1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

“Nâng cao trình độ tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý tỉnh Khánh Hòa hiện nay”LUẬN ÁN THẠC SỸ

173 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 173
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuốn sách cũng làm nổi bật sự thống nhất và những giải pháp chủ yếu tăng cường sự thống nhất giữa bản lĩnh chính trị và năng lực lãnh đạo, quản lý của cán bộ trong hệ thống chính trị ở n

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thực tiễn là hoạt động có mục đích của con người, mọi kết quả của nó đều gắn liền với năng lực hoạt động tư duy và đặc biệt là năng lực tư duy ở trình độ lý luận nhằm xác định rõ, xác định đúng mục tiêu hoạt động

Ở trình độ tư duy lý luận, chủ thể nhận thức có khả năng hiểu biết về bản chất và quy luật của các sự vật, hiện tượng, nó giúp nâng cao kết quả hoạt động thực tiễn của con người Thực tế, con người không thể hình dung hết được các kết quả của hoạt động thực tiễn nếu không hiểu biết được bản chất và quy luật của các đối tượng mà con người hướng tới cải tạo Do đó, nâng cao trình độ tư duy lý luận để nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội của con người luôn được quan tâm nghiên cứu

Ở nước ta hiện nay, nhằm tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện hội nhập quốc tế và sự phát triển của nền kinh tế tri thức đòi hỏi phải nâng cao hơn nữa trình độ tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo, quản lý, đặc biệt là đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh Đây là yêu cầu bức thiết, là yếu tố quyết định chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh Đạt tới trình độ tư duy lý luận, cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh mới có đủ phẩm chất trí tuệ, có khả năng đáp ứng được yêu cầu nhận thức chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; họ mới có khả năng triển khai và vận dụng tri thức lý luận, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn Ở trình độ tư duy lý luận, người cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh mới có thể khái quát được những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn của địa phương tỉnh mình phụ trách và qua đó, họ sẽ đóng góp cho sự phát triển lý luận, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Trang 2

Hơn nữa, trong thời đại phát triển của nền văn minh trí tuệ, không một quốc gia và không một địa phương nào ở mỗi quốc gia muốn phát triển lại không hội nhập vào dòng chảy lịch sử đó Vì vậy, cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh phải có trình độ tư duy

lý luận để có khả năng tiếp nhận các thành tựu khoa học- công nghệ mới và giải quyết được những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn địa phương mình

Trình độ tư duy lý luận không chỉ khắc phục những hạn chế của tư duy kinh nghiệm thụ động, ít sáng tạo mà nó còn có khả năng phân tích và phân biệt đúng – sai, thật – giả, có khả năng phê phán, phản biện và nắm bắt cơ hội, cũng như giải quyết được những tình huống, những mâu thuẫn nảy sinh trong tiến trình phát triển

Khánh Hoà là tỉnh thuộc khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, được thiên nhiên ưu đãi

về vị trí, cảnh quan, khí hậu, sản phẩm tự nhiên cùng với nền tảng về lịch sử nhân văn của mình; kể từ khi đất nước đổi mới, Khánh Hoà còn được biết đến với vị trí là một trong những trung tâm du lịch nổi tiếng của Việt Nam và thế giới (xem thêm mục 3.1.1) Trước tiềm năng, lợi thế sẵn có của địa phương và yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế đòi hỏi tỉnh Khánh Hòa phải xử lý những trở ngại, mâu thuẫn, những thách thức tất yếu nảy sinh trong tiến trình phát triển của riêng địa phương với tầm nhìn xa, phát triển bền vững gắn kết với phát triển chung của khu vực duyên hải Nam Trung Bộ và đất nước Trách nhiệm này trước hết đặt vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp mà tuyến đầu phải là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh, và trách nhiệm này cũng chỉ chuyển biến thành nhiệm vụ, thành kết quả thực tế chỉ khi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh có được trình độ tư duy lý luận ngang tầm

Thực tiễn gần 30 năm đổi mới cho thấy, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh Khánh Hòa nói riêng đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ về cơ cấu, trình độ, ngày càng được trẻ hoá, năng động và hoạt động ngày càng hiệu quả hơn Tuy nhiên, tình trạng suy nghĩ và làm việc theo thói quen, kinh nghiệm chủ nghĩa và lối suy nghĩ giáo điều, trực quan, cảm tính vẫn đang là lực

Trang 3

cản trong bản thân đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh Khánh Hòa Thực tế này chứng tỏ, bên cạnh các nguyên nhân khác, có nguyên nhân rất quan trọng, (thậm chí được xem là nguyên nhân gốc) là trình độ tư duy lý luận của một bộ phận đội ngũ cán

bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh Khánh Hòa hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đổi mới Đây là vấn đề cấp thiết đối với nhiệm vụ chiến lược xây dựng đội ngũ cán

bộ của Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của tư duy lý luận đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh, với mong muốn nghiên cứu, đánh giá một cách hệ thống những vấn

đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến thực trạng trình độ tư duy lý luận của cán bộ

lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ở Khánh Hòa, tác giả chọn đề tài “Nâng cao trình độ tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý tỉnh Khánh Hòa hiện nay” nhằm

góp phần giải quyết một trong những vấn đề cấp bách trong tiến trình phát triển kinh tế

- xã hội ở tỉnh Khánh Hòa hiện nay

2 Mục đích, nhiệm vụ của luận án

2.1 Mục đích:

Đánh giá thực trạng và luận giải nguyên nhân thực trạng trình độ tư duy lý luận (TDLL) của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý (CB LĐ, QL) cấp tỉnh ở Khánh Hòa, từ

đó, đề xuất những giải pháp nâng cao trình độ TDLL cho đội ngũ cán bộ này nhằm đáp

ứng đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương

2.2 Nhiệm vụ:

Để đạt được mục đích trên, luận án có những nhiệm vụ cơ bản sau:

- Phân tích vai trò của trình độ TDLL đối với sự phát triển của tỉnh Khánh Hòa trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, từ đó thấy được sự cần thiết phải nâng cao trình độ TDLL cho đội ngũ CB LĐ, QL cấp tỉnh ở Khánh Hòa

- Phân tích thực trạng và nguyên nhân thực trạng về trình độ TDLL của đội ngũ CB

LĐ, QL cấp tỉnh ở Khánh Hòa

Trang 4

- Đề xuất một số phương hướng giải pháp chủ yếu để góp phần nâng cao trình độ TDLL cho đội ngũ CB LĐ, QL cấp tỉnh ở Khánh Hòa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

4.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận luận của Luận án được xác định bởi:

- Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử;

- Tư tưởng Hồ Chí Minh;

- Một số quan điểm đường lối của Đảng trong các lĩnh vực của thời kỳ đổi mới;

- “Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới 1986 - 2006” của Ban chỉ đạo tổng kết lý luận trực thuộc Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam;

- “Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới 1986 - 2016” của Ban chỉ đạo tổng kết lý luận trực thuộc Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam;

- Các công trình khoa học trong và ngoài nước đã được công bố về:

+ tư duy, tư duy lý luận;

+ vai trò của tư duy lý luận;

+ cán bộ lãnh đạo, quản lý

Trang 5

- Thực trạng trình độ TDLL của đội ngũ CB LĐ, QL tỉnh Khánh Hòa từ 2010 đến

2015 qua các đánh giá tổng kết của Đảng bộ, chính quyền Khánh Hòa

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án chủ yếu sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy lịch lịch sử như: Phân tích và tổng hợp, lịch sử và lôgíc, qui nạp và diễn dịch Ngoài ra, luận án còn sử dụng một số phương pháp khác như: Điều tra xã hội học, thống kê, so sánh với tư cách là những phương pháp bổ trợ

5 Cái mới của luận án

- Luận án bước đầu nghiên cứu làm rõ nội hàm với cấu trúc và đặc điểm chủ yếu của trình độ tư duy lý luận cũng như vai trò của trình độ TDLL tác động đến sự hình thành những phẩm chất cần phải có của CB LĐ, QL cấp tỉnh giai đoạn mới hiện nay

- Luận án chỉ ra được thực trạng trình độ TDLL của CB LĐ, QL cấp tỉnh ở Khánh Hòa, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm từng bước phát huy và nâng cao trình độ TDLL cho đội ngũ cán bộ này trong điều kiện hiện thực khách quan đã có những thay đổi về hình thức, qui mô, phạm vi, tốc độ

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận và thực tiễn nâng cao trình độ TDLL của CB LĐ, QL cấp tỉnh

Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ nghiên cứu, giảng dạy, học tập

ở các trường Chính trị tỉnh, các học viện Chính trị; được sử dụng cho công tác nghiên cứu, xây dựng, hoạch định chiến lược, chính sách và quy hoạch, phát triển đội ngũ CB

LĐ, QL cấp tỉnh ở các địa phương khác và ở tỉnh Khánh Hòa thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), hội nhập quốc tế

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận chung và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài luận án gồm 4 chương, 10 tiết

Trang 6

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Những vấn đề chung về tư duy lý luận và vai trò của nó đối với hoạt động

của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý

Nghiên cứu lý luận về tư duy, TDLL dưới góc độ triết học đã và đang thu hút nhiều

tác giả quan tâm nghiên cứu và có nhiều thành công nhất

Nghiên cứu tư duy lý luận, trình độ tư duy lý luận

Tác giả Nguyễn Đăng Quang với bài viết: “Quan hệ giữa đổi mới nội dung tư duy

và đổi mới phương pháp tư duy”, tạp chí Cộng sản, số 10, 1987, đã cho rằng, cần nhận

thức đúng mối quan hệ giữa nội dung, hình thức và phương pháp tư duy, vai trò của

mối quan hệ ấy trong quá trình nhận thức, cải tạo thế giới Tác giả khẳng định: muốn

đổi mới tư duy phải bắt đầu từ việc đổi mới phương pháp tư duy Bởi lẽ, nếu phương

pháp tư duy sai lầm thì đương nhiên không thể có kết luận đúng Phương pháp tư duy

thực sự cách mạng, khoa học, cần thiết cho sự nghiệp đổi mới của chúng ta là phương

pháp tư duy biện chứng (TDBC) duy vật Nguyễn Đình Trãi: “Nâng cao năng lực tư

duy lý luận cho cán bộ giảng dạy lý luận Mác- Lênin ở các trường chính trị tỉnh”, luận

án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2001, tác giả đã đề cập

đến nội dung các khái niệm tư duy, TDLL khoa học và đặc trưng cơ bản của nó cũng

như các yếu tố cấu thành năng TDLL Tác giả đi sâu nghiên cứu và tìm ra bản chất của

TDLL, con đường khắc phục kiểu tư duy kinh nghiệm và xây dựng kiểu TDLL khoa

học Công trình cũng nêu bật các đặc trưng cơ bản của tư duy kinh nghiệm, TDLL

khoa học, năng lực TDLL và trình độ TDLL Từ sự phân tích sâu sắc những yếu tố cấu

thành năng lực TDLL (cấu trúc của nó), những yếu tố ảnh hưởng tới năng lực TDLL

như tác động về mặt sinh học, tác động về mặt xã hội, tác giả khẳng định rằng: Năng

lực tư duy nói chung, năng lực TDLL nói riêng, chủ yếu là sản phẩm của lịch sử xã

hội, sản phẩm của môi trường hoạt động, của sự học tập và rèn luyện của chủ thể tư

Trang 7

duy Nguyễn Bá Dương với nghiên cứu “Về đặc trưng của tư duy biện chứng duy vật”,

tạp chí Triết học số 5, 1999, tác giả đã đi sâu phân tích năm đặc trưng cơ bản của TDBC (như TDBC là loại hình tư duy phát triển cao nhất so với các hình thức tư duy trong lịch sử; phản ánh hiện thực đang vận động, biến đổi; phản ánh đúng sự vận động, phát triển và những mâu thuẫn vốn có của thế giới khách quan; TDBC có tính khách quan; nó là tư duy khoa học, cách mạng, có tính phê phán và chiến đấu cao, luôn tạo ra sản phẩm kép) Trên cơ sở đó khẳng định vai trò và tầm quan trọng của TDBC trong

nhận thức và cải tạo thế giới Trong “Một số vấn đề tư duy biện chứng mác xít” của Trần Đình Thỏa, tạp chí Triết học số 2, 2002, tác giả đã tiếp cận lịch sử hình thành,

phát triển của TDBC, so sánh TDBC với các hình thức tư duy khác để chỉ rõ sự khác biệt của TDBC duy vật với các hình thức tư duy khác ở các đặc trưng cơ bản: tính khách quan; tính toàn diện; tính lịch sử; sự thống nhất giữa lịch sử và lôgíc; quá trình

