháp này đạt giá trị giới hạn phát hiện(LOD) cũng khá thấp:

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành LODclen (Thịt) = 0,037 μg/kg/ngày theo đường miệng) nó có tác dụng thúc đẩyg/kg;

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành LODclen (TACN) = 0,500 μg/kg/ngày theo đường miệng) nó có tác dụng thúc đẩyg/kg;

Cuối năm 2007, tác giả đã xây dựng thành công phương pháp phân tích CLB

và salbutamol (sal) bằng LC/MS/MS Clen và sal có giá trị LOD khá thấp:

LODclen = 0,017 μg/kg/ngày theo đường miệng) nó có tác dụng thúc đẩyg/kg; LODsal = 0,026 μg/kg/ngày theo đường miệng) nó có tác dụng thúc đẩyg/kg (với thịt heo)

LODclen = 0,074 μg/kg/ngày theo đường miệng) nó có tác dụng thúc đẩyg/kg; LODsal = 0,084 μg/kg/ngày theo đường miệng) nó có tác dụng thúc đẩyg/kg (với TACN)

Các trị số LODClen cho thịt (LOD ≤ 1/5 MRL) phù hợp với gíá trị tối đa chophép MRL theo cả tiêu chuẩn Châu Âu và Codex

Năm 2008, nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy, Lâm Văn Xự, Phạm ThịÁnh, Trần Kim Tính, Chu Phạm Ngọc Sơn, Kefei Wang, tiếp tục nghiên cứuphương pháp phân tích CLB trong thức ăn chăn nuôi và sản phẩm thịt bằng sắc kýlỏng ghép khối phổ ba tứ cực (LC-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhMS/MS) với LOD = 0,01 ppb cho thịt heo, điểm

mới là có sử dụng thêm nội chuẩn đồng vị CLB-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhd9 để loại trừ ảnh hưởng nền mẫu

khi tách chiết và sự khử ion khi định lượng với đầu dò khối phổ theo chế độ ESI[16] Phương pháp này được áp dụng trong điều tra mức độ tồn dư CLB trong thịtheo, thịt gà trên thị trường

Trang 17

Cũng trong năm 2008, Trung tâm dịch vụ phân tích và thí nghiệm thành phố

Hồ Chí Minh đã nghiên cứu phương pháp phân tích các chất kích thích tăng trưởng

họ β-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhagonist (CLB, sal) trong thịt heo, gan heo, thức ăn nuôi heo bằng phương phápphân tích sắc ký khí ghép khối phổ GC/MS với cực tiểu phát hiện của phương phápcho CLB là 0,16 ppb cho thức ăn gia súc, 0,05 ppb cho thịt heo, 0,05 ppb cho ganheo; cho sal là 0,11 ppb cho thức ăn gia súc, 0,07 ppb cho thịt heo, 0,07 ppb cho ganheo Hiệu suất thu hồi của phương pháp hơn 65 – 88%, góp phần phục vụ phân tíchcho an toàn thực phẩm trong nước và phục vụ cho xuất khẩu [17]

Năm 2009, Bùi Quốc Anh (công ty Inotech -agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Thành phố Hồ Chí Minh)nghiên cứu đề tài bộ kit phát hiện nhanh chất CLB trong thịt gia súc, gia cầm trongthời gian 2 giờ Tuy nhiên, đây chỉ là phương pháp định tính dựa trên sự biến đổimàu của thuốc thử

Năm 2016 nhóm các tác giả Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Văn Lượng, Lê ThịQuỳnh (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN), Đỗ Khắc Hải, Nguyễn KiềuHưng (Cục Cảnh sát Phòng, chống Tội phạm về Môi trường, Bộ Công an) [18] đãnghiên cứu xây dựng phương pháp xác định đồng thời sal, ractopamin và CLB trongthức ăn chăn nuôi bằng kỹ thuật sắc ký lỏng siêu hiệu năng hai lần khối phổ với giớihạn phát hiện của sal (1,0 µg/kg), ractopamin (1,0 µg/kg) và CLB (1,07 µg/kg)

Tác giả Nguyễn Hương Giang (2017) đã nghiên cứu Xây dựng quy trình xácđịnh β2-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhAgonist trong thịt, gan, thận heo bằng phương pháp QuEChERS (Quick,easy, cheap, effective, rugged and safe) kết hợp UPLC-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhMS/MS có sử dụng nộichuẩn đồng vị với mục tiêu là: xây dựng phương pháp xác định dư lượng sal, CLB,ractopamin trên nền thịt, gan, thận heo; thẩm định phương pháp và áp dụng quytrình tại trung tâm kiểm nghiệm thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm để kiểm tra tồn dư sal,CLB và ractopamin trong sản phẩm từ heo lưu hành trên địa bàn thành phố Hồ ChíMinh [19] Kết quả thẩm định cho thấy phương pháp chiết QuEChERS và phươngpháp phân tích bằng hệ thống sắc kí khối phổ ba tứ cực (UPLC-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhMS/MS) có độchính xác, tin cậy cao với giới hạn phát thấp (0,06 µg/kg), khoảng tuyến tính từ 0,05–15,00 µg/ L, độ đúng dao động trong khoảng 72,91-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành115,10%, độ lặp lại với giá trị

CV từ 0,51-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành 4,56%

Tại phòng phân tích thức ăn và sản phẩm chăn nuôi thuộc Viện chăn nuôi, đãứng dụng quy trình phân tích của nhà sản xuất bộ kít chuẩn CLB và sal dựa trênnguyên tắc của phương pháp ELISA để xác định sự có mặt của các chất CLB và sal

Trang 18

trong thức ăn chăn nuôi Phương pháp cho hiệu suất thu hồi > 65% và độ lệch chuẩnRSD<10% Các kết quả phân tích CLB và sal trong thức ăn chăn nuôi bằng phươngpháp ELISA được trả lời kết quả chính xác ở dạng định tính, có hay không có CLB.

1.1.5.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Do tính độc hại của dư lượng CLB đối với sức khỏe con người, từ nhiềunăm, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã không ngừng phát triển các các phươngpháp, quy trình để phát hiện, xác định CLB Nhiều phương pháp khác nhau đượcnghiên cứu: phương pháp ELISA, sắc ký khí (GC), sắc ký lỏng (LC), sắc ký khíghép khối phổ (GC-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhMS), sắc ký lỏng ghép khối phổ (LC-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhMS)

Năm 1999, Guy và cộng sự thuộc trung tâm nghiên cứu Nestlé – witzerland

đã thông báo phương pháp phân tích CLB trong thịt gia súc bằng phương phápHPLC/MS (với qui trình chiết mẫu bằng HClO4) với LOD đạt 0,01 ppb, hiệu suấtthu hồi đạt 63-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành70% [5]

Năm 2005 Kootstra P.R và cộng sự thuộc Viện Nghiên cứu sức khỏe và môi

trường ở Hà Lan đã sử dụng kỹ thuật tách chiết bằng cột SPE với cột nhồi là loạipolymer in dấu phân tử (MIPs: Molecularly Imprinted Polymers) và kết hợp vớiphương pháp sắc ký lỏng ghép khối phổ (bẫy ion) để phân tích [20]

Năm 2005 Liu Pengyan và cộng sự thuộc khoa Hóa, Trường Đại Học Hebei

(Bắc Kinh – Trung Quốc) công bố kết quả nghiên cứu xác định hàm lượng CLBtrong thịt heo bằng GC-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhMS (chiết mẫu bằng HClO4) với hiệu suất thu hồi 73,4% ,giới hạn phát hiện LOD = 0,4 ppb [21]

Năm 2007 Limin He và cộng sự thuộc trường Đại học Nông Nghiệp phía

Nam Trung Quốc đã nghiên cứu xác định ractopamin và CLB trong thức ăn chănnuôi bằng Phương pháp GC-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhMS, hiệu suất thu hồi đo ở nồng độ 10, 100, 5000 ppb

là 64,4%, giá trị LOD của ractopamin đạt 4 ppb và LOD của CLB đạt 2 ppb [6]

Năm 2008 Michel A.M và cộng sự [3], khoa nông nghiệp trường Đại học

Autonomus – Mexico đã thông báo kết quả phân tích dư lượng của CLB trong thức ănchăn nuôi và trong thịt bò bằng phương pháp ELISA và GC/MS (giới hạn phát hiện là0,2 ppb) Ngoài ra, cũng trong năm này, Aresta cùng các cộng sự đã áp dung phươngpháp vi phân đoạn pha rắn (SPME) – LC–UV để xác định CLB của thuốc beta-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhadrenergic trong nước tiểu và huyết thanh người lần đầu tiên mẫu được phát triển bằngcách sử dụng sợi phủ polydimethylsiloxan/divinylbenzen (PDMS/DVB) [2] Khoảngtuyến tính được khảo sát trong nước tiểu và huyết thanh lần lượt là 10–500 ng/mLvà 5–

Trang 19

500 ng/mL Trong ngày và giữa các ngày, % RSD trong nước tiểu dao động trongkhoảng 5,0–5,3% và 8,5–8,7%, trong khi trong huyết thanh dao động từ 5,5%–5,9%

và 8,7%–9,1%, tương ứng LOD và LOQ đối với mẫu nước tiểu ước tính lần lượt là

9 và 32 ng/mL, với mẫu huyết thanh lần lượt là 5 và 24 ng/mL tương ứng, thấp hơnnhiều so với mức CLB thông thường trong nước tiểu và huyết thanh

