1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu tham khảo Chăm sóc sức khỏe tâm thần (Dành cho đào tạo Điều dưỡng trình độ cao đẳng)

56 28 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 574,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu tham khảo Chăm sóc sức khỏe tâm thần (Dành cho đào tạo Điều dưỡng trình độ cao đẳng) cung cấp cho người học những kiến thức như: Triệu chứng học bệnh tâm thần; Chăm sóc bệnh nhân tâm thần phân liệt; Chăm sóc bệnh nhân rối loạn tâm thần; Chăm sóc bệnh nhân động kinh; Theo dõi - Chăm sóc các trường hợp cấp cứu trong tâm thần; Phụ giúp thầy thuốc khám và làm liệu pháp chữa bệnh tâm thần;...Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

Tài liệu tham khảo CHAM SOC SUC KHOE TAM THAN

(Dành cho đào tạo Điêu dưỡng trình độ cao dang)

Lưu hành nội bộ Năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC

Trang Bai 1 Triệu chứng học bệnh tâm thân I

Bai 2 Chăm sóc bệnh nhân tâm thần phân liệt 21

Bai 3 Chăm sóc bệnh nhân rồi loạn tâm thần 25

Bài 4 Chăm sóc bệnh nhân động kinh 33

Bài 5 Theo dõi - Chăm sóc các trường hợp cấp cứu trong tâm thân 37

Bài 6 Phụ giúp thầy thuốc khám và làm liệu pháp chữa bệnh tâm thân 42

Bài 7 Chăm sóc sức khỏe tâm thân tại cộng động 47

Tài liệu tham khảO cà cà cà cà tee nắn HH HH KH nh sa 34

Trang 3

Bài 1 TRIỆU CHỨNG HỌC BỆNH TÂM THAN Mục tiêu

1.Trình bày được khải niệm và triệu chứng rồi loạn cảm giác

2.Trinh bay được khải niệm và triệu chứng ao giác

3 Trình bày được khải niệm và triệu chứng rồi loạn tư duy

Noi dung

1.ROI LOAN CAM GIAC TRI GIAC

1.1 Khai niém chung

Nhận thức của con người là một quá trình đi từ nhận thức cảm tính đến lý tính, bao gồm cảm giác, tri giác, biểu tượng, tư duy, suy luận, phán đoán Do đó khi tiến hành nghiên cứu nhận thức không thể tách rời riêng rẽ từng phần của cả một quá trình thống nhất nói trên

Trong Tâm lý y học và Tâm thần học người ta chia quá trình nhận thức thống nhất

ra từng phần đề nghiên cứu cho thuận tiện và đơn giản, điều đó chưa hoàn toàn đúng đắn

Vì vậy các khái niệm riêng lẻ về cảm giác, tri giác, tư duy và nghiên cứu riêng biệt về các quá trình bệnh lý của chúng cũng chỉ là các khái niệm hết sức tương đối Nhưng ở một chừng mực nảo đó, các nghiên cứu trên đã phản ánh được những nét cơ bản của quá trình

nhận thức

Cảm giác là sự phản ánh vào ý thức con người, các thuộc tính riêng lẻ của sự vật

hiện tượng khách quan đang trực tiếp tác động vào các giác quan Ví dụ: cảm giác mâu

sắc, mùi vị, âm thanh

Tri giác là sự phản ánh vào ý thức con người một sự vật khách quan thống nhất,

trọn vẹn, là sự phản ánh cao hơn cảm giác

Cảm giác va tri giác là đều là sự phản ánh trực tiếp, cụ thê các thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng khách quan Cảm giác thì phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ còn tri

giác thì phản ánh tổng thể các thuộc tính đó

1.2 Rối loạn cảm giác

1.2.1 Tăng cảm giác (hyperesthesia):

Trang 4

Tăng cảm giác là tăng khả năng thụ cảm với những kích thích tự nhiên (ngưỡng kích thích hạ thấp) mà trong trạng thái bình thường không nhận thấy ánh sáng bình

thường cũng làm cho người bệnh hoa mắt, màu sắc của các vật xung quanh trở nên rực rỡ

khác thường Những tiếng động làm inh tai, tiếng đập cửa như súng nỗ Các mùi trở nên

nông nặc, có tính chất kích thích,

Hiện tượng tăng cảm giác thường gặp trong trạng thái quá mệt mỏi ở người bình

thường, trạng thái suy kiệt nặng, hội chứng suy nhược thần kinh, trong một số bệnh cơ thể cấp tính và các biểu hiện ban đầu của một số bệnh loạn tâm than cấp tính Sự phát

triển này đi trước một số trạng thái mù mờ ý thức

1.2.2 Giảm cảm giác (hypoesthesia):

Giảm cảm giác là giảm khả năng thụ cảm với những kích thích tự nhiên (nói cách khác là ngưỡng kích thích tăng lên)

Tất cả mọi sự vật người bệnh tiếp thu một cách lờ mờ, không rõ rệt, xa xăm như

thể nhìn qua một màn sương mù, mờ mờ ảo ảo không rõ hình thù

Âm thanh nghe mờ nhạt, thiếu sự cộng hưởng, tiếng nói của những người xung quanh trở nên không có bản sắc và không rõ của ai,

Thường gặp trong trạng thái trầm cảm và trong tốn thương đôi thị

1.2.3 Loan cam giac ban thé, loạn nội cảm giác (cenestopathia):

Loạn cảm giác bản thể là những cảm giác rất đa dạng, rất lạ lùng và khó tả, rất khó

chịu và nặng nề trong các nội tạng Người bệnh trở nên gò bó, nóng ran, đẻ nén, đau xé,

trào ra, đảo lộn, ngứa ngáy, mà không xác định được nguyên nhân

Chúng khác với tăng cảm giác xảy ra do kích thích bệnh lý của dưới vỏ khuếch tán lên vỏ não do tăng cường các xung động từ những đầu ngoại biên của các giác quan phân

tích

Khác với giảm cảm giác là do sự hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất bị suy

yếu trong khi còn bảo tồn được tối đa hệ thống tín hiệu thứ hai Trong khi đó loạn cam

giác bản thể là do sự ức chế hệ thống nội thụ cảm có tác dụng áp đảo vả điều chỉnh của

cơ quan ngoại thụ cảm

Loạn cảm giác bản thể thường gặp trong các hội chứng nghi bệnh, trong các trạng

thái trâm cảm.

Trang 5

1.3 Rối loạn tri giác

1.3.1 Áo tưởng (tri giác nhầm - illusion):

Ảo tưởng là tri giác sai lệch về một sự vật hay một hiện tượng khách quan (sự vật có thật

ở bên ngoài) Thí dụ: " Trông gà hoá cuốc"

Có thể gặp ảo tưởng ở người bình thường trong các điều kiện đặc biệt làm cho quá trình tri giác bị trở ngại như: ánh sáng lờ mờ, chú ý không đầy đủ, quá mệt nhọc, quá lo lăng,

sợ hãi Ngoài ra, ảo tưởng cũng còn là một hiện tượng hay gặp trong các trạng thái bệnh

ly tam than

Các loại ao tưởng:

- Ảo tưởng cam xtc (affective illusion):

- Ảo tưởng lời nói (verbal illusion):

- Ảo ảnh kỳ lạ (ảo tưởng kỳ lạ - pareidolic illsion):

1.3.2 Áo giác (hallueination):

Ao giác là tri giác về một sự vật không hè có trong thực tại khách quan Áo giác là tri giác không có đối tượng

Có nhiều cách phân loại ảo giác khác nhau

- Phân chia theo giác quan: ảo thị, ảo thính, ảo xúc giác, ảo khứu giác và ảo giác nội tạng

- Phân chia theo kết câu: ảo giác thô sơ và ảo giác phức tạp

- Phân chia theo nhận thức và thái độ của bệnh nhân đối với ảo giác: ảo giác thật

