1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu tác động của quản trị công ty tới chất lượng thông tin kế toán của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam TT

27 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 427,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ tính thực tiễn của đề tài cũng như cơ sở khoa học, nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của QTCT tới Chất lượng TTKT, theo các khía cạnh đa dạng bao gồm cả cấu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

-

Ngành: Qu ản trị kinh doanh

Mã s ố: 9340101

NGUY ỄN THỊ MAI ANH

Hà N ội – 2021

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Nguyễn Tiến Hoàng

TS Nguyễn Thị Hoàng Anh

Phản biện 1: ………

………

Phản biện 2: ………

………

Phản biện 3: ………

………

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá cấp trường

tại trường Đại học Ngoại thương Vào hồi giờ ngày tháng năm

Có thể tham khảo Luận án tại thư viện quốc gia và thư viện trường Đại học

Ngoại thương

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Luận án

Báo cáo tài chính (BCTC) là sản phẩm đầu ra của hệ thống kế toán, phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị, và được coi là một trong những cơ sở quan trọng nhất để người sử dụng thông tin bên trong và bên ngoài doanh nghiệp như nhà quản trị, nhà đầu tư, chủ nợ có thể phân tích được năng lực tài chính của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các quyết định Nếu thông tin kế toán (TTKT) được phản ánh trên BCTC có chất lượng kém, người sử dụng thông tin không thể phân tích được bức tranh tài chính, kinh doanh của doanh nghiệp, không đánh giá đúng hiệu quả hoạt động cũng như không thể đánh giá tính sinh lời của dự án để đưa ra quyết định một cách hợp lý Chủ đề nghiên cứu về chất lượng TTKT được các nhà khoa học đặc biệt quan tâm Một trong những khía cạnh được được các nhà khoa học đặt ra và lý giải

về sự suy giảm chất lượng TTKT đến từ vấn đề người đại diện và tính bất cân xứng thông tin Mặc dù được ủy quyền quản lý từ chủ sở hữu với kỳ vọng sẽ tối ưu hóa lợi ích của cổ đông, song trên thực tế, trong quá trình ra quyết định, Ban giám đốc (BGĐ)

có xu hướng đặt lợi ích cá nhân lên trước mục tiêu của doanh nghiệp, tạo ra mâu thuẫn về lợi ích giữa chủ sở hữu và nhà điều hành Trong trường hợp đó, BGĐ có động cơ và cơ hội để can thiệp, điều chỉnh các TTKT trên BCTC vì động cơ lương, thưởng hoặc nhằm che giấu các vấn đề của doanh nghiệp như kết quả kinh doanh thua lỗ do lo ngại bị sa thải Vấn đề thông tin bất cân xứng đã đặt cổ đông, những người chủ sở hữu thực sự đồng thời cũng là người hưởng lợi cuối cùng, vào thế bị động trong việc tiếp cận TTKT Do đó các cổ đông cần có cơ chế kiểm soát hiệu quả hoạt động của BGĐ trong việc cung cấp TTKT được trình bày trên BCTC Nghiên cứu của Loebbecke và cộng sự (1989), Beasley (1996) đã chỉ ra rằng việc giám sát hoạt động của BGĐ không hữu hiệu là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng suy giảm chất lượng TTKT Trong bối cảnh đó, quản trị công ty (corporate governance) được coi là một giải pháp để khắc phục vấn đề này, thông qua việc gắn kết lợi ích của nhà điều hành với lợi ích của cổ đông, giúp nâng cao độ tin cậy của thông tin trên BCTC (Watts và Zimmerman, 1986) Hệ thống QTCT được kỳ vọng sẽ phát huy chức năng

Trang 4

giám sát, nhằm ngăn ngừa và phát hiện các hành vi gian lận, điều chỉnh thông tin, từ

đó nâng cao chất lượng thông tin kế toán

Tại Việt Nam, cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán (TTCK), vấn