đi từ trừu tượng đến cụ thể Như vậy, các tác giả những công trình khoa học nêu trên

đã phân tích làm rõ nguồn gốc, bản chất, đặc điểm của tư duy, lịch sử hình thành, phát triển của TDBC duy vật, mối quan hệ giữa nội dung và phương pháp tư duy trong hướng đến nâng cao năng lực tư duy; khẳng định TDLL với giá trị là tư duy mang tính khoa học là hình thức cao nhất của tư duy; ý nghĩa triết học của vấn đề nghiên cứu Thông qua các công trình nghiên cứu khoa học của mình, các tác giả đều tiếp cận vấn đề từ góc độ triết học đã góp phần làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận chung nhất về tư duy, năng lực tư duy, TDLL Những công trình nghiên cứu khoa học trên cũng là nguồn tài liệu phong phú, đa dạng, đáng tin cậy để tác giả luận án kế thừa: một mặt hệ thống hóa một cách khoa học, một mặt nghiên cứu phát triển mở rộng từ đó khẳng định tính khoa học cơ sở lý luận của đề tài

Nghiên cứu những tác động, vai trò ảnh hưởng của tư duy lý luận, trình độ tư duy lý luận đối với với phát triển xã hội và sự nghiệp đổi mới

Đây là hướng nghiên cứu đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong nước, nhất là từ sau khi Đảng ta tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước năm 1986 đến

Trang 8

nay Hướng nghiên cứu đề tài này đã được nhiều nhà khoa học đề cập sâu sắc từ nhiều góc độ khác nhau

Tác giả Đào Duy Tùng trong “Bàn về đổi mới tư duy”, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1986,

đã chỉ rõ: đổi mới tư duy là yêu cầu bức thiết, là mệnh lệnh cuộc sống, là nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp đổi mới đất nước Tác giả đã đưa ra căn cứ thuyết phục cần thiết phải đổi mới tư duy như sự lạc hậu về kinh tế, chính trị, xã hội; sự yếu kém của TDLL về con đường đi lên CNXH…Từ sự phân tích đó, tác giả nêu ra phương hướng, nội dung và các biện pháp để đổi mới tư duy Theo tác giả, để đi lên CNXH, chúng ta phải đổi mới tư duy trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, xã hội, tư tưởng, tổ chức; đổi mới không chỉ về nội dung mà còn phải đổi mới cả về phương pháp tư duy, nắm vững phương pháp tư duy mácxit Tác giả nhấn mạnh, muốn đổi mới tư duy hiệu quả cần đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, khái quát lý luận, kiểm tra lại hệ thống tri thức; tích cực nghiên cứu lịch sử phát triển tư duy dân tộc và nhân loại; đổi mới công tác thông tin; khắc phục chủ nghiã cá nhân; xuất phát từ thực tiễn, tập trung giải quyết

những vấn đề thực tiễn đặt ra Trần Hữu Tiến với nghiên cứu“ Đổi mới TDLL- vấn đề cấp bách hiện nay” trong sách “Mấy vấn đề cấp bách về đổi mới TDLL”, Học viện

Nguyễn Ái Quốc, Hà Nội, 1988, đã chỉ ra những “căn bệnh” trong TDLL của chúng ta, nguyên nhân của nó, các biện pháp và phương hướng khắc phục Bàn về “căn bệnh” trong tư duy của chúng ta, tác giả chỉ rõ hai “căn bệnh” chủ yếu là phương pháp chủ quan và giáo điều trong TDLL Về nguyên nhân của “căn bệnh” trên, tác giả cho rằng, nguyên nhân khách quan là do tính mới mẻ của sự nghiệp xây dựng CNXH; do nền kinh tế vốn đã lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, trình độ văn hóa, khoa học của cán bộ, đảng viên và đông đảo quần chúng nhân dân còn thấp; sự lạc hậu của công tác tổng kết thực tiễn, khái quát lý luận xây dựng CNXH Nguyên nhân chủ quan là do chúng ta chưa phát huy tốt năng lực TDLL, mất cảnh giác với bảo thủ, lạc hậu; do cơ chế tập trung, bao cấp chi phối dẫn đến hoạt động lý luận không có được bầu không khí dân chủ; công tác nghiên cứu lý luận và đào tạo cán bộ còn lạc hậu Về biện pháp

Trang 9

khắc phục, tác giả cho rằng: phải nắm vững tinh thần khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác- Lênin; phân tích thực trạng kinh tế, xã hội của đất nước; phải hướng tư duy vào giải quyết các nhiệm vụ kinh tế, xã hội đặt ra, kết hợp chặt chẽ giữa tư duy kinh tế với tư duy chính trị, đồng thời đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý

luận, dân chủ hóa trong khoa học và đời sống Vũ Anh Tuấn:“Nhận thức kinh nghiệm- những biểu hiện đặc thù và ảnh hưởng của nó trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cải tạo, xây dựng xã hội ta hiện nay”, luận án Phó tiến sĩ khoa học Triết học, Viện

Triết học, Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Hà Nội, 1994 Luận án trình bày: TDLL và tính tất yếu của việc đổi mới TDLL về CNXH; đổi mới TDLL của Đảng ta về CNXH và con đường đi lên CNXH; một số phương hướng tiếp tục đổi mới

và nâng cao trình độ TDLL của Đảng nhằm đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới ở nước ta

Trong sách “Tư duy lý luận với sự nghiệp đổi mới”, Học viện Chính trị Quốc gia, Hà

Nội, 2004, tác giả Trần Nhâm đã phân tích và luận giải đặc thù của tư duy triết học mácxít, vai trò của nó đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng CNXH Tác giả cho rằng,

tư duy triết học duy vật biện chứng là kết quả của hoạt động nhận thức, là một hệ thống

ổn định của những học thuyết, khái niệm, nguyên lý, các luận điểm khoa học phản ánh bản chất, quy luật vận động, phát triển của khách thể Do đó, tư duy triết học đóng vai trò thế giới quan, phương pháp luận cho hoạt động nhận thức khoa học của các ngành khoa học cụ thể và hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới Sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay đòi hỏi phải nâng cao tầm tư duy triết học, phải làm cho tư duy triết học giữ vai trò phương pháp luận ở cả ba cấp độ: thực tiễn cụ thể, đối tượng nghiên cứu và lý thuyết khoa học Cần khắc phục những kiểu tư duy siêu hình, máy móc hoặc chiết trung, ngụy biện, xác lập một cách vững chắc TDLL biện chứng duy vật đáp ứng yêu

cầu đổi mới của đất nước Phạm Như Cương với công trình“Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận - một đòi hỏi bức xúc hiện nay của đất nước và của thời đại”, Nhà xuất bản Sự

thật, Hà Nội, 2004 đã tìm hiểu hành trình tư duy của Mác; đổi mới nhận thức về lịch sử phát triển của học thuyết Mác, về lịch sử phát sinh, phát triển của hình thái kinh tế - xã

Trang 10

hội Cộng sản Trên cơ sở đó, tác giả phân tích thực trạng một số vấn đề lý luận và thực tiễn của sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay, từ đó tác giả đặt ra yêu cầu cần tiếp tục đổi mới TDLL nhằm tạo nên những chuyển biến tích cực, mạnh mẽ hơn nữa cho sự phát triển của đất nước, phù hợp với dòng chảy phát triển của thế giới Tô

Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo, Trần Khắc Việt trong công trình“Quá trình đổi mới tư duy

lý luận của Đảng từ 1986 đến nay”, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2006,

các tác giả phân tích tác động của tình hình thế giới và trong nước tới công cuộc đổi mới; hệ thống vai trò của lý luận và TDLL đối với công cuộc đổi mới; đánh giá tổng quát ưu điểm, hạn chế và kinh nghiệm của quá trình đổi mới Nguyễn Phú Trọng (chủ

biên)“Đổi mới và phát triển ở Việt Nam-một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006: Cuốn sách nêu bật quá trình hình thành và phát triển đường lối đổi mới mà bản chất là phân tích làm rõ quá trình hình thành tư duy đổi mới, trước hết là đổi mới TDLL kinh tế, tiến tới đổi mới toàn diện TDLL trên các mặt của đời sống xã hội Nhóm tác giả đã tổng kết 10 lĩnh vực lý luận đã và đang dần được làm sáng tỏ góp phần quan trọng tạo nên những thành tựu sự nghiệp 20 năm đổi mới Phạm

Văn Nhuận với nghiên cứu “Phát triển tư duy lý luận là mệnh lệnh của cuộc sống”,

Báo Quân đội nhân dân, 27/11/2010 đã nêu rõ: cuộc sống luôn vận động, phát triển, đòi hỏi TDLL cũng phải không ngừng đổi mới, phát triển hoàn thiện Sự gắn kết chặt chẽ giữa lý luận khoa học với thực tiễn phong trào công nhân, mà trước hết với đội tiền phong là Đảng Cộng sản là điều kiện cơ bản hàng đầu thúc đẩy cả phong trào cách mạng và TDLL phát triển Ngày nay, sự nghiệp đổi mới ở nước ta đang đặt ra nhiều vấn đề mới phát triển TDLL khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đổi mới, phát triển TDLL là mệnh lệnh của cuộc sống mà thực tiễn cách mạng Việt Nam đang đặt ra với toàn Đảng, toàn dân ta Đổi mới tư duy, tăng cường hiệu quả nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ những vấn đề mới nảy sinh trong tiến trình đổi mới, không ngừng phát triển lý luận, đề ra đường lối và chủ trương đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước; kịp thời khắc phục một số mặt lạc hậu, yếu kém của

Trang 11

công tác nghiên cứu lý luận Sự phát triển của TDLL không tách rời cuộc đấu tranh không khoan nhượng với những quan điểm, tư tưởng tư sản, phản động xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng dưới mọi màu sắc; đồng thời chống các biểu hiện giáo điều, máy móc, ngại thay đổi, không dám chịu trách nhiệm, thiếu dũng khí trong nghiên cứu, luận chiến, làm triệt tiêu động lực khoa học trong nghiên cứu phát triển TDLL khoa học Nguyễn Ngọc Hà (chủ biên) với

cuốn:“Đặc điểm tư duy và lối sống của con người Vệt Nam hiện nay”, Nhà xuất bản

Khoa học xã hội, Hà Nội, 2011, đã phân tích làm rõ các đặc điểm về tư duy và lối sống của con người Việt Nam, biểu hiện của từng đặc điểm đó, những nguyên nhân tồn tại của các đặc điểm và ảnh hưởng của từng đặc điểm đối với con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Theo tác giả: “Trong thời đại hiện nay, thời đại của văn minh trí tuệ, thời đại của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, thời đại của những biến đổi hết sức nhanh chóng, tư duy có một vai trò cực kì quan trọng Nâng cao năng lực tư duy, tính năng động mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo của tư duy, trình độ tư duy có ý nghĩa quyết định sự thành bại của một chủ thể, của một quốc gia, của cả nhân loại trong thời đại hiện nay”[25, tr.16] Tư duy có vai trò rất to lớn trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người ở tầm vi mô, tầm vĩ mô, ở cả tầm cộng đồng quốc gia, cả tầm cộng đồng thế giới, từ đó, tác giả đưa ra một số phương hướng giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện các đặc điểm tích cực về tư duy và lối sống con người Việt Nam hiện nay như một yêu cầu tất yếu khách quan của thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế Trần Sỹ Phán

với nghiên cứu“Đổi mới tư duy lý luận - khâu đột phá trong sự nghiệp đổi mới của Đảng ta”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, 28/12/2011, đã chỉ ra vai trò của

TDLL, đặc biệt là TDLL chính trị khoa học trong nhận thức và cải tạo thế giới Theo tác giả: nhận thức một cách sâu sắc ý nghĩa và tầm quan trọng của TDLL trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta lấy đổi mới TDLL làm khâu “đột phá” cho toàn bộ

sự nghiệp đổi mới của mình Tác giả cũng đã phân tích quá trình đổi mới TDLL của Đảng ta bao quát mọi lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế, xã hội