(hallucination) và ảo giác g1ả (pseudo - hallucination)

1.3.2.1 Áo giác thật (hallucination):

* Áo thính giác (áo thanh):

- Ảo thanh thô sơ (akoasm): Tiếng ve kêu, tiếng ù, tiếng súng, tiếng chuông

- Áo thanh rõ rệt (phonema): Bệnh nhân nghe thấy các tiếng nói rõ rệt, nam hay nữ, tuổi

nào, âm sắc cường độ ra sao, tiếng quen hoặc lạ

- Nội dung của ảo thanh: rất đa dạng, có thể bàng quan, đe doạ báo trước một điều dữ,

chế nhạo, cảnh báo trước, tiên đoán Tiếng nói có thể là cùng một tiếng, có thể phát ra những tiếng riêng" Tiếng gọi" hay nói một mình, nói tay đôi, hay nhiều tiếng nói về những hành động trong dĩ vãng, v.v

Trang 6

-Tiếng nói có thể trực tiếp với bệnh nhân, hoặc nhiều tiếng nói với nhau về bệnh nhân,

tiếng nói có thể bình phẩm (ảo thanh bình phẩm) hoặc ra mệnh lệnh bắt buộc bệnh nhân

phải thực hiện (ảo thanh ra lệnh) thường là hành động nguy hiểm như nhảy nhà lầu, lao vào ô tô, giết người,

Có thể gặp ảo thanh trong nhiều loại bệnh tâm thần khác nhau

* Áo thị giác:

-_ Áo thị giác hay gặp trong lâm sảng, chỉ sau ảo thanh và thường kết hợp với ảo thanh

- Áo thị thường xuất hiện khi quá trình tri giác bị trở ngại như rối loạn ý thức (mê sảng,

mê mộng)

- Nội dung ảo thị rất đa dạng: hình ảnh có thê rõ rệt hoặc mơ hỗ; có thể là hình ảnh tĩnh

hoặc động, thường xuyên thay đổi dưới nhiều hình thức đa dạng như trên sân khấu hoặc màn ảnh (ảo giác giống sân khẩu); có thể phát sinh những hình ảnh đơn độc một sự vật,

một bộ phận của cơ thé (ao giác đơn dạng); có thể một đám đông, một bầy thú dữ, những

sinh vật kỳ quái (ảo giác đa dạng); hình ảnh có thể quá to (ảo thị không lồ-macroptic hallucination) hoặc quá nhỏ (ảo thi ti hon-microptic hallucination)

- Thái độ của bệnh nhân có thể say mê, sợ hãi, khiếp đảm hoặc bàng quan trước ảo thỊ

- Phát sinh hình ảnh ảo thị thường là bên ngoài trường thị giác (ảo giác ngoài thị trường) -Áo thị giác có thể gặp trong nhiều bệnh rối loạn tâm thần khác nhau: bệnh rối loạn tâm thân cấp tính, nhiễm độc, trạng thái cai rượu, TTPL thể căng trương lực

* Áo xúc giác:

- Ít gặp hơn ảo thanh và ảo thị giác

- Nội dung đa dạng: có thể là các cảm giác ngoài da như bỏng buốt, kim châm, côn trùng

bò, có thể là các cảm giác bất thường trong nội tạng

-Thường gặp trong nhiễm độc hoặc hội chứng cai rượu, thuốc phiện; trong hoang tưởng

nghi bệnh

* Các loại ao khứu và ao vi giác:

- Rat it gặp trong thực tiễn lâm sàng và thường hay đi đôi với nhau như mui ban thiu, héi thối, ghê tởm

- Thường gặp trong các loạn tốn thương thực thể não theo định khu khác nhau (u não,

nhiễm độc ).

Trang 7

* Áo giác nội tạng (visceral hallucination):

- Nội dung rat phức tạp: bệnh nhân thay cac sinh vat, di vat trong co thé nhu dia 6 trong

tai, ran trong bụng, ếch trong dạ dây

- Khó phân biệt ảo giác nội tạng với loạn cảm giác bản thể Cảm giác bản thể là những cảm giác nặng nề không cụ thể, còn ảo giác bao giờ cũng cụ thể và phát sinh ở một nơi nào trên cơ thể

* Áo giác đặc biỆtI:

- Ao thanh cơ năng (functional hallucination): xuất hiện đồng thời với âm thanh có thực bên ngoài cho đến khi nó hết tác động Rất dễ nhằm với ảo tưởng ảo tưởng xuất hiện khi

có tác nhân kích thích thực tế Trái với ảo tưởng sự phản ánh đối tượng có thật trong ảo

giác cơ năng không hoà lẫn với các biểu tượng bệnh tật mà tôn tại song song với chúng + Cảm giác biến hình (metamorphopsia): là những rối loạn tâm thần giác quan, những cảm giác sai lâm về độ lớn và hình dạng của các vật trong không gian Những cảm giác sai lầm về các vật này thường kèm theo sự biến đổi tri giác về khoảng cách

+ Ao giác lúc giở thức giở ngủ (hypnogical hallueination): là những hình ảnh phát sinh không theo ý muốn trước lúc ngủ, khi nhằm mắt và ở chỗ tôi Hình ảnh rất đa dạng lạ lùng, kỳ quái không giống các đối tượng thực tế

1.3.2.2 Áo giác giá (pseudo - hallucination):

.* Áo thanh giả:

+ Áo thanh giả là dạng ảo giác giả hay gặp nhất trong lâm sàng

+ Nội dung của ảo thanh giả rất đa dạng, đáng chú ý là có bệnh nhân thấy như tư duy

mình vang lên thành tiếng, bị bộc lộ

+ Áo thanh giả là bộ phận chính của hội chứng tâm thần tự động và là tiêu chuẩn hàng dau dé chan đoán bệnh Tâm thần phân liệt (TTPL) theo ICD-10E

* Áo giác giả vận động:

Bệnh nhân thay hành động của mình như được làm sẵn, có người nào đó mượn tay chân mình làm một hành động gì đó, mượn miệng mình nói liên tục mà bản thân họ không kiềm chế được

* Các loại ao giác giả khác:

Ít gặp trong lâm sảng tâm thân

Trang 8

1.3.3 Các rồi loạn tâm lý - giác quan (psychosensorial disorders):

Rối loạn tâm lý giác quan gần giống tri giác nhằm nhưng chúng bên vững và dai dắng hơn Người ta chia rỗi loạn tâm lý giác quan thành hai loại

Trị giác sai thực tại (derealization):

- La tri giac sai lầm về một vải thuộc tính vốn có nào đó, ví dụ như: kích thước, trọng lượng, mau sắc của thực tại khách quan

- Tri giác loạn hình (dysmorphopsia): hình ảnh về sự vật siêu vẹo xoắn vặn

- Tri giác biễn hình (metamorphopsia): sự vật to ra (macropsia) hay sự vật nhỏ lại

(micropsia)

Giải thể nhân cách (depersonalization):

- Là rối loạn sơ đồ cơ thể Bệnh nhân tri giác sai về vị trí cơ thể mình: tay dải ra, mũi ở gáy, không có tim, cơ thể nhẹ như bông

- Các rỗi loạn tâm lý giác quan thường gặp trong tốn thương thực thể não, trong nhiễm

độc các chất độc tâm thần, ma túy

2 ROI LOAN TU DUY

Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh gián tiếp và khái quát các thuộc tính, các mối

liên hệ bản chất của sự vật, hiện tượng Khác với các quá trình nhận thức cảm tính là cảm

giác và tri giác, tư duy phản ánh những mối liên hệ bên trong mang tính quy luật của các

sự vật khách quan Do đó có thể nói răng tư duy là một quá trình nhận thức lý tính