Ống nano cacbon đã cho thấy những ưu điểm độc đáo của chúng về các đặctính cơ học, hóa học và điện tử trong phân tích sinh học Liu (2011) [22] đã báo cáomột phương pháp mới hiệu quả và có khả năng tái chế là chế tạo các lớp cảm biếnống nano cacbon đa tường (MWNTs) –protein ứng dụng miễn dịch điện hóa.Phương pháp này sử dụng ly tâm để chuẩn bị sự kết hợp của MWNT và globulinmiễn dịch chống chuột G (IgG) của dê (kháng thể thứ cấp) Các liên hợp sau đóđược lắng đọng trên các điện cực in trên màn hình để tạo thành một lớp cấu trúcnano (lớp MWNT-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhI) Kháng thể đơn dòng CLB được tập hợp thông qua liên kết của

nó với kháng thể thứ cấp Các điện cực dựa trên lớp MWNT-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhI được sử dụng để đoampe kế nhanh và nhạy xét nghiệm miễn dịch phát hiện CLB trong mẫu nước tiểulợn CLB cộng hợp với peroxidase cây cải ngựa (CLB – HRP) đã cạnh tranh vớiCLB tự do trong các mẫu để liên kết với kháng thể đơn dòng Phương pháp này đãhiển thị độ nhạy cao hơn đáng kể và khả năng tái lập tốt hơn so với phương phápliên hợp hóa học Cảm biến miễn dịch dựa trên MWNT có độ nhạy cao, giới hạnphát hiện là 0,1 ng/mL trong một thời gian xét nghiệm nhanh 16 phút Độ nhạy của

nó cao hơn ít nhất 1 bậc độ lớn so với cảm biến miễn dịch bình thường (không cóMWNTs) có thể di chuyển với cùng với màn hình in

Một phương pháp phân tích đơn giản và nhạy được Chen và các cộng sự pháttriển để xác định đồng thời CLB, chloramphenicol và diethylstilbestrol trong sữa bòbằng phương pháp pha loãng đồng vị siêu hiệu suất sắc ký lỏng song song khối phổ(UPLC – MS/MS) [23] Các mẫu đã được tinh chế trực tiếp thông qua hộp HLB.Pha hữu cơ được làm khô trong điều kiện nitơ và các chất cặn được hòa tan lại trongpha động Các mẫu được phân tích bằng UPLC – MS/MS trên cột Acquity UPLC®BEH C18 với sự rửa giải gradient Các mẫu được định lượng bằng CLB-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhD9,chloramphenicol-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhD5 và diethylstilbestrol-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhD8 làm tiêu chuẩn nội bộ Phương pháp đềxuất đã được xác nhận theo quy định của Liên minh Châu Âu 2002/657/EC xácđịnh tính cụ thể, giới hạn quyết định sai số cho phép, khả năng phát hiện với sai sốcho phép, độ chân thực, độ chính xác, độ tuyến tính và tính ổn định Phương pháp

Trang 20

này được chứng minh là phù hợp để xác định CLB, chloramphenicol vàdiethylstilbestrol trong sữa bò Tổng thời gian cần thiết để phân tích một mẫu làkhoảng 50 phút Giá trị LOD là 0,009; 0,007 và 0,040 ng/g, giá trị LOQ là 0,03;0,02 và 0,13 ng/g tương ứng với các chất CLB, chloramphenicol vàdiethylstilbestrol LOD của phương pháp này tương tự hoặc tốt hơn các phươngpháp MS đã công bố để phân tích đồng thời ba loại thuốc trong cùng 1 mẫu [24-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành28].

Một cảm biến quang phát hiện CLB và melamin được Huy cùng các cộng sự(2014) nghiên cứu dựa vào chấm lượng tử CdTe gắn polymer in phân tử (Qds MIP-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhCdTe) [29] Độ chọn lọc tốt và độ nhạy cao của Qds MIP-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhCdTe đối với các phân tửCLB/melamin được quan sát dựa trên sự dập tắt huỳnh quang của Qds Trong điều kiệntối ưu, các Qds MIP-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhCdTe này cho thấy giới hạn phát hiện là 0,4 μg/kg/ngày theo đường miệng) nó có tác dụng thúc đẩyM (120 ng/mL) đốivới CLB và 0,6 μg/kg/ngày theo đường miệng) nó có tác dụng thúc đẩyM (75 ng/mL) đối với melamin Tính khả thi của phương pháp đãphát triển trong các mẫu thực đã được đánh giá thành công thông qua việc phân tíchCLB và melamin trong các mẫu sữa và gan với độ thu hồi từ 92–97%

Phương pháp phân tích (UHPLC-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhMS/MS) đã được Duvivier (2015) [30] điềuchỉnh để phù hợp với các mẫu có kích thước nhỏ hơn như tóc, lông đuôi Hệ thốngAcquity UPLC (Waters, Milford, MA, USA) được kết hợp với hệ thống Xevo TQ-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhS

MS (Waters), được trang bị một nguồn điện tử ion MS được sử dụng trong chế độion hóa dương bằng cách sử dụng các điều kiện sau: điện áp mao dẫn, 3,0 kV; điện

áp hình nón, 20 và 25 V cho CLB và CLB-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhd6; nhiệt độ nguồn 150°C; nhiệt độ khửcặn 400°C; năng lượng va chạm 30 và 15 eV cho CLB và CLB-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhd6, tương ứng.Phương pháp LC-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhMS/MS cải tiến cho phép phân tích CLB trong tóc với giới hạnphát hiện là 33,7 pg trên một lượng mẫu nhỏ đến 25 mg, thấp hơn 2−40 lần so vớicác phương pháp đã báo cáo trước đây [31-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành36] Độ lặp lại trong ngày và RSD là

<9,6% và <10,6%, tương ứng, ở tất cả các mức tăng đột biến Độ chính xác là92−101% với mức phục hồi trung bình là 37%

Liu (2017) cùng các cộng sự cũng sử dụng quy trình chiết QuEChERS đểchiết các mẫu phân tích và phương pháp LC/MS/MS xác định đồng thời 07 chấttrong nhóm β-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhagonist từ hai loại mô động vật (cơ và nội tạng) [37] Kết quả cácmẫu tuyến tính trong khoảng nồng độ 1-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành50 µg/kg với giá trị R2 >0,99, độ đúng và

độ lặp lại xác định CLB trong mẫu cơ tương ứng từ 87,6-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành99,2% , 1,7-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành5,8% còntrong mẫu nội tạng tương ứng 101,1-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành102,1%; 2,1-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành2,5%, giới hạn định lượng (LOQ)

là 1,0 µg/kg

Trang 21

Trong các năm gần đây, nhiều phương pháp và vật liệu mới được nghiên cứu

để xác định CLB sử dụng chấm lượng tử, ống nano cacbon, GO, các hạt nano, miễndịch sinh học và cũng đã đạt được nhiều kết quả khả quan

Năm 2016, một phương pháp sắc ký lỏng hiệu suất cao nhanh chóng và đơngiản đã được phát triển để tách và định lượng sal, ractopamin và CLB trong thịt lợn[38] Yan và cộng sự đã sử dụng hỗn hợp của axetonitril – axit fomic – amoni axetatđược sử dụng làm pha động để tách ba chất nhóm β-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhagonist trên cột C18 với gradient.Ảnh hưởng của việc bổ sung axit fomic và amoni axetat trong pha động khi tách chất β-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhagonist đã được nghiên cứu Các chất này có thể cải thiện đáng kể độ phân giải và độnhạy Dưới điều kiện sắc ký tối ưu, quá trình tách này không cần chuẩn bị thêm mẫu Sựphân tách hoàn toàn của ba chất đạt được trong thời gian

<20 phút; khoảng tuyến tính là 0,2-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành50 µg/L với giá trị hệ số tương quan R2 > 0,99.Giới hạn phát hiện được tìm thấy là <0,05 µg/L; phương pháp có thể được sử dụng

để kiểm tra định kỳ dư lượng β-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhagonist trong thức ăn động vật trước khi được xácđịnh bằng các phương pháp xác thực

Phương pháp điện hóa xác định CLB được Gaichore (2012) [39] nghiên cứutrên vật liệu compozit ống nano carbon đa tường-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành4-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhtert-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhbutyl calixaren[6] Các kếtquả cho thấy 4-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhtert-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhbutyl calixarencùng với ống nano carbon đa tường cho độ

nhạy cao để xác định CLB, phạm vi tuyến tính từ nồng độ 1,99x10-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành8 –4,76x10-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành5 Mvới giới hạn phát hiện 1,38x10-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành9M cho CLB Phương pháp được mô tả đã được ápdụng cho ước tính CLB trong chất lỏng sinh học như nước tiểu và huyết thanh [6]

Năm 2017, Yuan [40] và các cộng sự đã báo cáo tổng hợp compozitethylenediamin kết hợp với graphen/ống nano cacbon (EGC) như sau: các ống nanocacbon được đưa vào các tấm graphen và sau đó kết nối với ethylenediamin thông quabiến đổi hóa học để tạo thành cấu trúc khung ba chiều để ngăn chặn sự kết tụ của cáctấm graphen Trong các điều kiện tối ưu để chiết xuất và xác định, độ tuyến tính tốt đãđạt được đối với CLB trong khoảng 15,0−1000,0 ng/ (R2 = 0,9998) và độ thu hồi ở bamức tăng đột biến nằm trong khoảng 92,2−96,2% với tiêu chuẩn tương đối sai lệch ≤9,2% (n = 3) So với các chất hấp phụ khác, bao gồm silica, NH2, C18 và Al2O3, EGCcho thấy hiệu quả chiết xuất và tinh chế CLB từ các mẫu thịt lợn cao hơn

Một xét nghiệm miễn dịch cạnh tranh ECL đơn giản, nhanh chóng và siêunhạy dựa trên GNPs và Qds CdSe đã được Yan (2014) [41] phát triển để phát hiệnCLB Khoảng tuyến tính nồng độ CLB trong phạm vi từ 0,02-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành50 ng/mL, và giới hạn

Trang 22

phát hiện là 0,0084 ng/mL, thấp hơn nhiều so với những nghiên cứu đã được báocáo Cảm biến miễn dịch cho thấy sự ổn định tốt, tính đặc hiệu và khả năng tái tạo.