Trang 12

Nhìn chung, tác động, vai trò của TDLL đã được các tác giả nghiên cứu ở nhiều góc tiếp cận khác nhau và được khẳng định thuyết phục, dẫn đến tính khách quan tất yếu đổi mới tư duy lý luận: từ TDLL về CNXH, con đường đi lên CNXH đến các mặt, các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế, xã hội; những công trình khoa học trên đã cung cấp

cơ sở lý luận để tác giả luận án luận giải một cách hệ thống tính khách quan đó Những biến đổi trong nước và quốc tế bao gồm đan xen thời cơ và thách thức hiện nay đã và đang đặt ra yêu cầu một bước cao hơn, nhanh hơn, cụ thể hơn đáp ứng của đổi mới và nâng cao năng lực TDLL, vì vậy, nghiên cứu sâu hơn ở góc độ tiếp cận trình độ TDLL của đề tài luận án sẽ là hướng bổ sung, phát triển làm sâu sắc hơn vai trò cũng như tính khách quan tất yếu của trình độ TDLL đối với sự phát triển công cuộc đổi mới hiện nay, trong đó có địa phương Khánh Hòa Cũng từ tổng quan các nghiên cứu này gợi ý cho tác giả luận án cần thiết nghiên cứu, tìm hiểu một khâu trung gian giữa TDLL với thực tiễn đổi mới đất nước mà qua đó vai trò của TDLL được khẳng định, đó là trình độ TDLL của cán bộ, trong đó có đội ngũ CB LĐ, QL

Nghiên cứu vai trò của tư duy lý luận đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta

Tác giả Nguyễn Văn Linh“Đổi mới tư duy và phong cách tư duy”, Nhà xuất bản Sự

thật, Hà Nội, 1987, đã tập trung phân tích và chỉ rõ những hạn chế của TDLL của Đảng trong thời kỳ tập trung, bao cấp Trên cơ sở đó luận giải sự cần thiết phải đổi mới tư duy và phong cách tư duy của Đảng và đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta; đồng thời tác

giả đưa ra những nội dung cần thực hiện đổi mới tư duy Tác giả Trần Văn Phòng (chủ

biên) cùng các tác giả khác trong công trình “Học tập phong cách tư duy Hồ Chí

Minh” đã trình bày kết quả nghiên cứu về bản chất, đặc trưng phong cách tư duy Hồ

Chí Minh, trong cuốn sách này, các tác giả đề xuất xây dựng phong cách tư duy cho cán bộ lãnh đạo, quản lý theo phong cách tư duy Hồ Chí Minh Nhóm các tác giả Trần

Thành, Trần Phúc Thăng, Hoàng Chí Bảo với cuốn: “Tư duy lí luận với hoạt động của

người cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn”, đã đi sâu phân tích khái niệm, nội dung và

Trang 13

vai trò của TDLL và yêu cầu của TDLL đối với cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn

Trần Thành (chủ biên) cùng các tác giả Hoàng Hải Bằng, Nguyễn Ngọc Long, Nguyễn

Văn Huyên qua công trình“Bản lĩnh chính trị với năng lực của cán bộ lãnh đạo, quản

lý trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 2006 đã nêu bản lĩnh chính trị và quan hệ giữa bản lĩnh chính trị với năng lực lãnh đạo, quản lý của cán bộ trong hệ thống chính trị ở nước ta Cuốn sách cũng làm nổi bật sự thống nhất và những giải pháp chủ yếu tăng cường sự thống nhất giữa bản lĩnh chính trị và năng lực lãnh đạo, quản lý của cán bộ trong hệ thống chính trị ở nước

ta.“Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới 1986 – 2006” của Ban chỉ đạo tổng kết lý luận trực thuộc Ban chấp hành Trung ương Đảng

Cộng sản Việt Nam, 2006, chỉ rõ: Phải tiếp tục đổi mới TDLL, làm tốt công tác chính trị tư tưởng, nâng cao trình độ trí tuệ và năng lực lãnh đạo chính trị, năng lực cầm quyền, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng; phát huy dân chủ, giữ vững

kỷ luật, tăng cường đoàn kết thống nhất; làm trong sạch và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; khắc phục có hiệu quả các hiện tượng tiêu cực, đặc biệt là tệ quan liêu, tham nhũng, khôi phục và nâng cao lòng tin của nhân dân đối với Đảng; chấn chỉnh tổ chức bộ máy cán bộ, làm cho Đảng có đủ bản lĩnh chính trị, có kiến thức, có năng lực

và sức chiến đấu cao trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập quốc tế rất phức tạp, có nhiều thời cơ và thách thức mới Yêu cầu đó đòi hỏi mỗi cán

bộ, đảng viên, đặc biệt những người có chức, có quyền thường xuyên trau dồi đạo đức của người cộng sản, nỗ lực phấn đấu nâng cao trí tuệ, năng lực TDLL, gắn lý luận với hoạt động thực tiễn để giải quyết đúng đắn tình hình, hoàn thành tốt nhiệm vụ của

Trang 14

chỉ ra đặc điểm bản lĩnh chính trị của người CB LĐ, QL ở nước ta, các yếu tố hình thành và phát triển bản lĩnh chính trị của người CB LĐ, QL, như là là sự học tập, tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của bản thân người cán bộ và của những điều kiện kinh tế-

xã hội cũng như thực tiễn lãnh đạo, quản lý tạo nên; PGS.TS Vũ Văn Viên với nghiên

cứu“Nâng cao năng lực tư duy khoa học cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo – một yếu tố quan trong để nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng”, tạp chí Triết học số 12-2007,

tác giả khẳng định nâng cao năng lực tư duy khoa học cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo là yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực trí tuệ lãnh đạo của Đảng Trên cơ sở đó làm rõ khái niệm năng lực tư duy khoa học, năng lực trí tuệ, vai trò của nó đối với đội ngũ cán

bộ lãnh đạo, tổ chức Đảng; tác giả nhấn mạnh một số biện pháp cơ bản để nâng cao năng lực tư duy khoa học, năng lực trí tuệ cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo

Nguyễn Bình Yên:“Ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng phong kiến trong cán bộ lãnh

đạo, quản lý và những hướng khắc phục”, luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị

quốc gia Hồ Chí Minh, 1999 Tác giả chỉ ra vai trò của đội ngũ CB LĐ, QL và đánh giá thực trạng đội ngũ CB LĐ, QL; ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng phong kiến trong đội ngũ CB LĐ, QL; phương hướng cơ bản nhằm khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của tư

tưởng phong kiến trong đội ngũ CB LĐ, QL hiện nay Nguyễn Thị Bích Thủy:“Vai trò của tư duy biện chứng đối với cán bộ lãnh đạo kinh tế trong quá trình đổi mới ở nước

ta hiện nay”, luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2001

Luận án phân tích bản chất và đặc điểm TDBC, vai trò của nó đối với cán bộ lãnh đạo kinh tế ở nước ta là: TDBC có vai trò vô cùng quan trọng đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo nói chung và cán bộ lãnh đạo kinh tế nói riêng, vai trò của TDBC không chỉ thể hiện một cách tổng quát ở sự hình thành thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp nhận thức đúng đắn ở họ, mà cụ thể hơn, như: ra quyết định; tổ chức thực hiện quyết định; phát hiện và giải quyết các mối quan hệ trong quá trình lãnh đạo kinh tế; kiểm tra; tổng kết rút kinh nghiệm

Trang 15

Dương Minh Đức:“Nâng cao năng lực tư duy lý luận của cán bộ lãnh đạo chủ chốt

cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay”, luận án tiến sĩ Triết học, Học viện

Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2006 Luận án đánh giá vai trò năng lực TDLL đối với hoạt động lãnh đạo của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh trong giai đoạn hiện nay như: năng lực TDLL giúp cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh nâng cao khả năng nhận thức sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhận thức đúng đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước

và tiếp thu những tri thức khoa học khác; năng lực TDLL giúp cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh nâng cao năng lực nhận thức thực tiễn và vận dụng sáng tạo lý luận, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước trong việc đề ra những nghị quyết, chủ trương, chính sách cụ thể trên địa bàn tỉnh mà mình phụ trách; nâng cao năng lực xử lý thông tin để trên cơ sở đó ra được các quyết định đúng đắn, chính xác, kịp thời phù hợp với thực tiễn; nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn, năng

lực dự báo, định hướng trong hoạt động lãnh đạo của họ Trần Sỹ Dương:“Ảnh hưởng của tâm lý sản xuất nhỏ ở đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở đồng bằng Bắc bộ hiện nay”, luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2010 Luận

án phân tích cơ sở hình thành và đặc trưng của tâm lý sản xuất nhỏ ở đồng bằng Bắc bộ; những ảnh hưởng và xu hướng biến đổi của tâm lý sản xuất nhỏ ở đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở; đưa ra một số giải pháp cơ bản để khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý sản xuất nhỏ ở đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở đồng bằng Bắc bộ

hiện nay Tác giả Nguyễn Đức Quyền:“Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở tỉnh Lạng Sơn hiện nay”, luận án tiến sĩ Triết học, Học

viện Khoa học xã hội, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, 2010 Tác giả luận án đã làm

rõ khái niệm năng lực TDLL, qua đó phân tích vai trò chủ yếu của năng lực TDLL đối với hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện trong giai đoạn hiện nay, thể hiện những điểm cụ thể sau: năng lực TDLL giúp người cán bộ chủ chốt cấp huyện nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh,

Trang 16

đường lối của Đảng và khả năng tiếp nhận những tri thức khoa học khác; nâng cao khả năng nhận thức thực tiễn và vận dụng sáng tạo lý luận, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước đề ra những nghị quyết, chủ trương nhằm thúc đẩy sự phát triển toàn diện trên địa bàn huyên; giúp cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn; nâng cao năng lực dự báo, khả năng xử lý thông tin trên cơ sở đó định hướng đúng đắn, quyết định kịp thời, chính xác hoạt động lãnh đạo, quản lý phù hợp với thực tiễn địa bàn họ phụ trách; năng lực TDLL giúp cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện xây dựng phương pháp làm việc khoa học, tác phong dân chủ, tổ chức phối hợp, động viên cán bộ cấp dưới và quần chúng nhân dân tham gia thực hiện tốt các nhiệm vụ trên địa bàn

Đề tài nghiên cứu cấp bộ: “TDLL của cán bộ LĐ, QL cấp tỉnh hiện nay - thực trạng

và giải pháp”, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2002 Các tác giả đề tài đã

luận giải các vấn đề của TDLL dưới góc độ chung như bản chất, đặc điểm, vai trò của TDLL trong sự phát triển của đất nước hiện nay, nhấn mạnh: TDLL đối với người CB

LĐ, QL cấp tỉnh như “chìa khóa” mở ra cho hoạt động nhận thức và thực tiễn của họ

Có TDLL, họ nắm được thực chất đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, có khả năng phân tích, luận giải để nắm được tinh thần của đường lối đó Có TDLL, người cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh có đủ năng lực phân tích sự phong phú, tính đa dạng và phức tạp của thực tiễn cuộc sống đời thường để từ đó vận dụng lý luận một cách chủ động, thích hợp, sáng tạo, hiệu quả Các tác giả còn cho rằng, TDBC duy vật

là hình thức phát triển cao nhất của lịch sử phát triển TDLL TDBC duy vật có các đặc điểm như tính trừu tượng hóa, khái quát hóa cao, tính khoa học, tính gợi mở, sáng tạo, tính phê phán sâu sắc Do đó, phát triển TDLL cho đội ngũ CB LĐ, QL cấp tỉnh ở nước

ta hiện nay là một trong những nhiệm vụ quan trọng để nâng cao trình độ TDBC duy vật cho đội ngũ này, góp phần đưa công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đi đến thành công

Trang 17

Nhận xét chung từ lược khảo các công trình nghiên cứu nói trên thấy rằng: các tác giả đã phân tích khá rõ bản chất, đặc điểm của tư duy, khái niệm, năng lực tư duy, TDLL, từ đó chỉ rõ vai trò to lớn của tư duy, TDLL đối với đội ngũ cán bộ, trong đó có

CB LĐ, QL trước yêu cầu của phát triển đất nước trong thời kỳ mới Các tác giả phân tích vai trò của TDLL đối với hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp trong giai đoạn hiện nay thể hiện chủ yếu những mặt sau: năng lực TDLL giúp người cán bộ nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; năng lực tiếp thu đường lối của Đảng và khả năng tiếp nhận những tri thức khoa học khác; nâng cao khả năng nhận thức thực tiễn và vận dụng sáng tạo lý luận, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước đề ra những nghị quyết, chủ trương đúng đắn thúc đẩy sự phát triển toàn diện của địa phương; giúp cho đội ngũ cán bộ chủ chốt nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn; nâng cao năng lực dự báo, khả năng xử lý thông tin trên cơ

sở đó định hướng đúng đắn, quyết định kịp thời, chính xác hoạt động lãnh đạo, quản lý phù hợp với thực tiễn địa bàn họ phụ trách; có năng lực TDLL, người CB LĐ, QL có