Đặc điểm của tư duy là gắn liền với ngôn ngữ Ngôn ngữ là phương tiện để diễn đạt tư duy Vì vậy, trong lâm sang Tam than học người ta nghiên cứu rối loạn tư duy thông qua nghiên cứu những biểu hiện về ngôn ngữ

2.1 Các rồi loạn hình thức tư duy

Rối loạn hình thức biểu hiện tư duy được phân chia theo kết cấu ngôn ngữ, nhịp điệu ngôn ngữ, theo hình thức phát ngôn và theo ý nghĩa, mục đích của ngôn ngữ

2.1.1 Theo nhịp điệu ngôn ngữ

2.1.1.1 Nhịp nhanh:

- Tự duy phi tán: liên tưởng mau lẹ, nội dung nông cạn, chủ để luôn thay đổi, gặp trong trạng thái hưng cảm

Trang 9

- Tự duy dồn đập: ý nghĩ các loại dồn dập đến với bệnh nhân, ngoài ý muốn của bệnh nhân làm họ rất khó chịu (gặp trong bệnh TTPL, đây là hình thức thô sơ của hội chứng tư duy tự động)

- Nói hồ lốn: nói luôn mồm, ý tưởng linh tỉnh, nội dung vô nghĩa (gặp ở bệnh nhân sa sút trí tuệ)

- Tự duy lai nhai: bệnh nhân rất khó chuyên chủ đề câu chuyện, luôn đi vào chỉ tiết vụn vặt của một chủ đề (gặp trong bệnh động kinh)

-Tư duy định kiến: luôn luôn lặp lại một chủ đề (gặp trong hội chứng paranoia)

2.1.2 Theo hình thức phát ngôn:

- Nói một mình: nói rõ ràng hay lâm bâm một mình, không có liên quan đến xung quanh (gặp trong tâm thần phân liệt giai đoạn cuối)

- Nói tay đổi trong tưởng tượng: thường là nói chuyện với ảo thanh (gặp trong bệnh

TTPL và rối loạn tâm căn)

- Trả lời cạnh: hỏi một đăng bệnh nhân trả lời một nẻo (gặp trong bệnh TTPL)

- Không nói: có nhiều nguyên nhân khác nhau: do tram cam; phủ định; lú lẫn; sa sút; liệt

chức năng phát âm hoặc do ảo giác hoang tưởng chỉ phối

- Nói lặp lại: luôn luôn nói lặp lại một từ, cụm từ hoặc một câu, không ai hỏi cũng nói

- Đáp lặp lại: tất cả các câu hỏi khác nhau bệnh nhân trả lời bang một từ, cụm từ hoặc

một câu nhất định (gặp trong loạn thần kinh, hội chứng căng trương lực)

- Nhại lời: hỏi bệnh nhân không trả lời mà chỉ nhắc lại câu hỏi (gặp trong rồi loạn tâm căn, hội chứng căng trương lực)

- Cơn xung động lời nói: im lặng, lầm lì tự nhiên chửi rủa tục tăn

2.1.3 Theo kết cầu ngôn ngữ:

Trang 10

+ Rồi loạn kết âm và phát âm: bao gồm nhiều loại như nói khó, nói thì thào, nói lắp, nói

giọng mũi, giả giọng địa phương, giả giọng nước ngoài, các giọng tiếng ký sinh khi nói (khit mii, hang giong )

+ Ngôn ngữ phán liệt (schizophasia): từng cầu đúng ngữ pháp, có ý nghĩa, giữa các câu mất logic, không có ý nghĩa (gặp trong bệnh TTPL giai đoạn cuối)

+ Ngôn ngữ không liên quan: bệnh nhần nói những từ và những câu rời rạc không liên quan với nhau (gặp trong rối loạn ý thức của hội chứng lú lẫn)

+ Chơi ngữ pháp: đảo lộn các thành phần trong câu dùng trạng từ chỉ thời gian thay cho các trạng từ chỉ địa điểm (gặp trong bệnh TTPL)

+ Chơi chữ: câu nỗi tiếp nhau theo vần, không có ý nghĩa (gặp trong hội chứng hưng

cảm, bệnh TIPL) Thí dụ: Trời xanh, ăn chanh, uống nước đi năm bước

+ Nói tiếng riêng: bệnh nhan bia ra mot thu tiéng riêng chỉ bệnh nhân mới hiệu nỗi

2.1.4 Theo ý nghĩa, mục đích ngôn ngữ:

+ Swy luận bệnh lý: sử dụng thao tác tư duy cứng nhắc, vụn vặt (gặp trong bệnh TTPL) + Từ duy hai chiêu: trong ngôn ngữ luôn luôn xuất hiện hai câu có ý nghĩa trái ngược nhau (gặp trong bệnh TTPL)

+ Tw duy tw kỷ: bệnh nhân nói về thế giới bên trong kỳ lạ của mình (gặp trong bệnh TTPL)

+ Tự duy tượng trưng: gắn cho sự việc thực tế những ý nghĩa tượng trưng (gặp trong bệnh TTPL)

2.2 Các rồi loạn nội dung tư duy

Các rối loạn nội dung tư duy được chia ra 3 loại chính: định kiến, ám ảnh và hoang tưởng

2.2.1 Dinh kién (overvalued ideas):

Định kiến là những ý tưởng dựa trên cơ sở những sự kiện có thực, nhưng bệnh nhân gan

cho nó một ý nghĩa quá mức ý tưởng ấy chiếm ưu thế trong ý thức bệnh nhân và được duy trì bằng một cảm xúc mãnh liệt

Khác với ám ảnh, định kiến phát sinh từ những hoàn cảnh thực tế Bệnh nhân không thấy

chỗ sai của định kiến nên không tự đầu tranh, tuy nhiên khi được đả thông có dẫn chứng

cụ thể hoặc do thời gian mà định kiến có thể Suy giảm dan Trong ám ảnh, bệnh nhân còn

khả năng phê phán song không đủ khả năng dứt ra khỏi ám ảnh

Trang 11

Khác với hoang tưởng định kiến không kèm theo biến đối nhân cách Định kiến thường gặp trong trạng thái trầm cảm, động kinh

2.2.2 Am anh (obsession):

Là những ý tưởng hồi ức, cảm xúc, hành vi không phù hợp với thực tế, luôn luôn xuất hiện ở người bệnh với tính chất cưỡng bức Người bệnh còn biết phê phán hiện tượng đó

là vô lý, là không cần thiết, là sai, muốn tự xua đuổi đi nhưng không thé duoc

Những hiện tượng ám ảnh thường đi kèm với nhau, hình thành hội chứng hay trạng thái

ám ảnh Nó bao gồm lo sợ ám ảnh, xu hướng hay hành vi ám ảnh và ý tưởng ám ảnh 2.2.2.1 Ý tưởng ám anh (obsessional idee):

+ Suy luận ám ảnh: người bệnh luôn luôn phải suy nghĩ về những vẫn dé không có ý nghĩa, không thể giải quyết được Thí dụ, tại sao trái đất hình cầu ? Nếu trái đất hình trụ thì sẽ ra sao ? Tạo sao cái ghế lại bốn chân ?

