1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu tham khảo Nghiên cứu khoa học (Dành cho đào tạo Điều dưỡng trình độ cao đẳng)

64 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu tham khảo Nghiên cứu khoa học (Dành cho đào tạo Điều dưỡng trình độ cao đẳng) cung cấp cho người học những kiến thức như: Mục đích nghiên cứu khoa học - Các loại nghiên cứu khoa học trong y học; Mục tiêu và các biến số nghiên cứu; Các phương pháp chọn mẫu và cách tính cỡ mẫu; Các loại thiết kế nghiên cứu;...

Trang 1

Tài liệu tham khảo NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

(Dành cho đào tạo Điều dưỡng trình độ cao đẳng)

Lưu hành nội bộ Năm 2010

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Bài 1 c đ ch nghi n c u hoa h c - c oại nghi n c u hoa h c trong h c … 1

Bài 2 c ti u và c c i n nghi n c u ……… 3

Bài 3 c phư ng ph p ch n u và c ch t nh cỡ u ……… ………… 7

Bài 4 c oại thi t nghi n c u ……… 17

Bài 5 hư ng ph p và c ng c thu th p i u ……… 23

Bài 6 và ph n t ch i u ……… 32

Bài 7 rình à d i u trong nghi n c u hoa h c ……… 39

Bài 8 hư ng ph p vi t đề cư ng nghi n c u hoa h c ……… 48

Tài li u tham khảo ……… 62

Trang 3

Bài 1 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC- CÁC LOẠI HÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG Y HỌC

Mục tiêu học tập

1 Trình bày các khái niệm về nghiên cứu khoa học

2 Nêu các mục đích của nghiên cứu khoa học

3 Trình bày các loại nghiên cứu khoa học trong nghiên cứu y học

Nội dung bài học

1 Định nghĩa

Nghiên cứu khoa học là việc thu thập, phân tích và lí giải số liệu để giải quyết một vấn đề hay trả lời một câu hỏi (Theo Varkevisser và cộng sự, 1991) Nói cách khác, nghiên cứu khoa học phải bao gồm các bước thu thập số liệu trên thực địa (hay từ các ca bệnh trong bệnh viện hay phòng thí nghiệm), phân tích số liệu để có thông tin và trình bày các thông tin này trong phần kết quả và trong phần bàn luận và kiến nghị, lí giải các thông tin đó để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu hay đề xuất các biện pháp giải quyết vấn đề

2 Mục đích của nghiên cứu khoa học trong y khoa

Nghiên cứu khoa học trong y khoa nhằm phát triển những kiến thức và kỹ thuật mới Những kiến thức và kỹ thuật này sẽ được biến thành những kỹ năng, công cụ để cải thiện tay nghề và sự cung cấp dịch vụ nhằm đạt được kết quả tốt hơn cho người dân

Hình 1.1 Mục đích của nghiên cứu khoa học trong y khoa

Kỹ thuật

Cung cấp dịch vụ

Sức khỏe tốt hơn

Trang 4

3 Các loại nghiên cứu khoa học trong y học

Dựa vào sản phẩm thu được sau nghiên cứu, có thể chia nghiên cứu ra 2 lĩnh vực chính: nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng

- Nghiên c u c ản: nhằm phát hiện về bản chất và quy luật của các sự vật, hiện tượng

trong tự nhiên xã hội con người Mục tiêu là tìm tòi sáng tạo ra những kiến thức mới Đối tượng nghiên cứu cơ bản là người khỏe hoặc vật thí nghiệm

- Nghiên c u ng d ng: nhằm mục đích tìm cách vận dụng các quy luật, các kiến thức

mới từ trong nghiên cứu cơ bản để tìm ra những nguyên lý, những giải pháp áp dụng vào thực tế đời sống xã hội

Nghiên cứu khoa học chia 4 loại: cơ bản, ứng dụng, triển khai và dự báo

Nghiên cứu ứng dụng trong nghiên cứu y học được thực hiện trong 2 lĩnh vực:

- Lĩnh vực phòng b nh: còn gọi là nghiên cứu dịch tễ học, được tiến hành trên dân số

(bao gồm người khỏe hoặc có bệnh) nhằm xác định yếu tố nguyên nhân gây bệnh Kết quả những nghiên cứu này là cơ sở phát triển những biện pháp phòng chống

- Lĩnh vực điều trị b nh: được gọi là nghiên cứu lâm sàng, được thực hiện trên người

bệnh nhằm tìm hiểu quá trình bệnh và tác dụng của những biện pháp điều trị Kết quả của những nghiên cứu này là cơ sở để phát triển những phương pháp chẩn đoán và điều trị

Trang 5

Bài 2 MỤC TIÊU VÀ BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU

Mục tiêu học tập

1 Trình bày tầm quan trọng viết mục tiêu cho một nghiên cứu

2 Trình bày định nghĩa biến số và tầm quan trọng việc xác định biến số

3 Lựa chọn được biến số thích hợp cho mục tiêu nghiên cứu

Nội dung học tập

1 Mục tiêu nghiên cứu

1.1 Mục tiêu nghiên cứu là gì?

Mục tiêu nghiên cứu nhằm tóm tắt những gì sẽ đạt được sau khi hoàn thành nghiên cứu.Thông thường người ta chia mục tiêu thành mục tiêu tổng quát và mục tiêu đặc hiệu Mục tiêu tổng quát là những điều đạt được một cách chung nhất, còn mục tiêu đặc hiệu bao gồm các phần nhỏ hơn và có liên hệ với nhau và với mục tiêu tổng quát một cách hợp

lí Trong mục tiêu đặc hiệu nên cụ thể những điều sẽ làm trong nghiên cứu, làm ở đâu và với mục đích gì

Ví dụ: Nếu chúng ta có vấn đề nghiên cứu là “Mức độ sử dụng dịch vụ phòng

khám trẻ em thấp tại huyện A” Sau khi phân tích vấn đề nghiên cứu chúng ta nhận thấy

để giải quyết các vấn đề trên cần phải tìm hiểu các lí do khiến mức độ sử dụng dịch vụ phòng khám trẻ em thấp tại huyện A, ta sẽ thiết lập mục tiêu tổng quát như sau:

Nhằm đạt được mục tiêu tổng quát kể trên, chúng ta phải hoàn thành các công việc sau Các công việc này được gọi là mục tiêu đặc hiệu:

- Xác định các lí do của mức độ sử dụng dịch vụ phòng khám trẻ em thấp tại huyện A

- Xác định mức độ sử dụng dịch vụ phòng khám trẻ em ở huyện A trong các năm 2013

và 2014 so với chỉ tiêu đặt ra

- Xác định có sự liên hệ giữa việc sử dụng dịch vụ phòng khám trẻ em với mùa trong năm, loại hình phòng khám

- Xác định các yếu tố dịch vụ của phòng khám ảnh hưởng đến tính hấp dẫn đối với bà

mẹ

- Xác định các yếu tố văn hoá và kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ phòng khám trẻ em