đủ năng lực phân tích sự phong phú, tính đa dạng và phức tạp của thực tiễn cuộc sống

để từ đó vận dụng lý luận một cách chủ động, thích hợp, sáng tạo, hiệu quả Các tác giả còn cho rằng, TDBC duy vật là hình thức phát triển cao nhất của lịch sử phát triển TDLL TDBC duy vật có các đặc điểm như tính trừu tượng hóa, khái quát hóa cao, tính khoa học, tính gợi mở, sáng tạo, tính phê phán sâu sắc Do đó, phát triển TDLL cho đội ngũ CB LĐ, QL ở nước ta hiện nay là một trong những nhiệm vụ quan trọng để nâng cao trình độ TDBC duy vật cho đội ngũ này, góp phần đưa công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đi đến thành công Với những vai trò to lớn

đó, TDLL sẽ góp phần khắc phục các hạn chế đang có của CB LĐ, QL các cấp

Tuy nhiên, do giới hạn quy định tính mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu mà các công trình nêu trên chưa đề cập sâu đến những trạng thái cụ thể, năng lực cụ thể của TDLL, do vậy, đánh giá về năng lực TDLL còn định tính, trừu tượng, và do đó vai trò của TDLL đối với cán bộ cũng còn ở mức độ chung chung, khái quát Và đây chính

Trang 18

là điểm mới mà tác giả luận án có hướng khai thác: vai trò của trình độ TDLL tác động đến sự hình thành những phẩm chất cần phải có của CB LĐ, QL giai đoạn mới hiện nay

Các công trình khoa học nêu trên đã đặt ra và gợi mở nhiều vấn đề cần được quan

tâm, tiếp tục nghiên cứu và giải quyết, mà một trong những vấn đề đó là trình độ

TDLL Tuy chưa nhiều song đã xuất hiện công trình khoa học bàn đến trình độ TDLL, nhưng mới chỉ dừng lại ở phác thảo các thuộc tính của trình độ TDLL, chưa có điều kiện phát triển thành khái niệm, phân tích sâu sắc các mặt, các nội dung liên quan đến trình độ TDLL Đây là khoảng trống tác giả luận án khai thác, định ra hướng nghiên cứu mới cho đề tài

1.2 Về thực trạng trình độ tư duy lý luận của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh

Nguyễn Thị Bích Thủy với công trình:“Vai trò của tư duy biện chứng đối với cán bộ lãnh đạo kinh tế trong quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay”, luận án tiến sĩ Triết học,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2001 Luận án phân tích thực trạng tư duy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo kinh tế có những ưu điểm nổi bật là: Tư duy kinh nghiệm phong phú, tư duy mang tính thiết thực; tư duy kinh tế năng động nhạy bén; bước đầu

đã có tư duy kinh tế thị trường (KTTT); tư duy kinh tế gắn liền với tư duy chính trị…Bên cạnh sự nổi bật của các ưu điểm trên, tư duy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo kinh

tế cũng bộc lộ những nhược điểm sau: trình độ kiến thức về kinh tế còn thấp, thiếu hệ thống, nhất là KTTT; năng lực và trình độ TDLL yếu kém; tư duy mang tính siêu hình

và còn mắc một số căn bệnh trong phương pháp tư duy; tư duy còn chịu ảnh hưởng nặng nề của các quan niệm tiêu cực của đạo đức truyền thống,….Đề tài nghiên cứu cấp

bộ: “TDLL của CB LĐ, QL cấp tỉnh hiện nay- thực trạng và giải pháp”, Học viện

Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2002, do tác giả Trần Thành làm chủ nhiệm đề tài đã

phân tích thực trạng TDLL của đội ngũ CB LĐ, QL cấp tỉnh ở nước ta hiện nay, làm rõ những hạn chế về TDLL của họ, đưa ra các yêu cầu và giải pháp phát triển TDLL cho đội ngũ này như: trên thực tế CB LĐ, QL cấp tỉnh chủ yếu còn nặng về tư duy kinh

Trang 19

nghiệm hoặc tư duy nặng về kinh nghiệm; Mức độ nắm bắt và chuyển hóa kiến thức lý luận thành tư duy còn hạn chế; nhận thức và vận dụng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào xây dựng các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế

- xã hội cụ thể trên địa bàn tỉnh còn nhiều biểu hiện giáo điều, kinh nghiệm chủ nghĩa; năng lực tổ chức thực tiễn, tổng kết thực tiễn còn nhiều bất cập Dương Minh Đức

trong công trình “Nâng cao năng lực tư duy lý luận của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay”, luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị

quốc gia Hồ Chí Minh, 2006 Luận án phân tích, đánh giá thực trạng năng lực TDLL của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng và nguyên nhân của thực trạng đó Đánh giá về mặt mạnh về năng lực TDLL của đội ngũ này: Cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh đồng bằng sông Hồng có sự nhạy cảm chính trị và bản lĩnh chính trị vững vàng, khả năng đó được nâng lên thành năng lực định hướng chính trị đúng đắn trong hoạt động nhận thức và tổ chức thực tiễn trên địa bàn; có năng lực TDLL tương đối cao, biết vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng vào việc xây dựng các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội cụ thể trên địa bàn, xác định đúng định hướng phát triển; ra được các quyết định đúng đắn, kịp thời, chính xác và đề xuất được các phương án tối ưu thực hiện các quyết định này một cách hiệu quả, thiết thực phù hợp với thực tiễn vùng; đã biết tổng kết việc thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước trên địa bàn tỉnh và vùng một cách có lý luận hơn; đã dự báo đúng xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Bên cạnh ưu điểm trên, năng lực TDLL của đội ngũ này còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH

và hội nhập kinh tế quốc tế: Còn bệnh kinh nghiệm, giáo điều, chủ quan, tư duy lô gic còn hạn chế; trong tổ chức chỉ đạo thực hiện các quyết định cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng còn biểu hiện của bệnh giáo điều, dập khuôn, máy móc; trong hoạt động lãnh đạo của mình, đội ngũ này vẫn nặng về triển khai nghị quyết, chưa coi trọng đúng mức khâu tổng kết thực tiễn để cùng Trung ương giải quyết những vấn đề mới nảy sinh; năng lực chỉ đạo điều phối các huyện, các ban, ngành chưa

Trang 20

thật nhịp nhàng, hiệu quả, thiếu trọng tâm, trọng điểm Nguyễn Đức Quyền trong luận

án tiến sĩ Triết học đề tài:“Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở tỉnh Lạng Sơn hiện nay”, 2010, tác giả đi sâu phân tích những ưu

điểm năng lực TDLL của đội ngũ này như: Nhạy cảm chính trị, có kinh nghiệm chỉ đạo thực tiễn, có năng lực nhất định trong việc vận dụng đường lối đổi mới của Đảng vào xây dựng các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội cụ thể trên địa bàn của mình, có năng lực nhất định trong việc tổng kết kinh nghiệm thực tiễn; có khả năng của

dự báo xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, từ đó đề ra những phương hướng, giải pháp cụ thể để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện còn có hạn chế: cấp độ TDLL đạt được còn thấp, tư duy lôgic yếu; trong hoạt động lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện còn nhiều biểu hiện của bệnh giáo điều, dập khuôn, máy móc; dự đoán, dự báo, đánh gía tình hình chưa theo kịp thực tế, việc nắm bắt, xử lý thông tin thiếu nhạy bén, kịp thời, chính xác; hoạt động của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện còn biểu hiện chủ quan, duy ý chí, trực quan kinh nghiệm, sự bất cập về năng lực tổ chức thực tiễn Hay kết luận số 24-

KL/TW ngày 5-6-2012 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý đến năm 2020” đã chỉ ra hạn chế của đội ngũ này:

Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc Đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, hội nhập quốc tế, xây dựng, phát triển với quy mô ngày càng lớn, một bộ phận CB LĐ, QL nắm giữ khối lượng tài sản, nguồn vốn lớn của tập thể, của Nhà nước;

đó là môi trường để chủ nghĩa cá nhân vụ lợi, thực dụng phát triển Những khuyết điểm này là hệ quả trực tiếp từ yếu kém về TDLL và phản ánh thực trạng TDLL của đội ngũ

CB LĐ, QL các cấp “Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm

Trang 21

đổi mới (1986 – 2016)” của Ban chỉ đạo tổng kết lý luận trực thuộc Ban chấp hành

Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2015, khi tổng kết thành tựu, hạn chế chín lĩnh vực quan trọng đều đã đề cập đến thực trạng TDLL của Đảng nói chung và cụ thể của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý Đánh giá tổng quát, Báo cáo nhận định: Những thành tựu của sự nghiệp đổi mới sau 30 năm là do Đảng ta có đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân ủng hộ, tích cực thực hiện Đảng ta đã nhận thức, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam, có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đồng thời nhạy bén, sáng tạo, kịp thời đưa ra những chủ trương, quyết sách phù hợp cho từng giai đoạn cách mạng, khi tình hình thế giới và trong nước thay đổi Báo cáo cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm về TDLL: Công tác nghiên cứu

lý luận, tổng kết thực tiễn chưa được quan tâm đúng mức, đổi mới TDLL chưa kiên quyết, mạnh mẽ, có mặt còn lạc hậu, hạn chế so với chuyển biến nhanh của thực tiễn

Dự báo tình hình chậm và thiếu chính xác làm ảnh hưởng đến chất lượng các quyết sách, chủ trương, đường lối của Đảng Nhận thức và giải quyết tám mối quan hệ lớn còn hạn chế Đổi mới thiếu đồng bộ, lúng túng trên một số lĩnh vực Hội thảo: “Xây dựng, nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý cho lãnh đạo các sở, ban, ngành, UBND cấp huyện thuộc tỉnh Khánh Hòa” ngày 29/4/2014 đánh giá thực trạng năng lực quản lý hành chính của cán bộ công chức lãnh đạo, quản lý của cấp tỉnh, cấp huyện hiện nay ở tỉnh Khánh Hòa đã đánh giá thực trạng năng lực quản lý hành chính của cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh, cấp huyện hiện nay ở tỉnh Khánh Hòa Về ưu điểm:

Độ tuổi của cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh, cấp huyện đang được trẻ hóa, trình độ, chất lượng được chuẩn hóa và nâng cao; đội ngũ cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý đã nâng cao hơn tinh thần trách nhiệm trong giải quyết công việc, giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, có bước cải thiện về uy tín đối với nhân dân; tư tưởng

Trang 22

chính trị ổn định, có bản lĩnh chính trị vững vàng, ý thức tổ chức kỷ luật; gương mẫu chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của nhà nước, nội bộ đoàn kết Về hạn chế: Độ tuổi cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo chủ yếu ở độ tuổi 40 đến 60 nên tỷ lệ tuổi cán bộ, công chức trẻ giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý còn thấp; trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý tuy đã được nâng lên nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu Hội thảo cũng chỉ ra một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hạn chế năng lực quản lý hành chính của cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh, cấp huyện

Những công trình trên đã phân tích, khái quát được những ưu điểm, hạn chế về năng lực TDLL, phương pháp TDLL đội ngũ CB LĐ, QL các cấp với điểm chung là: có kinh nghiệm chỉ đạo thực tiễn, có năng lực nhất định trong việc vận dụng đường lối đổi mới của Đảng vào xây dựng các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế -xã hội cụ thể trên địa bàn của mình, có năng lực nhất định trong việc tổng kết kinh nghiệm thực tiễn Tuy nhiên, trên thực tế CB LĐ, QL ở địa phương còn nặng về tư duy kinh nghiệm, mức độ nắm bắt và chuyển hóa kiến thức lý luận thành tư duy còn hạn chế; nhận thức và vận dụng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào xây dựng các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội cụ thể trên địa bàn phụ trách còn nhiều biểu hiện giáo điều, kinh nghiệm chủ nghĩa; hoạt động của đội ngũ CB LĐ, QL còn biểu hiện chủ quan, duy ý chí, trực quan kinh nghiệm; năng lực tổ chức thực tiễn, tổng kết thực tiễn còn nhiều bất cập Với nguồn tài liệu này giúp tác giả có cái nhìn khá bao quát về thực trạng trình độ TDLL của đội ngũ CB LĐ, QL nói chung