+ Tĩnh toán am ánh: người bệnh luôn phải bận tâm với những tính toán vô ích.Ví dụ, người bệnh cứ phải đếm biển số nhà trên đường phó, đếm các cửa số, đếm các bậc

thang Có khi phải lắm nhâm liên miên các bải toán trong óc

+ Nhớ ám ảnh: luôn luôn phải nhớ tên, tuổi những người thân quen, nhớ những từ, những thuật ngữ khác nhau

+ ý trởng xúc phạm, ÿ tưởng bất hạnh: đó là những ý tưởng trái với tình cảm và mỗi quan hệ trong thực tế khiến người bệnh đau khô Thí dụ, con chiên đến nhà thờ mà xuất hiện ý tưởng xấu là xúc phạm đến chúa Bố mẹ có ý nghĩ là con mình sẽ ốm hoặc tai nạn chết

+ Hoài nghỉ ám ảnh: người bệnh luôn luôn hoài nghỉ, phân vân về một sự việc đã xây ra,

ví dụ như đã ra khỏi nhà, tự tay mình khoá cửa nhưng bệnh nhân vẫn phân vân là có thực

mình đã khoá cửa phòng hay không Con chết đã chôn mà cứ phân vân là chưa chết thật Hoài nghi thường dẫn đến hành động kiểm tra lại như: quay về nhà xem khoá cửa chưa,

đào mộ lên xem con có chết thật không

2.2.2.2 Lo so am anh (obsessional phobias - phobias):

+ Bao gồm 367 loại ám ảnh sợ Cũng như sự sợ hãi của con người trong cuộc sống, nội dung ám ảnh sợ hết sức đa dạng: sợ khoảng rộng, sợ nơi cao, sợ nơi đông người, sợ vật nhọn, sợ vật sắc, sợ bân, sợ bệnh

Trang 12

+ Có thể có ám ảnh lo sợ tất cả (panphobias) và cũng khi lo sợ bị ám ảnh lo sợ (phobophobias)

+ Một loại riêng trong lo sợ ám ảnh 1a /o so thuc hién Do la trang thái lo sợ không thực hiện được một số động tác, hoạt động nào đó

Thí dụ: Sợ sẽ quên mắt nội dung khi phát biểu trước công chúng Sợ sẽ bị bối rối khi phải trả lời câu hỏi Sợ vấp váp khi phát âm một từ nào đó hay thực hiện vụng về một động tác bắt buộc trong hoàn cảnh cần thiết Lo sợ không ngủ được Có khi lo sợ một thói quen

nào đó như sợ đỏ mặt trước đám đông

2.2.2.3 Xu hướng hành vi ám ảnh:

+ Xu hướng ám ảnh: là xu hướng muốn tiễn hành những hành động vô nghĩa, thường là nguy hiểm

Thí dụ: Xu hướng chửi người qua đường, muốn đánh vào mặt họ Xu hướng cầm dao

đâm con Người bệnh rất sợ sẽ thực hiện những điều đó

+ Nghi thức ám ảnh: là những vận động và hành vi ám ảnh xuất hiện cùng với ám ảnh sợ

và hoài nghi ám ảnh Đấy là phương thức đấu tranh tự vệ với các loại ám ảnh trên

Thí dụ: Người có ám ảnh sợ người thân chết, nên mỗi khi ra khỏi nhà phải nhìn lại cửa số nhà mình ba lần mới yên tâm đi thăng Theo người bệnh động tác này làm mất điều không may có thể xây ra

+ Có những hành vi nghỉ thức liên quan tới những điều mê tín:

Thí dụ: Để mong gặp may mẫn trong công việc, ra cửa nhà phải bước chân phải hoặc cần người nam giới " đón ngõ " Đó không thuộc biểu hiện của ám ảnh, nhưng trong trạng thái bệnh lý có thể trở thành nội dung của ám ảnh

+ Thói guen ám ảnh: là những động tác thực hiện trái với ý muốn, người bệnh cỗ kìm nhưng không được

+ Cân phân biệt thói quen với thói quen ám ảnh Thói quen là những hành động được lặp

đi lặp lại thường xuyên, trở thành tự động hoá và đã trở thành nhu cầu Ví dụ, thói quen

tập thể dục, thói quen đánh răng trước khi đi ngủ

+ Hội chứng ám ảnh hay gặp nhất trong bệnh tâm căn (nevrose) như bệnh tâm căn ám ảnh, tâm căn suy nhược và trong giai đoạn đầu của bệnh TTPL như hội chứng suy nhược

thần kinh,

Trang 13

2.2.3 Hoang tưởng (delire, delusion):

2.2.3.1 Định nghĩa

Hoang tưởng là những ý tưởng, phán đoán sai lầm, không phù hợp với thực tế, do bệnh tâm thần sinh ra, nhưng người bệnh cho là hoàn toàn chính xác, không thể giải thích thuyết phục được

2.2.3.2 Tinh chat:

+ Tính lập luận sai lầm, trong ý nghĩ hoang tưởng của mình, người bệnh có lập luận,

nhưng cơ sở logic đã bị rỗi loạn, những nguyên tắc đã được xác định sai lầm, dẫn tới kết luận sai lầm

+ Sự tin tưởng vững chắc, tính cố định: mặc dù những ý tưởng, phán đoán rất mâu thuẫn với thực tế nhưng người bệnh có sự tỉn tưởng vững chắc như một chân lý không thé bac

bỏ được

+ Sự chỉ phối của hoang tưởng: hoang tưởng chiếm lĩnh hoàn toàn ý thức người bệnh, chỉ phối mạnh mẽ hành vi của họ

2.2.3.3 Các loại hoang tưởng

* Theo nguon gốc phát sinh:

- Hoang tưởng tiên phát: hoang tưởng phát sinh không liên quan tới rối loạn tri giác Nội dung loại hoang tưởng nảy rất đa dạng, thường là những hoang tưởng phát minh, hoang tưởng cải cách, hoang tưởng ghen tuông, hoang tưởng kiện cáo, hoang tưởng bị theo dõi, hoang tưởng nghi bệnh

- Hoang tưởng thứ phát: hoang tưởng xuất hiện trên cơ sở rối loạn tri giác, rỗi loan cam

xúc hay rỗi loạn ý thức Nỗi bật là các khái niệm hình tượng, các tính chất bị động về trí

tuệ vốn là bản chất của những ước mơ Đó là đặc trưng của loại hoang tưởng này

* Theo phương thức kết cau:

- Hoang tưởng suy đoán: rối loạn chủ yếu là quá trình nhận thức lý tính, tức là rỗi loạn

khả năng nhận thức các mối liên hệ bên trong của sự vật, hiện tượng, trong khi đó nhận

thức cảm tính không bị rối loạn

Đặc điểm của hoang tưởng này là bên vững và tiến triển, nó phát triển thành hệ thống và

làm biên đôi nhân cách một cách sâu săc

Trang 14

- Hoang tưởng cảm thụ: ở đầy không những nhận thức lý tính mà cả nhận thức cảm tính

cũng bị rỗi loạn Hoang tưởng xuất hiện sau các rỗi loạn tri giác, cảm xúc hay rỗi loạn ý

thức Ở người bệnh có ý tưởng rời rạc không kế tục, cảm xúc căng thăng, bàng hoàng ngơ ngác Nhân cách người bệnh không bị hoang tưởng làm biến đổi nhiều

2.3 Các hội chứng rồi loạn tư duy

2.3.1 Hội chứng paranoia:

Hội chứng này gồm:

+ Hoang tưởng nguyên phát, suy đoán: hoang tưởng có tính chất hệ thống hoá, tập trung

sâu sắc vào một vẫn dé va kéo dai rất lâu

+ Kèm theo rối loạn cảm xúc phù hợp với hoang tưởng

+ Không có rỗi loạn tri giác và hiện tượng tâm thần tự động

Hội chứng này thường gặp trong bệnh TTPL, bệnh động kinh, nhân cách bệnh, rỗi loạn

stress

2.3.2 Hội chứng ao giac - paranoid:

Hội chứng này bao gồm:

+ Hoang tưởng các loại, cả suy đoán và cảm thụ

+ Có ảo giác, có thể là ảo giác thật nhưng điễn hình là ảo giác giả

+ Các hiện tượng tâm thần tự dong, con gọi là hội chứng Kandinsky- Clerambault

+ ý tưởng tự động: ý nghĩ của mình bị bộc lộ, bị đánh cắp hoặc do người khác làm sẵn

đặt vào (tư duy bị áp đặt)