Trang 6

- Kiến nghị các giải pháp để cải thiện sử dụng dịch vụ phòng khám trẻ em

- Xây dựng kế hoạch thực hiện và các kiến nghị phối hợp với các ban ngành

1.2 Yêu cầu của mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tốt cần phải đạt được các yêu cầu sau:

- Phải đủ: bao gồm các khía cạnh khác nhau của vấn đề nghiên cứu

- Phải c thể: xác định rõ những biến số hoặc chỉ tố của những sự kiện được đo lường

- H th ng: mục tiêu cụ thể nên được liệt kê theo một trình tự hợp lí giúp giải quyết

từng phần của nghiên cứu

- Đo ường được: Mục tiêu phải bắt đầu bằng các từ hành động cụ thể và có thể đánh

giá mức độ đạt được như: xác định, so sánh, kiểm chứng, tính toán, mô tả

2 Biến số

2.1 Khái niệm

Biến số là những đại lượng hay những đặc tính có thể thay đổi từ người này sang người khác hay từ thời điểm này sang thời điểm khác Biến chứa tất cả các giá trị quan sát được về cùng một đặc tính nhất định nào đó trên các cá thể khác nhau

2.2 Phân loại biến số

2.2.1 Phân theo bản chất của biến số

Biến số định lƣợng

Nếu biến số thể hiện một đại lượng nó được gọi là biến số định lượng (quantitative variable) Biến số định lượng nhằm thể hiện một đại lượng và do đó có giá trị là những con số và biến số định lượng phải luôn luôn đi kèm theo đơn vị

Ví dụ: tuổi, đường huyết, hemoglobin, hematocrite, chiều cao, cân nặng, thu nhập…

Biến số định lượng có thể còn được chia thành:

- Bi n s liên t c Ví dụ: chiều cao…

- Bi n s rời rạc Ví dụ: lần tiêm chủng…

Biến số định tính

Nếu biến số nhằm thể hiện một đặc tính, biến số được gọi là biến số định tính Biến

số định tính còn được chia thành 3 loại:

- Bi n s nhị giá: khi chỉ có 2 giá trị

Ví dụ: giới tính là biến nhị giá do chỉ có 2 giá trị là nam và nữ

Trang 7

- Bi n s danh địn): khi có 3 hay nhiều hơn các giá trị, là biến số mà giá trị của nó

không thể biểu thì bằng số mà phải biểu diễn bằng một tên gọi (danh: tên) và các giá trị này không thể sắp đặt theo một trật tự từ thấp đến cao hay ngược lại

Ví dụ: dân tộc (kinh, hoa, khmer, chăm…), tình trạng hôn nhân (độc thân, có gia đình, li

dị, goá…), nhóm máu (A, B, AB, O)…

- Bi n s th tự: khi có 3 hay nhiều hơn các giá trị và bản thân các giá trị đó có tính

chất thứ tự

Ví dụ: tình trạng kinh tế - xã hội (giàu, khá, trung bình, cận nghèo, nghèo), học lực (xuất

sắc, giỏi, khá, trung bình, yếu, kém), tiên lượng (tốt, khá, xấu, tử vong)…

Để tiện việc nhập số liệu, người ta có thể mã hoá các giá trị của biến định tính vào các con số Việc mã hoá này hoàn toàn có tính chất áp đặt và các con số được dùng trong

mã hoá không phản ánh bản chất của biến số định tính

Ví dụ: có thể mã hoá giới tính, tuy ước Nam là 1, Nữ là 2 Tuy nhiên, việc mã hoá này là

áp đặt và chúng ta hoàn toàn có thể quy ước Nam là 1, Nữ là 0

Việc mã hoá chỉ nhằm giúp việc nhập số liệu và xử lí số liệu trở nên dễ dàng hơn chứ không nhằm phản ánh bản chất của biến số đó.Riêng đối với biến số thứ tự thì việc

mã hoá phải phù hợp với bản chất thứ tự của biến số

Biến sống còn (hay Biến số nhị giá theo thời gian)

Nhiều trường hợp chúng ta không chỉ quan tâm đến phương diện biến cố có xảy ra hay không (biến nhị giá) mà còn quan tâm đến phương diện biến cố xảy ra vào lúc nào (một biến số định lượng) Biến số thể hiện đặc tính này gọi là biến sống còn

Ví dụ: sau khi điều trị bệnh nhân ung thư, chúng ta không chỉ quan tâm đến bệnh nhân có

tử vong hay không mà chúng ta còn quan tâm đến bệnh nhân tử vong sau bao lâu khi điều trị và nếu bệnh nhân chưa tử vong thì bệnh nhân sống thêm bao lâu

2.2.2 Phân loại theo mối quan hệ giữa các biến số

Khi chúng ta quan tâm đến việc lí giải nguyên nhân của sự việc chúng ta chia biến

số thành biến số độc lập, biến số phụ thuộc và biến số gây nhiễu:

- Bi n s ph thuộc: dùng để mô tả hay đo lường vấn đề nghiên cứu

- Bi n s độc l p: dùng để mô tả hay đo lường các yếu tố được cho là gây nên (hay gây

ảnh hưởng đến) vấn đề nghiên cứu

Trang 8

Ví dụ: nếu nghiên cứu mối quan hệ giữa hút thuốc lá và ung thư phổi thì hút thuốc lá là

biến số độc lập và ung thư phổi là biến số phụ thuộc

- Bi n s gây nhiễu: là biến số cung cấp một giải thích khác của mối quan hệ giữa biến

số độc lập và biến số phụ thuộc Một biến số được đánh giá là biến số gây nhiễu khi có 3 đặc tính sau:

o Có liên quan đến biến số phụ thuộc (là yếu tố nguy cơ của vấn đề nghiên cứu)

o Có liên quan đến biến số độc lập (phân bố không đều giữa các giá trị của biến độc lập)

o Nằm ngoài cơ chế tác động của biến độc lập lên biến phụ thuộc

Ví dụ: Có mối liên hệ giữa số lần khám tiền sản và sinh con nhẹ cân dưới 2500 gram Tuy

nhiên, thu nhập gia đình cũng có thể ảnh hưởng đến số lần khám thai và việc sinh con nhẹ cân Như vậy, thu nhập gia đình là yếu tố gây nhiễu

Biến số nền (background variables): trong bất cứ nghiên cứu nào cũng có những

biến số nền tảng như tuổi, giới, trình độ học vấn, tình trạng kinh tế, tình trạng hôn nhân, tôn giáo… Những biến số này thường có ảnh hưởng đến vấn đề nghiên cứu (biến số phụ thuộc) và có tác động như biến số gây nhiễu Nếu biến số nền có ảnh hưởng quan trọng đến nghiên cứu thì cần phải thu thập thông tin về biến số nền, nhưng không nên thu thập quá nhiều biến số nền để tránh làm tăng kinh phí nghiên cứu một cách vô ích

Cân nặng con lúc sinh

Trang 9

Bài 3 CÁC PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU VÀ CÁCH TÍNH CỠ MẪU

Mục tiêu học tập

1 Trình bày được các khái niệm về mẫu, quần thể, khung mẫu

2 Trình bày được các phương pháp chọn mẫu

3 Nêu được các loại sai số trong quá trình chọn mẫu và các biện pháp khắc phục

4 Tính được cỡ mẫu cho một nghiên cứu khoa học

Nội dung học tập

1 Đại cương về mẫu và quần thể

1.1 Mẫu nghiên cứu

Trên thực tế người ta không thể hoặc không cần thiết phải tiến hành nghiên cứu toàn bộ, đặc biệt trên quần thể lớn vì các lý do sau:

- Không đủ nhân lực, vật lực và thời gian để tiến hành nghiên cứu

- Chất lượng điều tra, nghiên cứu có thể không tốt do thường có nhiều sai số khi triển khai nghiên cứu lớn

- Mặt khác, khi nghiên cứu trên một lượng cá thể đủ lớn, đại diện cho quần thể thì kết quả nghiên cứu vẫn cho phép ngoại suy ra cho toàn bộ quần thể đó

Nhóm cá thể được rút ra từ quần thể nghiên cứu để phục vụ cho mục đích nghiên cứu được gọi là mẫu nghiên cứu

1.2 Quần thể đích và quần thể nghiên cứu

Mục đích của nhà điều tra không chỉ dừng lại ở quần thể nghiên cứu mà họ muốn khái quát trên quần thể lớn hơn được gọi là quần thể đích Cần lưu ý rằng, quần thể nghiên cứu và đích đều được xác định bởi nhà nghiên cứu, chúng có chung một hiện tượng sức khỏe mà người nghiên cứu quan tâm, mặt khác chúng phải bao hàm các yếu tố

về đối tượng (ai, cái gì), không gian (ở đâu), thời gian (khi nào)

Trong nghiên cứu dịch tễ học, nó sẽ là lý tưởng nếu như quần thể nghiên cứu và quần thể đích là một.Tuy nhiên, nếu trường hợp thiếu thông tin cho việc chọn mẫu, thiếu

sự chấp thuận của cộng đồng, hoặc thiếu nguồn lực mà người điều tra phải tách quần thể đích và quần thể nghiên cứu

Trang 10

Ví dụ: Người ta muốn nghiên cứu tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi của 1

huyện Nhưng vì lý do nào đó người ta chỉ có thể rút mẫu từ trẻ em dưới 5 tuổi của xã A,

B, C trong 10 xã của huyện Vậy trẻ em dưới 5 tuổi của huyện được xem là quần thể đích, trẻ em dưới 5 tuổi của 3 xã A, B, C là quần thể nghiên cứu

1.3 Đơn vị lấy mẫu, khung mẫu

Đ n vị lấy m u: Là đơn vị của quần thể được chọn vào mẫu

Khung m u: Để dễ dàng chọn được một mẫu từ quần thể, cần thiết phải có một danh

sách các đơn vị mẫu hoặc bản đồ phân bố mẫu Danh sách hoặc bản đồ như vậy được gọi

là khung mẫu

2 Các phương pháp chọn mẫu

2.1 Chọn mẫu có xác suất

2.1.1 Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn (Simple random sampling)

Là mẫu mà tất cả các thể trong quần thể có cùng cơ hội để chọn vào mẫu Đây là dạng đơn giản nhất của mẫu xác suất Để chọn một mẫu ngẫu nhiên đơn bạn cần:

- Lập danh sách toàn bộ những đơn vị trong quần thể từ đó bạn muốn rút ra một mẫu

- Chọn đơn vị mẫu sẽ được lấy vào mẫu, sử dụng phương pháp “bốc thăm” hoặc sử dụng “bảng số ngẫu nhiên”

Ví dụ: Một mẫu ngẫu nhiên đơn gồm 50 sinh viên được chọn từ một trường học có

250 sinh viên Sử dụng danh sách của 250 sinh viên, mỗi sinh viên nhận một số thứ tự (từ

1 đến 250), và những số này được viết trên một mẩu giấy nhỏ.Toàn bộ những mẩu giấy có

số này được gập lại bỏ vào một cái hộp, lắc kỹ để đảm bảo là ngẫu nhiên Tiếp theo, 50 mẩu giấy được lấy ra và số của chúng được ghi lại Những sinh viên có những số này nằm trong mẫu nghiên cứu

2.1.2 Chọn mẫu hệ thống

Trong mẫu hệ thống những cá thể được chọn theo một khoảng cách đều đặn (ví dụ

cứ 5 đơn vị ta lại lấy 1 đơn vị) từ khung mẫu

Các bước:

- Tất cả các đơn vị mẫu phải ghi một danh sách

- Xác định khoảng cách mẫu k = N/n (N là số ca 1 thể trong quần thể, n là cỡ mẫu)

- Chọn một số ngẫu nhiên (i) giữa 1 và k

Trang 11

- Các cá thể có số thứ tự i + 1k, i + 2k, i + 3k… sẽ được chọn vào mẫu cho đến khi kết thúc danh sách (đủ mẫu)

Ví dụ: Một mẫu hệ thống được chọn từ 1200 sinh viên của một trường học Cỡ mẫu được

ta lấy đủ 100 Sinh viên sẽ được lấy theo các số: 6, 18, 30, 42…

Lấy mẫu hệ thống thường dễ làm và tốn ít thời gian hơn lấy mẫu đơn ngẫu nhiên Tuy nhiên, có những nguy cơ gây sai số vì khoảng cách mẫu có thể trùng với một biến thiên hệ thống trong khung mẫu Ví dụ, nếu chúng ta muốn chọn một mẫu ngẫu nhiên đơn của các ngày để đếm số người tới khám bệnh, một mẫu hệ thống với khoảng cách 7 ngày

có thể sẽ là không phù hợp vì toàn bộ những ngày nghiên cứu sẽ rơi vào cùng một ngày trong tuần Ngày đó có thể là ngày chủ nhật chẳng hạn

2.1.3 Chọn mẫu phân tầng

Nếu việc mẫu nghiên cứu bao gồm những nhóm đại diện của các đơn vị nghiên cứu có những đặc trưng đặc biệt là điều quan trọng (ví dụ: dân sống trong những khu vực thành phố và nông thôn, hoặc những nhóm tuổi khác nhau), khi đó khung mẫu sẽ phải chia thành các nhóm, hoặc các tầng, theo những đặc trưng này Mẫu ngẫu nhiên và hệ thống có kích thước xác định trước sẽ phải thu được từ mỗi nhóm (tầng) Đây được gọi là mẫu phân tầng

Mẫu phân tầng chỉ có thể áp dụng khi chúng ta biết tỷ lệ bao nhiêu của quần thể nghiên cứu phụ thuộc vào mỗi nhóm chúng ta đang quan tâm

Ví dụ: một cuộc điều tra được tiến hành về cấp nước hộ gia đình trong một huyện

có 20.000 hộ gia đình, trong đó 20% số hộ thuộc vùng thành thị và 80% thuộc vùng nông thôn Người ta gợi ý rằng ở vùng thành thị việc tiếp cận nguồn nước sạch nhiều hơn ở vùng nông thôn rất nhiều.Một quyết định được đưa ra là lấy 100 hộ gia đình thành thị (trong số 4000, điều này cho tỷ lệ mẫu là 1/40) và 200 hộ gia đình nông thôn (trong số

Trang 12

16.000, cho tỷ lệ là 1/80).Vì chúng ta biết tỷ lệ mẫu của cả hai tầng, tỷ lệ tiếp cận với nguồn nước sạch của toàn bộ hộ gia đình trong huyện đó có thể tính được