Qua nghiên cứu tổng quan về thực trạng năng lực TDLL của CB LĐ, QL, tác giả nhận thấy các nghiên cứu này mới dừng lại đơn lẻ hoặc là năng lực TDLL hoặc là phương pháp TDLL ở phần lý luận nên khi đánh giá thực trạng cũng xem xét ở hai góc

độ riêng biệt đó Cũng đã có một số ít công trình tiếp cận đến trình độ TDLL, song do hạn chế bởi mức độ và phạm vi nghiên cứu nên chưa có điều kiện nghiên cứu sâu, vì thế đánh giá thực trạng vẫn nghiêng nhiều về một trong hai hướng đã nêu trên Kế thừa

Trang 23

các hướng nghiên cứu đã có, tác giả luận án phát triển sâu hơn vấn đề nghiên cứu ở mức độ trình độ TDLL, từ đó những đánh giá về thực trạng trình độ TDLL đối với đội ngũ CB LĐ, QL cấp tỉnh Khánh Hòa sẽ rõ hơn, cụ thể hơn, phân tích tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng cũng sẽ có điều kiện chi tiết hơn nhưng cũng toàn diện hơn Mặt khác, đánh giá thực trạng trình độ TDLL của đội ngũ CB LĐ, QL cấp tỉnh cũng như tiêu chí để đánh giá trình độ TDLL của đội ngũ CB LĐ, QL cấp tỉnh còn nhiều ý kiến khác nhau, do đó quan điểm về thực trạng và nguyên nhân của thực trạng của luận án cũng sẽ là những đóng góp mới của đề tài

1.3 Về các giải pháp nâng cao trình độ tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh

Đề tài nghiên cứu cấp bộ do tác giả Trần Thành làm chủ nhiệm:“TDLL của CB LĐ,

QL cấp tỉnh hiện nay- thực trạng và giải pháp”, Học viện Chính trị Quốc Gia Hồ Chí

Minh, 2002 Các tác giả chỉ ra một số giải pháp nâng cao trình độ TDLL cho CB LĐ,

QL cấp tỉnh hiện nay: Đổi mới nội dung, chương trình giảng dạy triết học; đổi mới phương pháp giảng dạy chủ nghĩa Mác- Lênin; tăng cường và nâng cao tính hiệu quả công tác tổng kết thực tiễn của đội CB LĐ, QL cấp tỉnh; nâng cao đạo đức cách mạng – tạo cơ sở nền tảng rèn luyện, phát triển TDLL cho người CB LĐ, QL; tạo động lực kích thích người CB LĐ, QL rèn luyện, nâng cao trình độ TDLL Dương Minh Đức

trong công trình “Nâng cao năng lực tư duy lý luận của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay”, luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị

quốc gia Hồ Chí Minh, 2006 Luận án đề xuất giải pháp nâng cao năng lực TDLL cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH như: Trau dồi và rèn luyện phương pháp TDBC duy vật cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng; tăng cường tổng kết thực tiễn và đổi mới phương pháp tổng kết thực tiễn- giải pháp quan trọng để nâng cao năng lực TDLL của cán bộ lãnh đạo chủ chốt vùng đồng bằng sông Hồng; tiếp tục đổi mới công tác đào tạo, bố trí, sử dụng, đãi ngộ cán bộ đồng thời phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo

Trang 24

của đội ngũ này trong việc tự phấn đấu rèn luyện nâng cao năng lực TDLL; thực hiện

dân chủ và mở rộng dân chủ trong hoạt động lãnh đạo Tác giả Nguyễn Đức Quyền với

đề tài: “Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở tỉnh Lạng Sơn hiện nay”, luận án tiến sĩ Triết học, 2010 Tác giả luận án đề ra các giải pháp:

Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội tạo bước chuyển biến tích cực về đời sống vật chất, văn hoá, trình độ dân trí cho cán bộ và cộng đồng, là tiền đề quan trọng để nâng cao TDLL cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện; đổi mới và nâng cao chất lượng công tác cán bộ, coi trọng các khâu trong công tác cán bộ trên cơ sở chuẩn hóa đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở tỉnh Lạng Sơn; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng, trình độ năng lực TDLL và năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn; phải thường xuyên học tập, nghiên cứu tiếp thu lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và trau dồi phẩm chất, rèn luyện phương pháp TDBC duy vật; nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn và đổi mới phương pháp tổng kết thực tiễn; gắn lý luận với thực tiễn; thực hiện dân chủ trong lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện

Hội thảo: “Xây dựng, nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý cho lãnh đạo các sở, ban ngành, UBND cấp huyện thuộc tỉnh Khánh Hòa” ngày 29/4/2014 đánh giá thực trạng năng lực quản lý hành chính của cán bộ công chức lãnh đạo, quản lý của cấp tỉnh, cấp huyện hiện nay ở tỉnh Khánh Hòa đã đưa ra giải pháp để xây dựng nâng cao năng lực

quản lý hành chính cho cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh, huyện: Một là,

cần tiếp tục làm tốt công tác công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý, chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng; hai là, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý các cấp; ba là, đổi mới về tuyển chọn, bổ nhiệm, bố trí, sử dụng, luân chuyển cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý; bốn là, đẩy mạnh công tác hiện đại hóa nền hành chính, ứng dụng công nghệ, phần mềm quản lý; năm là, về chế độ, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý

Trang 25

Tóm lại, qua phân tích các nguyên nhân thực trạng hạn chế về năng lực TDLL của đội ngũ CB LĐ, QL nói chung, các tác giả chỉ ra một số giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng lực, trình độ TDLL cho CB LĐ, QL các cấp: Đẩy mạnh phát triển kinh

tế - xã hội; tăng cường giáo dục, đào tạo nâng cao trình độ và rèn luyện phương pháp

tư duy biện chứng cho cán bộ thông qua đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy chủ nghĩa Mác- Lênin; đổi mới và nâng cao chất lượng công tác cán bộ, coi trọng các khâu trong công tác cán bộ trên cơ sở chuẩn hóa đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp, tăng cường và nâng cao tính hiệu quả công tác tổng kết thực tiễn và rèn luyện qua thực tiễn của đội ngũ CB LĐ, QL; nâng cao đạo đức cách mạng – tạo cơ sở nền tảng rèn luyện, phát triển TDLL cho người CB LĐ, QL; tạo động lực người CB LĐ, QL rèn luyện, nâng cao trình độ TDLL; đổi mới công tác lãnh đạo, quản lý ở cơ sở, thực hiện dân chủ trong lãnh đạo, quản lý; tiếp tục đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với CB LĐ, QL cấp cơ sở

Như ở các mục trên đã đề cập, do có sự liên kết chặt chẽ giữa các đề mục nên giải pháp mà các tác giải đưa ra chủ yếu nhằm giải quyết đáp ứng năng lực tư duy hoặc phương pháp tư duy một cách riêng rẽ trong mỗi công trình Tác giả luận án kế thừa những kết quả nghiên khoa học của các tác gỉả đi trước, đồng thời mở rộng và phát triển thêm các giải pháp do hai lý do: giải pháp đáp ứng nâng cao trình độ TDLL sẽ có những điểm khác so với giải pháp cho năng lực tư duy, hoặc phương pháp tư duy; hơn nữa, các giải pháp tác giả đề xuất được đưa ra trong điều kiện hiện thực khách quan đã

có những biến chuyển lớn về hình thức, qui mô, phạm vi, tốc độ Các giải pháp của luận án sẽ là hướng đi mới của đề tài và là đóng góp mới của tác giả thông qua đề tài luận án của mình

Kết luận chương 1

Những công trình nghiên cứu về TDLL và vai trò của nó đối với hoạt động của đội ngũ CB LĐ, QL có một điểm chung là các tác giả đều tiếp cận vấn đề từ góc độ triết

Trang 26

học, do đó thường tập trung vào giải quyết những vấn đề lý luận chung, những vấn đề mang tính khái quát và phổ biến Một số công trình khoa học cũng đã đi sâu bàn chi tiết về tư duy, bản chất, vai trò của TDLL, các khía cạnh của cán bộ lãnh đạo, quản lý nói chung, Nghiên cứu tổng quan về thực trạng trình độ TDLL của CB LĐ, QL đã được một số ít công trình tiếp cận đến, song do hạn chế bởi mức độ và phạm vi nghiên cứu nên chưa có điều kiện nghiên cứu sâu, vì thế đánh giá thực trạng vẫn nghiêng nhiều về một trong hai hướng: năng lực TDLL hoặc là phương pháp TDLL và giải pháp

mà các tác giải đưa ra chủ yếu nhằm giải quyết đáp ứng năng lực tư duy hoặc phương pháp tư duy một cách riêng rẽ trong mỗi công trình Tất cả những nội dung này được chúng tôi phân tích, chọn lọc và kế thừa trong quá trình triển khai luận án

Tuy nhiên, xét một cách tổng thể, do khuôn khổ hoặc do mục đích nghiên cứu khác nhau, cho đến nay dường như chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách riêng biệt, có hệ thống và chuyên sâu về trình độ TDLL và ảnh hưởng của trình độ TDLL đối với CB LĐ, QL cấp tỉnh ở Khánh Hòa - một tỉnh thuộc khu vực Nam Trung

Bộ Với đặc thù của mình, Khánh Hòa có vị trí, vai trò quan trọng đối với sự phát triển của khu vực Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên Thực tiễn tiến trình đổi mới ở Khánh Hòa đã và đang đặt ra những yêu cầu mới và là những yêu cầu cấp thiết mà gốc của mọi vấn đề đó tựu trung ở chất lượng đội ngũ cán bộ nói chung, CB LĐ, QL nói riêng Bởi vậy, nghiên cứu đưa ra được những nhiệm vụ cần thực hiện để nâng cao chất lượng CB LĐ, QL cấp tỉnh chẳng những cấp thiết mà còn là cơ bản, lâu dài không chỉ mang lại ý nghĩa cho Khánh Hòa mà còn cho các địa phương Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên

Trang 27

Chương 2

TƯ DUY LÝ LUẬN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ

CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CẤP TỈNH

2.1 Một số khái niệm cơ bản

2.1.1 Tư duy, tư duy lý luận

Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc của con người một

cách tích cực, chủ động, sáng tạo Tính tích cực, chủ động, sáng tạo đó là biểu hiện

của tư duy Nhận thức phải thông qua tư duy và tư duy không tách rời nhận thức,

nhưng tư duy và nhận thức không phải là một Tư duy không phải là toàn bộ nhận thức

mà chỉ là giai đoạn cao, là cấp độ cao của nhận thức

Tư duy, xét về thực chất, là giai đoạn, là trình độ cao của quá trình nhận thức hiện

thực khách quan của con người Đó là quá trình ý thức con người tiếp cận và nắm bắt

hiện thực khách quan thông qua các khái niệm, phán đoán, suy luận lôgíc Nhờ có tư

duy mà con người có thể nhận thức được quy luật vận động, phát triển của sự vật, hiện

tượng, qua đó mà cải biến giới tự nhiên theo mục đích của mình Trình độ tư duy là

trình độ trừu tượng hóa, khái quát hóa thông qua phân tích và tổng hợp; là trình độ

tưởng tượng, phán đoán, suy lý để liên tưởng và nhận biết, phát hiện và lựa chọn, xử lý

và sáng tạo trong nhận thức và hành động Tư duy là quá trình sáng tạo đem lại cho con

người những tri thức mới về bản chất, về cái bên trong, những tính quy luật của hiện

thực khách quan vốn đa dạng, phong phú và luôn biến đổi không ngừng, do đó, nó giúp

con người có thể hiểu đúng bản chất sự vật, hiện tượng và đưa ra những biện pháp để

tác động chính xác vào chúng, cũng nhờ bản chất sáng tạo mà tư duy luôn là một tiến

trình vươn tới cái mới, ngày càng tiến gần tới chân lý khách quan

Theo từ điển Bách khoa Xô Viết “Tư duy là trình độ cao của nhận thức mà con

người có được của quá trình phản ánh hiện thực khách quan Nó tạo ra tri thức về các

Trang 28

khách thể, các thuộc tính và quan hệ của thế giới thực tại mà trình độ nhận thức cảm tính trực tiếp không thể nắm bắt được” [105, tr 581]