đề về chất lượng TTKT trên BCTC cũng nhận được quan tâm từ người sử dụng, đặc biệt là nhà đầu tư Xuất phát từ tính thực tiễn của đề tài cũng như cơ sở khoa học, nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của QTCT tới Chất lượng TTKT, theo các khía cạnh đa dạng bao gồm cả cấu trúc sở hữu, đặc điểm của Hội đồng quản trị (HĐQT) và đặc điểm của Ban kiểm soát (BKS), tác giả đã chọn đề tài

“Nghiên c ứu tác động của quản trị công ty tới chất lượng thông tin kế toán của các công ty niêm y ết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm chủ đề nghiên

cứu của Luận án

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu về tác động của QTCT tới chất lượng TTKT, từ

đó đưa ra các khuyến nghị về hoàn thiện QTCT, nhằm nâng cao chất lượng TTKT tại

các công ty niêm yết

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để thực hiện được những mục tiêu nghiên cứu trên, các nhiệm vụ cụ thể của

Luận án bao gồm:

Thứ nhất, Luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận về QTCT, chất lượng TTKT, và

tác động của QTCT tới chất lượng TTKT

Thứ hai, Luận án phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng TTKT của các công

ty niêm yết trên TTCK Việt Nam

Thứ ba, trên cơ sở thu thập dữ liệu, xây dựng mô hình nghiên cứu, Luận án thực

hiện tìm hiểu và phân tích những tác động của QTCT lên chất lượng TTKT của các

công ty niêm yết thông qua ba khía cạnh: cấu trúc sở hữu, đặc điểm HĐQT và đặc điểm của BKS

Thứ tư, dựa trên kết quả phân tích, Luận án đề xuất một số khuyến nghị nhằm

hoàn thiện QTCT, từ đó nâng cao chất lượng TTKT của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam

Trang 5

Câu hỏi nghiên cứu:

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đặt ra, nghiên cứu xác định các câu hỏi chính bao gồm:

(1) Cơ sở lý luận về QTCT, chất lượng TTKT và tác động của QTCT tới chất lượng TTKT là gì?

(2) Thực trạng chất lượng TTKT của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam?

(3) QTCT, với ba nhân tố cấu trúc sở hữu, đặc điểm của HĐQT, đặc điểm của BKS

có tác động như thế nào tới chất lượng TTKT của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam?

(4) Các khuyến nghị về hoàn thiện QTCT nhằm nâng cao chất lượng TTKT là gì?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận án:

Đối tượng nghiên cứu của Luận án là tác động của quản trị công ty tới chất lượng thông tin kế toán

Phạm vi nghiên cứu của Luận án:

Phạm vi nội dung: Trong nghiên cứu này, Luận án tiếp cận vấn đề chất lượng

TTKT trên khía cạnh tính trung thực của thông tin trên BCTC Việc đo lường chất lượng TTKT tập trung vào tính trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận, thực hiện thông qua hai mô hình là quản trị lợi nhuận trên cơ sở dồn tích và sai sót trên BCTC Nhằm phân tích ảnh hưởng của QTCT tới chất lượng TTKT, Luận án khai thác các vấn đề

về QTCT trên khía cạnh nội bộ, với ba yếu tố quan trọng là cấu trúc sở hữu, đặc điểm của HĐQT và đặc điểm của BKS Trong đó, cấu trúc sở hữu bao gồm sở hữu Nhà nước, sở hữu tổ chức và sở hữu BGĐ; đặc điểm HĐQT bao gồm: quy mô, tính kiêm nhiệm, tính độc lập, giới tính, thâm niên, và trình độ chuyên môn kế toán, tài chính của thành viên HĐQT; đặc điểm BKS bao gồm: quy mô, giới tính, thâm niên và trình

độ chuyên môn kế toán, tài chính của thành viên BKS

Phạm vi không gian

Phạm vi không gian của Luận án là các công ty niêm yết trên trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà

Trang 6

Nội (HNX), không bao gồm các định chế tài chính (như ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán…)

Phạm vi thời gian

Phạm vi thời gian của Luận án là giai đoạn 2009-2020

4 Những đóng góp mới của Luận án

Những đóng góp về mặt lý luận

Thứ nhất, Luận án đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về chất lượng TTKT,

