Tạo hứng thú học tập cho học sinh qua giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học Hóa học THCS; Tạo hứng thú học tập cho học sinh qua giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học Hóa học THCS; Tạo hứng thú học tập cho học sinh qua giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học Hóa học THCS; Tạo hứng thú học tập cho học sinh qua giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học Hóa học THCS ;Tạo hứng thú học tập cho học sinh qua giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học Hóa học THCS ;Tạo hứng thú học tập cho học sinh qua giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học Hóa học THCS ; Tạo hứng thú học tập cho học sinh qua giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học Hóa học THCS
Trang 1I THÔNG TIN VỀ SÁNG KIẾN.
1 Tên sáng kiến:
“Tạo hứng thú học tập cho học sinh qua giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học Hóa học THCS”
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
- Dùng trong dạy học Hóa học THCS
3 Phạm vi áp dụng sáng kiến:
Áp dụng cho giáo viên dạy môn Hóa học lớp 8, lớp 9 ở trường TH&THCS
và các trường có khối THCS trong huyện
4 Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ ngày tháng 1 năm
Đến ngày tháng năm
5 Tác giả:
Họ và tên:
Năm sinh:
Trình độ chuyên môn: Đại học Hóa
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: Trường TH&THCS số 2
Địa chỉ liên hệ: TDP - Phường – TP
Điện thoại:
II MÔ TẢ GIẢI PHÁP SÁNG KIẾN.
1 Tình trạng giải pháp đã biết:
Phương pháp dạy học là yếu tố quyết định đến chất lượng, hiệu quả của giờ dạy Do tính đặc thù, bộ môn hóa học là một môn học khó, nếu không có phương pháp hợp lí thì giờ học trở nên khô khan, học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động Một thực trạng là, người dạy chưa đặt ra cho mình nhiệm vụ và trách nhiệm phải nghiên cứu, tìm tòi cách dạy mà thường dùng cách dạy của một bài giảng cho nhiều lớp, nhiều đối tượng học sinh; cách dạy của một bài được áp dụng cho nhiều bài Do hạn chế về phương pháp mà giáo viên trở thành người độc thoại, truyền thụ kiến thức xuôi chiều, hệ lụy tất yếu dẫn đến học sinh tiếp thu kiến thức thụ động, máy móc, không hiểu bản chất của vấn đề và đặc biệt không phát huy được năng lực tìm hiều tự nhiên, tìm hiểu khoa học của các em Chúng ta biết rất rõ Học mà không Hiểu thì sẽ là nhồi nhét kiến thức Học sinh
Trang 2không thể lĩnh hội, từ kiến thức sách giáo khoa trở thành kiến thức, sự hiểu biết của mình Cách dạy của thầy đã quyết định cách học của trò Học sinh ít được hoạt động, nặng về nghe giảng, ghi chép rồi học thuộc Trong khi chúng ta hiểu rất
rõ, hoạt động Dạy của thầy phải tác động đến hoạt động Học của trò, cả về hoạt động tư duy trí tuệ và hoạt động hành vi, cử chỉ và thái độ (khi làm thí nghiệm, khi hoạt động nhóm vv…) Do những hạn chế về phương pháp dạy học bộ môn dẫn đến thực trạng phổ biến là, học sinh ngại học bộ môn hóa học, nhiều em biểu hiện rất rõ cách học chống đối, học thuộc để kiểm tra, thực trạng đó càng rõ khi các em phải làm bài tập, phải giải thích các hiện tượng thực tế liên quan đến bộ môn
Từ thực trạng nêu trên, giải pháp nào cho vấn đề nâng cao chất lượng dạy học Với bộ môn hóa học, phương pháp nhận thức khoa học là giáo viên phải là người tổ chức hoạt động Học của học sinh, mỗi đơn vị kiến thức là một vấn đề, một tình huống để học sinh biết cách giải quyết vấn đề từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.Tư duy trí tuệ trong học tập chính là bước chuẩn bị cho các
em giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống một cách sáng tạo, hiệu quả
Điều đó đã thôi thúc tôi thực hiện biện pháp “Tạo hứng thú học tập cho học sinh qua giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học Hóa học THCS” để góp phần đổi mới phương pháp dạy học nâng cao chất lượng.
2 Nội dung, giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
2.1 Mục đích của giải pháp:
Từ định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo quan
điểm chỉ đạo: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức
sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” (Nghị quyết 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của BCH
Trung ương 8 khoá XI) Tôi nhận thức được: sự nghiệp giáo dục đào tạo phải đổi
mới trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nền kinh tế tri thức với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Hướng đổi mới của giáo dục là đào tạo con người năng động, sáng tạo, chủ động trong học tập, dễ thích ứng với cuộc sống và lao động Bên cạnh việc dạy cho học sinh nắm vững các nội dung cơ bản về kiến thức, giáo viên còn dạy cho học sinh biết suy nghĩ, tư duy sáng tạo, có nhu cầu nhận thức trong quá trình học tập
Từ nhu cầu nhận thức sẽ hình thành động cơ thúc đẩy quá trình học tập tự giác, tích cực và tự lực trong học tập để chiếm lĩnh tri thức Những thành quả đạt được sẽ tạo niềm hứng thú, say mê học tập, nhờ đó mà kiến thức sẽ trở thành
“tài sản riêng” của các em Học sinh không những nắm vững, nhớ lâu, mà còn biết vận dụng những tri thức đạt được để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong học tập và trong thực tế cuộc sống và lao động mai sau Đồng thời học sinh có phương pháp học trên lớp và phương pháp tự học đáp ứng sự đổi mới thường
Trang 3xuyên của khoa học công nghệ ngày nay Tôi hiểu rõ mọi cách thức đổi mới Phương pháp giảng dạy đều phải nhằm mục đích “phát triển toàn diện năng lực
và phẩm chất” của học sinh
Giải pháp “Tạo hứng thú cho học sinh qua giải thích các hiện tượng
thực tiễn có liên quan đến bài học Hóa học THCS” Tôi “Đặt tên” như vậy, vì
xuất phát từ chính đặc trưng của bộ môn Hóa học - một bộ môn mà kiến thức liên quan rất nhiều đến thực tiễn, đến các sự vật và hiện tượng trong cuộc sống
hàng ngày và cũng chính là yêu cầu “Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực
tiễn” giải pháp này được thực hiện sẽ giúp học sinh giải thích những hiện tượng
trong tự nhiên, một cách khoa học bằng chính kiến thức bộ môn Hóa học mà các
em đang học Tôi xác định: Khởi đầu của việc đổi mới phương pháp Dạy – Giáo viên phải truyền được cảm hứng cho học sinh để học sinh thích học bộ môn Hoá học Khi đã thích học thì học sinh sẽ có ý chí, có quyết tâm và nghị lực, Học
sinh sẽ được “phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học”
2.2 Nội dung giải pháp:
2.2.1 Những điểm mới của sáng kiến
- Khi triển khai thực hiện biện pháp “Tạo hứng thú học tập cho học sinh qua giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học Hóa học THCS” “Tính mới” thể hiện sự khác biệt của giải pháp mới so với giải
pháp cũ là: Tôi đã nghiên cứu, tìm tòi một cách thấu đáo, từ nội dung kiến thức sách giáo khoa, tìm ra từng đơn vị kiến thức liên quan đến các dấu hiệu, các hiện tượng thực tế Xác định đó là “Tình huống có vấn đề” Từ tình huống đó tôi nêu câu hỏi, điểm khác biệt cần lưu ý là: Câu hỏi này chưa yêu cầu học sinh phải trả lời, mà đúng nghĩa nó là “Tình huống” để “Khởi động”; để lôi cuốn học sinh; đặt các em vào một vị trí “Trung tâm” của “Tình huống” nhằm kích thích sự tò
mò, ham hiểu biết của học sinh “Tại sao lại như vậy ”? là một “Vấn đề” mà chính các em có nhu cầu cần phải giải quyết Như vậy, mục tiêu bài giảng của giáo viên đã trở thành nhu cầu “Mục tiêu” mà học sinh mong muốn được khám phá, được hiểu biết Trong một tâm thế đó chắc chắn giờ lên lớp của GV sẽ đạt hiệu quả cao
2.2.2 Cách thực hiện
* Bước 1: Nghiên cứu kỹ chương trình, sách giáo khoa (SGK) để lập
kế hoạch giảng dạy.
Bước này rất quan trọng, giáo viên phải nắm chắc được chương trình về số tiết dạy lý thuyết, số tiết có thí nghiệm,thực hành vv… Đặc biệt, quan trọng hơn là phải hiểu SGK không những là “Phương tiện” của việc dạy SGK còn là nội dung kiến thức có ý nghĩa “Pháp lý” (Dạy đủ, dậy đúng, dạy như thế nào để HS nắm vững được kiến thức đã có ở SGK) Quan trọng hơn, từ hiểu biết của giáo
Trang 4viên về SGK, giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh hiểu và biết sử dụng SGK như một “Người thầy thứ hai” của mình Ví dụ: SGK Hóa học lớp 8 và lớp 9 thí nghiệm hóa học (TNHH) không chỉ do giáo viên thực hiện mà còn cho cả học sinh tự thực hiện gồm cả thí nghiệm chứng minh và thí nghiệm nghiên cứu, nó
là phương tiện để nghiên cứu tính chất của các chất, nêu vấn đề, giải quyết vấn
dề, hình thành khái niệm, quy luật, định luật Cũng từ hiểu nội dung SGK mà tôi chủ động xác định các đơn vị kiến thức liên quan đến thức tế
Bước 2: Tìm hiểu, nắm chắc các điều kiện, phương tiện phục vụ cho Dạy và Học bộ môn.
Tôi tìm hiểu kỹ phòng học mộ môn, các thiết bị dạy học, các hóa chất để làm thí nghiệm vv… Một số thí nghiệm khó tôi thường thực hiện trước khi lên lớp để việc làm thí nghiệm đạt yêu cầu thành thạo Những chất đã hết hoạc hết hạn sử dụng tôi lập kế hoạch để tổ chuyên môn và nhà trường bổ sung kịp thời Chủ động thực hiện kế hoạch giảng dạy là bước quan trọng mà tôi luôn cố gắng thực hiện
Bước 3: Soạn bài lên lớp
Khi thực hiện giải pháp của mình, với các nội dung kiến thức theo yêu
cầu của tiết lên lớp tôi thực hiện đầy đủ Tôi chú trọng hơn các tiết dạy có “các
hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học Hóa học THCS” Thay cho lời
giới thiệu “Vào bài” mà thông lệ tôi đã thực hiện, tôi “Nêu vấn đề” như một “ Tâm điểm’ để hướng sự chú ý của HS
2.2.3 Nội dung cụ thể
Dạy học theo quan điểm tích cực hóa người học là quá trình giáo viên thiết kế giáo án và tổ chức các hoạt động học tập theo mục tiêu của chuẩn kỹ năng, khi thiết kế bài học, trong từng đơn vị kiến thức tôi lồng ghép các câu hỏi thực tế để kích thích sự tò mò, ham muốn được khám phá về các hiện tượng diễn
ra trong đời sống hàng ngày, biết đấy, nhưng chưa giải thích được Việc tổ chức các hoạt động của học sinh theo kinh nghiệm của bản thân tôi có thể đưa ra các hiện tượng thực tế ở phần: Mở đầu một bài học, lồng ghép trong khi tìm hiểu nội dung bài, củng cố bài vừa học
Trong sáng kiến của tôi và theo như kinh nghiệm của tôi thì: để kích thích được sự tò mò và ham tìm tòi kiến thức nên đưa ra các hiện tượng cần giải thích như một câu hỏi mà học sinh cần trả lời Đây được coi như phần “Khởi động” cho một bài học – giáo viên đưa ra một vấn đề liên quan đến bài học, học sinh
có thể dùng những hiểu biết hiện có của mình phán đoán và giải thích, giáo viên
sẽ dùng lời dẫn “Để biết câu trả lời của bạn nào đúng, chúng ta cùng đi tìm hiểu bài học ngày hôm nay…” từ đó học sinh phải đi tìm hiểu nội dung bài học để giải thích với một tâm thế hào hứng và chủ động Cuối phần nội dung có liên
Trang 5quan tới vẫn đề đã đặt ra, GV cần nhận xét và hướng dẫn HS đưa ra được câu trả lời đúng nhất
* Các ví dụ minh họa:
Ví dụ 1: Để khởi động cho Tiết 12,13,14: chủ đề Bazơ (Hoá học 9) GV
sử dụng ngay vấn đề tại địa phương: (Chiếu hình ảnh)
Thay vì trước đây, để làm sạch rêu mọc dày trên thân, trên cành của các cây bưởi già, người ta phải dùng thanh tre có cạnh để cạo bỏ rêu, thì nay, ngừi ta
đã hướng dẫn người trồng bưởi hòa nước vôi quét hoạc phun lên gốc, hoạc cành bưởi, sau khoảng 7 đến 10 ngày lớp rêu vàng úa, khô đần và chết Cách làm này vừa nhanh, tốn ít công lao động mà rất hiệu quả (Rêu chết hết, còn cạo như trước vẫn bị sót) Tại sao như vậy ?
- Học sinh: Trả lời theo ý của mỗi cá nhân
- Giáo viên: Bài học hôm nay sẽ giúp các em cách giải thích vấn đề này bằng kiến thức hóa học
- Đáp án: Thành phần trong vôi chủ yếu là canxi hydroxit, có tác dụng cải tạo và ngăn chặn sự suy thoái của đất, hạn chế bào tử nấm phát triển trên cây trồng Trong trồng trọt, biện pháp này được áp dụng khá phổ biến với cây thân
gỗ, cây ăn trái và cây công nghiệp nhằm chống lại sự tấn công của nấm bệnh hay sâu bọ gây hại như sâu đục thân tìm đến đẻ trứng vào những kẽ nứt”
Ví dụ 2: Để vào tiết 31 : Clo (hoá học 9) GV sử dụng câu hỏi sau: Tại sao
nước máy lại có mùi clo? Vì sao không dùng nước máy để tưới cây cảnh?
Đáp án
Trang 6Khi sục vào nước lượng nhỏ khí Clo thì có phương trình hóa học của phản ứng xảy ra như sau: Cl2 + H2O → HClO + HCl
HClO có tính oxi hóa mạnh nên có khả năng diệt khuẩn Trong nước vẫn còn lượng nhỏ clo nên nước máy có mùi clo
Khi dùng nước máy tưới cây cảnh thì trên lá cây xuất hiện những đóm trắng và làm rụng lá vì chất diệp lục trên lá bị oxi hóa bởi lượng HClO trong nước máy Do vậy không dùng nước máy để tưới cây cảnh
Ví dụ 3: Giáo viên có thể khởi động Tiết 38 “ Axit cacbonic và muối
cacbonat” hoá lớp 9 như sau:
- GV chiếu hình ảnh Động Thuỷ Tiên ở trên hồ Thác Bà là khu thăm quan nổi tiếng của địa phương ( đã được Thủ tướng chính phủ ký quyết định công nhận là Khu du lịch Danh thắng Quốc gia ) vẻ đẹp của động có được là do nhiều thạch
nhũ hình dáng khác nhau, trông giống như các nàng tiên đang bay lượn lạ mắt
và rất đẹp! Các em có biết do đâu mà có được thạch nhũ đẹp đến vậy?
- Học sinh sẽ đưa ra nhiều câu trả lời (Hoàn toàn là hiểu biết có được từ thực tiễn của học sinh trước khi học bài)
- GV: Vậy câu trả lời của các bạn có đúng hay không chúng ta cùng tìm hiểu bài hôm nay
Sau khi học xong phần tính chất của muối cacbonnat GV yêu cầu học sinh nhận xét các câu trả lời của các bạn đã đưa ra ở đầu bài học
Trả lời Thạch nhũ được tạo thành từ CaCO3 và các khoáng chất khác kết tụ từ dung dịch nước khoáng Đá vôi là đá chứa Canxi cacbonat bị hoà tan trong nước
có chứa khí cacbonic tạo thành dung dịch Ca(HCO3)2 Theo phương trình phản ứng sau: CaCO3+ CO2 + H2O → Ca(HCO3)2
Trang 7Dung dịch này chảy qua kẽ đá cho đến khi gặp vách đá hay trần đá và nhỏ giọt xuống Khi dung dịch tiếp xúc với không khí, phản ứng hoá học tạo thành thạch nhũ như sau:
Ca(HCO 3 ) 2 → CaCO3 ↓ + CO2 + H2O
Ví dụ 4: Tiết 46 Metan (Hoá học 9) Giáo viên có thể “Khởi động” bài học
bằng cách: GV sử dụng máy chiếu đưa lên hình ảnh “Bể biogas” để học sinh quan sát
Rồi nêu vấn đề: ở của chúng ta, rất nhiều hộ gia đình chăn nuôi lợn đã làm các hầm (Bể) biogas để sử dụng đun nấu hay chạy máy… Em có biết khí sinh ra trong bể là khí gì? Tại sao người ta lại làm được như vậy?
Trả lời:
Trong hầm (bể) biogas thường chứa phân hữu cơ Phân hữu cơ thối rữa (hay
quá trình phân huỷ các vật thể hữu cơ) sinh ra khí mêtan Khí metan cháy được sinh ra lượng nhiệt lớn nên dùng để đun nấu…
Ví dụ 5: Bài 50 - Glucozơ Giáo viên đặt vấn đề: Vì sao ăn đường
glucozơ lại cảm thấy đầu lưỡi mát lạnh?
Trả lời
Vì glucozơ tạo một dung dịch đường trên lưỡi, sự phân bố các phân tử đường trong quá trình hòa tan là quá trình thu nhiệt, do đó ta cảm thấy đầu lưỡi mát lạnh
Ví dụ 6:
Giáo viên có thể sử dụng hiện tượng liên hệ thực tế trong bài “Êtilen” tiết 47
hoá học 9 : Làm cách nào để quả xanh mau chín?
Trả lời
Trang 8Từ lâu người ta đã biết xếp một số quả chín vào giữa sọt quả xanh thì toàn
bộ sọt quả xanh sẽ nhanh chóng chín đều Tại sao vậy?
Bí mật của hiện tượng này đã được các nhà khoa học phát hiện khi nghiên cứu quá trình chín của trái cây Trong quá trình chín trái cây đã thoát ra một lượng nhỏ khí êtylen Khí này sinh ra có tác dụng xúc tác quá trình hô hấp của tế bào trái cây và làm cho quả mau chín Nắm được bí quyết đó người ta có thể làm chậm quá trình chín của trái cây bằng cách làm giảm nồng độ êtilen do trái cây sinh ra Điều này đã được sử dụng để bảo quản trái cây không bị chín mùi khi vận chuyển đi xa Ngược lại khi cần cho quả mau chín, người ta thêm êtilen vào kích thích quá trình hô hấp của tế bào trái cây
Ví dụ 7:
Với tiết 49 “Dầu mỏ và khí thiên nhiên” hoá học 9 Giáo viên có thể sử sụng câu hỏi: Vì sao ngày nay không dùng xăng pha chì?
Trả lời Xăng pha chì có nghĩa là trong xăng có pha thêm một ít Têtraêtyl chì có
tác dụng làm tăng khả năng chịu nén của nhiên liệu dẫn đến tiết kiệm khỏang 30% lượng xăng sử dụng Nhưng khi cháy trong động cơ thì chì ôxít sinh ra sẽ bám vào các ống xả, thành xi lanh, do đó phải trộn váo xăng chất đibrômêtan để ôxít chì chuyển thành muối PbBr2 dễ bay hơi thoát khỏi xilanh, ống xả thải vào không khí gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ con người
2.2.4 Giáo án minh họa
Ngày soạn: 07.12.2020
Ngày dạy: 09.12.2020
Tiết 28 BÀI 20: TỈ KHỐI CỦA CHẤT KHÍ
I MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
1 Kiến thức:
- Học sinh xác định được tỉ khối của khí A đối với B
- Từ công thức tính tỉ khối giải được các bài tập tính tỉ khối của khí A so với khí B, tính khối lượng mol của chất khí khi biết tỉ khối
- Vận dụng được kiến thức tỉ khối của chất khí vào việc giải thích một số vấn đề trong cuộc sống
2.Năng lực:
- Phát triển năng lực ngôn ngữ Hóa học của Học sinh thông qua việc trả lời các câu hỏi, thuyết trình
Trang 9- Qua các hoạt động nhóm phát triển năng lực hợp tác , năng lực giao tiếp, tính toán, giải quyết vấn đề
- Năng lực tìm hiểu tự nhiên
3 Phẩm chất:
- Trung thực, trách nhiệm trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập
- Yêu tự nhiên và bảo vệ môi trường sống
II THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU
1 Thiết bị dạy học
- Máy tính, máy chiếu, bóng bay
2 Học liệu
- Hình ảnh một số hoạt động gây ô nhiễm môi trường, bìa cứng
- Phiếu học tập
III Tiến trình dạy học
1 Ổn định tô chức:
2 Kiểm tra bài cũ: Tổ chức chơi trò chơi chiếc hộp bí ẩn
Giáo viên cho cả lớp hát bài “Lớp chúng mình” truyền tay chiếc hộp, kết thúc bài hát HS cuối cùng cầm chiếc hộp sẽ thực hiện yêu cầu bên trong chiếc hộp:
Tính M CO2 ? M H2 ? Tính thể tích của 1 mol các khí CO2, H2 ở đktc?
3 Bài mới:
Hoạt động 1: Mở đầu
a Mục đich: HS liệt kê được những nội dung đã biết và muốn biết trong tiết học
b Cách thực thực hiện
- GV sử dụng 2 quả bóng bay (1 quả
bơm khí H2, 1 quả thổi khí CO2 vào)
- Điều gì sẽ xảy ra nếu cô thả 2 quả
bóng này ra?
HS: Trả lời
GV: Giao nhiệm vụ cho HS
- Yêu cầu HS viết ra giấy những điều
đã biết, muốn biết vào giấy
Điều em
đã biết
Điều em muốn biết
Em học được gì
Trang 10HS: Thực hiện nhiệm vụ
GV: Tổng hợp ý kiến của học sinh
Hoạt động 2: Hình thành kiến thức
a Mục đích: Xác định được tỉ khối của khí A so với khí B
b Cách thức thực hiện:
- Giao nhiệm vụ cho học sinh:
Quan sát hình ảnh và trả lời muốn biết
khí A nặng hay nhẹ hơn khí B thì ta
phải làm thế nào?
HS: Trả lời được ta so sánh khối lượng
mol của khí A với khối lượng mol của
khí B
GV: Hướng dẫn HS viết công thức
tính tỉ khối
Chú ý cho HS trên máy chiếu
HS: Ghi nhớ
GV: Hướng dẫn HS vận dụng công
thức và làm ví dụ 1
GV: Cho HS quan sát hình ảnh trên
máy chiếu trả lời câu hỏi
- Khi đặt khí O2 và khí H2 lên 2 đĩa
cân thì đĩa cân sẽ lệch về bên nào?
HS: trả lời được cân lệch về bên phải
có khí O2
GV: Yêu cầu HS hoàn thành phiếu học
tập số 1
HS: Thực hiện
1 Bằng cách nào có thể biết được khí
A nặng hay nhẹ hơn khí B?
A
A B
B
M d
M
dA/B: Là tỉ khối của khí A đối với khí B MA: Là khối lượng mol của khí A MB: Là khối lượng mol của khí B
Ví dụ 1: Hãy cho biết khí O2 nặng hay nhẹ hơn khí H2 bao nhiêu lần?
Giải
2 2/ 2
2
32 16 2
H
O O
H
M d
M
Vậy khí oxi nặng hơn khí hiđro là 16 lần
Phiếu học tập số 1