+ Cảm giác tự động: một siêu lực nào đó gây cho người bệnh các loại cảm giác: nóng,

lạnh, đau đói khát

+ Vận động tự động: người bệnh cho rằng bên ngoài điều khiến vận động của mình Dùng tay chân mình cử động, dùng miệng mình để nói

Thường gặp hội chứng này trong bệnh tâm thần phân liệt, có thể trong bệnh động kinh

tâm thần, loạn thần triệu chứng, rỗi loạn stress

2.3.3 Hội chứng paraphrenia:

+ Là hội chứng dựa trên cơ sở paranoid với nội dung kỳ quái

+ Thường gặp trong bệnh TTPL, rối loạn tâm thần tuổi giả và liệt toàn thê tiễn triển 2.3.4 Hội chứng nghi bệnh:

Trang 15

+ Là trạng thái quá lo lắng sợ hãi, quá chú ý vào sức khoẻ của mình đến mức trở thành như hoang tưởng nghi bệnh

+ Hội chứng nghi bệnh có thể xuất hiện trên cơ sở như một bệnh có thật được phóng đại

quá mức (định kiến về bệnh tật) Nó có thể xuất hiện như một hoang tưởng không có căn

cứ thực tế Cũng có thể lo lăng kéo dài sau khi bệnh đã khỏi

+ Trong bệnh TTPL, rỗi loạn tâm thần tuôi giả, hội chứng nghi bệnh có thể trở thành

hoang tưởng nghi bệnh

3.1 Khai niém chung

3.1.1 Hoạt động có ý chí

- Là quá trình hoạt động tâm lý có mục đích, phương hướng rõ ràng và đòi hỏi những nỗ

lực nhất định để khắc phục khó khăn, trở ngại nhằm đạt được mục đích Hoạt động chỉ

xuất hiện ở người

- Hoạt động này nhằm thoả mãn không chỉ những nhu cầu sinh vật mà còn những nhu cầu xã hội (nhu cầu về đạo đức, luân lý xã hội, về trí tuệ và thắm mỹ)

- Với hoạt động có ý chí, con người không chỉ thích nghi với điều kiện thực tại mà còn có

khả năng biến đôi thực tại phù hợp với xã hội loài người

- Có thể nói bản chất của hoạt động có ý chí là ở chỗ con người, trên cơ sở nhận thức

được quy luật tự nhiên, xã hội, tích cực chủ động biến đổi hiện thực nhằm đáp ứng nhu cầu của mình và của xã hội Do đó con người phải suy nghĩ và quyết định hành vi của

mình

3.1.2 Hoạt động ban năng

- Là hoạt động không có ý thức, xuất hiện như những phản xạ không điều kiện, bẩm sinh -Hoạt động bản năng nhằm thoả mãn những nhu cầu sinh vật (tồn tại và phát triển) ở loài

vật chỉ có hoạt động này, nó có tác dụng duy trì đời sống sinh vật, thích nghi với điều

kiện môi trường

- Hoạt động bản năng chiếm vị trí không đáng kể trong đời sống và hoạt động của con người

3.1.3 Mối quan hệ giữa hoạt động có ý chí và hoạt động bản năng ở người

Trang 16

- Hoạt động bản năng đôi khi rất mạnh, có thể chi phối cả hành vi tác phong con người, nhất là ở trẻ con Nhưng ở người trưởng thành hoạt động bản năng luôn luôn chịu sự kiêm chế của hoạt động có ý chí

- Chỉ khi con người bị bệnh, vỏ não bị suy yếu, hoạt động có ý chí giảm sút, vùng dưới

vỏ được giải toả thì hoạt động bản năng mới nồi lên một cách hỗn loạn

- Do đó trong lâm sàng, người bệnh có biêu hiện rối loạn hoạt động có ý chí, đồng thời

sẽ có rỗi loạn hoạt động bản năng

3.2 — Rối loạn vận động

- Giảm vận động, giảm động tác (hypokinésia): gặp trong trạng thái lú lẫn

- Mát vận động, mắt động tác (akinésia): gặp trong các trạng thái bất động của rỗi loạn

phân ly, bệnh TTPL, rỗi loạn stress

- lăng vận động, tăng động tác (hyperkinesia): những động tác thừa, tự động như rung

cơ, co giật cơ (nháy mắt, nháy môi)

Gặp trong các rỗi loạn tâm căn phân ly, bệnh TTPL,,

- Vận động dị thường (parakinesia): những động tác không cần thiết, không có ý nghĩa

và có tính chất định hình như rung đùi, lắc người nhịp nhàng, trợn mắt nhìn trừng trừng, vung vây tay, xoa xoa vào tai,

Thường gặp trong bệnh TTPL

3.3 Rối loạn hoạt động có ý chí

“ Giảm hoạt động (hypoactivity): gặp trong trạng thái rối loạn trầm cảm, trạng thái suy

Là những hành vi xuất hiện đột ngột, mãnh liệt, không duyên cớ, không được người bệnh

cân nhăc suy nghĩ và không có sự đâu tranh đề tự kiêm chê

Trang 17

- Xung động phân liệt: hay gặp trong thể kích động căng trương lực, đột nhiên la hét, đập phá, xé quân áo, đánh người

Người bệnh không có rỗi loạn ý thức, vẫn nhận biết hành vi xung động của mình vừa xây

ra, song tự người bệnh không hiểu vì sao lại hành động như vậy

- Xung động động kinh: đột nhiên người bệnh rơi vào trạng thái rối loạn ý thức (hoảng hôn), chỉ chạy thắng về phía trước, đập phá, tấn công tất cả dù là vật vô tri vô giác hay sinh vật sống, băng bất kỳ cái gì có trong tay, một cách tàn bạo, sau đó có người bệnh không nhớ gì về sự việc đã xây ra

- Xung động trầm cảm: đột nhiên tự sát hay giết người thân rồi tự sát

3.4.2 Những xung động bản năng

Các rồi loạn bản năng ăn uống:

- Không ăn: trong trạng thái trầm cảm, trong bệnh tâm thân phân liệt

- Chán ăn: thường gặp chán ăn do tâm lý (mental anorexia) Bệnh thường ở nữ giới tuổi day thi

- Thèm ăn (boulimia): người bệnh có cơn đói ghê gớm, ăn không biết no Có thể biểu hiện ở trạng thái "cuồng ăn", xô đến cướp, vơ thức ăn nhồi nhét vào miệng mình Người bệnh có thể tử vong do dãn dạ dây cấp hoặc chèn ép nghẽn tắc đường hô hấp trên (chết nghẹn)

- Thèm uống (potomania): có cơn khát thường xuyên, uống mãi không hết khát

- Ăn vat ban: người bệnh ăn một cách ngon lành nhựa đọng ở thân cây, ăn tóc, ăn phân

gà, ăn thạch thùng

- Con bo nha di lang thang (fugue):

Theo chu kỳ, người bệnh xuất hiện cơn bỏ nhà, bỏ cơ quan, bỏ việc đi một nơi xa Người bệnh đi không có mục đích và chỉ đi được mới thay thoai mai

- Con trom cap (kleptomania):

- Con dot nha (pyromania):

- Cơn giết người:

- Nối loạn bản năng tình dục:

- Có thể biểu hiện bằng các cơn giải toả bản năng tình dục như cởi bỏ quân áo, tìm mọi cách đến gần với người khác giới

Trang 18

- Có thể có những cơn loạn dục (sexual perversion) biểu hiện ở nhiều hình thức khác nhau như thủ dâm (masturbation), loạn dâm đồng giới (homosexuality), loạn dục với trẻ

con (pedophilia), loạn dục với súc vật (zoophilia)

- Thường phát sinh do bệnh tâm thần như tâm thần phân liệt, nhân cách bệnh Có những

trường hợp do thiếu giáo dục thích hợp và chịu ảnh hưởng xấu của môi trường

3.5 Hội chứng cang trwong lwe (catatonic syndrome)

Hội ching gém hai trang thai d6i lap nhau, kich động căng trương lực và bất động căng trương lực Hai trạng thái này xuất hiện kế tiếp nhau và thay đối cho nhau