Sự hình thành và phát triển tư duy của loài người là một quá trình lâu dài, phức tạp Trong xã hội cộng đồng nguyên thủy, khi con người còn hoàn toàn sống dựa vào tự nhiên, hiểu biết của họ về giới tự nhiên còn hết sức ít ỏi , thì tư duy của họ chỉ có thể hình thành được một hệ thống kinh nghiệm về một số lĩnh vực nào đó có liên quan trực tiếp đến cuộc sống hằng ngày của họ mà thôi Tư duy kinh nghiệm là nấc thang khởi đầu, giai đoạn thấp của trình độ tư duy Tư duy kinh nghiệm là tư duy dựa trên tri thức kinh nghiệm Tri thức kinh nghiệm là tri thức hình thành trực tiếp từ hoạt động thực tiễn của con người, được đúc kết từ những trải nghiệm hàng ngày Tri thức kinh nghiệm thực chất là tri thức tiền khoa học, là những tri thức thu nhận được từ những quan sát hàng ngày, qua hoạt động sản xuất của con người Tri thức kinh nghiệm, dù tiền khoa học hay khoa học đều có đặc trưng chung là mang tính gián tiếp và khái quát, song mới chỉ là bước đầu, còn hạn chế, tính trực tiếp vẫn là nổi trội, giới hạn ở miêu tả, sưu tập, phân loại các dữ liệu, sự kiện từ quan sát và thí nghiệm, mang đến cho con người những hiểu biết riêng rẽ về các mối quan hệ bên ngoài, rời rạc và do đó, không nắm được mối liên hệ tất yếu, bản chất bên trong của sự vật, hiện tượng Còn thao tác của tư duy kinh nghiệm thì dựa trên những nếp nghĩ, thói quen, tự phát, cứng nhắc, nặng về duy cảm, ít có giá trị khoa học Trình độ tư duy kinh nghiệm là cấp độ tư duy mới dừng lại ở mô tả những thuộc tính, đặc điểm, những mối liên hệ và quan hệ của các sự vật, hiện tượng là chủ yếu; nó mang tính thuần phác, thô sơ, cảm tính Tư duy kinh nghiệm mang tính duy cảm, nhiều khi dẫn tới tuyệt đối hoá kinh nghiệm và coi thường lý luận, rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm Tuy nhiên, tư duy kinh nghiệm cũng bước đầu đạt tới trình độ phản ánh cái đặc trưng và cũng chứa đựng yếu tố khoa học nhất định cũng như năng lực trừu tượng hoá nhất định nhưng ở mức độ thấp Cấu trúc của tư duy kinh nghiệm bao gồm tư duy kinh nghiệm thông thường (dựa vào quan sát

và thực nghiệm trước lý luận khoa học) và tư duy kinh nghiệm khoa học (ở trình độ sau

Trang 29

lý luận)…Tư duy kinh nghiệm khoa học là giai đoạn mà tư duy kinh nghiệm xử lý các tài liệu khoa học trên cơ sở lý luận để phản ánh sâu sắc hơn bản chất, quy luật của đối tượng Kinh nghiệm trước lý luận đặt ra những vấn đề phải giải quyết, do đó xuất hiện những giả thuyết khoa học; đến lượt mình, kinh nghiệm khoa hoc đóng vai trò là cơ sở thực nghiệm trực tiếp cho sự hình thành lý luận khoa học Lý luận khoa học ra đời tạo tiền đề cho thực nghiệm kiểm tra lý luận đồng thời là tiền đề cho công nghệ sản xuất trực tiếp

Về chức năng, đối tượng và phương pháp của tư duy kinh nghiệm: Đối tượng của tư duy kinh nghiệm là những thuộc tính, tính chất được biểu hiện một cách trực tiếp của khách thể hiện thực Tư duy kinh nghiệm sản sinh ra những tri thức đơn nhất Tư duy kinh nghiệm mang tính chất tác động trực tiếp, cải biến khách thể hiện thực, thiên về phản ánh mặt hiện tượng, nặng về mô tả các sự kiện Tư duy kinh nghiệm chỉ là những tri thức kinh nghiệm với chất liệu hạn chế xem xét bề ngoài, giản đơn, vụn vặt, thường coi những tri thức kinh nghiệm là cái chung, cái phổ biến, là cái bản chất, là cái quy luật, phương pháp thao tác thì dựa trên nếp nghĩ quen thuộc, lối mòn một cách tự phát, cứng nhắc, không lôgic, ít giá trị khoa học Tư duy chỉ dừng lại ở trình độ đó khó đạt đến sự sáng tạo, năng động, không thể tìm tòi, phát hiện được cái mới, thậm chí có thể dẫn tới sai lầm về nhận thức Ph.Ăngghen chỉ ra rằng: “sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu” [54, tr 718] Người nguyên thủy chưa có khả năng trừu tượng hóa, khái quát hóa những sự vật, hiện tượng riêng lẻ để xây dựng nên hệ thống các khái niệm, phạm trù khoa học Điều

đó chỉ được diễn ra khi mà lực lượng sản xuất (trước hết là công cụ lao động) đã có những cải tiến nhất định, năng suất lao động xã hội không ngừng tăng lên, sản phẩm xã hội đã có dư thừa, phân công lao động xuất hiện Xã hội hình thành lớp người chuyên lao động trí óc, v.v Lúc này, tư duy loài người đạt đến một trình độ cao hơn về chất so với xã hội cộng đồng nguyên thủy: TDLL - tư duy khoa học- ra đời

Trang 30

Dễ nhận thấy TDLL có chức năng, đối tượng và phương pháp khác với tư duy kinh nghiệm TDLL không tự giới hạn ở đối tượng là những sự vật, quá trình đã diễn ra mà còn quan tâm đến hiện tại và tương lai của chúng TDLL mang tính khái quát và trừu tượng cao, vì vậy đối tượng của nó là những khách thể trừu tượng phản ánh những thuộc tính, những quan hệ ẩn giấu của đối tượng hiện thực Sự khác nhau về mặt đối tượng được xem là dấu hiệu căn bản để phân biệt hai giai đoạn kinh nghiệm và lý luận trong nhận thức khoa học Đồng thời, việc hình thành những khách thể trừu tượng đánh dấu bước chuyển hóa về chất từ trình độ kinh nghiệm lên trình độ lý luận trong sự phát triển của nhận thực Trong phương pháp tư duy khoa học, cái trừu tượng được coi là bộ phận của cái cụ thể trong tư duy So với cái trừu tượng thì cái cụ thể trong tư duy phản ánh sâu sắc hơn, đúng đắn hơn, đầy đủ và toàn diện hơn, trong quá trình phát triển của nhận thức, cái trừu tượng và cái cụ thể trong tư duy có thể chuyển hoá lẫn nhau Chủ thể TDLL sử dụng TDLL như một phương pháp để phát hiện mâu thuẫn và những tình huống cần giải quyết Phương pháp này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạt động tổng kết, khái quát kinh nghiệm thành lý luận, xây dựng lý luận mới hoàn thiện hơn Nếu như tư duy kinh nghiệm hướng vào mô tả thì TDLL hướng vào phân tích, tổng hợp, khái quát, tìm ra mối liên hệ bên trong, quy định sự tồn tại và phát triển của

sự vật, hiện tượng TDLL là hoạt động trí tuệ của con người theo các quy luật của nhận thức để nắm được các thuộc tính căn bản của sự vật, hiện tượng, những mối liên hệ cơ bản giữa chúng, để ngày càng hiểu sâu bản chất của sự vật, hiện tượng, thấy được những mâu thuẫn và chiều hướng phát triển khách quan của chúng

TDLL là hình thức cao nhất của tư duy, là quá trình phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp, mang tính trừu tượng và khái quát cao bằng các khái niệm, phạm trù, quy luật Ở đó, chủ thể nhận thức sử dụng ngôn ngữ và các thao tác tư duy để nắm bắt các mối liên hệ mang tính bản chất, tìm ra các quy luật vận động nội tại tiềm ẩn trong khách thể nhận thức

Trang 31

So với tư duy kinh nghiệm, TDLL đóng một vai trò hết sức to lớn trong nhận thức

và cải tạo thế giới TDLL sản sinh ra những tri thức phổ biến Nhờ có TDLL mà con người mới phát hiện ra được các quy luật vận động và phát triển của hiện thực khách quan, hướng sự vận động đó vào phục vụ lợi ích của con người Ph.Ănghen đã viết:

"Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao khoa học không thể không có tư duy lý luận… Những phương pháp kinh nghiệm trở nên bất lực, chỉ có tư duy lý luận mới có thể giúp ích được Sự khinh thường lý luận là con đường chắc chắn nhất đưa chúng ta đến chỗ suy nghĩ theo lối tự nhiên chủ nghĩa, tức là suy nghĩ sai" [54, tr.487-489] TDLL là hoạt động trí tuệ của con người theo các quy luật của nhận thức để nắm được các thuộc tính căn bản của sự vật, hiện tượng, những mối liên hệ cơ bản giữa chúng, để ngày càng hiểu sâu bản chất của sự vật, hiện tượng, thấy được những mâu thuẫn và chiều hướng phát triển khách quan của chúng Là hoạt động trí tuệ theo các quy luật của nhận thức, TDLL cũng thể hiện năng lực về phương pháp tiếp cận sự vật, hiện tượng, do đó, TDLL chính là trình độ phát triển cao của năng lực tư duy con người Người có TDLL là người có ý thức thường xuyên rèn luyện những phương pháp

tư duy khoa học, thường có tính độc lập và sáng tạo trong hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn Theo PGS Bùi Thanh Quất, TDLL là hệ tri thức – hệ tri thức này gắn

bó chặt chẽ với nhau về mặt lôgíc, tạo thành quan niệm hoàn chỉnh phản ánh bản chất, các quy luật hoạt động và phát triển của khách thể nghiên cứu - đang hoạt động sản sinh ra tri thức mới, có khả năng chỉ đạo hoạt động thực tiễn

Từ những dẫn dắt trên, chúng tôi cho rằng: TDLL là hình thức tư duy ở trình độ cao,

là hình thức cao nhất của tư duy, nó chính là quá trình phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp, mang tính trừu tượng và khái quát cao bằng các khái niệm, phạm trù, quy luật; ở đó, chủ thể nhận thức sử dụng ngôn ngữ và các thao tác tư duy để nắm bắt các mối liên hệ mang tính bản chất, tìm ra các quy luật vận động nội tại tiềm ẩn trong khách thể nhận thức

Trang 32

Như vậy, từ khái niệm trên về TDLL có thể rút ra những đặc trưng cơ bản của TDLL: thứ nhất, tính khoa học; thứ hai, tính sáng tạo; thứ ba, biết sử dụng tự giác bộ công cụ của lý tính, như khái niệm, phạm trù, phán đoán, suy lý, các lý thuyết khoa học

và vận hành dưới dạng các phương pháp, biện pháp cụ thể dựa trên các căn cứ khoa học; thứ tư, gắn liền với thực tiễn, chỉ đạo hoạt động thực tiễn, có năng lực tổng kết thực tiễn

2.1.2 Trình độ tư duy lý luận và đặc điểm tư duy lý luận

2.1.2.1 Trình độ tư duy lý luận

Tiếp cận khái niệm TDLL và từ khái niệm, đặc trưng TDLL và bởi ý nghĩa của khái niệm này khách quan đặt ra, chúng tôi thấy cần thiết phải làm sáng tỏ một khái niệm tiếp theo như một dẫn luận tất yếu mà đáng chú ý và quan trọng nổi bật là khái niệm trình độ TDLL và các thuộc tính cơ bản của nó, qua trình độ TDLL sẽ nhận biết được TDLL

Từ góc độ khái niệm, dễ nhận thấy trình độ TDLL trước hết phải là khả năng tư duy nhất định của chủ thể nhận thức Theo Ăngghen: “TDLL chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta mà có thôi Năng lực ấy cần phải được phát triển hoàn thiện” [54, tr.487] Sự phát triển của năng lực tư duy do khách thể nhận thức thúc đẩy được đánh dấu qua các nấc thang từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn theo quy luật cách thức của sự phát triển Ở mỗi nấc thang, năng lực tư duy sẽ phản ánh một trình độ cụ thể nhất định của tư duy do các yếu tố chủ quan, khách quan tác động đến, nên trình độ TDLL còn là giới hạn của năng lực tư duy trong một thời kỳ nhất định

TDLL phản ánh hiện thực khách quan bằng hệ thống khái niệm, phạm trù, quy luật;

vì thế, nó đem lại những hiểu biết sâu sắc về bản chất, những quy luật vận động và phát triển của sự vật và hiện tượng khách quan TDLL, xét về bản chất, là quá trình sáng tạo lại hiện thực khách quan dưới dạng tinh thần, theo con đường trừu tượng hóa, khái quát hoá, đi sâu vào nhận thức những mối quan hệ nội tại, bản chất, qui luật của sự vật và