Nó đã được áp dụng để phát hiện các mẫu thực tế với kết quả khả quan Bộ xétnghiệm miễn dịch này cho thấy một triển vọng lớn để sàng lọc lượng vết và mở ramột con đường mới cho việc áp dụng Qds trong cảm biến sinh học

Năm 2017, Liu [42] đã thiết kế một hệ thống FRET hệ thống bao gồm các C-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhdots và AuNPs để nhận năng lượng huỳnh quang phát hiện CLB Với sự hiện diệncủa CLB, các phân tử CLB có thể tương tác với các AuNP thông qua liên kết Au-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhN,ngăn cản sự tương tác của C-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhdots và AuNPs, gây ra sự phục hồi của cường độhuỳnh quang Hệ thống phát hiện CLB ở giới hạn là 3 nM, với dải tuyến tính nồng

độ rộng 8–200 nM Phương pháp đề xuất đã được áp dụng thành công để phát hiệnCLB trong các mẫu thịt lợn, được sử dụng như một công cụ đáng tin cậy, nhanhchóng và phương pháp hiệu quả về chi phí để xác định dư lượng CLB trong cácmẫu thịt lợn

Ngày này với việc ngày càng phát triển nhiều loại vật liệu mới, sự cải tiếncác phương pháp cũ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong việc xác định CLB

* Phương pháp sắc ký lỏng khối phổ

Trong kỹ thuật phân tích sắc ký lỏng khối phổ, CLB trong mẫu được chiết,làm sạch và được khẳng định bằng 4 ion đặc trưng trong đó ion 276,96 được lựachọn là ion sơ cấp, ion này tiếp tục phân mảnh để tiến hành định lượng, sau phânmảnh ion 202,89 có cường độ cực đại và được lựa chọn để định lượng CLB.Phương pháp có khoảng tuyến tính 1–100 µg/kg với hệ số tương quan R2>0,999, độthu hồi của phương pháp đạt trên 70% Phương pháp đáp ứng yêu cầu của Thông tư01/2016/TT-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhBNNPTNT ngày 15/02/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông

Trang 23

thôn quy định về kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm các chất cấm thuộc nhómBeta-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhagonist trong chăn nuôi.

* Phương pháp sắc ký khí khối phổ

Trong kỹ thuật phân tích sắc ký khí khối phổ mẫu được chiết và làm sạch sau

đó được đưa vào hệ thống phân tích sắc ký khí Mẫu được bay hơi tại buồng bơmmẫu sau đó dưới áp suất của dòng khí (khí sử dung thường là Heli hoặc Argon), do

sự khác nhau về lực liên kết giữa chất cần phân tích với vật liệu nhồi cột so với cácchất khác, chất cần phân tích được tách ra tại một thời điểm nhất định CLB đượcion hóa, có hai cách ion hóa CLB EI (ion hóa bằng electron của điện cực phát ra) và

CI (ion hóa bằng tác nhân hóa học) CLB sau khi bị ion hóa, dưới tác dụng củatrường điện từ sẽ dịch chuyển tới bộ phận phát hiện, mã hóa và ghi nhận tín hiệu,cường độ tín hiệu tỉ lệ thuận với lượng CLB có trong mẫu phân tích

Với viện áp dụng kỹ thuật này CLB trong mẫu huyết tương có thể được pháthiện với giới hạn phát hiện 0,5 ppb và giới hạn định lượng là 1,5 ppb, độ thu hồi đạt

từ 91-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành95% CLB trong mẫu nước tiểu có thể được phát hiện với giới hạn phát hiện

là 0,2 ppb và giới hạn định lượng 0,7 ppb Khoảng nồng độ tuyến tính của phươngpháp phân tích đạt 5-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành200 ppb, hệ số tương quan R2>0,999

* Những ưu điểm của phương pháp khối phổ:

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Có giới hạn phát hiện và giới hạn định lượng tốt

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Có khoảng nồng độ tuyến tính khá rộng, thích hợp cho việc định lượng-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Kết quả phân tích có độ chính xác, độ ổn định và độ lặp lại cao

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Có độ chọn lọc cao với chất phân tích

* Những nhược điểm của phương pháp khối phổ:

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Mẫu trước khi được sensor phát hiện cần phải được xử lý kỹ, phức tạp và tốn nhiều thời gian

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Điều kiện môi trường làm việc của sensor khối phổ đòi hỏi rất nghiêm ngặt

về nhiệt độ, điện áp,…

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Chi phí đầu tư hệ thống và chi phí duy trì hệ thống rất cao

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Sự nhiễm bẩn của mẫu cũng như không ổn định của các điều kiện môi trường có thể ảnh hưởng tới kết quả phân tích

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Đòi hỏi cán bộ vận hành, triển khai có trình độ chuyên môn nhất định.-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Khó triển khai và áp dụng rộng rãi do không phải cơ sở nào cũng có thể đầu

tư hệ thống này và các trang phụ kiện đi kèm

Trang 24

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Tính cơ động của phương pháp không cao, khó khăn trong việc di chuyển

từ nơi này tới nơi khác và không có khả năng triển khai tại hiện trường

1.1.6.2 Phương pháp điện hóa

Phương pháp điện hoá hoạt động dựa trên nguyên tắc, sự biến thiên cường độdòng điện qua điện cực chỉ thị phụ thuộc sự thay đổi nồng độ của chất mẫu phântích trong pha động chảy qua tế bào dòng chảy Nguyên nhân sinh ra dòng điện này

là do phản ứng điện hoá của chất phân tích xảy ra trên bề mặt điện cực chỉ thị khi nóđược áp một điện thế không đổi phù hợp cho chất phân tích, chất phân tích hoặc bịkhử hoặc bị ôxy hoá Dòng điện sinh ra ở đây là rất nhỏ (trong vùng nA -agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành  A),dòng

điện này được phát hiện nhờ một cặp điện cực đặt trong tế bào dòng chảy củasensor, trong đó có 1 cực chỉ thị và 1 cực so sánh Điện cực so sánh thường dùng làcực calomen hay cực clorua bạc Cực chỉ thị là cực rắn chế tạo bằng than thủy tinh(glassy carbon) Trong một số trường hợp cực chỉ thị còn được chế tạo từ hỗn hốngAu-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhAg Nhưng để ổn định và khống chế, cũng như kiểm soát được quá trình đo ởcực chỉ thị trong tế bào dòng chảy của loại sensor này người ta còn lắp thêm mộtcực phụ trợ làm bằng kim loại trơ

Với detector điện hoá loại này, pha động phải chứa chất điện ly trơ, nhưNaCl, KCl, NH4Cl, LiCl.v.v Chất điện ly trơ này cũng có thể được thêm vào từ đầucủa dung dịch pha động để dẫn qua cột tách HPLC, nếu nó có lợi cho sự tách, hoặckhông ảnh hưởng đến sự tách Còn ngược lại, nó phải được bơm vào pha động saukhi pha động ra khỏi cột tách, để trộn đều với chất phân tích trước khi dẫn vào tếbào dòng chảy để phát hiện chất phân tích Trong trường hợp này, trước detectorphải lắp thêm vòng phản ứng phụ để trộn đều chất điện ly vào pha động có chứamẫu trước khi dẫn vào tế bào dòng chảy Khi phản ứng ôxy hoá khử xảy ra trên bềmặt điện cực chỉ thị sẽ sinh ra dòng điện và dòng điện này là phụ thuộc vào nồng độcủa chất phân tích có trong pha động chảy qua tế bào dòng chảy

Phương pháp này cho độ nhạy tương đối cao (giới hạn phát hiện nằm trongvùng vài ng), nhưng có nhược điểm là tính chất bề mặt của cực chỉ thị có thể có ảnhhưởng lớn đến kết quả đo Vì thế phải luôn luôn bảo vệ, kiểm tra và làm sạch bề mặtđiện cực chỉ thị trước khi đo Đồng thời trong quá trình đo còn xuất hiện sự sụt thếgiữa hai cực Để loại trừ yếu tố này người ta có thể dùng chất điện ly trơ có nồng độcao và độ dẫn lớn