QTCT và ảnh hưởng của QTCT tới chất lượng TTKT từ các nghiên cứu trên thế giới

và Việt Nam Luận án tập trung vào đặc điểm tính trung thực của TTKT do đây là đặc điểm cơ bản, được quy định trong Chuẩn mực kế toán Việt Nam, phù hợp với Chuẩn mực kế toán quốc tế

Thứ hai, nhằm đo lường tính trung thực của TTKT, Luận án sử dụng cả hai khái

niệm quản trị lợi nhuận và sai sót trên BCTC để phản ánh về chất lượng TTKT Do vậy, kết quả nghiên cứu vì cũng trở nên tin cậy hơn

Thứ ba, để xác định sai sót trên BCTC, Luận án là công trình nghiên cứu đầu

tiên bổ sung ý kiến kiểm toán bên cạnh thước đo doanh nghiệp có chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán vượt ngưỡng trọng yếu hay không

Thứ tư, Luận án khai thác về quản trị công ty trên cả ba khía cạnh là cấu trúc sở

hữu, đặc điểm HĐQT và đặc điểm BKS

Những đóng góp về mặt thực tiễn:

Thứ nhất, Luận án đã mô tả về thực trạng chất lượng TTKT của các công ty

niêm yết trên TTCK Việt Nam

Thứ hai, kết quả nghiên cứu của Luận án cung cấp bằng chứng thực nghiệm về

ảnh hưởng của QTCT tới chất lượng TTKT của các công ty niêm yết trên ba khía cạnh là cấu trúc sở hữu, đặc điểm của HĐQT và đặc điểm của BKS Kết quả nghiên cứu là cơ sở đề xuất các khuyến nghị nhằm hoàn thiện các chính sách về QTCT nhằm giúp các công ty nâng cao chất lượng TTKT

Trang 7

CHƯƠNG 1:

TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan tới chất lượng thông tin kế toán

CLTT kế toán thể hiện tính hữu ích của thông tin (Azar và cộng sự, 2019), cho thấy sự đáp ứng của thông tin đối với nhu cầu của người sử dụng (Mulyani và Arum, 2016) Câu hỏi được đặt ra là TTKT như thế nào được coi là đáp ứng nhu cầu của người sử dụng, hay nói cách khác CLTT kế toán cần đảm bảo các đặc điểm như thế nào? Các nghiên cứu về CLTT kế toán được các nhà khoa học tập trung vào một số thuộc tính của TTKT như tính trung thực, thích hợp, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu và có thể kiểm chứng được (Jonas và Banchet, 2004) Việc đề xuất các thuộc tính này của TTKT bắt nguồn từ khuôn khổ các khái niệm về TTKT ban hành bởi các tổ chức nghề nghiệp quốc tế như Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB), Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính của Hoa Kỳ (FASB), hoặc xuất phát từ quy định của nước sở tại Từ quy định về các thuộc tính thông tin, khi nghiên cứu về CLTT kế toán, các nhà khoa học thực hiện theo hai hướng: một là, nghiên cứu CLTT kế toán tổng hợp theo các thuộc tính về thông tin, trong đó, dữ liệu thường là dữ liệu sơ cấp, thu thập thông qua khảo sát; hai là, nghiên cứu theo từng thuộc tính riêng lẻ, trong

đó, dữ liệu thường là dữ liệu thứ cấp, được thu thập từ BCTC của các công ty và dữ liệu thị trường

Đối với các nghiên cứu về chất lượng thông tin kế toán theo từng đặc tính riêng

lẻ, các nhà khoa học thường tập trung vào hai đặc tính quan trọng nhất của thông tin

đó là tính trung thực và tính thích hợp (FASB và IASB, 2010)

Dựa trên khung khái niệm của các tổ chức quốc tế về kế toán, nghiên cứu của Dechow và cộng sự (1996), Beasley (1996), Jonas & Blanchet (2000), Willekens (2008) đã xây dựng cách đo lường về CLTT theo đặc điểm trung thực với ba yếu tố: tính đầy đủ (complete), trung lập (neutral), không có sai sót trọng yếu (free from material error) Nhằm đo lường tính trung thực của CLTT kế toán, các nhà khoa học