Trang 33

hiện tượng Vì vậy, TDLL không chỉ phản ánh đúng dắn hiện thực khách quan bằng việc đề ra những biện pháp hiệu quả để cải tạo hiện thực khách quan mà còn có khả năng dự báo khoa học về xu hướng vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Cũng chính vì vậy, TDLL đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của khoa học cũng như trong chỉ đạo hoạt động thực tiễn xã hội của con người

TDLL là biểu hiện trình độ phát triển cao nhất của tư duy của chủ thể nhận thức, TDLL nắm bắt, nhận thức, tái tạo hiện thực khách quan bằng những khái niệm lý luận, chính những khái niệm này giúp tư duy con người đi sâu nghiên cứu bản chất sự vật và tìm ra quy luật của sự vật, hiện tượng Thông qua những giả thuyết và lý thuyết với tư cách là những công cụ chủ yếu trong TDLL thì TDLL nâng nhận thức con người lên một trình độ mới về chất, nó không chỉ giúp con người nhận thức được bản chất cái đã

có mà còn dự báo khoa học cái sẽ xảy ra Đây là sức mạnh đích thực của TDLL, là sự sáng tạo lại hiện thực khách quan dưới dạng lý luận theo hướng khái quát hóa, trừu tượng hóa cao hơn nên nó đem lại nhận thức sâu sắc, đầy đủ hơn, hệ thống hơn về bản chất và những quy luật vốn có của hiện thực khách quan Trong TDLL, chủ thể tư duy đặc biệt coi trọng tính khoa học và sử dụng những tri thức lý luận đạt được như là những công cụ, phương pháp khoa học để phát hiện những mâu thuẫn và vấn đề mới nảy sinh, đưa ra những biện pháp, giải pháp mới để giải quyết Do đó, trình độ TDLL cũng còn là khả năng của TDLL đáp ứng nhu cầu đặt ra của thực tiễn

Từ những dẫn dắt trên, tiếp cận theo hình thức khái niệm duy thực, theo chúng tôi, trình độ TDLL được hiểu:

- Là cấp độ/nấc thang phản ánh năng lực TDLL của chủ thể nhận thức;

- Là khả năng của TDLL đáp ứng nhu cầu đặt ra của thực tiễn;

- Là giới hạn của năng lực TDLL trong một thời kỳ nhất định

Từ khái niệm, suy ra cấu trúc trình độ TDLL bao gồm: năng lực TDLL, phương pháp TDLL, kết quả TDLL

Trang 34

Trước hết, năng lực là khả năng hiện thực, sẵn có của chủ thể để thực hiện một hoạt động nào đó, là khả năng hoàn thành một công việc hay khả năng biến các yếu tố, các điều kiện đã có của tư duy thành hiện thực Năng lực tư duy là khả năng có thật, có thể trở thành hiện thực nếu được con người “vật hoá” bằng các thao tác theo quy luật của

tư duy, ý thức hay thực tiễn Năng lực tư duy là tổng hợp những phẩm chất trí tuệ của con người đáp ứng yêu cầu nhận thức thế giới và đảm bảo cho hoạt động sáng tạo Năng lực đó được biểu hiện ở hai tiêu chí: một là, khả năng vận dụng các khái niệm, các phạm trù, nguyên lý…vào phản ánh sự vật, thâm nhập sâu vào bản chất sự vật và hai là, khả năng vận dụng tri thức do quá trình đó mang lại vào hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Chính vì vậy, bản chất của năng lực tư duy là tổng hợp những phẩm chất trí tuệ và trên cơ sở phẩm chất trí tuệ ấy có nhận thức và hành động sáng tạo Thực tiễn bao giờ cũng là cơ sở, động lực mạnh mẽ đặt ra yêu cầu và tạo ra điều kiện để phát triển năng lực tư duy của con người “Năng lực tư duy là tổng hợp những khả năng ghi nhớ, tái hiện, trừu tượng hoá, khái quát hoá, liên tưởng, luận giải và xử lý trong quá trình phản ánh, phát triển tri thức và vận dụng nó vào thực tiễn trên cơ sở quy luật khách quan mang lại kết quả nhất định” [91, tr.13-15]

Nếu không có khả năng đó thì tư duy không tồn tại với tư cách là tư duy Năng lực TDLL nói ở đây là năng lực TDBC, đó là năng lực phản ánh sâu sắc đến bản chất của

sự vật, hiện tượng; biết phân tích, tổng hợp và khái quát từ những hiện tượng sinh động, đa dạng của đời sống thực tiễn thành lý luận nhờ khả năng phân tích, tổng hợp để

từ sự mô tả, nhận biết trực quan, cảm tính về hiện tượng tiến đến trình độ hệ thống hóa, phát hiện ra bản chất, quy luật của chúng; từ những sự vật, hiện tượng riêng lẻ, thuộc tính rời rạc của sự vật, hiện tượng được phản ánh vào chủ thể nhận thức thông qua những thao tác tư duy: phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa và khái quát hóa để nắm được bản chất và các quy luật tồn tại, vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng Thêm nữa, “năng lực TDLL là tổng hợp các phẩm chất trí tuệ của chủ thể đáp ứng yêu cầu phát hiện, nhận thức (ở trình độ lý luận) nhanh nhạy, đúng đắn và sáng tạo đối với

Trang 35

hiện thực, nhờ vậy, có những đề xuất sắc bén, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động thực tiễn của con người” [103, tr.28] Năng lực TDLL vừa cấu thành trình độ TDLL vừa thúc đẩy sự hình thành và phát triển trình độ TDLL chủ thể nhận thức Trình độ tư duy là thể hiện một năng lực tư duy nhất định, năng lực tư duy nào cũng thể hiện ở một trình độ tư duy tương ứng

Năng lực TDLL có tầm quan trọng đặc biệt, vừa cấu thành trình độ TDLL vừa thúc đẩy sự hình thành và phát triển trình độ TDLL chủ thể nhận thức Trình độ tư duy là thể hiện một năng lực tư duy nhất định Năng lực tư duy nào cũng thể hiện ở một trình

độ tư duy tương ứng Trình độ tri thức cao hay thấp, vốn hiểu biết nhiều hay ít ở mỗi người là do năng lực tư duy cao hay thấp mà có, nhưng đồng thời đến lượt nó, trình độ tri thức càng cao, vốn hiểu biết càng phong phú là điều kiện quan trọng bậc nhất để con người nâng cao năng lực TDLL của mình Thiếu vốn hiểu biết phong phú của cuộc sống, thiếu và yếu về tri thức khoa học, tri thức lý luận, con người không thể nâng cao được năng lực tư duy và trình độ tư duy

Do khả năng không tách rời với phương pháp nên năng lực TDLL luôn gắn chặt với phương pháp TDLL, do đó, phương pháp TDLL cũng phản ánh mức độ nhất định của trình độ TDLL Trên cơ sở gắn với thực tiễn, TDLL không những tư duy bằng tri thức

lý luận mà còn tư duy bằng phương pháp khoa học Phương pháp là hệ thống những nguyên tắc, chuẩn mực, yêu cầu, thao tác được rút ra từ những tri thức lý luận để điều chỉnh hoạt động của con người nhằm đạt được những mục đích nhất định Tư duy là một quá trình trong đó con người tiến hành hàng loạt các thao tác trí tuệ theo một logic nhất định Vì vậy, năng lực tư duy được tập trung ở phương pháp tư duy Phương pháp

tư duy theo nghĩa triết học, là một hệ thống các nguyên tắc, phạm trù, thao tác mà tư duy vận dụng để phản ánh thế giới khách quan Phương pháp tư duy khoa học có vai trò quan trọng đối với quá trình nhận thức, nhờ có phương pháp tư duy khoa học, tư duy phản ánh, tái hiện một cách đúng đắn bản chất, quy luật vận động của đối tượng

Trang 36

nghiên cứu vào trong tư duy, không có phương pháp tư duy đúng đắn, thì chủ thể nhận thức không thể có nhận thức đúng đắn

Phương pháp TDLL có vai trò quan trọng trong trình độ TDLL, nó là công cụ có tính quyết định khi phương hướng nghiên cứu cải tạo sự vật đã được xác định đúng đắn Vì vậy, các nhà triết học và khoa học rất chú trọng đến phương pháp Tác giả Nguyễn Đăng Quang cho rằng: “cần nhận thức đúng mối quan hệ giữa nội dung, hình thức và phương pháp tư duy, vai trò của mối quan hệ ấy trong quá trình nhận thức, cải tạo thế giới” [80, tr.4] Tác giả khẳng định: “muốn đổi mới tư duy phải bắt đầu từ việc đổi mới phương pháp tư duy Bởi lẽ, nếu phương pháp tư duy sai lầm thì đương nhiên không thể có kết luận đúng” [80, tr.5]

Phương pháp tư duy thực sự khoa học, cách mạng, phương pháp tư duy chung nhất, phổ biến nhất được áp dụng cho mọi lĩnh vực nhận thức, mọi ngành khoa học, giúp con người nhận thức đúng đắn hiện thực khách quan và cải tạo nó một cách hiệu quả là phương pháp TDBC duy vật; những đặc trưng cơ bản của phương pháp TDBC duy vật như tính khách quan, tính toàn diện, tính lịch sử - cụ thể và phát triển trong quá trình xem xét sự vật, hiện tượng; sự thống nhất giữa lôgic và lịch sử; đi từ trừu tượng đến cụ thể trong tư duy cần được nhận thức và vận dụng đúng

Để trở thành công cụ sắc bén, phương pháp tư duy phải được mài sắc, gọt dũa, trình độ TDLL thể hiện ở phương pháp tư duy còn bao gồm ở trình độ hiểu biết về các phương pháp, khả năng vận dụng phương pháp, bởi mỗi một đối tượng nhận thức khác nhau, chủ thể nhận thức phải lựa chọn phương pháp nào, một hay nhiều loại phương pháp, cách phối hợp giữa các phương pháp ra sao, phương pháp nào là chủ yếu để đạt được kết quả Hồ Bá Thâm trong sách “Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã hiện nay” xem năng lực tư duy là khả năng biểu thị tri thức thành phương pháp và sử dụng thành thạo chúng để tiếp tục nhận thức, tìm ra bản chất, quy luật, xu hướng tất yếu của sự vật và vận dụng đúng đắn quy luật

đó trong cuộc sống

Trang 37

Do đối tượng nghiên cứu rất đa dạng nên các phương pháp nghiên cứu cũng hết sức phong phú, có thể nêu ra một số phương pháp nhận thức khoa học như phân tích và tổng hợp; quy nạp và diễn dịch; lịch sử và logic; từ trừu tượng đến cụ thể; phương pháp TDBC khoa học Dù hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực chuyên môn nào, để đạt kết quả tốt, chủ thể nhận thức cũng cần phải nắm vững phương pháp tư duy riêng của lĩnh vực mình hoạt động, đồng thời không tách rời phương pháp TDBC duy vật, xem đây như một phương pháp nền tảng, phương pháp luận chung nhất

Khi nói đến trình độ TDLL, không chỉ nói đến năng lực tư duy, phương pháp tư duy

mà còn nói đến cả kết quả tư duy (tri thức, khái niệm, phạm trù, quy luật…) mà tư duy thu nhận được, cũng như khả năng vận dụng chúng (lý luận) vào thực tiễn có sáng tạo hay không, giá trị thực tiễn có được Trình độ TDLL thể hiện ở khả năng nhận thức và vận dụng lý luận vào thực tiễn, ở khả năng tổng kết, khái quát hóa kinh nghiệm thực tiễn thành lý luận và xây dựng mô hình mới hợp quy luật khách quan nhằm định hướng cho sự vận động và phát triển của thực tiễn

Sự hình thành và phát triển TDLL là một quá trình, trình độ của TDLL cũng tương thích với các giai đoạn khác nhau của quá trình đó, vì thế nó phản ánh một giai đoạn phát triển của TDLL Trình độ TDLL đó không chỉ biểu hiện ở sự hiểu biết lý luận mà còn ở phương pháp tiếp cận thực tiễn Trình độ TDLL là sức mạnh để con người tạo ra tri thức mới về thế giới khách quan và vận dụng tri thức/lý luận vào cuộc sống Quá trình tư duy được thể hiện ở các hình thức như khái niệm, phán đoán, suy lý, chính vì vậy, trình độ TDLL thể hiện khả năng lựa chọn các vấn đề liên quan để liên kết các hình thức tư duy mà tìm ra các kết luận nhất định (xây dựng lý luận mới) Trình độ TDLL và lý luận là hai mặt gắn bó với nhau, quan hệ biện chứng: trình độ TDLL như thế nào sẽ dẫn đến lý luận như thế đó và lý luận sẽ có tác động trở lại trình độ TDLL ở những mức độ khác nhau Do đó, để có lý luận phải có TDLL, chỉ có trình độ TDLL cao mới có thể đạt tới một chân lý sâu sắc (lý luận ở đây là lý luận khoa học, chứ không phải lý luận chung chung)

Trang 38

Trình độ TDLL là cấp độ tư duy về những vấn đề chung, tổng thể, toàn vẹn, nắm bắt đối tượng trong tính chỉnh thể của sự tồn tại, vận động và phát triển; đó là tư duy khoa học, sáng tạo trong sử dụng các khái niệm, phạm trù để phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá đem lại những tri thức mới mang tính chính xác, sâu sắc, chặt chẽ, lôgíc và có hệ thống , phù hợp với qui luật khách quan của sự tồn tại và vận động của hiện thực Hơn nữa, trình độ TDLL còn có sức mạnh đưa lý luận vào cuộc sống, cụ thể hoá lý luận thành mục tiêu, phương hướng, giải pháp khả thi để giải quyết các vấn đề của cuộc sống đạt hiệu quả cao

Như vậy, nội dung nâng cao trình độ TDLL cần được hướng tập trung vào các thành

tố của cấu trúc trình độ TDLL, bao gồm: năng lực TDLL, phương pháp TDLL, kết quả TDLL

2.1.2.2 Đặc điểm của tư duy lý luận

Trên cơ sở khái niệm, cấu trúc trình độ TDLL, chúng tôi nhận thấy TDLL có một số đặc điểm đáng chú ý sau:

Thứ nhất, TDLL là các đơn nhất, phản ánh đặc trưng riêng có của chủ thể tư duy,

bởi mỗi chủ thể tư duy có năng lực TDLL không giống nhau Cơ sở sinh học của tư duy chính là bộ não - dạng vật chất có tổ chức cao nhất Sự chứng minh của khoa học cho thấy khả năng trí tuệ, năng lực tư duy của con người có cấu tạo gen di truyền, từ hệ thần kinh, từ năng khiếu nhạy cảm trực giác Cơ sở sinh học, yếu tố đầu tiên là não người ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực tư duy và trình độ tư duy, nhưng bộ não người không thể tách rời khỏi cơ thể con người, bởi thế sức mạnh thể chất, tinh thần - nghĩa

là toàn bộ mặt tự nhiên của con người - đều có ảnh hưởng đến năng lực tư duy Yếu tố bẩm sinh di truyền là đặc tính vốn có của mỗi con người do cấu tạo vật chất sinh lý của

cơ thể, trước hết là sự cấu tạo gen di truyền Những yếu tố này đóng vai trò chính tạo ra

tư chất thông minh, trí tuệ của từng người Khoa học đã chứng minh, yếu tố sinh học với tính chất bẩm sinh đóng vai trò quan trọng tạo ra năng khiếu bẩm sinh, là cơ sở, tiền đề cho sự phát triển mọi năng lực tiềm ẩn ở mỗi con người trong đó có năng lực tư

Trang 39

duy biện chứng Do vậy, năng lực tư duy, trình độ tư duy ở mỗi người là không như nhau Mọi người bình thường đều có năng lực tư duy, nhưng mức độ cao thấp rất khác nhau

Năng lực tư duy, trước hết phụ thuộc vào đặc tính bẩm sinh cấu tạo gen di truyền, nhưng đó mới chỉ là điều kiện, là khả năng vốn có bắt nguồn từ năng lực phản ánh của

bộ não người, sự phát triển của năng lực tư duy ở con người còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, điều kiện trong đời sống của họ; hoàn cảnh, điều kiện môi trường sống tham gia tích cực vào hình thành, phát triển năng lực tư duy, phương pháp tư duy và quá trình vận dụng lý luận vào thực tiễn, nghĩa là mặt xã hội cũng tác động trực tiếp đến trình độ TDLL của mỗi cá nhân

Thứ hai, TDLL là kết quả tích hợp từ nhiều phẩm chất xác định của chủ thể tư duy:

tâm lý, trí tuệ, phong cách công tác,…Tùy thuộc thể hiện và phát huy các phẩm chất này mà chủ thể tư duy đạt tới trình độ TDLL nhất định

Thứ ba, tính hai mặt của TDLL: TDLL vừa có tính ổn định vừa có xu hướng vận

động phát triển

Trình độ TDLL của mỗi người được xem là đứng im chỉ biểu hiện của một trạng thái vận động, đó là vận động trong thăng bằng, trong sự ổn định tương đối, biểu hiện thành một sự vật, hiện tượng nhất định khi nó còn là nó chưa bị phân hóa thành cái khác Chính nhờ trạng thái ổn định đó mà sự vật thực hiện được sự chuyển hóa tiếp theo Không có đứng im tương đối thì không có sự vật nào cả Do đó, đứng im còn được biểu hiện như một quá trình vận động trong phạm vi chất của sự vật còn ổn định, chưa thay đổi Trình độ TDLL được xem là trạng thái đứng im trong một thời kỳ nhất định của vận động theo chiều hướng phát triển không ngừng của TDLL (của chủ thể tư duy) Tính ổn định tương đối của trình độ TDLL phản ánh các nấc thang phát triển của trình độ TDLL Trình độ TDLL là kết quả của cả một quá trình “tổng kết ” hoạt động thực tiễn, kết quả của một quy trình các thao tác tư duy và nó phải thực hiện chức năng dẫn dắt hoạt động thực tiễn nên có tính ổn định, thậm chí bền vững

Trang 40

Tuy nhiên, trình độ TDLL cũng vừa luôn không ổn định Trình độ TDLL gắn với mỗi chủ thể tư duy, do nó phải luôn đáp ứng được và kịp thời đòi hỏi khách quan của thực tiễn, mà thực tiễn lại luôn biến đổi nên trình độ TDLL cũng có xu hướng biến đổi, (thường) theo xu hướng phát triển

Thứ tư, TDLL ở trình độ cao, nhận thức được chiều sâu của sự vật, hiện tượng nên

nó nắm bắt được quy luật vận động, biến đổi, có khả năng vượt trước thực tiễn Phát hiện quy luật, vận dụng quy luật, tạo ra những đột phá tư duy mở đường và thúc đẩy thực tiễn phát triển do vậy đã trở thành một chức năng và nhiệm vụ quan trọng của TDLL mà chỉ khi đạt đến trình độ lý luận cao mới có thể đáp ứng

Từ cấu trúc, đặc điểm của TDLL tìm ra được các yếu tố tác động đến trình độ TDLL: Trình độ TDLL vừa bị ảnh hưởng bởi các nhân tố chủ quan của chủ thể nhận thức (tác động từ cấu trúc) vừa bị tác động từ môi trường hoạt động của chủ thể (tác động khách quan)

Một là, trình độ TDLL bị ảnh hưởng bởi các nhân tố chủ quan của chủ thể nhận

thức như năng lực TDLL, phương pháp TDLL và cả năng lực hoạt động thực tiễn của chủ thể nhận thức Thí dụ, năng lực TDLL là tổng hợp các phẩm chất tư duy trí tuệ của chủ thể đáp ứng yêu cầu nhận thức đúng đắn hiện thực ở trình độ lý luận Khi đó, vốn tri thức, học vấn là một thành tố quan trọng, tạo nên nền tảng của năng lực TDLL Thật vậy, sự tích luỹ tri thức, học vấn càng nhiều, càng cao thì khả năng tư duy của chủ thể càng cao Có thể xem năng lực TDLL là tổng hợp các phẩm chất trí tuệ của chủ thể đáp ứng yêu cầu phát hiện, nhận thức ở trình độ lý luận, nhanh, nhạy, đúng đắn và sáng tạo đối với hiện thực, nhờ vậy, chủ thể có khả năng nâng cao hiệu quả hoạt động cải tạo thực tiễn Trí tuệ chính là năng lực tư duy của con người trong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới, vì vậy, trí tuệ bao gồm bốn yếu tố gắn bó chặt chẽ với nhau: năng lực

tư duy, tri thức được tích luỹ, sự sáng tạo cái mới và vận dụng các yếu tố đó vào thực

tế

Ngày đăng: 23/10/2021, 13:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Thanh Bình (1986), Xây dựng phong cách tư duy của cán bộ, đảng viên theo gương Bác Hồ vĩ đại, Tạp chí Triết học, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng phong cách tư duy của cán bộ, đảng viên theo gương Bác Hồ vĩ đại
Tác giả: Lê Thanh Bình
Năm: 1986
3. Hoàng Chí Bảo (2013), Năng lực lãnh đạo chiến lược - quan niệm, vấn đề và giải pháp, Tạp chí Lý luận chính trị, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Chí Bảo (2013), "Năng lực lãnh đạo chiến lược - quan niệm, vấn đề và giải pháp
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2013
5. Ngô Thành Can (2005), Một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong bộ máy hành chính nhà nước, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 12, tr.20-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong bộ máy hành chính nhà nước
Tác giả: Ngô Thành Can
Năm: 2005
7. Hoàng Đình Cúc (2004), Nâng cao trình độ tư duy lý luận cho phóng viên báo chí ở nước ta hiện nay. Đề tài cấp nhà nước, Cơ quan chủ trì: Phân viện báo chí và tuyên truyền, Hà Nội, Học viện Chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao trình độ tư duy lý luận cho phóng viên báo chí ở nước ta hiện nay
Tác giả: Hoàng Đình Cúc
Năm: 2004
8. Phạm Như Cương (1999), Đổi mới phong cách tư duy, Nxb KH xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phong cách tư duy
Tác giả: Phạm Như Cương
Nhà XB: Nxb KH xã hội
Năm: 1999
9. Phạm Như Cương, (2004), Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận - Một đòi hỏi bức xúc hiện nay của đất nước và của thời đại, Nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận - Một đòi hỏi bức xúc hiện nay của đất nước và của thời đại
Tác giả: Phạm Như Cương
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 2004
10. Trần Nhật Duật (2012), Bàn về khái niệm “lãnh đạo” và “quản lý”, trong sách Chính trị học- Những vấn đề lý luận và thực tiễn (2007-2012), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, tr. 508-513 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về khái niệm “lãnh đạo” và “quản lý”
Tác giả: Trần Nhật Duật
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2012
11. Trần Nhật Duật (2012), Quan điểm của Hồ Chí Minh về phong cách người cán bộ, trong sách Chính trị học - Những vấn đề lý luận và thực tiễn (2007-2012), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, tr.524-530 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của Hồ Chí Minh về phong cách người cán bộ
Tác giả: Trần Nhật Duật
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2012
12. Nguyễn Bá Dương (2005): Nâng cao trình độ tư duy lý luận, thống nhất nhận thức và hành động, thực hiện thắng lợi chiến lược bảo vệ tổ quốc trong thời kì mới. Tạp chí Tâm lý học, số 12, tr.21-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao trình độ tư duy lý luận, thống nhất nhận thức và hành động, thực hiện thắng lợi chiến lược bảo vệ tổ quốc trong thời kì mới". Tạp chí "Tâm lý học
Tác giả: Nguyễn Bá Dương
Năm: 2005
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997): Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Khoá VIII. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. "Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. "Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia"
Năm: 2006
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. "Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia"
Năm: 2011
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001): Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004): Nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nghị quyết số 43-NQ/TW của Bộ Chính trị ra ngày 30-11-2004, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
23. Dương Minh Đức (2006), Nâng cao năng lực tư duy lý luận của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực tư duy lý luận của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay
Tác giả: Dương Minh Đức
Năm: 2006
24. Nguyễn Thanh Giang (2013), Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hiện nay, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thanh Giang
Năm: 2013
25. Nguyễn Ngọc Hà (2011), Đặc điểm tư duy và lối sống của con người Vệt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Khoa học, xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm tư duy và lối sống của con người Vệt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hà
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học
Năm: 2011
26. Lương Đức Hải (2014), Công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, công chức cấp huyện và tỉnh giai đoạn 2006-2012 ở tỉnh Khánh Hòa, Hội thảo “ Xây dựng, nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý cho lãnh đạo các sở, ban, ngành, UBND cấp huyện thuộc tỉnh Khánh Hòa”, tr.101-118 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, công chức cấp huyện và tỉnh giai đoạn 2006-2012 ở tỉnh Khánh Hòa", Hội thảo “ Xây dựng, nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý cho lãnh đạo các sở, ban, ngành, UBND cấp huyện thuộc tỉnh Khánh Hòa
Tác giả: Lương Đức Hải
Năm: 2014

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w