2.1.4 Chọn mẫu chùm (cụm)

Có thể là khó khăn hoặc không thể lấy mẫu ngẫu nhiên đơn của những đơn vị của một quần thể nghiên cứu, hoặc là bởi vì khung mẫu toàn bộ không sẵn có, hoặc là vì những khó khăn khác về mặt hậu cần (như: dân sống quá rải rác, xa nhau trên một khu vực rất rộng, có thể là thời gian quá hạn chế) Tuy nhiên, khi một danh sách các nhóm của các đơn vị nghiên cứu có sẵn (như các làng, các trường học) hoặc có thể dễ dàng thực hiện được, thì một số nhất định của những nhóm này có thể được chọn một cách ngẫu nhiên

Việc chọn những nhóm các đơn vị nghiên cứu (các cụm) thay cho việc chọn cá nhân những đơn vị nghiên cứu được gọi là mẫu cụm Các cụm thường là những đơn vị địa

lý (như: các huyện, các làng) hoặc những đơn vị tổ chức (như: các phòng khám, những nhóm đào tạo)

Ví dụ: Trong một nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành liên quan tới

KHHGĐ ở những xã thuộc vùng nông thôn của một khu vực nhất định, người ta có trong tay danh sách của toàn bộ các làng Sử dụng danh sách này, người ta đã chọn một mẫu ngẫu nhiên các làng và toàn bộ những người trưởng thành trong các làng được chọn đều được phỏng vấn

2.1.5 Mẫu xác suất tỷ lệ với kích thước (Probability Proportional to Size: PPS)

Quần thể đích có nhiều cụm (ví dụ: một huyện có nhiều xã), các cụm này có kích thước không như nhau Nếu dùng phương pháp ngẫu nhiên đơn để chọn một số cụm, rồi chọn một số nhất định các hộ gia đình ở mỗi cụm vào mẫu thì những hộ ở các cụm có kích thước (dân số) nhỏ hơn sẽ có cơ hội nhiều hơn được chọn vào mẫu so với những hộ

ở các cụm có kích thước lớn Một phương pháp tốt hơn là chọn các cụm theo phương pháp: xác suất được chọn tỷ lệ với kích thước của cụm

Quy trình mẫu này như sau:

- Đánh số thứ tự vào các cụm;

- Lập bảng tần số dồn, sẽ có được tổng số dân toàn quần thể: m;

Trang 13

- Ấn định số cụm cần chọn vào mẫu: Nên chọn nhiều cụm để mỗi cụm có ít hộ vào mẫu hơn là chọn ít cụm mà mỗi cụm có nhiều hộ Giả sử ta chọn N cụm:

Tìm khoảng cách mẫu k:

- Chọn một số ngẫu nhiên R từ 1 đến k (dùng bảng số ngẫu nhiên);

- Tìm các cụm vào mẫu: dựa vào tần số dồn: theo tần số dồn, cụm nào có chứa các số R + ik (i từ 0 đến N – 1) là những cụm được chọn vào mẫu

Ví dụ: Một quần thể (một huyện chẳng hạn) có 17 cụm (xã), đã biết dân số của

mỗi cụm (xã) và tổng dân số toàn quần thể (huyện) m = 90.000 Cần chọn vào mẫu n =

Chọn được 10 cụm (xã), mỗi cụm (xã) chọn số hộ của mỗi cụm tương ứng với kích

cỡ của số hộ của cụm vào mẫu (theo bảng trên) Có thể dùng phương pháp ngẫu nhiên đơn, hoặc dùng phương pháp khác (phương pháp EPI chẳng hạn) để chọn các hộ gia đình vào mẫu

2.1.6 Chọn mẫu nhiều giai đoạn

Trong những quần thể rất lớn và rải khắp mẫu có thể được tiến hành theo hai hoặc nhiều giai đoạn Đây thường là trường hợp của những nghiên cứu dựa trên cộng đồng, trong đó người được phỏng vấn thuộc những làng khác nhau, và những làng này đã được chọn từ những khu vực khác nhau

Ví dụ: Trong một nghiên cứu việc sử dụng nhà vệ sinh tại một huyện, người ta đã

đi thăm 150 nhà để phỏng vấn với các thành viên trong các gia đình sống tại đó, cũng như người ta đã quan sát loại và mức độ sạch, bẩn của các nhà vệ sinh Huyện này bao gồm 6 khu và mỗi khu có khoảng từ 6 tới 9 làng

Trang 14

Quy trình mẫu 4 giai đoạn có thể được tiến hành ở đây:

1 Chọn 3 trong số 6 khu bằng cách chọn ngẫu nhiên đơn

2 Đối với mỗi khu, chọn 5 làng bằng cách chọn ngẫu nhiên đơn (ta có 15 làng được chọn)

3 Đối với mỗi làng chọn 10 hộ gia đình Vì việc chọn các hộ gia đình chỉ ở trung tâm làng sẽ gây ra những mẫu sai số, nên người ta khuyên nên áp dụng quy trình mẫu hệ thống sau đây:

- Đi tới trung tâm làng

- Chọn hướng một cách ngẫu nhiên: quay một cái chai dưới đất cho hướng mà cổ chai

đã chỉ ra

- Đi theo hướng cổ chai đã chỉ và vào những nhà thứ 3 hoặc thứ 5 (tùy thuộc vào mức

độ làng đó lớn hay nhỏ) cho tới khi bạn có 10 nhà cần phỏng vấn Trường hợp bạn đã đi hết đường mà chưa có đủ số 10 nhà thì qyau lại trung tâm làng, đi về hướng đối diện với hướng vừa đi cho tới khi có đủ 10 nhà Nếu không có ai tiếp bạn trong nhà đã được chọn, hãy sang ngay nhà bên cạnh

4 Trước đó quyết định ai là người bạn định phỏng vấn (ví dụ: chủ hộ hoặc người già nhất trong nhà đó….)

Quy trình mẫu nhiều giai đoạn được tiến hành theo nhiều giai đoạn và thông thường có từ hai phương pháp mẫu trở lên

2.2 Chọn mẫu không xác suất

2.2.1 Chọn mẫu thuận tiện

Đạt được trên cơ sở các cá thể có sẵn khi thu thập số liệu Ví dụ: tất cả các bệnh nhân đến khám tại phòng khám hằng ngày Phương pháp này không quan tâm đến việc sự lựa chọn có ngẫu nhiên hay không Đây là cách chọn mẫu hay gặp trong nghiên cứu lâm sàng

2.2.2 Chọn mẫu chỉ tiêu

Là phương pháp đảm bảo rằng một số nhất định các đơn vị mẫu từ các loại khác nhau của quần thể nghiên cứu với các tính đặc trưng sẽ có mặt trong mẫu Nó giống như chọn mẫu tầng nhưng không ngẫu nhiên

Trang 15

2.2.3 Chọn mẫu mục đích

Nhà nghiên cứu đã xác định trước các nhóm quan trọng để tiến hành thu thập số liệu Các nhóm khác nhau sẽ có tỷ lệ mẫu khác nhau Đây là cách hay dùng trong các điều tra thăm dò, phỏng vấn sâu