Trang 25

* Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao -agonist [1,2] điện hóa

Phương pháp này được sử dụng lần đầu tiên để phát hiện CLB trên các môvõng mạc bò Máy dò đã được thiết lập ở chế độ xung Điện thế oxy hóa của mộtđiện cực cacbon là 1,3 V và điện cực xung tham chiếu Ag/AgCl đã giảm xuống 2,0

V so với một điện cực tham chiếu Ag/AgCl chuẩn Giới hạn phát hiện CLB theophương pháp này là 5 ng/mL

Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao kết hợp với đầu dò điện hóa là mộttrong những phương pháp thay thế tốt được sử dụng trong những phòng thí nghiệmkhông có điều kiện sử dụng các thiết bị đắt tiền như GC-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhMS, LC-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhMS v.v Phươngpháp này cho độ nhạy tốt và có nhiều chọn lọc hơn so với sensor UV-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhVIS Brambill

và cộng sự đã nghiên cứu CLB trong hoạt dịch có thể tồn tại trong các dung dịchHCl 1 M và NaCl 5 M do cơ chế trao đổi ion Phương pháp này sử dụng dung dịchHCl 1 M làm môi trường tách Axit ethylenediamin-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhtetraacetic (EDTA) được thêmvào sau khi tách nhằm xác định các ion cần thiết để đạt hiệu suất tách cao hơn [43]

* Phương pháp phân tích sử dụng cảm biến điện hóa phát quang

Đối với sensor huỳnh quang điện hóa (electrochemiluminescent, ECL), cáctín hiệu được kích hoạt bởi các phản ứng điện hóa phát quang, có thể được sử dụng

để tải nạp các chất ghi nhận xảy ra trên các điện cực Do khả năng kiểm soát khônggian và thời gian thuận lợi và độ nhạy cao, ECL được coi là sensor thích hợp cho sựnhận biết CLB ở mức độ rất thấp

Yana [41] cùng các cộng sự đã chế tạo sensor điện hóa ECL để nhận biếtCLB sử dụng Qds như đầu dò của ECL và hạt nano vàng (GNPs) như chất nền và làchất vận chuyển điện tử ECL được chế tạo như mô tả hình 1.6, các hạt nano vàng(GNPs) được phủ lên trên bề mặt điện cực GCE đường kính 3 mm, sau đó các hạtGNPs được liên kết với các kháng nguyên CLB – OVA (clenbuterol-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhovalbumin).Tiếp theo, phủ dung dịch huyết thanh bò (BSA), lớp CLB – BSA sử dụng như miễndịch kháng nguyên Cuối cùng, để thiết lập xét nghiệm miễn dịch cạnh tranh thì cácsensor được nhúng vào hỗn hợp dung dịch CLB-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhantibody-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhQds và CLB ở các nồng

độ khác nhau và sau đó được ủ ở 37oC trong 1 h để CLB trong dung dịch cạnh tranhvới các kháng nguyên phủ cố định để phản ứng với các tâm của kháng thể Qds đểtạo thành miễn dịch phức tạp Sau đó cường độ ECL của sensor được quét dướidòng điện xoay chiều từ 0–1,7 V trong hỗn hợp dung dịch đệm photphat (PBS, pH

= 7,4) chứa K2S2O8 0,1 M và KCl 0,1 M

Trang 26

Hình 1.6 Quá trình chế tạo và cơ chế nhận biết của sensor ECL [41]

Dưới các điều kiện tối ưu, tín hiệu ECL phụ thuộc tuyến tính vào logarit nồng

độ CLB trong phạm vi từ 0,02-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành50 ng/mL, và giới hạn phát hiện là 0,0084 ng/mL

Zongyun Li (2012) [44] đã chế tạo sensor điện hóa để xác định lượng vếtCLB trong nước tiểu lợn Trong sensor điện hóa này, các hạt nano vàng sẽ được phatrộn với màng mỏng tritosan đã được cố định các kháng nguyên và kháng thể dánnhãn Ru(bpy)32+ được sử dụng như các kháng thể đánh dấu Phương pháp này chokhoảng tuyến tính từ 0,010-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành1,0 ng/mL và giới hạn phát hiện CLB là 0,0050 ng/mL

Can Wu (2012) [45] cũng nghiên cứu chế tạo sensor điện hóa phát hiện CLB dựatrên hiệu ứng tăng cường của graphen oxit (GO) Một lượng lớn các nhóm chứa oxi đãđược gắn lên trên bề mặt của GO giúp nâng cao hoạt tính điện hóa của GO Sensor có giớihạn phát hiện CLB là 15 ng/mL và độ chính xác trong phạm vi từ 90,1-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành98,6%

* Ưu điểm của phương pháp điện hóa:

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Hệ thống phân tích sử dụng phương pháp điện hóa có giới hạn phát hiện tương đối thấp

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Chi phí đầu tư ban đầu ít tốn hơn so với hệ thống khối phổ

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Dễ triển khai tại hiện trường

* Nhược điểm của phương pháp điện hóa:

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Bề mặt của điện cực chỉ thị dễ bị ngộ độc bởi các chất hoạt động bề mặt.-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Điện cực đo cần được làm sạch sau mỗi lần đo, do vậy kết quả có độ lặp lạikhó ổn định và chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện đo này

Trang 27

1.1.6.3 Phương pháp quang học

Nguyên tắc hoạt động của phương pháp này là dựa trên sự hấp thụ hoặc phát

xạ ánh sáng của đối tượng cần phân tích, sự thay đổi cường độ của chùm sáng tỉ lệvới nồng độ chất phân tích Có hai hướng áp dụng chính đối với phương pháp này.Hướng thứ nhất, sự có mặt của chất phân tích làm tăng cường độ tín hiệu, hướngthứ hai, sự có mặt của chất phân tích làm giảm cường độ của tín hiệu Hiện nay vớiviệc ứng dụng phương pháp quang học trong phân tích CLB đã thu được những kếtquả nhất định

Tháng 12 năm 2013 trên tạp chí phân tích thuốc và thực phẩm, xác định nồng

độ CLB trong gan bò bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) vớiphương pháp huỳnh quang Mẫu được chiết xuất bằng acetonitril và isopropanol,sau đó được tách trên cột C18, thành phần pha động Na2HPO4 0,05 M (pH3,0)/acetonitril theo tỉ lệ 85/15 về thể tích, bước sóng phân tích 214 nm, giới hạnphát hiện và giới hạn định lượng của phương pháp đạt tương ứng 0,20 ppb và 0,42ppb, độ thu hồi CLB của phương pháp tại các nồng độ 5,24, 20,98 và 41,96 ppb lầnlượt là 111,7%, 82,0% và 84,8%, độ lệch chuẩn tương đối <4,74%, khoảng nồng độtuyến tính của phương pháp từ 6,5–104,9 ng/mL, với độ tương quan R2 = 0,9997 (p

< 0,05) [46]

* Ưu điểm của phương pháp phân tích quang học:

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Hệ thống phân tích ứng dụng phương pháp quang học có mức đầu tư rẻ hơn, có thể đầu tư cùng lúc cho nhiều phòng thí nghiệm

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Quá trình xử lý mẫu đơn giản dễ thực hiện, tốn ít thời gian

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Giới hạn phát hiện và giới hạn định lượng đáp ứng được yêu cầu thực tế của cơ quan quản lý, phù hợp với điều kiện thực tế

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Có độ lặp lại và độ ổn định đáp ứng được yêu cầu của phương pháp

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Ngày nay với sự phát triển nhiều vật liệu quang học mới mở ra khả năng phát triển cải tiến phương pháp này để ngày càng đơn giản hơn, dễ sử dụng hơn

* Nhược điểm của phương pháp phân tích quang học:

-agonist [1,2] Phương pháp này chỉ áp dụng được với đối tượng phân tích có khả năng hấp thụ hoặc phát xạ ánh sáng

1.1.6.4 Phương pháp sinh học

Nguyên tắc hoạt động của phương pháp này dựa trên các tác nhân sinh học

để nhận biết đối tượng phân tích Tác nhân sinh học tác động lên đối tượng phântích hình thành các tín hiệu khác nhau như tín hiệu quang, điện.v.v

Trang 28

* Phương pháp ELISA.