đã nghiên cứu về CLTT kế toán thông qua hai khái niệm là quản trị lợi nhuận và sai sót trên BCTC Theo đó, TTKT được coi là trung thực khi không có hiện tượng quản

Trang 8

trị lợi nhuận tức là thông tin đã đảm bảo trung lập, khách quan, đầy đủ và không có sai sót trọng yếu

Bên cạnh đặc điểm trung thực, tính thích hợp cũng được xem là một yếu tố để đánh giá CLTT kế toán TTKT thích hợp sẽ hữu ích cho người sử dụng, thể hiện có chất lượng tốt IASB (2018) định nghĩa TTKT có tính thích hợp khi có khả năng tạo

ra được sự khác biệt trong quyết định của người sử dụng, nghĩa là thông tin đó có khả năng dự báo và khả năng xác nhận Theo đó, TTKT có giá trị thích hợp nếu tồn tại một mối quan hệ giữa các thông tin công bố trên BCTC với giá trị thị trường của cổ phiếu hoặc lợi nhuận của cổ phiếu (Francis và Schipper, 1999)

1.2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan tới tác động của quản trị công ty tới chất lượng thông tin kế toán

Các nghi vấn về CLTT kế toán xuất phát từ vấn đề đại diện giữa nhà quản trị và

cổ đông Nhằm hạn chế hành vi can thiệp làm giảm CLTT kế toán, các cổ đông cần

có sự kiểm soát hiệu quả hoạt động của BGĐ QTCT được xem là giải pháp hiệu quả cho vấn đề này Theo La Porta và cộng sự (2000), QTCT giúp các bên liên quan bên ngoài doanh nghiệp, đặc biệt là các cổ đông thiểu số, bảo vệ mình khỏi những hành

vi tổn hại đến quyền sở hữu trước các cổ đông kiểm soát Do đó các nghiên cứu về tác động của tác động của QTCT tới chất lượng TTKT thường tiếp cận về QTCT trên hai khía cạnh chính là cấu trúc sở hữu và đặc điểm của thành phần quản trị Trong

đó, thành phần quản trị chủ yếu bao gồm HĐQT và BKS HĐQT bao gồm các thành viên do cổ đông bầu chọn, nhằm đại diện cho các chủ sở hữu, thực hiện chức năng giám sát hoạt động của BGĐ, qua đó bảo vệ quyền lợi của cổ đông và các bên liên quan khỏi các nguy cơ bị phương hại lợi ích từ BGĐ Ở một số quốc gia như Anh,

Mỹ, HĐQT có thể chia thành nhiều Ủy ban như Ủy ban kiểm toán, Ủy ban lương thưởng Trong khi đó, tại một số quốc gia như Trung Quốc, Indonesia, cấu trúc QTCT còn bao gồm BKS, là cơ quan do các cổ đông bầu ra nhằm giám sát và đánh giá việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của thành viên HĐQT và BGĐ Do vậy các nghiên cứu về tác động của QTCT tới CLTT kế toán thường khai thác vấn đề về QTCT trên các khía cạnh: cấu trúc sở hữu, đặc điểm HĐQT và đặc điểm BKS

Trang 9

1.3 Kho ảng trống cho nghiên cứu

V ề việc đo lường chất lượng thông tin kế toán

Trước hết, hướng tiếp cận của Luận án là nghiên cứu CLTT kế toán theo đặc

điểm riêng lẻ, sử dụng dữ liệu thứ cấp là báo cáo tài chính của các công ty niêm yết, phù hợp với quan điểm của FASB, IASB, Chuẩn mực kế toán Việt Nam

Hai là, các nghiên cứu trước đây về CLTT kế toán theo đặc điểm trung thực được các nhà khoa học nghiên cứu thực hiện thông qua mức độ quản trị lợi nhuận hoặc có sai sót trọng yếu hay không Khác với các nghiên cứu trước đó, Luận án sẽ thực hiện nghiên cứu về CLTT kế toán thông qua việc sử dụng hai thước đo là quản trị lợi nhuận và sai sót trọng yếu, thể hiện việc nghiên cứu về CLTT kế toán được toàn diện hơn, và có độ tin cậy cao hơn