2.3 Chọn mẫu trong thử nghiệm lâm sàng hoặc thực nghiệm

Thường được áp dụng khi tác giả muốn so sánh tác dụng của các phương pháp điều trị khác nhau, hiệu quả của thuốc mới.Trong trường hợp này cần phải có hai nhóm nghiên cứu để so sánh.Khi nghiên cứu này tiến hành trên người, sẽ có rất nhiều vấn đề đạo đức và chọn mẫu Người nghiên cứu phải đảm bảo tính an toàn của can thiệp Mục đích và lợi ích của nghiên cứu cần phải giải thích rõ ràng cho đối tượng được chọn vào nghiên cứu và việc tham gia vào nghiên cứu phải hoàn toàn tự nguyện

3 Các sai số thường gặp trong quá trình chọn mẫu

Đây là sai số hệ thống trong quá trình chọn mẫu dẫn đến sự sai lệch, méo mó trong kết quả nghiên cứu.Các sai lệch này là hậu quả của quá trình chọn mẫu không đúng là cho mẫu thiếu tính đại diện Có các loại sai số thường gặp sau:

4.1.1 Nghiên cứu mô tả

Cỡ mẫu cho việc ước tính tỷ lệ trong quần thể

Ví dụ: Cỡ mẫu cho việc xác định tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi tại xã A Công

thức chung có thể được viết như sau:

Trang 16

Trong đó:

n: mẫu nghiên cứu cần có

p: Tỷ lệ SDD tại một cộng đồng tương tự (ước tính từ một nghiên cứu trước đó hoặc một nghiên cứu thử) Trong trường hợp thông tin này không biết, ta có thể giả sử p = 0,5, khi đó p x (1-p) sẽ lớn nhất và cỡ mẫu cũng tối đa

d: Khoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ từ mẫu và tỷ lệ thật của quần thể Trong trường hợp này được coi là sai số tuyệt đối Thông thường người nghiên cứu thường chọn d=0,05, điều này có ý nghĩa rằng tỷ lệ SDD thực trong quần thể là 5%

α: Mức ý nghĩa thống kê (được quy định bởi nhà nghiên cứu)

: Giá trị Z thu được từ bảng Z tương ứng với giá trị α được chọn:

Với N là cỡ mẫu chưa hiệu chỉnh, P là kích thước của dân số đích và là cỡ mẫu sau khi đã hiệu chỉnh

- Chúng ta cũng nên phải trù liệu cho những số liệu bị mất, những trường hợp từ chối nghiên cứu bằng cách tăng cỡ mẫu

Trang 17

Cỡ mẫu cho việc kiểm định tỷ lệ

√ √

n: Cỡ mẫu nghiên cứu cần có

: Tỷ lệ cần kiểm định

: Tỷ lệ thật trong quần thể

α: Mức ý nghĩa thống kê, là xác suất của việc phạm phải sai lầm loại I (loại bỏ H0 khi

nó đúng) α cũng xác định là 0,1 hoặc 0,05 hoặc 0,01 tương ứng với độ tin cậy là 90%, 95% và 99%

β: Là xác suất của việc phạm phải sai lầm loại II (chấp nhận H0 khi nó sai) 1-β gọi là lực mẫu (sức mạnh của phép kiểm định).Lực mẫu là mong muốn của chúng ta phát hiện

ra sự khác biệt (có ý nghĩa thống kê), nói cách khá chính xác là xác suất có được kết quả nghiên cứu có ý nghĩa.Lực mẫu càng lớn, cỡ mẫu sẽ càng lớn.Thông thường, nhà nghiên cứu thường ấn định lực mẫu 80%, 90%, 95%

và được xác định bằng cách tra bảng

Với β=0,2 (lực mẫu là 80%), =0,86

Với β=0,1 (lực mẫu là 90%), =1,28

Với β=0,05 (lực mẫu là 95%), =1,65

Ví dụ: Giả sử tỷ lệ thành công trong phẫu thuật của một loại tim mạch đã được báo

cáo trong y văn là 70% Một phương pháp mới điều trị nội khoa đang được đề nghị có hiệu quả tương đương.Một bệnh viện không có phương tiện phẫu thuật nên muốn áp dụng phương pháp điều trị mới Muốn 90% khả năng để chứng minh tác dụng tương đương của phác đồ điều trị nội khoa so với phẫu thuật, với độ chính xác là 10%, ở mức tin cậy là 95%, cỡ mẫu là bao nhiêu:

Trang 18

Thế vào công thức:

Nếu =0,8 thì n=200

Nếu =0,6 thì n=233

Do đó, cỡ mẫu cần chọn là 233 bệnh nhân

Trang 19

Bài 4 CÁC LOẠI THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Mục tiêu học tập

1 Liệt kê được 9 loại thiết kế nghiên cứu

2 Xác định được bản chất của các loại thiết kế nghiên cứu

3 Trình bày được những ưu điểm và khuyết điểm của các loại thiết kế nghiên cứu

Nội dung

Thiết kế nghiên cứu dịch tễ học có thể được định nghĩa là “một kế hoạch mô tả chi tiết những bước cơ bản để xác định đối tượng nghiên cứu, phương pháp thu thập, phân tích và lý giải những dữ kiện nhằm mô tả về bệnh trạng hoặc suy diễn về nguyên nhân của bệnh hoặc kết luận về hiệu quả của một biện pháp can thiệp sức khỏe”.Có hai phương pháp dịch tễ học cơ bản trong nghiên cứu sức khỏe:

Bảng 4.1 Phân loại những thiết kế nghiên cứu dịch tễ học Loại

NC

Thiết kế nghiên cứu Chiến lƣợc nghiên cứu Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu quan sát

Nghiên cứu mô tả

Nghiên cứu

tương quan

Mô tả bệnh trạng trên những dân số

Xác định mối liên quan giữa yếu tố nguy cơ và bệnh

Báo cáo một ca Mô tả bệnh trạng trên một ca

cụ thể

Mô tả đặc điểm bệnh trạng của một

ca bệnh cụ thể Hàng loạt ca Mô tả bệnh trạng trên một số ca Mô tả đặc điểm bệnh trạng của

nhiều ca mắc cùng một lúc

Trang 20

Cắt ngang mô tả Mô tả bệnh trạng của những cá

nhân trong một dân số So sánh

số hiện mắc bệnh của những cá nhân trong hai nhóm có và không có phơi nhiễm

Mô tả mô hình bệnh trạng của một dân số

Hình thành giả thuyết nhân quả

Nghiên cứu phân tích

Cắt ngang phân

tích

So sánh số hiện mắc bệnh của những cá nhân trong hai nhóm

có và không có phơi nhiễm

Xác định sự kết hợp nhân quả giữa yếu tố nguyên nhân và bệnh

Bệnh - chứng So sánh tỷ lệ phơi nhiễm trong

Xác định sự kết hợp nhân quả giữa yếu tố nguyên nhân và bệnh

Nghiên cứu can thiệp

Thử nghiệm lâm

sàng

So sánh tỷ suất khỏi bệnh ở những bệnh nhân trong hai nhóm được và không được điều trị với một phác đồ