Nguyên lý của phương pháp là dựa trên phản ứng đặc hiệu kháng thể -agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành khángnguyên Lượng kháng nguyên xác định đã được cố định trên bề mặt của giếng phântích Kháng nguyên tự do CLB và một lượng kháng thể xác định được cho vào Khángnguyên tự do và kháng nguyên cố định sẽ cạnh tranh để bám vào kháng thể Lượngkháng nguyên tự do càng nhiều thì lượng kháng thể bị kháng nguyên cố định giữ lạicàng ít Sau khi rửa trôi các chất còn dư, dùng một kháng thể thứ 2 có đánh dấu enzym

để phát hiện lượng kháng thể ban đầu bị giữ lại Bằng phản ứng tạo màu và phép đocường độ mầu tại bước sóng 450 nm và cường độ màu này tỷ lệ với nồng độ chất cầnphân tích Từ đó suy ra lượng kháng nguyên tự do CLB là bao nhiêu Quá trình xử lýmẫu khi phân tích bằng phương pháp ELISA được mô tả như sau:

Trộn đều mẫu, nghiền qua mắt

sàng 1mm Cân khoảng

1 g mẫu

Thêm 8 mL acetonitril và1mL Ethylacetate Làm đồngđều hỗn hợp trong 3 phút

1 phút

Ly tâm 5 phút với tốc

độ 4000 rpm và lấy 50

µL phần dung dịch lớpdưới đem phân tíchtrên ELISA ở bướcsóng 450 nm

Hình 1.7 Quá trình xử lý mẫu khi phân tích bằng phương pháp ELISA [39]

Trang 29

* Phương pháp xét nghiệm miễn dịch cạnh tranh

Xét nghiệm miễn dịch dạng dòng sử dụng nano vàng gắn kháng thể đượcphát triển để xác định nhanh CLB [47] Tác giả đã phát triển một thanh thử dựa vàonguyên lý xét nghiệm miễn dịch cạnh tranh xác định các mẫu nước tiểu lợn ở cácnồng độ 0,0; 0,1; 0,3; 0,9; 2,7; 8,1 ng/mL Giới hạn xác định của thanh thử nhanhthì thấp hơn 0,1 ng/mL Giới hạn xác định bằng mắt thường 1,0 ng/mL Thí nghiệmnày cho kết quả sau 10 phút Zhang Hong-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhCai (2012) cũng sử dụng một sensorquang điện dựa trên xét nghiệm miễn dịch sử dụng hạt keo nano vàng để xác địnhnhanh CLB trong nước tiểu của lợn Phản ứng cạnh tranh xảy ra giữa CLB trongmẫu và CLB-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhBSA trên đường kiểm tra với kháng thể gắn nano vàng sẽ làm mất đimàu trên đường test line Sensor điện quang xác định CLB tuyến tính trong khoảng

từ 1,0-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành10 µg/L với giới hạn xác định 0,05 µg/L Độ chuyển hóa 85,46-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành96,05% trongmẫu nước tiểu [48] C Song (2013) sử dụng sensor huỳnh quang dạng xét nghiệmdòng bên sử dụng hạt nano silica Cường độ huỳnh quang trên đường kiểm tra là cơ

sở để định tính và định lượng CLB Kết quả chứng minh rằng sensor sử dụng hạtnano silica có độ nhạy tốt hơn các thanh thử nhanh sử dụng nano vàng truyền thống.Giới hạn xác định bằng mắt thường của thanh thử là 0,1 ng/mL trong khi giới hạnxác định bằng đo quang là 0,037 ng/mL Độ chuyển hóa đạt 89,3-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành97,7%, thời gianxét nghiệm dưới 8 phút [49]

* Phương pháp xét nghiệm dạng cảm biến sinh học:

Một hướng mới tiêm enzym miễn dịch quang hóa để phân tích CLB dựa trêncác hạt GoldMag đã được mô tả bởi Zhefei Li và cộng sự năm 2007 [50] Theo tàiliệu này thì hạt GoldMag là một loại mới của hạt siêu thuận từ Fe3O4/Au sử dụngnhư một chất mang trong hệ thống tiêm hóa chất phát quang CLB kết hợp vớiavalbumin đã được cố định trên các hạt GoldMag và các hạt cố định trong một rãnhnhỏ bởi một điện từ bên ngoài Khi hóa chất phát quang được tiêm vào trong cácrãnh, ánh sáng phát ra từ bề mặt hạt từ được đo và ghi lại bằng cách sử dụng mộtthiết bị quang học Phạm vi tuyến tính của phương pháp mới này là 0,01-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành0,1 ng/g vàCLB phục hồi được 85-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành105%

Chen Cunshe năm 2007 đã sử dụng protein F0F1-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhATPase như một cảm biếnsinh học để xác định dư lượng chất tăng trọng CLB trong thức ăn [51] ProteinF0F1-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhATPase đóng vai trò là một chất enzym chìa khóa trong hệ thống sinh học.F0F1-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhATPase là một hệ phức gồm hai phần, F0 và F1, kết cấu cơ học bởi một thântrung tâm phổ biến Một đầu dò huỳnh quang F1300 đã được đánh dấu bên trongsắc tố bào, được sử dụng như một chỉ số pH trong quá trình phát hiện thông lượng

Trang 30

proton do ATP tổng hợp trong protein F0F1-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhATPase Hơn nữa, tiểu đơn vị F1β củaprotein F0F1-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhATPase được giữ chặt bởi một hệ thống của anti-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhβ-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhantibody-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhbiotin-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhavidin-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhbiotin-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhantibody thứ hai (dành riêng cho CLB) như một cảm biến để phát hiện

dư lượng CLB Cơ chế dựa trên sự phản ứng của antibody-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhantigen, trong đó cơ chếphát hiện phụ thuộc vào sự thay đổi huỳnh quang dựa trên sự thay đổi pH trong suốtquá trình tổng hợp ATP Kết quả cho thấy rằng sự hoạt động của protein F0F1-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhATPase bị ảnh hưởng bởi sự nạp niệu khác nhau và cảm ứng mới có thể chứngminh là một thiết bị nano hữu ích cho phát hiện siêu nhạy Giới hạn phát hiện củaCLB là 10-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành12 g/l [51]

Traynor năm 2003 chỉ ra một phương pháp mới nhằm phát hiện các hợp chấtβ-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhagonist trong gan [52] Phương pháp có khả năng phân tích được 16 mẫu gantrong 1,5 ngày Dịch chiết được pha trộn với các kháng thể trước khi được tiêm 2phút lên trên một cảm biến bọc CLB Bề mặt cảm biến đã được tái tạo bằng NaOH0,1 M Thời gian phân tích của thí nghiệm này là 10 phút Các thí nghiệm đã có thểphát hiện mabuterol dưới 0,02 ng/g, CLB là 0,11 ng/g và sal là 0,19 ng/g Một miềnrộng của các β-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhagonist khác được phát hiện tại nồng độ dưới 1,5 ng/g

Ưu điểm:

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Thời gian phân tích nhanh

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Thiết bị, dụng cụ, thao tác đơn giản, dễ sử dụng Nhược điểm:

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Tính chính xác của kết quả phân tích còn phụ thuộc vào kĩ năng, thiết bị thí nghiệm và thành phần của mẫu thí nghiệm

-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Dễ gây ra kết quả dương tính ảo do vậy phương pháp chỉ được áp dụng để sàng lọc

Sử dụng chấm lượng tử chế tạo sensor huỳnh quang phát hiện một số chấtcấm đang là hướng nghiên cứu được đặc biệt quan tâm Do phương pháp này có thể

áp dụng với các chất có khả năng hấp thụ hoặc phát xạ ánh sáng, phương pháp cóthao tác đơn giản, chi phí đầu tư thấp mà vẫn cho kết quản đáng tin cậy do đó hứahẹn có thể phát triển và áp dụng rộng rãi

1.2 Chấm lƣợng tử

Chấm lượng tử (Qds) là những tinh thể nano bán dẫn có kích thước nhỏ hơnbán kính Bohr, là những hệ không chiều có thể giam giữ được điện tử, tạo ra cácmức năng lượng gián đoạn như trong nguyên tử Những tinh thể nano bán dẫn đượccấu tạo từ các cặp nguyên tố thuộc những cặp phân nhóm như: II-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhVI, III-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhV, IV-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhVI,

Trang 31

mỗi chấm lượng tử có thể chứa từ 100-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành1000 nguyên tử (Hình 1.8), chẳng hạn nhưcác chấm lượng tử CdS, CdSe, ZnS, ZnSe [53, 54]…

Hình 1.8 Các loại chấm lượng tử dạng lõi /vỏ [55]

Các nano tinh thể bán dẫn cũng được biết đến là các Qds do kích thước rấtnhỏ bé của chúng từ 1–20 nm, thể hiện các tính chất điện tử và quang học thú vị Ta

có thể xếp tính chất của chúng giữa các vật liệu bán dẫn khối và các phân tử hay các

nguyên tử riêng biệt.

Các nano tinh thể Qds bán dẫn là các hạt phát sáng rất bé ở kích thước nm.Các hạt này đã được nghiên cứu một cách mạnh mẽ và phát triển cho các ứng dụng

đa dạng, ví dụ như trong các linh kiện chuyển đổi năng lượng mặt trời [56-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành62], cáclinh kiện quang điện tử, các detector siêu nhậy, trong các linh kiện phát sáng QD-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhLED [63-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành66], trong các ứng dụng y-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhsinh như hiện ảnh phân tử và tế bào [67-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành70], cáccảm biến sinh học nano, nano-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhbiosensor [59-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành71] Có thể nói, hiện nay Qds đang cómặt trong rất nhiều các lĩnh vực với rất nhiều ứng dụng hứa hẹn và nổi bật

Đặc tính nổi trội của các Qds là hiệu ứng giam giữ lượng tử do kích thướcgiảm xuống còn cỡ nm Hiệu ứng này dẫn đến việc các hạt tải tích điện bị giam giữ

về mặt không gian, ở bên trong thể tích rất bé của nano tinh thể Do hiệu ứng này,các nhà khoa học có thể sử dụng kích thước của các Qds này để thay đổi trong mộtkhoảng rộng và chính xác, năng lượng của các trạng thái điện tử gián đoạn và cácdịch chuyển quang học Kết quả là các nhà khoa học có thể thay đổi phát xạ ánhsáng từ các hạt Qds này, từ vùng phổ tử ngoại, nhìn thấy, hồng ngoại gần và tớivùng phổ hồng ngoại giữa Các hạt Qds này cũng tạo ra nhiều tính chất quang mớinhư là sự nhân các hạt tải (carrier multiplication), đơn hạt nhấp nháy (single -agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhparticle blinking) và truyền tín hiệu phổ Nhiều tính chất vật lý, hóa học duy nhất vàkhác biệt xuất hiện trong các hạt nano mà không có ở các vật liệu khối [70]