3.5.1 Hội chứng kích động căng trương lực

Thường xuất hiện đột ngột, từng đợt xen kẽ với trạng thái bất động

Trạng thái kích động mang nhiều hình thái khác nhau, thường có những trạng thái kế tiếp nhau như sau

+ Kích động với tính chất bàng hoàng, kịch tính:

- Cảm xúc: lúc đầu là sự hưng phan cảm xúc theo kiểu bối rối, say đắm

- Cùng với trạng thái bối rối là sự phần khởi một cách quá đáng, thiếu tự nhiên, hay cười

vô duyên cớ, nét mặt có những nét đối lập: miệng cười trong khi mắt đây nước mắt

(paranimia)

- Tư duy: người bệnh nói nhiều nhưng có tính chất khoa trương, khó hiểu Khó hiểu bởi ngôn ngữ người bệnh biểu hiện như kết cấu phân liệt, tư duy ngắt quãng, ứ đọng và tư duy tượng trưng

- Vận động: cũng biêu hiện thiếu tự nhiên, kiểu cách

- Thường có những động tác dị thường, vô nghĩa, mang tính chất định hình, đơn điệu,

rung đùi, lắc người nhịp nhàng, trợn mắt nhìn trừng trừng, vỗ vỗ tay, đập đập vào tai

- Hay thấy biểu hiện tính phủ định (negativism): người bệnh hành động ngược lại hoặc chống đối một cách vô nghĩa, không duyên cớ

Có hai loại phủ định:

Phủ định chủ động: người bệnh làm ngược lại lời người thầy thuốc.Thí dụ: Bảo há

miệng lại mím chặt môi, chống đối không cho mở miệng Khi cho ăn lại quay đi, khi mang thức ăn đi người bệnh lại vơ lay mot cach tham lam

Phủ định thụ động: người bệnh không làm theo lời thầy thuốc

Trang 19

+ Kích động với tính chất si dai, 16 bich:

- Cảm xúc: từ hưng phấn cảm xúc say đắm, bối rối chuyển thành vô nghĩa đùa tếu

(moria)

Thí dụ: Người bệnh nhăn nhó một cách vô nghĩa, cười không duyên cớ, pha trò nhạt nhẽo

- Tư duy, hưng phấn, nói nhiều theo hưng phan cam xtc

- Vận động hưng phần theo cảm xúc, đùa tếu, nhào lộn, vồ vào những người xung quanh,

ném vứt đỗ đạc, xé quần áo và có những hành động phủ định

+ Kích động mang tính chất xung động:

- Vận động: bỗng nhiên nhây khỏi giường năm, chạy như quay chong chóng tại chỗ, nhây

nhót, hét to, văng tục, cởi xé bỏ quan áo, phá phách mọi thứ gặp dưới tay, khạc nhồ, bôi phân lên người ở mức độ nặng hơn: kích động hỗn loạn, liên tục, điên dại Người bệnh

ném lung tung, cảo cấu tự gây thương tích cho mình, tàn bạo với tất cả sự chống đối, giữ

người bệnh lại

- Cảm xúc: khi tìm cách giữ người bệnh để cho ăn, uống thuốc người bệnh chống đối một cách vô lý Họ biểu hiện giận dữ một cách vô nghĩa gọi là phản ứng xúc cảm giả (pseudo-affective reaction)

- Tư duy: ngôn ngữ rối loạn nặng có các biểu hiện như nói lặp lại (pallilalia), đáp lặp lại (verbigeration) Có thể có triệu chứng nhại lời (echolalia), nhại động tác của những người xung quanh (echokines1a)

+ Kích động im lặng:

Giai đoạn này vận động đổi khác mang tính chất nhịp điệu, nhịp nhàng giống như múa vờn, múa giật Trong kích động này người bệnh không nói, thầm lặng (Gọi là kích động

im lặng hoặc kích động cầm)

3.5.2 Hội chứng bất động căng trương lực

Có thể gặp bất động không hoản toàn và bất động hoàn toàn

+ Bất động không hoàn toàn (bán bất động):

- Người bệnh ngày càng ít nói đến không nói, ngôi lâu một tư thế

- Có hiện tượng định hình, lặp lại một cách định hình một động tác nào đó

Trang 20

- Có hiện tượng bánh xe răng cưa, rôồi xuất hiện triệu chứng giữ nguyên dang (catalepsia) hay uốn sáp, người bệnh giữ nguyên một tư thế đặt săn, đờ ra trong những tư thế không thuận lợi, kỳ lạ của đâu, tay và chân (như các hình được nặn băng sáp)

- Triệu chứng uốn sáp đầu tiên xuất hiện ở cơ cổ sau đến tay và chân

- Đồng thời người bệnh có triệu chứng Pavlov, đó là trạng thái giai đoạn nghịch thường (paradoxial phase)

- Nói bằng giọng bình thường người bệnh không đáp ứng nói thầm lại đáp ứng

- Có khi không trả lời bằng lời nói nhưng lại viết vào giấy

- Người bệnh ban ngày thì bất động, im lặng, nhưng đến đêm yên tĩnh hoàn toàn thì lại bắt đầu vận động, ăn uống, có khi lại nói

+ Bất động hoản toàn (bất động phủ định):

- Người bệnh nằm trong tư thế bào thai (tư thế các cơ gấp)

- Trương lực cơ tăng, tất cả các cơ căng cứng, hai hàm căn chặt, đôi khi xuất hiện triệu

chứng vòi tự phát

- Không trả lời câu hỏi, không phản ứng đối với xung quanh cũng không phản ứng cả với

tư thế của bản thân Không có gì xung quanh có thể tác động tới trạng thái đờ đẫn, bất

động hoặc làm thay đôi nét mặt như tượng của bệnh nhân

- Sờ vào người, châm kim, kích thích nhiệt không gây phản ứng ở người bệnh Người bệnh ít chớp mắt, nhưng còn chớp mắt phản xạ Có triệu chứng Bumke như kích thích đau và kích thích xúc cảm, đồng tử không giãn

- Trong trạng thái bất động hoàn toàn, người bệnh biêu hiện rõ tính phủ định, mỗi sự can

thiệp làm thay đổi tư thế người bệnh đều gây hành động chống đối và trương lực cơ tăng

mạnh lên

Tóm lại: Hội chứng bất động căng trương lực mang tính chất thầm lặng, phủ định và tăng

trương lực cơ Nó xuất hiện sau kích động căng trương lực hoặc sau khi bệnh mới phát

sinh Hội chứng có thể kéo dài hàng tuần hàng tháng

3.5.3 Một số hội chứng rối loạn hoạt động khác

3.5.3.1 Các hội chứng hưng phấn tâm lý - vận động:

- Hội chứng kích động thanh xuán:

+ Gặp trong bệnh T'TPL, ở những người trẻ tuôi

Trang 21

+ Kích động mang tính chất dữ dội, mãnh liệt với những tác động sĩ dại, lỗ bịch, vô

nghĩa, thiếu tự nhiên như cười hô hố, đùa cợt thô lỗ, nhăn nhó mặt mày, làm ngáo ộp, nhay nhót gào thét đập phá, nằm ngồi theo những tư thế kỳ dị

+ Tác phong thiếu lich sự bừa bãi mất vệ sinh, ăn bốc, tiểu tiện ra nhà

+ Xuất hiện đột ngột trong trạng thái rỗi loạn ý thức (hoàng hôn) và loạn cảm

+ Cơn có thể từ vài giờ đến vài ngày

+ Hành vi người bệnh mang tính chất vừa tự vệ vừa tấn công (thường do ảo giác ghê rợn

và hoang tưởng bị truy hại chỉ phối) nên có xu hướng phá hoại, nguy hiểm cho xã hội + Sau cơn người bệnh quên hết sự việc xảy ra