Xác định hiệu quả của một phác đồ điều trị trên những bệnh nhân được điều trị

Thử nghiệm thực

địa

So sánh tỷ suất mắc bệnh ở hai nhóm người khỏe được và không được áp dụng biện pháp

dự phòng

Xác định hiệu quả của một biện pháp phòng bệnh ở những người khỏe

Thử nghiệm can

thiệp cộng đồng

So sánh tỷ lệ mắc bệnh của hai cộng đồng được và không được

áp dụng biện pháp dự phòng

Xác định hiệu quả của một biện pháp dự phòng bệnh trên cộng đồng

Trang 21

1.1 Nghiên cứu mô tả

1.1.1 Nghiên cứu tương quan

Nghiên cứu tương quan hay còn gọi là nghiên cứu sinh thái Thiết kế nghiên cứu này

sử dụng dữ kiện trên toàn bộ những dân số để so sánh tần số bệnh của những dân số đó trong thời gian hoặc tần số bệnh của một dân số vào những thời điểm khác nhau.Nghiên cứu tương quan thường được sử dụng để hình thành giả thuyết về mối liên quan giữa hai biến số, một biến số độc lập (nguyên nhân hay yếu tố phơi nhiễm) và một biến số phụ thuộc (hậu quả hay bệnh)

Ví dụ: khi so sánh lượng thịt ăn vào trung bình hằng ngày cho một đầu người và tỷ

lệ ung thư đại tràng ở phụ nữ của các nước trên thế giới, kết quả cho thấy tỷ lệ ung thư đại tràng ngày càng tăng khi lượng thịt ăn vào càng cao Một giả thuyết có thể được hình thành từ kết quả nghiên cứu, đó là ăn nhiều thịt sẽ tăng nguy cơ ung thư đại tràng ở phụ

nữ

Báo cáo một ca

Báo cáo một ca là một nghiên cứu mô tả những đặc tính bệnh trạng của một bệnh xảy ra trên một đối tượng nghiên cứu duy nhất Ví dụ: những bệnh nhi sốt xuất huyết dengue nặng thường chết trong bệnh cảnh trụy tim mạch Trong một mùa dịch, chúng ta gặp một trường hợp sốt xuất huyết dengue tử vong vì suy hô hấp.Đây là một trường hợp đặc biệt và hiếm gặp

Nghiên cứu hàng loạt ca

Báo cáo hàng loạt ca mô tả một bệnh lý xảy ra trên một nhóm người

Ví dụ: nhận xét đặc điểm lâm sang của 80 trường hợp viêm loét dạ dày tá tràng nhập viện điều trị tại khoa Nội A, bệnh viện X trong năm 2014 là một báo cáo hang loạt ca mô

tả những đặc điểm lâm sàng của viêm loét dạ dày tá tràng xảy ra ở 80 bệnh nhân có những thuộc tính riêng về tuổi, giới,… Nghiên cứu này không nhằm chứng minh một giả thuyết nào và cũng không so sánh với một nhóm nào khác

Báo cáo hàng loạt ca có thể giúp chúng ta phát hiện dịch hoặc sự xuất hiện của một bệnh mới

Ví dụ: trong khoảng thời gian 6 tháng từ 1980 đến 1981, tại 3 bệnh viện tại Los Angeles có 5 thanh niên khỏe mạnh đồng tính luyến ái được chẩn đoán là viêm phổi do

Trang 22

Pneumocystis carinii Vì bệnh này thường xảy ra ở những người lớn tuổi hơn, có hệ thống miễn dịch bị ức chế, do đó những trường hợp bất thường này gợi ý rằng 5 bệnh nhân này

đã mắc một bệnh gì trước đó, là một bệnh mà sau này được biết tên là “Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải” (AIDS) Hơn nữa, tất cả 5 bệnh nhân là những người đồng tính luyến ái, khiến chúng ta có thể nghĩ đến một vài hành vi tình dục nào đó có liên quan đến việc mắc bệnh

Nghiên cứu cắt ngang

Loại thiết kế nghiên cứu này sử dụng những dữ kiện được thu thập trên từng cá nhân Bệnh trạng (có hoặc không có bệnh) và sự hiện diện của yếu tố có liên quan đến bệnh (có hoặc không có phơi nhiễm) được ghi nhận vào cùng một thời điểm khảo sát Nghiên cứu cắt ngang được sử dụng như một nghiên cứu mô tả để ước lượng tỷ suất hiện mắc của một bệnh trong dân số hoặc so sánh tỷ lệ hiện mắc của bệnh trong những nhóm khác nhau của dân số

Nghiên cứu phân tích

Trong những nghiên cứu phân tích, người nghiên cứu chọn hai nhóm người để so sánh nguy cơ mắc bệnh.Nếu những người có phơi nhiễm với một yếu tố nào đó có nguy

cơ mắc bệnh nhiều hơn (hoặc ít hơn) những người không có phơi nhiễm thì kết luận về một mối liên hệ nhân – quả giữa yếu tố phơi nhiễm và bệnh sẽ được xác lập Vì bản chất của nghiên cứu phân tích là nghiên cứu quan sát, do đó người nghiên cứu chỉ quan sát để tìm bệnh (hoặc yếu tố phơi nhiễm) trên những người có/không phơi nhiễm (hoặc có/không bệnh) Nghiên cứu phân tích luôn luôn cần một nhóm so sánh, đó là nhóm những người không có bệnh để so sánh với nhóm bệnh hoặc nhóm những người không có phơi nhiễm với một yếu tố nguy cơ để so sánh với nhóm có phơi nhiễm

Nghiên cứu bệnh chứng

Trong nghiên cứu bệnh chứng, một nhóm những người có bệnh (nhóm bệnh) và một nhóm người không có bệnh (nhóm chứng) được chọn để quan sát Người nghiên cứu sẽ truy ngược về trong quá khứ để thu thập thông tin về sự phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ của những đối tượng nghiên cứu và sau đó, so sánh tỷ lệ phơi nhiễm trong hai nhóm với nhau Ví dụ: để tìm mối liên hệ giữa việc sử dụng estrogen và ung thư nội mạc tử cung, một nhóm 317 phụ nữ bị ung thư nội mạc tử cung và một nhóm 317 phụ nữ không có ung

Trang 23

thư nội mạc tử cung được chọn để so sánh Tiền sử về sử dụng estrogen được ghi nhận trên cả hai nhóm Phân tích so sánh tỷ lệ sử dụng estrogen ở những phụ nữ bị ung thư nội mạc tử cung và những phụ nữ không bị ung thư nội mạc tử cung cho thấy phụ nữ sử dụng estrogen có nguy cơ bị ung thư nội mạc tử cung 4,5 lần so với những phụ nữ không sử dụng estrogen

Nghiên cứu đoàn hệ

Trong nghiên cứu đoàn hệ, hai nhóm đối tượng được chọn dựa trên tiêu chí có hoặc không có phơi nhiễm Những đối tượng trong hai nhóm sẽ được theo dõi trong một thời khoảng để xem có hoặc không có bệnh mới khởi phát Thời gian theo dõi cần phải đủ để bệnh có thể phát triển tình từ thời điểm đối tượng có phơi nhiễm