Ba là, khi nghiên cứu về CLTT kế toán trong mối tương quan ngược chiều với

sai sót trọng yếu, tác giả đề xuất cách đo lường theo hướng kết hợp, tức là, công ty không có sai sót trọng yếu cần được hiểu là công ty nhận báo cáo kiểm toán dạng chấp nhận toàn phần và không có chênh lệch trên mức trọng yếu

V ề các khía cạnh quản trị công ty trong nghiên cứu tác động của quản trị công ty t ới chất lượng thông tin kế toán

Một là, tại Việt Nam, các nghiên cứu về đặc điểm của BKS tới CLTT kế toán

rất hạn chế, chủ yếu tập trung vào hai khía cạnh đặc điểm HĐQT và cấu trúc sở hữu Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ bổ sung các yếu tố liên quan tới BKS

Hai là, tổng quan nghiên cứu cho thấy các nghiên cứu trước đây chỉ nghiên cứu một số các yếu tố riêng lẻ về QTCT, hơn nữa mỗi quốc gia khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế chính trị, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này tới CLTT kế toán lại thể hiện khác nhau, thậm chí ngược chiều Trong Luận án, tác giả nghiên cứu và đưa vào mô hình cả ba khía cạnh của QTCT bao gồm đặc điểm HĐQT, đặc điểm BKS và cấu trúc sở hữu với kỳ vọng, QTCT là giải pháp nâng cao CLTT kế toán Với

dữ liệu thứ cấp mang tính khách quan từ các công ty niêm yết và trong khoảng thời gian 12 năm từ 2009-2020, Luận án kỳ vọng cung cấp kết quả đáng tin cậy về ảnh hưởng của QTCT lên CLTT kế toán

Trang 10

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY TỚI CHẤT

LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN 2.1 Cơ sở lý luận về chất lượng thông tin kế toán

2.1.1 Những vấn đề chung về chất lượng thông tin kế toán

2.1.1.1.Thông tin kế toán

Thông tin kế toán là sản phẩm của hệ thống kế toán (Mulyani và Arum, 2016),

có được thông qua quá trình thu thập, lưu trữ, phân phối và xử lý thông tin trong lĩnh vực tài chính, kinh tế Thông tin kế toán rất đa dạng, bao gồm thông tin kế toán tài chính và thông tin kế toán quản trị Trong phạm vi luận án, tác giả hướng tới đối tượng thông tin kế toán tài chính, là các thông tin kế toán được phản ánh trong BCTC

2.1.1.2 Chất lượng thông tin kế toán

Khái niệm về CLTT kế toán gắn liền với khái niệm về CLTT, nghĩa là gắn liền với người sử dụng thông tin Theo Azar và cộng sự (2019), CLTT kế toán là khái niệm gắn liền với tính hữu ích của thông tin kế toán đối với người sử dụng

Trong phạm vi luận án, tác giả tập trung vào thuộc tính trung thực do đặc điểm này được coi là thuộc tính cơ bản của thông tin kế toán, được nhấn mạnh trong Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (Bộ Tài chính, 2002), đồng thuận với quan điểm của Hiệp hội nghề nghiệp kế toán như FASB và IASB CLTT kế toán trên khía cạnh trung thực được hiểu là mức độ mà thông tin kế toán phản ánh các thông tin một cách đầy

đủ, khách quan và không có sai sót trọng yếu

2.1.2 Các phương pháp đo lường chất lượng thông tin kế toán

2.1.2.1 Quản trị lợi nhuận

Quản trị lợi nhuận (Earnings management) xảy ra khi nhà quản trị can thiệp

vào việc ghi nhận thông tin tài chính hay cấu trúc lại những giao dịch mua bán thông thường để thay đổi con số cuối cùng trên BCTC, nhằm làm sai lệch kì vọng của cổ đông vào tình trạng kinh tế thực sự của công ty hoặc tác động tích cực lên kết quả các hợp đồng dựa vào số liệu kế toán được công bố (Healy và Wahlen, 1999) Các nhà khoa học đo lường mức độ quản trị lợi nhuận thông qua mức độ dồn tích bất thường,