- Hội chứng kích động kiểu hysteria:

+ Xuất hiện sau sang chân tâm thần hay sau cảm xúc mạnh

+ Người bệnh ở tư thế say mê hoặc uốn người, tay chan dap loan xa, xé quan ao, la hét khéc l6c,

+ Hành vi mang tính chất phô trương, biểu diễn

+ Nét mặt nhăn nhó, đau khổ, thê hiện nội dung sang chắn

Trang 22

đau khổ, nước mắt lưng tròng, không ăn, không tiếp xúc Không có vận động dị thường

và không có rối loạn ý thức

- Hội chứng bắt động ảo giác:

Xuất hiện do tác động của ảo giác, tri giác nhằm, ảo ảnh kì lạ Đấy là trạng thái ức chế

vận động tạm thời Tư thế người bệnh tương ứng với hình thức và tính chất của ảo giác

cũng như nội dung phản ứng cảm xúc Không có rối loạn ý thức

- Hội chứng bất động - động kinh:

Xuất hiện đột ngột, trong trạng thái rỗi loạn ý thức Người bệnh trong tư thế say mê, ngơ

ngắn, mắt lờ đờ, nét mặt nghèo nản hoặc biêu hiện nội dung rỗi loạn tri giác, không phản

ứng với kích thích ngoại cảnh Trạng thái kéo dài vài giờ đến vài ngày

Xuất hiện do sang chấn tâm than, nhiều khi sang chân không mạnh lắm Người bệnh từ từ

ngã xuống và hoàn toàn bất động với tính chất trẻ con, sa sút giả, fư thế kỳ dị, nét mặt

mất linh hoạt, cảm xúc lo sợ buôn râu, thường im lặng không nói, không rối loạn ý thức, không có hoạt động dị thường Trạng thái này mất đi khi hoàn cảnh gây sang chan mat

đi.rỗi loạn sự chú ý

Cầu hỏi ôn tập

1 Hãy trình bày các loại ảo giác

2 Các triệu chứng rối loạn hình thức tư duy?

3 Các triệu chứng rối loạn nội dung tư duy?

4 Các hội chứng rối loạn tư duy?

5 Hãy trình bày các dạng rỗi loạn hoạt động có ý chí và rỗi loạn hoạt động bản năng

6 Các hội chứng căng trương lực?

Trang 23

Bài 2 CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH TÂM THÂN PHẦN LIỆT Mục tiêu

1 Trinh bay duoc nguyên nhân tâm thần phân liệt (TTPL)

2 Trình bày được triệu chứng lâm sàng và điều trị tâm thân phân liệt

3 Trình bày được kế hoạch chăm sóc bệnh nhân tâm thân phán liệt

Nội dung

1 Đại cương

Tâm thần phân liệt được dịch từ chữ Sch1zophrenia có nghĩa là chia cắt các hoạt

động tâm thân, hoạt động tâm thân của bệnh nhân không hoà hợp, không thống nhất Đây

là một bệnh loạn thần nang, tién trién từ từ có khuynh hướng mạn tính, căn nguyên chưa

rõ, nhân cách của người bệnh bị biến đối theo kiểu phân liệt, làm cho người bệnh tách dần ra khỏi cuộc sông bên ngoài, thu dân vào thế giới bên trong, làm cho tình cảm của

người bệnh trở nên khô lạnh, học tập và làm việc sút kém

Bệnh này đã được các nhà tâm thần học biết đến từ thời xa xưa Từ năm 1857, tác

giả R Morel (người Pháp) gọi là bệnh mất trí sớm, trong gần một thế kỷ qua, các nhà tâm thân học trên toàn thế giới đã tập trung nghiên cứu về bệnh này vì đây là loại bệnh tâm thần nặng và phức tạp nhất trong các rối loạn tâm thân

Bệnh có một số đặc điểm sau: người bệnh mất thống nhất trong hoạt động tâm thân, mất dần liên hệ với xung quanh, cảm xúc ngày càng khô lạnh, tư duy lệch lạc trầm trọng, hành vi kỳ dị khó hiểu

Tuổi phát sinh chủ yếu ở lứa tuổi từ 18 — 40

Dịch tễ: theo một số tác giả cho thấy, ở Việt Nam có tỷ lệ khoảng 0,7% dân số, thế giới

khoảng từ 0.3 đến 1% dân số

2.Nguyên nhân

Cho đến nay nguyên nhân chính của bệnh tâm thân phân liệt vẫn còn chưa được xác định rõ, đa số các nhà tâm thần học trên thế giới chấp nhận cho răng đây là một loại bệnh không phải có một thể duy nhất mà có nhiều thể lâm sảng khác nhau Hiện nay tôn tại một số quan điểm cho rằng có thể có nhiều giả thuyết như do di truyền gặp từ 30 đến 40% nếu cả bố và mẹ bị bệnh tâm thần phân liệt, nguyên nhân sinh học là những yếu tố

Trang 24

nội sinh như rối loạn chuyển hoá các chất môi giới hoá học thần kinh như dopamin,

cathecolamin, serotonin, GABA, andopin

Môi trường tâm lý xã hội cũng ảnh hưởng rất lớn, bệnh nhân mất khả năng thích

ứng với các Stress tâm lý xã hội, rỗi loạn cấu trúc và xung đột gia đình, các biến đối văn

hoá tuy không phải là nguyên nhân nhưng cũng góp phần thúc đây bệnh phát sinh và phát triển

3.Triệu chứng lầm sàng

Các rối loạn phân liệt có đặc điểm chung là sự rỗi loạn cơ bản và đặc trưng về tư

duy, tr1 giác và cảm xúc không thích hợp hay cùn mòn, ý thức của bệnh nhân còn rõ ràng

và năng lực trí tuệ còn được duy trì mặc dù có một số thiếu sót về nhận thức có thể xuất

hiện trong quá trình tiến triển

Các nhóm triệu chứng có tầm quan trọng đặc biệt và thường đi với nhau là:

‹ - Tư duy vang thành tiếng, bị đánh cắp, bị phát thanh

‹ - Hoang tưởng bị kiểm tra, bị chỉ phối

« - Có các ảo thanh thường xuyên bình phẩm về bệnh nhân, có thể xuất phát từ một

bộ phận nào đó của cơ thé

¢ C6 cac loai hoang tuéng dai dăng khác không thích hợp về mặt văn hoá và hoàn toàn không thể có được (ví dụ: bệnh nhân cho rằng mìmh có khả năng tiếp xúc với người ngoài hành tỉnh, có kha năng làm thay đổi thời tiết )

‹ - Ảo giác dai dăng bất cứ loại nào có khi kèm theo hoang tưởng thoáng qua hay chưa hoàn chỉnh

e Tư duy gián đoạn, hay thêm từ khi nói, ngôn ngữ không liên quan, không thích hợp và ngôn ngữ bịa đặt

‹ - Tác phong căng trương lực như kích động, giữ nguyên dáng, uốn sáp, phủ định, sững sờ

« _ Có các triệu chứng âm tính: vô cảm, ngôn ngữ nghèo nàn, học tập kém, lao động

giảm sút

‹ _ Biến đối không thường xuyên và có ý nghĩa về chất lượng toàn diện của tập tính

cá nhân như mất những sở thích cũ, lười nhác, mải mê suy nghĩ về bản thân và cách ly xã hội

Trang 25

e _ Trí tuệ còn được duy trì, ý thức còn rõ ràng

Các triệu chứng trên phải tồn tại trên một tháng khi đó mới cho phép chân đoán tâm thần phân liệt