Nếu tỷ suất mới mắc trong nhóm có phơi nhiễm là cao hơn (hoặc thấp hơn) so với tỷ suất này trong nhóm không phơi nhiễm, thì mối liên hệ nhân quả giữa yếu tố nguy cơ và bệnh sẽ được xác lập.Có hai loại nghiên cứu đoàn hệ là đoàn hệ tiến cứu và đoàn hệ hồi cứu

Trình tự thời gian của những loại thiết kế nghiên cứu quan sát phân tích

PN

Bệnh chứng Đoàn hệ hồi cứu

Đoàn hệ tiến cứu

Trang 24

2 Nghiên cứu can thiệp

Bản chất của nghiên cứu can thiệp là một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu Đối tượng nghiên cứu được chia ngẫu nhiên thành hai nhóm, một nhóm được can thiệp (có nghĩa là được thử thuốc hoặc áp dụng một biện pháp can thiệp sức khỏe; tương đương với nhóm phơi nhiễm trong nghiên cứu đoàn hệ), và một nhóm không được can thiệp (có nghĩa là không được thử thuốc hoặc không được áp dụng một biện pháp can thiệp sức khỏe; tương đương với nhóm không phơi nhiễm trong nghiên cứu đoàn hệ) Những đối tượng trong hia nhóm sẽ được theo dõi trong một thời gian đủ để tác dụng xuất hiện

- Thử nghiệm lâm sàng

- Thử nghiệm thực địa

- Thử nghiệm can thiệp cộng đồng

Trang 25

Bài 5 PHƯƠNG PHÁP VÀ CÔNG CỤ THU THẬP SỐ LIỆU

Mục tiêu học tập

1 Trình bày được các phương pháp và kỹ thuật thu thập số liệu

2 Trình bày được các bước tiến hành thiết kế bộ câu hỏi

3 Trình bày được các loại sai lệch trong quá trình thu thập số liệu, cách khắc phục

Nội dung học tập

1 Các phương pháp và kỹ thuật thu thập số liệu

Các kỹ thuật thu thập số liệu cho phép ta thu thập thông tin một cách hệ thống về các đối tượng nghiên cứu của chúng ta (người, vật thể và hiện tượng) và về các bối cảnh của đối tượng nghiên cứu Các kỹ thuật thu thập số liệu khác nhau có thể được sử dụng là:

- Sử dụng các thông tin sẵn có

- Quan sát

- Phỏng vấn trực tiếp

- Điền tra bằng bộ câu hỏi in sẵn

- Thảo luận nhóm trọng tâm

- Các kỹ thuật thu thập số liệu khác

1.1 Sử dụng các thông tin sẵn có

Chúng ta luôn có sẵn một khối lượng lớn các thông tin do người khác thu thập, mặc dù các thông tin này có thể không nhất thiết là đã được phân tích hay công bố Xác định các nguồn số liệu và thu thập các thông tin đó là một điểm khởi đầu tốt cho bất kỳ một cố gắng thu thập số liệu nào

1.2 Quan sát

Quan sát là một kỹ thuật bao gồm việc lựa chọn, quan sát và ghi chép một cách có

hệ thống về các hành vi và đặc tính của cơ thể sống, vật thể hay hiện tượng

Quan sát hành vi của con người là kỹ thuật thu thập số liệu được sử dụng phổ biến nhất Nó có thể được tiến hành theo các cách khác nhau:

- Quan sát có tham gia: Quan sát viên tham dự vào trong bối cảnh quan sát

- Quan sát không tham gia: Quan sát viên quan sát tình huống một cách công khai hay

kín đáo, nhưng không tham dự vào tình huống quan sát

Trang 26

1.3 Phỏng vấn

Phỏng vấn là một kỹ thuật thu thập số liệu thông qua hỏi đối tượng nghiên cứu Có thể hỏi từng cá nhân hay hỏi cả nhóm Các câu trả lời cho các câu hỏi trong quá trình phỏng vấn được ghi chép lại (trong quá trình phỏng vấn hoặc ngay sau khi kết thúc phỏng vấn) hoặc dùng máy ghi âm thu lại các câu trả lời

1.4 Điều tra bằng bộ câu hỏi in sẵn

Một bộ câu hỏi được in sẵn (còn gọi là bộ câu hỏi tự điền) là một công cụ thu thập

số liệu trong đó các câu hỏi được viết sẵn được đưa tới đối tượng nghiên cứu và họ trả lời bằng cách tự điền vào Một bộ câu hỏi viết có thể được sử dụng theo các cách khác nhau,

ví dụ:

- Gửi các bộ câu hỏi qua đường bưu điện có các chỉ dẫn rõ ràng cách trả lời các câu hỏi

và đề nghị gửi lại bộ câu hỏi đã được điền qua đường bưu điện;

- Tập trung tất cả hay một phần các đối tượng phỏng vấn tại một nơi và vào trong cùng một thời điểm, đọc hay viết hướng dẫn và để đối tượng nghiên cứu điền đầy đủ vào các

bộ câu hỏi; hay

- Phát tận tay các bộ câu hỏi cho người trả lời và thu lại sau đó

1.5 Thảo luận nhóm trọng tâm

Thảo luận nhóm trọng tâm (Focus Group Discussion – FGD) là một thảo luận nhóm gồm 6 – 12 người có một người hướng dẫn, trong quá trình thảo luận các thành viên có thể tự do phát biểu ý kiến của mình về một chủ đề nhất định

Mục đích của thảo luận nhóm trọng tâm là để thu được các thông tin sâu về các khái niệm, nhận thức và các ý kiến của nhóm Mục đích của thảo luân nhóm là thu được nhiều thông tin hơn là các câu trả lời cho các câu hỏi Ý tưởng để các thành viên trong nhóm tự thảo luận với nhau về chủ đề nêu ra

2 Bộ câu hỏi phỏng vấn

2.1 Các loại câu hỏi

2.1.1 Câu hỏi mở

Các câu hỏi mở cho phép đối tượng nghiên cứu được trả lời tự do theo ngôn từ của

họ Người trả lời hay đối tượng nghiên cứu không được cung cấp bất kỳ một câu trả lời nào để lựa chọn

Trang 27

Những câu hỏi loại này rất có ích cho việc thu thập thông tin trên các vấn đề:

- Các sự kiện mà nhà nghiên cứu không quen thuộc;

- Các ý kiến, thái độ và các gợi ý của người cung cấp thông tin, hay

Khi thiết kế các câu hỏi đóng bạn nên cố gắng:

- Đưa ra được một danh mục các lựa chọn mang tính chất toàn diện và tương khắc (loại trừ lẫn nhau), và

- Giữ làm sao cho số các lựa chọn càng ít càng tốt

Sử dụng các câu hỏi đóng rất có lợi trong trường hợp các khả năng trả lời có thể có đều

đã được biết

Ví dụ:

Tình trạng hôn nhân của bạn như thế nào?

1 Không/Chưa lập gia đình

2 Đã kết hôn/sống cùng với nhau

3 Ly thân, ly hôn, ở góa

Đã bao giờ bạn đi đến khám bệnh ở trạm y tế xã chưa?