Công nghệ nano tinh thể bán dẫn được phát triển đầu tiên vào những nămđầu 1980 trong các phòng thí nghiệm của Louis Brus (tại Bell Laboratories) và của

Trang 32

Alexander Efros và Alexei I Ekimov, ở Viện Công nghệ Vật lý A.F Ioffe ở St.Peterburg [70] Thuật ngữ -agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành Qds đã được Mark A Reed đưa ra đầu tiên vào năm 1988[72], trong đó bao hàm các nano tinh thể bán dẫn phát quang, mà các exciton (cặp điện

tử -agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành lỗ trống) của chúng bị giam giữ trong cả ba chiều không gian -agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành sự giam giữ lượng

tử Các điện tử và lỗ trống bị giam giữ một cách nghiêm ngặt khi bán kính của hạt Qdsnhỏ hơn bán kính Bohr của exciton, kích thước điển hình cỡ từ 2–20 nm Thôngthường, chúng là các hệ hai thành phần, bao gồm một lõi của vật liệu bán dẫn rồi đượcbọc với một lớp vỏ của một chất bán dẫn khác Huỳnh quang (PL) của Qds được hìnhthành khi Qds hấp thụ một photon có năng lượng cao hơn năng lượng vùng cấm của vậtliệu bán dẫn lõi, dẫn đến việc một điện tử bị kích thích và được đưa lên vùng dẫn, để lạimột lỗ trống ở vùng hóa trị Như vậy, một cặp điện tử -agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành lỗ trống được tạo ra Thời giansống phát xạ của Qds dài, cỡ từ 10-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành40 ns, do đó làm tăng xác suất hấp thụ tại các bướcsóng ngắn hơn và làm cho phổ hấp thụ mở rộng Do năng lượng vùng cấm quyết địnhbước sóng phát xạ photon, bởi vậy có thể kiểm soát bước sóng phát xạ qua kích thướccủa hạt nano, năng lượng vùng cấm tỉ lệ nghịch với bình phương kích thước của Qds.Các Qds có các tính chất vật lý đơn nhất theo kích thước nm và thành phần tạo rachúng Qds được sử dụng trực tiếp trong các ứng dụng liên quan đến các tính chấtquang của chúng, do sự hấp thụ mạnh, phát xạ HQ mạnh và hẹp, thay đổi theo kíchthước, có độ bền quang cao so với các chất mầu hữu cơ, tốc độ bị bạc màu chậm Phổhấp thụ rộng của các Qds cho phép ta kích thích, tại cùng một bước sóng, kích thíchcùng một lúc các Qds với kích thước khác nhau, trong vùng phổ rộng Các Qds này cóthể thay thế các chất màu hữu cơ như Rhodamine 640 trong các ứng dụng hiện ảnh sinhhọc, vì chúng phát quang mạnh và ít bị bạc màu khi chiếu sáng so với chất mầu hữu cơ[73] Không giống như các đơn phân tử khác các hạt Qds chế tạo ra có thể được biếnđổi bề mặt để có các tính chất hay chức năng cần thiết, cho các ứng dụng khác nhau

1.2.1 Tính chất của Qds

Qds với cấu trúc đặc biệt ở kích thước nm có nhiều tính chất quang học nổitrội hơn so với một số chất phát quang điển hình Bảng 1.3 trình bày tổng quan tínhchất của một số Qds khi so sánh với các chất huỳnh quang dựa trên các chất hữu cơ

và protein

Trang 33

Bảng 1.3 So sánh tính chất của các chất huỳnh quang hữu cơ/protein và Qds [69]

Tăng đều đến vùng UV từ

thể cho phép không cần lựachon ánh sáng kích thích

Hệ số dập tắt Molar 2.5 x 10-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành4-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành2.5 x 105 M-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành1 cm-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành1 Cao, gấp 10-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành100 lần chất

huỳnh quang

bất đối xứng khoảng 25-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành40 nm

Cao, 0,2 đến 0,7 trong dungHiệu suất lượng tử Biến đổi tử thấp đến cao dịch đệm phụ thuộc lớp bọc

bề mặt

Thời gian sống huỳnh

Ngắn, < 5ns Dài, khoảng 10-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành20 ns hoặc

Khoảng phổ 40-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành60 nm UV-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhIR (phụ thuộc Qds là 2

nguyên tố hay 3 nguyên tố)

chất cho đơn chất, chấtnhận đa chất

những trường hợp bị cô lập

Tính hóa học

Trang 34

Khả năng phản ứng Có khả năng phản ứng Khả năng liên kết hóa học

bị hạn chế

Tốt, có thể liên kết một vàiLiên kết đa hóa trị Hiếm – hầu hết phân mảnh phân tử với Qds phụ thuộc

kích cỡ

Các tính chất khác

Kích cỡ vật lý < 0,5 nm Đường kính 4-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành7 nm

Trang 35

Vài tính chất quang lý của Qds vượt trội rõ ràng khi so sánh với các chấthuỳnh quang truyền thống Đầu tiên là khả năng thay đổi huỳnh quang như là mộthàm của kích cỡ lõi và hệ số giam hãm lượng tử cho các liên kết nhị nguyên của vậtliệu bán dẫn Những tính chất độc đáo này cho phép kiểm soát phổ phát xạ của Qdsbằng cách kiểm soát kích cỡ lõi Tính chất thứ hai là phổ hấp thụ rộng bắt đầu từmàu xanh phát xạ của Qds và tăng đều về phía vùng UV Thực tế, hệ số dập tắtmolar của Qds thì lớn hơn 10 đến 100 lần so với các chất màu truyền thống và cóthể đạt đến giá trị vài triệu Rõ ràng rằng, Qds có thể được sử dụng để xác địnhđồng thời hoặc phối hợp các tín hiệu huỳnh quang, mà điều này khó có thể đạt đượcđối với các chất huỳnh quang truyền thống do sự trùng chập phổ hấp thụ/phát xạ.Qds cũng có hiệu suất lượng tử cao, khả năng chống chịu cao với cả dập tắt huỳnhquang và sự phân hủy hóa học [69].

Qds thì hầu hết có cường độ lớn hơn nhiều chất màu hữu cơ truyền thống.Vật liệu tâm/lõi CdSe-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhZnS có đường kính từ 2 nm (bước sóng phát xạ 480 nm) đến

8 nm (bước sóng phát xạ 660 nm) trong khi các tinh thể nano CdTe-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhCdSe phát xạ

đỏ có khoảng đường kính từ 4 nm (650 nm) đến >9 nm (850 nm) Tuy nhiên, kích

cỡ lõi không được coi như một yếu tố cho nhiều ứng dụng vốn có của nó Cácprotein và peptide hoặc các chất hóa học có thể tấn công lên bề mặt của Qds Sau

đó, tổng hợp được liên hợp Qds có được những tính chất đặc trưng

1.2.2 Một số phương pháp chế tạo GQds

Năm 2018 P Tian và cộng sự đã công bố nghiên cứu một cách tổng quan vềGQds [74] , nghiên cứu này đã đề cập đến cấu trúc độc đáo của nó, chẳng hạn nhưtính chất quang học, điện và quang điện GQds được coi là loại Qds mới, vì chúng

ổn định về mặt hóa học và vật lý vì tính chất carbon trơ nội tại của nó Hơn nữa,GQds thân thiện với môi trường do tính chất không độc hại và trơ sinh học, nghiêncứu này đã thu hút sự quan tâm trên toàn thế giới từ học thuật và công nghiệp Hiệnnay GQds được điều chế bằng một số phương pháp chủ yếu, chẳng hạn như phươngpháp thủy nhiệt, phương pháp thủy nhiệt hỗ trợ vi sóng, phương pháp mẫu mềm,phương pháp xúc tác kim loại v.v… Quá trình chế tạo GQds một loạt các dopantnguyên tố, chẳng hạn như nitơ, lưu huỳnh, clo, flo và kali vv, , đã được thêm vàoGQds để đa dạng hóa các chức năng của vật liệu Việc kiểm soát kích thước và hìnhdạng của nó đã được thực hiện bằng các thông số chẳng hạn như nhiệt độ tổng hợp,