Trang 11

được đề xuất trong nghiên cứu của Jones (1991), Dechow và cộng sự (1995), Kothari

và cộng sự (2005)

2.1.2.2 Sai sót trên báo cáo tài chính

Sai sót trên BCTC (misstatements) là sự khác biệt giữa giá trị, cách phân loại, trình bày hoặc thuyết minh của một khoản mục trên BCTC với giá trị, cách phân loại, trình bày hoặc thuyết minh của khoản mục đó theo khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng (Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 450, 2012) CLTT kế toán được đánh giá cao khi công ty không có hiện tượng sai sót trên BCTC Để xác định một đơn vị có sai sót trên BCTC hay không, một số nghiên cứu sử dụng dữ liệu báo cáo gian lận (Beasley, 1996; Roden và cộng sự, 2016), hoặc dựa vào việc điều chỉnh BCTC (restatements) (Qiu và cộng sự, 2019) hoặc dựa vào ý kiến của đơn vị kiểm toán độc lập (Willekens, 2008)

2.2 Cơ sở lý luận về quản trị công ty

2.2.1 Khái niệm quản trị công ty

Quản trị công ty, theo nghĩa rộng, là hệ thống những cơ chế mà thông qua đó

nhà đầu tư bên ngoài doanh nghiệp bảo vệ mình khỏi những hành vi gây tổn hại đến quyền sở hữu doanh nghiệp của họ trước những thành phần nội bộ (bao gồm BGĐ và

cổ đông kiểm soát) (La Porta và cộng sự, 2000) Trong khi đó, theo nghĩa hẹp, QTCT chỉ bao gồm cơ chế quản trị từ bên trong đơn vị, thể hiện qua cơ chế giám sát nội bộ Trong phạm vi Luận án, tác giả tiếp cận khái niệm QTCT theo hướng tập trung vào các cơ chế nội bộ của doanh nghiệp, phù hợp với quy định tại Việt Nam Theo

đó, QTCT là các cơ chế nhằm đảm bảo quyền lợi của cổ đông và các bên liên quan, hướng tới sự công bằng, công khai, minh bạch về hoạt động kinh doanh của đơn vị

2.2.2 Cơ chế quản trị công ty

Nghiên cứu về QTCT, được hiểu là nghiên cứu về các cơ chế QTCT, do vậy, thường tập trung vào hai vấn đề quan trọng là về cấu trúc sở hữu và đặc điểm quản trị công ty Trong đó, đặc điểm quản trị công ty thể hiện qua đặc điểm của HĐQT và BKS Với chức năng là cơ quan quản lý của doanh nghiệp, HĐQT đại diện cho cổ đông thực hiện kiểm tra, theo dõi hoạt động của BGĐ, đóng một vị thế quan trọng

Trang 12

trong việc kiểm soát vấn đề đại diện (García‐Meca và Sánchez‐Ballesta, 2009) BKS

là một cơ chế quản trị, bao gồm các kiểm soát viên do Đại hội đồng cổ đông bầu chọn, thực hiện chức năng giám sát HĐQT và BGĐ

2.2.3 Nguyên tắc quản trị công ty

Tại Việt Nam, nguyên tắc của QTCT, theo Nghị định 71/2-17/NĐ-CP, bao gồm:

M ột là, đảm bảo cơ cấu quản trị hợp lý

Hai là, đảm bảo hiệu quả hoạt động của HĐQT và BKS

Ba là, đảm bảo quyền lợi của cổ đông và các bên có liên quan

B ốn là, đảm bảo đối xử công bằng giữa các cổ đông

Năm là, công khai, minh bạch mọi hoạt động của công ty

2.3 Cơ sở lý thuyết về tác động của quản trị công ty tới chất lượng thông tin kế toán

2.3.1 Các lý thuyết nền

2.3.1.1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng

Lý thuyết thông tin bất cân xứng phản ánh việc các bên tham gia trong giao dịch kinh tế, có một số người có đầy đủ thông tin hơn những người khác Theo đó, BGĐ

là những người điều hành doanh nghiệp, cung cấp thông tin về tình hình tài chính qua BCTC, trong khi cổ đông là chủ sở hữu doanh nghiệp lại là những người sử dụng thông tin về tình hình hoạt động của công ty Với vị thế đó, BGĐ sẽ nắm được thông tin rõ hơn so với cổ đông, người vốn dĩ là chủ của doanh nghiệp Điều này gây ra hậu quả về rủi ro đạo đức và sự lựa chọn đối nghịch