1 Có

2 Không

Câu hỏi đóng cũng có thể sử dụng trong trường hợp nếu ta chỉ quan tâm đến một

số khía cạnh nào đó của vấn đề và không muốn làm mất thời gian của điều tra viên cũng như của đối tượng nghiên cứu qua việc thu thập các thông tin không cần thiết Ví dụ, một nhà nghiên cứu quan tâm đến thành phần đạm trong bữa ăn gia đình có thể hỏi:

Trang 28

Ngày hôm qua bạn đã ăn những loại thức ăn nào dưới đây? (khoanh tròn vào chữ “Có” hoặc “Không” cho mỗi loại thức ăn)

2.1.3 Câu hỏi mở ở cuối

Là dạng phối hợp của hai loại trên nhằm hạn chế các nhược điểm của chúng

Ví dụ: Gia đình anh/chị thường sửu dụng các nguồn nước nào dưới đây để ăn, uống (khoanh tròn các số thích hợp)

1 Nước máy

2 Nước mưa

3 Nước giếng khơi

4 Nước sông, suối

5 Nguồn khác (ghi rõ):………

2.1.4 Câu hỏi đo lường thái độ

Câu hỏi đo lường thái độ dựa trên thang đo Likert và câu hỏi loại buộc lựa chọn do một nhà tâm lí học người Mỹ tên là Likert phát minh

Ưu điểm chính:

- Làm dễ dàng hơn việc xây dựng câu hỏi để xác định thái độ của người dân

- Thuận tiện trong việc trả lời, phân tích câu hỏi

- Cho phép phân biệt nhiều mức độ khác nhau của thái độ

Ví dụ:

Câu hỏi đo lường thái độ theo Likert: Ý kiến của ông/bà như thế nào với câu nói

“Bác sĩ của trạm y tế luôn luôn giải thích việc điều trị cho tôi” (khoanh một lựa chọn)

Trang 29

Do người trả lời chọn câu 3 “Không ý kiến”, bề sau khó phân tích nếu chúng ta chia thành 2 nhóm Vì vậy, một số nhà nghiên cứu sử dụng loại câu hỏi buộc lựa chọn

2.2 Các bước thiết kế bộ câu hỏi

Bước 1: Quyết định những thành phần chính trong bộ câu hỏi

- Phần hành chính

- Thông tin kiến thức về bệnh SXH

- Thông tin thực hành của người dân về bệnh SXH

- Thông tin về bệnh SXH của trẻ dưới 15 tuổi trong 2 năm qua

Bước 2: Lựa chọn loại câu hỏi và xây dựng một hay nhiều câu hỏi giúp cho việc cung cấp

các thông tin cần thiết cho từng phần chính

Ví dụ: Phần hành chính có các câu hỏi:

- Tên xã/phường, ấp/khu vực khảo sát

- Số thứ tự của hộ

- Họ tên người được phỏng vấn…

Bước 3: Tạo thứ tự cho các câu hỏi: Thiết kế lịch trình phỏng vấn hay bộ câu hỏi của bạn

làm sao cho dễ dàng sử dụng

Điểm chú ý:

- Thứ tự của các câu hỏi phải đảm bảo tính logic cho người trả lời và tính tự nhiên có thể được đối với cuộc bàn luận, thậm chí kể cả ở trong các cuộc phỏng vấn mang đậm tính cấu trúc từ trước

- Hãy bắt đầu bằng các câu hỏi thú vị không mang tính mâu thuẫn và đối kháng (nên là các câu hỏi mở) mà trực tiếp liên quan đến chủ đề nghiên cứu Cách bắt đầu như vậy cần làm sao giúp khơi dậy được mối quan tâm của người cung cấp thông tin và làm giảm đi

Trang 30

mối nghi ngờ liên quan đến mục đích của cuộc phỏng vấn (ví dụ như mục đích của cuộc phỏng vấn là cung cấp các thông tin sử dụng vào việc thu thuế)

- Sắp xếp các câu hỏi nhạy cảm càng về cuối của cuộc phỏng vấn càng tốt (ví dụ các câu hỏi về thu thập, các vấn đề chính trị, hành vi tình dục hay những bệnh mà gắn liền họ với các mặc cảm)

- Hãy sử dụng ngôn từ đơn giản và đời thường

- Hãy làm sao để bộ câu hỏi của bạn càng ngắn càng tốt

Bước 4: Mã hóa các thông tin từ câu hỏi

Các thông tin cần phải được mã hóa để dễ dàng cho quá trình nhập và phân tích sau này

5 Trung cấp, đại học, sau đại học

Biến định lượng (biến liên tục): Nên để 1 khoảng trống để ghi vào

Ví dụ: Anh/chị bao nhiêu tuổi? tuổi

Điểm chú ý: Khi kết thúc cấu trúc bộ câu hỏi, cần phải đảm bảo rằng:

- Mỗi bộ câu hỏi phải có tiêu đề và khoảng trống để điền số, ngày và địa điểm tiến hành phỏng vấn và nếu như theo yêu cầu, tên người cung cấp thông tin Bạn có thể đưa cả tên điều tra viên để làm dễ dàng hơn việc kiểm tra chất lượng

- Cách trình bày, bố trí làm sao để các câu hỏi có liên quan đến nhau phải ở cùng trên một trang Nếu như bộ câu hỏi quá dài thì ta nên đánh tiêu đề nhỏ cho mỗi nhóm câu hỏi nhỏ

- Phải có đủ chỗ để điền câu trả lời cho các câu hỏi mở

Trang 31

- Các hộp dành cho câu trả lời được phân loại trước phải được sắp đặt theo một trình tự nhất định (ví dụ ở nữa bên phải của trang giấy)

- Nếu như bạn dùng máy vi tính thì lề bên phải của trang phải được dành cho các hộp (ô) chứa mã của bộ câu hỏi khi đưa vào máy

Bước 5: Dịch thuật

Nếu như phỏng vấn được thực hiện dưới một hay nhiều tiếng địa phương khác nhau thì bộ câu hỏi phải được dịch ra các thứ tiếng đó và các cách tiến hành hỏi các câu hỏi cũng phải được chuẩn hóa

Sau khi dịch xong bạn phải tiến hành dịch ngược lại bộ câu hỏi sang ngôn ngữ gốc

mà bộ câu hỏi đã được dịch từ đầu Sau đó bạn so sánh giữa hai bản để tìm sự khác biệt

và quyết định việc cấu trúc lại câu liên quan đến các khái niệm khó hiểu trong bộ câu hỏi

Bước 6: Thử nghiệm và hoàn thiện bộ câu hỏi

Sau khi thiết kế xong bộ câu hỏi cần thiết phải tiến hành thử nghiệm (phỏng vấn thử).Đối tượng thử nghiệm nên chọn là đối tượng nghiên cứu.Mục đích của thử nghiệm

bộ câu hỏi là làm cho bộ câu hỏi càng hoàn chỉnh trước khi đem đi phỏng vấn chính thức

3 Các ví dụ về công cụ thu thập số liệu

A PHẦN THÔNG TIN CHUNG

Họ tên người được phỏng vấn: Năm sinh: Địa chỉ:

Số điện thoại liên lạc (nếu có):

A1 Cô/ chị thuộc dân tộc

Trang 32

giáo nào không? 2 Thiên chúa giáo

A6 Hiện tại Cô/chị có

mấy con rồi?

Ngày đăng: 23/10/2021, 14:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm