1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

BCKH Phân tích ổn định tường vây trong hố đào sâu được gia cường bằng cọc xi măng đất

16 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải pháp chống đỡ thành hố đào thường được áp dụng là tường vây cọc barrette, ưu điểm của giải pháp này là đảm bảo về cường độ cũng như độ ổn định dưới tác dụng của áp lực đất và các lo

Trang 1

PHÂN TÍCH ỔN ĐỊNH TƯỜNG VÂY TRONG HỐ ĐÀO SÂU

ĐƯỢC GIA CƯỜNG BẰNG CỌC XI MĂNG ĐẤT

LÊ ĐỨC LINH *

LÊ BÁ VINH NGUYỄN NHỰT NHỨT

Analysis stability of deep excavation reinforced by cement piled Abstract: Method of using the soil cement piles in order to increase the

resistance, soil intensity of ground final layer which is constructed below for preventing basal heave instability, controlling wall deflections and reducing the strut loads for braced excavations in deep deposits of soft clay The study presents the optmal method of arranging the soil cement piles that helps to enhance the construction stability, reduce the displacement as well as the wall deflections First, Plaxis 3D method is carried out to simulate and analysise the piles implementation in Song - San Project located in the K1 area of the Taipei Basin In there, the soil cement piles are placed in a triangular grid for improving the soft clay to stabilize the wall and to prevent the sludge protruding out of pits Next, the piles arrangements with different places are caculated, compare and evaluate Results show that the plans for the arrangement of soil cement piles in single-wall strip (PA2) and the arrangement of soil cement piles by block (PA4) presenting in a horizontal displacement of 20%-22% compared with the arrangement of soil cement piles in a triangular grid, effectively controlling the horizontal displacement

of the diaphragm wall The value of internal force in the wall is significantly reduced, including torque reduction of about 23% and reduction force of about 22% compared to the arrangement of soil cement piles according to the triangular grid (PA1) This shows that, in the construction of deep excavation pits in areas with weak geological foundation, it is necessary to use soil cement piles to reinforce the foundation under the excavated pit bottom, and

at the same time choose the solution of arranging soil cement piles according

to the wall or in blocks in direct contact and perpendicular to the diaphragm wall to increase the building stability

Keywords: Numerical analysis PLAXIS 3D, Jet grout pile, Ground

improvement Finite element analysis Strut force, Wall deflection

Khi thi công tầng hầm cho các công trình nhà

cao tầng, vấn đề phức tạp đặt ra là giải pháp thi

công hố đào sâu trong điều kiện xây chen liên

quan đến các yếu tố kỹ thuật Thi công hố đào

* Bộ môn Địa cơ – Nền móng, Khoa Kỹ thuật Xây dựng,

Tr ng Đ i học Bách Khoa - Đ i học Quốc gia thành

p hố Hồ Chí Minh

Email: ldlinh.sdh19@hcmut.edu.vn

sâu làm thay đổi trạng thái ứng suất, biến dạng trong đất nền xung quanh khu vực hố đào và làm thay đổi mực nước ngầm dẫn đến nền đất bị dịch chuyển và có thể lún gây hư hỏng công trình lân cận Giải pháp chống đỡ thành hố đào thường được áp dụng là tường vây cọc barrette, ưu điểm của giải pháp này là đảm bảo về cường độ cũng như độ ổn định dưới tác dụng của áp lực đất và các loại tải trọng do được cắm sâu vào đất, neo

Trang 2

trong đất hoặc được chống đỡ từ trong lòng hố

đào theo nhiều cấp khác nhau, hoặc sử dụng các

giải pháp gia cố chân tường vây cọc barrette để

làm giảm chuyển vị ngang của tường

Đối với khu vực có nền địa chất yếu, bề dày

lớn, việc lựa chọn tường vây cọc barrette để giữ

ổn định hố đào khi thi công tầng hầm là phù

hợp Tuy nhiên, cần phải cắm sâu chân tường

vây đến lớp đất tốt mới hiệu quả

Giải pháp xử dụng cọc xi măng đất làm tăng

sức kháng cắt, cường độ đất nền nhằm giữ chân

tường vây cọc barrette và chống bịt đáy hố đào

tăng khả năng ổn định công trình được xem xét

Trong nghiên cứu này, tác giả phân tích, tính

toán các phương án bố trí cọc xi măng đất để

khảo sát, lựa chọn phương án tối ưu và kiến

nghị giải pháp gia cố nền làm giảm chuyển vị

ngang tường vây trong thi công hố đào sâu:

 PA1: Bố trí cọc xi măng đất theo lưới tam

giác [hình 1(a)]

 PA2: Bố trí cọc xi măng đất theo dải

tường đơn [hình 1(b)]

 PA3: Bố trí cọc xi măng đất theo ô cờ

[hình 1(c)]

 PA4: Bố trí cọc xi măng đất theo khối

[hình 1(d)]

Hình 1: (a) B ố trí theo l ới tam giác;

(b) b ố trí theo dải t ng; (c) bố trí theo ô c ;

(d) b ố trí theo khối

Phần mềm PLAXIS 3D được sử dụng để

phân tích ổn định hố đào sâu được gia cường

bằng cọc xi măng đất trong các trường hợp trên [hình 2]

Hình 2: Ph ơng án cải thiện đất trong hố đào

sâu bằng cọc xi măng đất

2 1 Hố đào sâu

a) Đặc điểm hố đào sâu

Công tác thi công hố đào sâu đòi hỏi phải tiến hành khảo sát, tính toán, kiểm tra thật kỹ lưỡng trước khi thi công Khi đào hố móng các công trình tầng hầm khu vực có nền địa chất yếu, mực nước ngầm cao và nhiều điều kiện phức tạp khác rất dễ sinh ra mất ổn định hố đào, phình trồi đáy

hố đào, kết cấu chắn giữ bị phá hoại, ảnh hưởng nghiêm trọng các công trình lân cận

Vì vậy bài toán ổn định hố đào sâu, đòi hỏi phải phân tích và lựa chọn giải pháp tường chắn

đủ cứng để chống lại sự phá hoại kết cấu và chuyển vị ngang quá mức

b) Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển vị ngang của tường vây

Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển vị ngang của tường vây trong hố đào sâu được Kung, 2009 đưa ra Độ cứng của tường vây, hệ thanh chống, chiều dài của tường vây; Hình dạng của hố đào; Cải thiện đất nền công trình Các phương pháp thi công; Tính chất cơ lý của đất nền, lịch sử chịu lực của đất nền, mực nước ngầm

- Chang-Yu Ou (2006) [1] cũng đã nêu lên những nhân tố ảnh hưởng đến chuyển vị ngang của tương vây trong hố đào sâu bao gồm: sự mất cân bằng lực, độ cứng của tường vây, hệ thống h trợ và hệ số an toàn

c) Các nghiên cứu về ảnh hưởng đến chuyển vị ngang của tường vây

Trang 3

- Ảnh hưởng c a hệ số an toàn chống trồi đáy

Hệ số an toàn chống trồi đáy đã được Clough

và O’Rourke (1990) nghiên cứu Clough và

O’Rourke đã đưa ra mối tương quan thông qua

biểu đồ sau [hình 3]

Hình 3: Mối tương quan,Clough và O’Rour (1990)

Clough và O’Rourke (1990) đưa ra kết luận

rằng trong một hố đào sâu điển hình thì chuyển

vị ngang của tường tỷ lệ thuận với chiều rộng

của hố đào sâu Khi chiều rộng của hố đào càng

lớn thì sự mất cân bằng lực càng chênh lệch do

đó chuyển vị ngang của tường càng lớn Trong

đất sét yếu, chiều rộng của hố đào càng lớn thì

hệ số an toàn chống trồi đáy càng giảm, chuyển

vị ngang càng lớn

- Ảnh h ởng của chiều sâu hố đào

Hình 4: Mối t ơng quan giữa chuyển vị ngang

lớn nhất của t ng vây với chiều sâu của hố

đào Ou và các đồng sự, 1993

Mối liên hệ giữa chiều sâu hố đào với chuyển vị

ngang của tường vây trong hố đào sâu đã được Ou

và các đồng sự (1993) nghiên cứu Kết quả của nghiên cứu này thì chuyển vị ngang lớn nhất trong các tường vây hố đào sâu khoảng từ 0,2-0,5% chiều sâu hố đào: min = (0,2-0,5%) He [hình 4]

- Ảnh h ởng của chiều sâu ngàm t ng

Chang-Yu Ou (2006) [1] đã đề cập đến mối liên hệ giữa chiều sâu cắm tường vây (Hp) đến chuyển ngang của tường vây [hình 5]

Hình 5: Chiều sâu ngàm t ng H p , Chang-Yu Ou (2006)

Hình 6: Tương quan giữa chi u s u ngàm tường và chuyển vị ngang c a tường (Chang-Yu Ou 2006)

Tác giả đã tiến hành phân tích một hố đào sâu 20m bằng phương pháp phần tử hữu hạn [hình 6] Khi sức kháng thông thường của đất nền là Su/’v = 0,36, chiều sâu ngàm chân tường

Hp= 4m thì tường bị hiện tượng đá chân (phá hoại), lúc đó chuyển vị ngang của tường tăng lên nhanh chóng Trong trường hợp Su/’v = 0,28, tường bị phá hoại khi Hp=10m lúc đó

Trang 4

chuyển vị ngang của tường tăng lên nhanh

chóng Do đó khi tường đã ở trạng thái ổn định

thì chiều sâu ngàm của chân tường ảnh hưởng

không đáng kể đến chuyển vị ngang của tường

- Ảnh h ởng của độ cứng t ng và phân bố

đất tốt - đất yếu

Khi chưa lắp các thanh chống thì tường sẽ

chuyển vị như một dầm hẫng, khi đã lắp thanh

chống, độ cứng của thanh chống đủ lớn thì

tường sẽ chuyển vị dạng xoay quanh điểm tiếp

giáp giữa tường và thanh chống và chuyển vị

ngang lớn nhất của tường sẽ gần đáy hố đào

[hình 7] Nếu lớp đất tại vị trí đáy hố đào là

đất yếu thì chuyển vị ngang lớn nhất của

tường sẽ nằm dưới đáy hố đào, ngược lại khi

lớp đất ngay tại đáy hố đào là lớp đất tốt thì

chuyển vị ngang lớn nhất của tường sẽ nằm

trên đáy hố đào Khi độ cứng của hệ thống

thanh chống không đủ lớn thì chuyển vị ngang

của tường có dạng dầm hẫng và trong trường

hợp này thì chuyển vị lớn nhất của tường là

ngay tại vị trí đỉnh tường (Chang-Yu Ou,

2006) [hình 8]

Hình 7: a giai đo n đào ch a có thanh chống,

b giai đo n có thanh chống, c giai đo n l p

nhiều tầng thanh chống, Chang-Yu Ou (2006)

Hình 8: a giai đo n đào ch a có thanh chống,

(b) g iai đo n có thanh chống, c giai đo n l p

nhiều tầng thanh chống, Chang-Yu Ou (2006)

d) Các phương pháp phân tích chuyển vị ngang của tường vây trong hố đào sâu

Theo Chang-Yu Ou (2006) [1] có ba phương pháp phân tích chuyển vị ngang của tường vây: phương pháp giản đơn, phương pháp dầm trên nền đàn hồi và phương pháp phần tử hữu hạn

Phương pháp giản đơn dựa trên những

trường hợp trong qua khứ để xây dựng nên những biểu đồ về mối quan hệ giữa các nhân tố khác nhau với chuyển vị ngang của tường vây

và được sử dụng để dự đoán sơ bộ chuyển vị của tường vây trong những trường hợp tương tự

Do vậy, phương pháp giản đơn có nhiều hạn chế

vì chuyển vị ngang của tường vây là tổng hợp tác động của nhiều nhân tố khác nhau, điều kiện địa chất khác nhau nên việc áp dụng cho những công trình ở những khu vực khác thì kết quả có

độ tin cậy thấp

Phương pháp dầm trên nền đàn hồi và phương pháp phần tử hữu hạn

Phương pháp dầm trên nền đàn hồi và phương pháp phần tử hữu hạn là hai phương pháp thông dụng trong phân tích chuyển vị ngang của tường vây trong hố đào sâu Ưu điểm của hai phương pháp này chính mô phỏng gần trọn vẹn những nhân tố ảnh hưởng đến chuyển

vị ngang của tường vây trong hố đào sâu Tuy nhiên lý thuyết cơ bản của hai phương pháp này thì không thật sự đơn giản đặc biệt là phương pháp phần tử hữu hạn

Trong phương pháp phần tử hữu hạn M.Mitew [2] đã sử dụng mô hình Mohr-Coulomb trong phần mềm Plaxis 2D để phân tích Độ cứng của đất nền được M.Mitew chia ra làm bốn trường hợp; FEM 1: độ cứng đất nền dựa theo tiêu chuẩn Ba Lan, FEM 2: độ cứng đất nền dựa theo những nghiên cứu trước đó, FEM 3: độ cứng đất nền dựa vào kết quả khảo sát địa chất, FEM 4: độ cứng đất nền dựa vào kết quả đo đạc ứng suất tại hiện trường

Tất cả những kết quả phân tích được so sánh với kết quả quan trắc tại hiện trường M.Mitew

đã nhận xét việc tính toán bằng phương pháp

Trang 5

ứng suất phụ thuộc cho kết quả rất biến động vì

phụ thuộc nhiều vào cách xác định hệ số Kh

Trong khi đó việc tính toán bằng phương pháp

phần tử hữu hạn cho kết quả tính ít biến động và

gần sát với kết quả quan trắc

2.2 Tường vây cọc barrette

Đã có nhiều nghiên cứu về sự làm việc của

hệ tường vây cọc barrette trong thi công hố đào

sâu, nhưng hầu hết các nghiên cứu đều mô

phỏng tường vây là phần tử tấm Plate liên tục

[hình 9]

Hình 9: T ng vây mô hình tấm Plate

Xét trên phương diện bài toán phẳng như

[hình 9] chỉ phù hợp với công trình có nhịp

tường vây liên tục trên mét dài Hiện nay vẫn có

thể phân tích tường vây trên mô hình 3D, nhưng

vẫn xem phần tử tấm là liên tục làm việc theo

hai phương

Thực tế tường vây cọc barrette là hệ tường

gồm các khối cọc barrette đơn nguyên bố trí liên

tục với nhau tạo thành hệ tường [hình 10], do

vậy độ cứng của hệ tường vây cọc barrtte theo

phương đứng và phương ngang là hoàn toàn

khác nhau

Hình 10: T ng vây cọc barrette

Hình 11: T ng vây cọc barrette thực tế

Tường vây là một hệ các cọc barrette riêng biệt được bố trí nối các đoạn tường lại với nhau bằng các đầu nối đặc biệt, vì vậy mà độ cứng của hệ tường vây chỉ làm việc theo phương đứng, mô men kháng uốn của tường vây theo phương ngang bằng không [hình 11]

2.3 C ọc i măng đất

a Phương pháp tính toán theo quan điểm trụ làm việc như cọc

Theo quan điểm này đòi hỏi trụ phải có độ cứng tương đối lớn và các đầu trụ này được đưa

vào tầng đất chịu tải Khi đó lực truyền vào móng sẽ chủ yếu đi vào các trụ xi măng đất (bỏ qua sự làm việc của nền dưới đáy móng) Khả năng chịu lực của công trình phụ thuộc vào số lượng và cách bố trí các trụ trong khối móng, đảm bảo cho móng trụ không phát sinh biến dạng và lún quá lớn

Trang 6

b Phương pháp tính toán theo quan điểm

nền tương đương

Để cho tiện việc tính toán và mô phỏng, các

cọc Jet Grouting và đất nền được xem như làm

việc theo một khối đồng nhất và được quy đổi

thành một khối vật liệu tương đương [hình 12]

Hình 12: C ải t o đất duới đáy hố đào

Với việc áp lực đất tác dụng lên bề mặt h n

hợp bao gồm các khu đất được cải tạo và khu

vực đất không được cải tạo ở dưới đáy hố đào,

công thức tính đề nghị đánh giá các tính chất

vật liệu tổng thể của h n hợp mặt đất theo

Chang-Yu Ou, Tzong-Shiann Wu, Hsii-Sheng

Hsieh (2007)

Peq = PgIrm + Pc(1-Irm)

CƯỜNG BẰNG CỌC XI MĂNG ĐẤT

Chang-Yu Ou (2007) [3] cho rằng chuyển vị

tường và độ lún là nguyên nhân gây ra các phá

hủy đến các công trình lân cận và để giải quyết

vấn đề này tác giả sử dụng cọc xi măng đất để

gia cường nền đất yếu trong quá trình thi công

hố đào sâu

Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng công

trình thực tế thuộc khu vực Đài Bắc, chiều dài

công trình 51m, rộng 24m và đào sâu 9,31m,

tường Diaphragm wall dày 600mm, cắm sâu

đến độ sâu -21m, có lắp đặt 05 thiết bị quan trắc

chuyển vị ngang SI-1, SI-2, SI-3, SI-4, SI-5

[hình 14]

Hình 14: Mặt bằng Dự án Song - San

Tác giả đưa ra nhiều giải pháp thiết kế từ những phân tích bằng phương pháp số, đưa ra kết luận rằng do hiệu ứng góc nên không cần thiết phải tăng cường cọc xi măng đất trong khu vực hố đào, phạm vi 8m từ góc tường vây [hình

15, 16]

Hình 15: Ảnh h ởng hiệu ứng góc, Chang-Yu Ou (2007)

Trang 7

Hình 16: K ết quả nghiên cứu đ c áp d ng,

Chan-Yu Ou (2007)

Wengang Zhang (2020) [4] đã nghiên cứu

hiệu quả sử dụng của cọc xi măng đất xử lý nền

đất yếu trong thi công hố đào sâu Tác giả sử

dụng cọc xi măng đất được thi công bằng công

nghệ Jet grout piles (JGP) để cải tạo các lớp đất

dưới đáy hố móng nhằm giữ ổn định chân tường

vây và giảm tải cho hệ thanh chống

Hình 17: Mặt c t ngang của hố đào Dự án

Song - San mô phỏng theo Ou

Trong nghiên cứu này, Zhang kế thừa và phát

triển nghiên cứu của Chang-Yu Ou (2007), khảo

sát công trình thực tế thuộc Dự án Song - San

nằm ở khu vực K1 của lưu vực Đài Bắc Địa tầng gồm lớp đất đắp dày 1,5m, hệ tầng gồm nhiều lớp phù sa và lớp đất sét yếu, mực nước ngầm xuất hiện ở độ sâu GL-3,3m Tường vây Diaphragm wall dày 600mm, sâu đến độ sâu -21m Hố đào sâu 9,31m, với ba cấp độ thanh chống được sử dụng để h trợ trong quá trình thi

công hố đào [hình 17]

Mặt bằng công trình có chiều dài 51m, rộng 24m được sử dụng để nghiên cứu [hình 18]

Hình 18: Mặt bằng Dự án và hệ thanh chống

3.1 Mô hình toán số

Phần mềm Plaxis 3D [5] đã được sử dụng để

tiến hành các phân tích số Để đơn giản và do tính đối xứng, mô phỏng ¼ hình chữ nhật (mặt bằng 51m x 24m) Biên mô hình 50m x 100m x 40m (trục xyz) đã được sử dụng để phân tích

a) Thông số đất nền

Bảng 1: Thông số địa chất các lớp đất trong PLAXIS 3D

Thông

số

Đ ơn

vị

Lớp 1 (Fill)

Lớp 2 (Silty clay)

Lớp 3 (Silty sand)

Lớp 4 (Silty clay)

Lớp 5 (Silty clay)

Lớp 6 (Silty clay)

Đ ộ sâu m 0,0-1,5 1,5-3,8 3,8-9,7 9,7-15 15-20 > 20

Trang 8

Thông

số

Đ ơn

vị

Lớp 1 (Fill)

Lớp 2 (Silty clay)

Lớp 3 (Silty sand)

Lớp 4 (Silty clay)

Lớp 5 (Silty clay)

Lớp 6 (Silty clay)

Phân tích Drained Undrained

(B) Drained

Undrained (B)

Undrained (B)

Undrained (B)

γsat kN/m3 18,0 17,76 18,34 18,54 17,76 18,05

E50ref kN/m2 5000 7500 7500 20400 27600 54000

Eeodref kN/m2 5000 7500 7500 20400 27600 54000

Eurref kN/m2 15000 22500 22500 61200 82800 162000

b) Thông số cọc xi măng đất

Bảng 2: Thông số cọc i măng đất

Thông

số (kN/mγ 3)

Su (kPa)

E0 (MPa)

Kích thước (m)

Jet grout pile 18,5 115 67 Dài 11,4m, D1600

c) Thông số tường vây và thanh chống

Tường vây được mô hình hóa bằng các

phần tử đàn hồi tuyến tính với độ cứng E w I w

= 4,12 ×10 5 kPa Các thanh chống thép được

mô hình hóa bằng các phần tử dầm đàn hồi

tuyến tính với diện tích mặt cắt A= 218,69

cm 2 và cường độ E s = 2,06×10 8 kPa

(H400x400x13x21)

Trang 9

3.2 Các phương án bố trí cọc i măng

a) Bố trí cọc xi măng đất theo lưới tam giác

Khoảng cách cọc xi măng đất (s) là 3,05m x

3,23m, đường kính cọc 1,6m, dài 11,4m, tỷ lệ

thay thế cọc L i =72%L = 72% x 51m = 36,8m

[hình 19]

Hình 19: Mặt bằng bố trí cọc JGP

Hình 20: Bố trí cọc xi măng đất theo l ới

tam giác (PA1)

b) B trí ọ i ă đất t eo dải

tườ đơ

Hình 21: Bố trí cọc xi măng đất theo dải t ng

đơn PA2

c) Bố trí cọc xi măng đất theo ô cờ

Hình 22: Bố trí cọc xi măng đất theo ô c PA3

d) Bố trí cọc xi măng đất theo khối

Trang 10

Hình 23: Bố trí cọc xi măng đất theo khối PA4

3.3 Mô phỏng trong Pla is 3D

Cọc xi măng đất được mô hình hóa bằng

phần tử volume trong Plaxis 3D

Hình 24: Mô hình cọc xi măng đất bố trí theo

l ới tam giác trong phần mềm PLAXIS 3D

Hình 25: Mô hình cọc xi măng đất bố trí theo

dải t ng đơn trong phần mềm PLAXIS 3D

Hình 26: Mô hình cọc xi măng đất bố trí theo

ô c trong phần mềm PLAXIS 3D

Hình 27: Mô hình cọc xi măng đất bố trí theo khối trong phần mềm PLAXIS 3D

ủ tườ vâ t eo p ươ X, vị trí ảo sát SI-1

a) Kết quả chuyển vị ngang (Ux) của tường

Ngày đăng: 23/10/2021, 11:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w