Trang 36

thời gian, nồng độ nguồn, chất xúc tác, v.v Những nguyên tố thêm vào đã có nhữngảnh hưởng nhất định tới mức năng lượng trong GQds do đó có thể điều chỉnh cáctính chất quang học, điện và quang điện của GQds Các phương pháp chế tạo GQdsđược chi thành hai cách chính, cách thứ nhất đi từ trên xuống và cách thứ hai đi từdưới lên Với cách thứ nhất GQds được tạo ra bằng cách phân mảnh các vật liệucacbon có kích thước và khối lượng lớn thành GQds, trong cách tiếp cận này có ưuđiểm là nguồn nguyên liệu ban đầu phong phú, sản phẩm hình thành thường có chứacác nhóm chức chứa oxy ở rìa do vậy Qds hình thành dễ dàng tan trong môi trườngnước, tuy nhiên cách làm này cũng có một số hạn chế như năng suất tạo thành Qdsthấp, mật độ khuyết tật lớn, kích thước của Qds hình thành khó kiểm soát và hìnhdạng khó đồng nhất Trong khi đó cách tiếp cận từ dưới lên, người ta dựa trên sựphát triển của Qds từ các tiền chất thích hợp như là các phân tử có khối lượng lớnhay là các hợp chất polyme, GQds được hình thành thông thường bằng cách thủynhiệt các tiền chất, trong một số trường hợp người ta có thể sử dụng sự hỗ trợ củacác thiết bị vi sóng hoặc chất xúc tác Điều chế GQds bằng phương pháp này cónhiều ưu điểm như kích thước, hình dạng của Qds thu được khá đồng đều, có thểkiểm soát được, năng suất tạo thành chấm lượng tử cao Hai cách tiếp cận này được

mô tả như hình 1.9

Hình 1.9 Hai cách cơ bản điều chế GQds

Trang 37

1.2.2.1 Chế tạo GQds theo cách từ dưới lên

Trong cách chế tạo GQds này người ta chia thành 4 phương pháp chính thủynhiệt, thủy nhiệt hỗ trợ vi sóng, sử dụng khuôn mềm và sử dụng xúc tác kim loại

Chế tạo GQds sử dụng phương pháp thủy nhiệt.

Nguyên tắc chung của phương pháp, Qds được hình thành từ các nguyên liệuban đầu các chất này được kết tinh dưới điều kiện nhiệt độ cao, áp suất cao hìnhthành các tinh thể

Năm 2012 Dong và các cộng sự đã thành công trong việc chế tạo GQds từaxit citric (CA), nội dung phương pháp được mô tả như hình 1.10 [75] Với việcđiều chế GQds bằng cách này có ưu điểm nhanh, thao tác đơn giản dễ thực hiện tuynhiên hiệu suất lượng tử của GQds không cao 9,0% và kích thước GQds đạt khoảng

15 nm

Hình 1.10 GQds được điều chế bằng cách nhiệt phân CA

Năm 2013 X Wu và nhóm nghiên cứu cũng đã chế tạo thành công GQds từaxit L-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhGlutmic [76] Lấy 1,0 g axit L-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhglutamic cho vào bình cầu, gia nhiệt đến nhiệt

độ 210oC Khi axit L-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhglutamic nóng chảy chuyển từ không màu sang màu nâu,chứng tỏ sự hình thành của GQds, thêm 20 mL nước cất vào và khuấy nhẹ trong 30phút, làm lạnh hỗn hợp ở nhiệt độ phòng, dung dịch được quay ly tâm ở tốc độ

10000 vòng/phút trong 30 phút Phần dung dịch được giữ lại và chứa ở nhiệt độphòng trước khi sử dụng

Năm 2014 L Wang và các cộng sự chế tạo thành công GQds từ pyren có PLQYđạt 63%, quy trình chế tạo và tính chất của Qds được mô tả như hình 1.11 [77]

Trang 38

Hình 1.11 Quy trình chế tạo và tính chất của GQds đươc điều chế từ pyren

GQds được điều chế từ pyren có kích thước phân bố đều từ khoảng 2,4-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành4,8

nm khoảng cách giữa các lớp khoảng 0,21 nm

Năm 2015 X Chen và các đồng nghiệp chế tạo thành công N-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhGQds (GQds cópha tạp Nito), từ các tiền chất là CA, aminomethane (Tris-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhHMA) với dung môi nền(hydroxymethyl), N-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhGQds có PLQY (hiệu suất phát huỳnh quang) là 59,2% [78]

Năm 2016 J Yang và cộng sự bằng phương pháp này cũng đã chế tạo thànhcông N-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhGQdS [79] Qds thu được có PLQY cao khoảng 75,2 %, kích thước của Qdsđạt khoảng 5 nm Nhóm nghiên cứu cho rằng với sự có mặt hợp chất của Nito khiếncho hiệu suất của quá trình điều chế tăng lên và có sự giảm thiểu khuyết tật của GQds

Năm 2017 R.-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhA Dong và các cộng sự cũng đã chế tạo thành công GQds từ

CA với kích thước Qds từ 2-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành8 nm [80] Ngòai CA người ta cũng có thể sử dụng một

số hydrocarbon đa vòng hoặc các hợp chất giống như graphen

Năm 2017 Z Guo và cộng sự cũng đã chế tạo thành công GQds bằng cáchthủy nhiệt tiền chất 1,5-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhdinitronaphthalen ở 200oC trong 18h, công bố đã chỉ ra rằngbằng cách thay đổi pH của tiền chất từ 5-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành10 khi đó Qds thu được có màu sắc khácnhau như hình 1.12 [81]

Hình 1.12 Sự biến đổi màu sắc của GQds tại các giá trị pH khác nhau khi được

điều chế từ 1,5-agonist [1,2]dinitronaphthalen

Hiện tượng GQds có sự thay đổi mầu sắc theo môi trường pH, được nhómtác giả giải thích có thể do dạng tồn tại khác nhau của nhóm chức amin Đối với cácchất mầu hữu cơ việc có một giải phát xạ rộng như vậy là gần như không thể

Trang 39

Chế tạo GQds bằng phương pháp thủy nhiệt hỗ trợ vi sóng

Nội dung chủ yếu của phương pháp, quá trình thủy nhiệt có thêm sự hỗ trợcủa năng lượng vi sóng nhằm tiết kiệm thời gian chế tạo GQds và sản phẩm thuđược có độ đồng đều cao

Năm 2017 Y Yang và nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thủy nhiệthỗn hợp Glucose với sự có mặt của HF, quá trình chế tạo và kết quả của công trìnhđược nhóm tác giả tóm tắt đầy đủ như hình 1.13 [82]

Hình 1.13 Quy trình điều chế và khảo sát một số tính chất F-agonist [1,2]GQds

Hỗn hợp glucose và HF được gia nhiệt với các khoảng thời gian khác nhau,GQds hình thành có sự sen kẽ giữa phân tử F và O như hình 1.13a, GQds có lai tạpflo (F-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhGQds) có màu xanh là cây như hình 1.13b, kết quả ảnh TEM cho thấykhoảng cách giữa các lớp mạng tinh thể khoảng 0,214 nm như hình hình 1.13c, kíchthước của Qds khoảng 2,38±0,04 nm, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng F-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhGQds đượcbao bọc bên ngoài bởi các nhóm COO-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành như hình 1.13d, nhóm này có vai trò vôcùng quang trọng trong nghiên cứu tính chất của Qds vì nó giúp Qds phân tán tốttrong môi trường nước và có khả năng tạo liên kết các tác nhân khác phục vụ côngtác nghiên cứu

Trang 40

L.Tang cùng cộng sự [83, 84] đã nghiên cứu một cách đầy đủ về mối quan hệcủa màu sắc và kích thước với thời gian thủy nhiệt, màu sắc của dung dịch Qds biếnđổi mạnh khi thay đổi thời gian thủy nhiệt từ 1-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành11 phút như hình 1.13e, điều nàyđược lý giải do sự có mặt của F trong mạng lưới GQds làm cho phổ huỳnh quangcủa GQds thay đổi, hình 1.13f, F-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhGQds thu được bằng cách này có kích thước chủyếu trong khoảng từ 1,8-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành3,0 nm như hình 1.13g,h.

Phương pháp thủy nhiệt có sự hỗ trợ vi sóng giúp rút ngắn thời gian điều chếGQds mà vẫn thu được GQds với những tính chất quang học mong muốn

Chế tạo GQds sử dụng khuôn mềm

Nội dung chính của phương pháp này, khuôn phản ứng cỡ nano được tạo ra

và GQds hình thành trong đó, phương pháp này có ưu điểm là không cần quá trìnhtách, phân chia phức tạp hơn nữa thân thiện với môi trường và có thể ứng dụng đểđiều chế một lượng lớn với quy mô công nghiệp

Năm 2011 X Feng cùng nhóm nghiên cứu đã sử dụng hexa-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhperi-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhhexabenzocoronene (HBC) là tiền chất để chế tạo GQds bằng cách sử dụng khuônmềm [85] nhóm tác giả đã tiến hành ngưng tụ để các phân tử HBC để chúng xếpchồng lên nhau, hình thành khung điều này giúp ít hình thành khiếm khuyết hơntrong mạng lưới ở bước nhiệt phân tiếp theo, các lớp graphen được tạo ra sau đóđược làm sạch bằng kỹ thuật Hammers, hỗn hợp sau đó được phân tán lại trong môitrường nước GQds thu được có kích đường kính 60 nm, chiều dày 2-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành3 nm, GQdsnày cũng được quan sát phát xạ ánh sáng màu xanh mạnh mẽ dưới tác dụng ánhsáng kich thích có bước sóng 365 nm