4 DIEU TRI

Đây là bệnh phải điều trị lâu dài, điều trị tấn công tại bệnh viện và điều trị duy trì tại gia đình, kết hợp dùng thuốc với liệu pháp lao động và tái thích ứng xã hội

e Liệu pháp tâm lý

Tiếp xúc với người bệnh với thái độ thông cảm, nâng đỡ, không mặc cảm, không coi

thường hay tránh né, khiếp sợ bệnh nhân

Tổ chức hệ thống cửa mở trong bệnh viện tránh giam giữ đến mức tối đa, tô chức bệnh

viện ban ngày tại cộng đồng

Giải quyết những nhu cầu và những mâu thuẫn của người bệnh tại gia đình và cộng đồng

e Liệu pháp lao động và tái thích ứng xã hội

Nhằm phục hồi lại các chức năng lao động và nghề nghiệp mà bệnh nhân đã mất đi trong khi bị bệnh

e Liệu pháp hoá dược

Liệu pháp hoá dược là liệu pháp thông dụng nhất và có hiệu lực nhất trong điều trị các

trạng thái loạn thần cấp và chống lại xu hướng mạn tính hoá và tái phát của bệnh, dựa

trên nguyên tắc: chọn thuốc phù hợp với triệu chứng lâm sàng, dùng thuốc thích hợp với

từng trạng thái cơ thể, chú ý phụ nữ có thai, người già, người cho con bú, hạn chế tối đa

sự kết hợp nhiều thuốc an thần cùng một lúc Theo dõi chặt chẽ, phát hiện kip thoi các tác dụng phụ, biến chứng, bệnh cơ thé va tinh trạng nhiễm độc

‹e Liệu pháp sốc điện

Chỉ định: bệnh nhân trong tình trạng trầm cảm nặng có ý tưởng và hành vi tự sát, các trạng thái căng trương lực sững sờ, không chịu ăn, kích động, hoang tưởng, ảo giác điều trị lâu ngày kháng thuốc

5 PHÒNG BỆNH

‹ - Rèn luyện nhân cách đề thích ứng với môi trường và xã hội

‹ - Theo dõi những người có yếu tố di truyền để phát hiện sớm điều trị kịp thời

Những người đã bị bệnh cần được điều trị liên tục có hệ thống gia đình

Trang 26

e - Loại trừ các sang chấn tâm thần tại cộng đồng và gia đình tránh yếu tô gây tái phát

e - Phục hồi chức năng tâm lý xã hội và lao động nghề nghiệp tại cộng đồng

6 CHĂM SÓC

6.1 Nhận định triệu chứng

Giai đoạn cấp tính: tuỳ thể lâm sàng mà có các triệu chứng khác nhau, người bệnh

hưng phần tâm lý, kích động, căng trương lực bất dong, tự ky, thiéu hoa hop, tram cam

có hoang tưởng bị tội dẫn tới hành vi tự sát Ở giai đoạn này thông thường bệnh nhân phủ định bệnh không chấp nhận điều trị và tìm cách trốn viện

Giai đoạn thuyên giảm: các triệu chứng lâm sảng trên không còn điển hình nữa, bệnh nhân có thể tiếp xúc được, tác phong hài hoà hơn nhưng vẫn chưa hoản toàn ôn

định, đôi khi vẫn có những biểu hiện ky di kho hiểu nói chung ở giai đoạn này bệnh nhân

ăn được, ngủ được, ý thức được bệnh của mình và tự giác uống thuốc

Giai đoạn ôn định: các triệu chứng ở giai đoạn cấp giảm nhiều, bệnh nhân ý thức

được bệnh của mình, tiếp xúc tốt, sinh hoạt trở lại gân như bình thường một số bệnh

nhân trở lại làm việc như cũ tuy vân phải uông thuôc duy trì

Trang 27

Bài 3 CHAM SOC BENH NHAN ROI LOAN TAM THAN Muc tiéu

1 Trình bày được triệu chứng rồi loạn tâm thân

2 Trình bày được hội chứng rồi loạn tâm thân

Nội dung

1 CÁC TRIỆU CHỨNG RỒI LOẠN TÂM THÂN

1.1 Các triệu chứng rồi loạn cảm giác

- Tăng cảm giác (ngưỡng kích thích hạ thấp) là tăng khả năng thụ cảm với những kích thích tự nhiên mà trong trạng thái bình thường không nhận thấy

- Giảm cảm giác (ngưỡng kích thích tăng lên) là giảm khả năng thụ cảm với những kích

- Ao giác thính giác (ảo thanh): ảo thanh gồm có ảo thanh thô sơ và ảo thanh phức tạp

Ảo thanh thô sơ: nghe như tiếng chuông, tiếng còi, tiếng máy nỗ, tiếng súng Còn ảo thanh phức tạp thường là nghe thấy tiếng nói, tiếng trò chuyện Tính chất của nó có thể là

binh phẩm hoặc ra lệnh

- Ao giác thị giác (ảo thị):ảo thị cũng thường gặp nhưng so với ảo thanh thì ít hơn Nội

dung của ảo thị cũng khá đa dạng như: một ngọn lửa, đom đóm, khói, sương mờ mờ hay

rõ rệt, có thể một nội dung hoặc nội dung thay đối, có thể là một hình ảnh đơn độc hoặc một bộ phận cơ thể (một con mắt, một cái tai ) một đám đông người hoặc một bầy sâu

bọ

- Ảo khứu giác

Trang 28

- Ảo xúc giác

- Ảo vị giác

1.3 Các triệu chứng rồi loạn tư duy

1.3.1 Rối loạn hình thức tư duy

- Theo nhịp điệu ngôn ngữ:

+Nhịp nhanh: tư duy phi tán, tư duy dồn dập, nói hồ lón

+ Nhịp chậm: tư duy chậm chạp, tư duy ngắt quãng, tư duy lai nhai, yư duy định kiến

- Theo hình thức phát ngôn: nói một mình, nói tay đôi trong tưởng tượng, trả lời cạnh;

không nói; nói lặp lại; đáp lặp lại; nhại lời, cơn xung động lời nói

- Theo kết cấu ngôn ngữ: rối loạn kết âm và phát âm, ngôn ngữ phân liệt, ngôn ngữ không liên quan

- Theo ý nghĩa, mục đích của ngôn ngữ: suy luận bệnh lí, tư duy hai chiều, tư duy tu ki

1.3.2 Roi loan néi dung tw duy

1.3.2.1 Dinh kién

Định kiến là những ý tưởng dựa trên cơ sở những sự kiện có thực, nhưng bệnh nhân gan

cho nó một ý nghĩa quá mức Ý tưởng ấy chiếm ưu thế trong ý thức bệnh nhân và được duy trì bằng một cảm xúc mãnh liệt

Định kiến phát sinh từ những hoàn cảnh thực tế Bệnh nhân không thấy chỗ sai của định kiến nên không tự đấu tranh, tuy nhiên khi được đả thông có dẫn chứng cụ thể hoặc do thời gian mà định kiến có thể suy giảm dẫn

1.3.2.2 Am anh

Am ảnh là những ý tưởng, hồi ức, cảm xúc, hành vi không phù hợp với thực tế, luôn luôn xuất hiện ở người bệnh với tính chất cưỡng bức Người bệnh còn biết phê phán hiện tượng đó là vô lí, là không cần thiết, là sai, muốn tự xua đuổi đi nhưng không thê được Những hiện tượng ám ảnh thường đi kèm với nhau, hình thành hội chứng hay trạng thái

ám ảnh Nó bao gồm lo sợ ám ảnh, xu hướng hay hành vi ám ảnh và ý tưởng ám ảnh -_ Ý tưởng ám ảnh: suy luận ám ảnh, tính toán ám ảnh, nhớ ám ảnh, hoài nghi ám -

- Lo so 4m anh

- Xu hướng hành vi ám ảnh: xu hướng ám ảnh, nghi thức ám ảnh, thói quen ám anh 1.3.2.3 Hoang tưởng

Ngày đăng: 23/10/2021, 14:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w