Năm 2016 R Li và nhóm tác giả đã tiếp cận hướng chế tạo GQds sử dụngkhuôn mềm bằng cách sử dụng 1,3,5-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhtriamino-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thành2,4,6-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhtrinitrobenzene (TATB) làmtiền chất duy nhất [86] Trong phương pháp này, khí được sản xuất trong quá trìnhnhiệt phân TATB giúp tăng tốc phản ứng và mở rộng khoảng cách lớp, do đó nó tạođiều kiện cho sự hình thành N-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhGQds một lớp (khoảng 80 %) Sản phẩm cacbon hóagiữa các phân tử đối xứng của TATB được xếp thành một mặt phẳng và sáu nhómchứa nitơ đảm bảo kích thước nhỏ, đồng đều (2–5 nm) của các sản phẩm thu được

có chứa nồng độ nitơ cao (tỷ lệ nguyên tử N/C khoảng 10,6 %) Ngoài việc giảiphóng khí trong quá trình, TATB gần như được chuyển đổi hoàn toàn thành N-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhGQD tổng hợp; do đó, tỷ lệ hình thành Qds tương đối cao với cách tiếp cận này.Nhiều nghiên cứu cho thấy N-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhGQds được sản xuất có đặc tính huỳnh quang vượttrội; độ hòa tan trong nước cao, tương thích sinh học và độc tính thấp quá trìnhđiều chế cũng như tính chất của N-agonist, ban đầu CLB được biết đến là thànhGQds được mô tả qua hình 1.14

Ngày đăng: 23/10/2021, 15:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Fernando Jorge dos Ramos, β2-agonist extraction procedures for chromatographic analysis, Journal of chromatography A, 2000, 880, 69-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: β2-agonist extraction procedures for chromatographic analysis
2. A Aresta, C. D. Calvano, F. Palmisano and C. G. Zambonin, Determination of clenbuterol in human urine and serum by solid-phase microextraction coupled to liquid chromatography, Journal of pharmaceutical and biomedical analysis, 2008, 47 (3), 641-645 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determination of clenbuterol in human urine and serum by solid-phasemicroextraction coupled to liquid chromatography
3. S.D.P Betamcurt, A.C. Izquierdo, A. Uribe and A.M. Michel, Clenbuterol residures in bovine feed and meat, Research journal of Biological Sciences,2008, 3(12), 1444-1445 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clenbuterol residures in bovine feed and meat
4. G. Brambilla, T. Cenci, F. Franconi, R. Galarini, A. Macri, Strozzi, A. Loizzo, Clinical and pharmacologicalepidemic poisoning of contaminated beef meat in 114, 507-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical and pharmacological"epidemic poisoning of contaminated beef meat in
5. Philippe A.Guy, Marie C. Savoy, Richard H. Stadler, Quantitative analysis of clenbuterol in meat products using liquid chromatography- electrospray ionisation tandem mass spectrometry, Journal of Cheromatography B, 1999, 736, 209-219 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quantitativeanalysis of clenbuterol in meat products using liquid chromatography-electrospray ionisation tandem mass spectrometry", Journal ofCheromatography B", 1999
6. H. Limin, S. Yijuan, Z. Zhenling, L. Yahong, H. Xianhui, Determination of ractopamine and clenbuterol in feeds by gas chromatography-mass spectrometry, Animal Feed Science and Technology, 2005, 132, 316-323 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determination of ractopamine and clenbuterol in feeds by gaschromatography-mass spectrometry
7. Aimee Wood, Tzeh Keong Foo, Mohd Ahmad, Julie M. Fagan, Clenbuterol: Effects and Usage in Livestock and Show Animals, Rutgers University, 2010, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clenbuterol: Effects and Usage in Livestock and Show Animals
8. Joseph Jwu-Shan Jen, Junshi Chen, John Wiley &amp; Sons, Food safety in China, Science, Technology, Management anh Regulation, 2017, China Sách, tạp chí
Tiêu đề: Food safetyin China
10. Gianfranco Brambilla, Telemaco Cenci, Flavia Franconi, Roberta Galarini, Agostino Macrı, Francesco Rondoni, Marco Strozzi, Alberto Loizzo, Clinical and pharmacological profile in a clenbuterol epidemic poisoning of contaminated beef meat in Italy, Toxicology Letters, 2000, 114, 47–53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical and pharmacological profile in a clenbuterol epidemic poisoning ofcontaminated beef meat in Italy
11. Jelka Pleadin, Ana Vulic, Svjetlana Terzic, Nada Vahcic, Ksenija Sandor and Eleonora Perak, Comparison of Accumulation of Clenbuterol and Salbutamol Residues in Animal Internal Tissues, Non-Pigmented Eyes and Hair, Journal of Analytical Toxicology, 2014, 38, 681 –685 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparison of Accumulation of Clenbuterol andSalbutamol Residues in Animal Internal Tissues, Non-Pigmented Eyes andHair
12. European Food Safety Authority (EFSA), Scientific Opinion on the public health hazards to be covered by inspection of meat (poultry), EFSA Journal, 2012, 10(6), 2741, Italy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scientific Opinion on thepublic health hazards to be covered by inspection of meat (poultry)
15. Nguyen Thi Thu Thuy, Lam Van Xu, Pham Thi Anh, Chu Pham Ngoc Son, Tran Kim Tinh, Analysis of clenbuterol in feedstuff and meat products by LC/MS, International Symposium on Food Analysis, Chemistry and Technology, 12th Asian Chemical Congress, 2007, 23–25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Analysis of clenbuterol in feedstuff and meatproducts by LC/MS
16. Nguyen Thi Thu Thuy, Lam Van Xu, Pham Thi Anh, Tran Kim Tinh, Chu Pham Ngoc Son, K. Wang, Analysis of clenbuterol in Meat and Feedstuff by LC/MS/MS, Proceedings of the 56th ASMS Conference on Mass Spectrometry and Allied Topics, 2008, 1–5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Analysis of clenbuterol in Meat andFeedstuff by LC/MS/MS
17. Nguyễn Thị Thu Thủy, Đánh giá hàm lượng các chất β-agonist (clenbuterol và salbutamol) trong thức ăn gia súc và dư lượng trong thịt gia súc bằng kỹ thuật sắc ký lỏng ghép khối phổ, luận án Tiến sĩ, Đại học Khoa học Tự nhiên, đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hàm lượng các chất β-agonist(clenbuterol và salbutamol) trong thức ăn gia súc và dư lượng trong thịt giasúc bằng kỹ thuật sắc ký lỏng ghép khối phổ
18. Nguyễn Thị Hà. Nguyễn Văn Lượng, Đỗ Khắc Hải, Lê Thị Quỳnh, Nguyễn Kiều Hưng, 2016, Nghiên cứu xây dựng phương pháp xác định đồng thời Salbutamol, Ractopamine và Clenbuterol trong thức ăn chăn nuôi bằng kỹ thuật sắc ký lỏng hiệu năng hai lần khối phổ, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN:Các khoa học Trái đất và Môi trường, 2016, 32(3), 1-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng phương pháp xác định đồngthời Salbutamol, Ractopamine và Clenbuterol trong thức ăn chăn nuôi bằngkỹ thuật sắc ký lỏng hiệu năng hai lần khối phổ
19. Nguyễn Hương Giang, Vương Thế Hoàng, Lạc Kiến Triều, Ngô Thị Lư, Huỳnh Khánh Duy, Xây dựng quy trình xác định β 2 -agonist trong thịt, gan, thận heo bằng phương pháp Quechers kết hợp với UPLC-MS/MS, Vietnam Journal of Science and Technology, 2017, 55(5A) 202-210 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng quy trình xác định β"2"-agonist trong thịt,gan, thận heo bằng phương pháp Quechers kết hợp với UPLC-MS/MS
20. P.R. Kootstra, C.J.P.F. Kuijpers, K.L. Wubs, D. Van Doorn, S.S.Sterk, L.A. Van Ginkel, R.W. Stepphany, The analysis of beta-agonists in bovine muscle using molecular imprinted polymers with ion trap LCMS screening, Analytica chimica acta, 2005, 529, 75-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The analysis of beta-agonists inbovine muscle using molecular imprinted polymers with ion trap LCMSscreening," Analytica chimica acta", 2005
21. Liu Pengyan, Wang Yingfeng, Determination of clenbuterol in swine tissue using acid for extraction and SCX column for sample cleanup, The Natural Science Foundation of Hebei Provine and Hebei University Research Foundation, 2005, 7(10), 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determination of clenbuterol in swinetissue using acid for extraction and SCX column for sample cleanup", TheNatural Science Foundation of Hebei Provine and Hebei University ResearchFoundation", 2005
22. Gang Liu, Haode Chen, Hongzhen Peng, Shiping Song , Jimin Gao, Jianxin Luc, Min Ding, Lanying Li, Shuzhen Rena, Ziying Zoua, Chunhai Fan, A carbon nanotube based high-sensitivity electrochemical immunosensor for rapid and portable detection of clenbuterol, Biosensors and Bioelectronics, 2011, 28(1), 308-313 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A carbon nanotube based high-sensitivity electrochemicalimmunosensor for rapid and portable detection of clenbuterol
23. Xiao-Bin Chena, Yin-Liang Wub, Ting Yang, Simultaneous determination of clenbuterol, chloramphenicol and diethylstilbestrol in bovine milk by isotope dilution ultraperformance liquid chromatography–tandem mass spectrometry, Journal of Chromatography B, 2011, 879(11-12), 799-803 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Simultaneousdetermination of clenbuterol, chloramphenicol and diethylstilbestrol inbovine milk by isotope dilution ultraperformance liquid chromatography–"tandem mass spectrometry

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w