2.3.1.2 Lý thuyết đại diện

Lý thuyết đại diện được phát triển bởi Jensen và Meckling (1976), phản ánh vấn

đề người đại diện Theo đó, BGĐ nắm trong tay quyền điều hành công ty, với tư cách

là người được các cổ đông ủy quyền kiểm soát cùng kỳ vọng đem lại lợi ích chủ sở hữu Tuy nhiên, thực tế, BGĐ có xu hướng hành động vì lợi ích cá nhân mà không vì lợi ích chung của doanh nghiệp, vì vậy họ có động cơ điều chỉnh thông tin kế toán, nhằm che giấu các vấn đề về quản lý, hoặc làm đẹp BCTC do phần lớn các kế hoạch

Trang 13

khen thưởng đều dựa trên các con số kế toán Do đó các cổ đông cần kiểm soát hành

vi của BGĐ và phải chấp nhận chi phí đại diện (agency cost)

2.3.1.3 Lý thuyết tam giác gian lận

Lý thuyết tam giác gian lận của Cressey (1953) chỉ ra rằng hành vi gian lận xảy

ra khi hội đủ ba yếu tố Động cơ/Áp lực, Cơ hội và Thái độ/Sự hợp lý hóa Theo đó, gian lận có liên quan đến động cơ hoặc áp lực phải thực hiện hành vi gian lận, một

cơ hội rõ ràng để thực hiện điều đó và việc hợp lý hoá hành vi gian lận Thông tin kế toán thiếu trung thực xảy ra khi BGĐ có động cơ hoặc gặp phải áp lực làm đẹp báo tài chính, hệ thống kiểm soát yếu kém và thái độ không tốt

2.3.1.4 Lý thuyết các bên có liên quan

Lý thuyết các bên liên quan nhấn mạnh tầm ảnh hưởng của các đối tượng có lợi ích trực tiếp lẫn gián tiếp tới hoạt động của đơn vị bao gồm cổ đông, Nhà nước, chủ

nợ, nhà cung cấp, khách hàng và thậm chí cả công chúng Với các bên liên quan, thông tin kế toán là cơ sở để đưa ra các quyết định như quyết định đầu tư của nhà đầu

tư, quyết định cho vay hoặc thu hồi nợ của chủ nợ…

2.3.2 Tác động của quản trị công ty tới chất lượng thông tin kế toán

2.3.2.1 Tác động của cấu trúc sở hữu tới chất lượng thông tin kế toán

Cấu trúc sở hữu được hiểu là sự phân bổ vốn chủ sở hữu theo quyền, có mối tương quan với tỷ lệ vốn chủ sở hữu được nắm giữ bởi các chủ sở hữu Kế thừa từ các nghiên cứu trước đây và dữ liệu thu thập, luận án xem xét vấn đề về tác động của cấu trúc sở hữu tới CLTT kế toán tập trung trên ba khía cạnh: sở hữu Nhà nước, sở hữu của cổ đông tổ chức và sở hữu của BGĐ

2.3.2.2 Tác động của đặc điểm Hội đồng quản trị tới chất lượng thông tin kế toán

HĐQT là cơ quan đại diện cho cổ đông thực hiện kiểm tra, theo dõi hoạt động của BGĐ Xuất phát từ các nghiên cứu trước đây và từ dữ liệu thu thập, Luận án đề cập tới đặc điểm HĐQT trên các khía cạnh bao gồm quy mô HĐQT; tính kiêm nhiệm chức danh chủ tịch HĐQT và giám đốc điều hành, tính độc lập trong HĐQT; đặc điểm của thành viên HĐQT về thâm niên, giới tính và chuyên môn kế toán tài chính

Ngày đăng: 23/10/2021, 10:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.4. Mô hình nghiên cứu - Nghiên cứu tác động của quản trị công ty tới chất lượng thông tin kế toán của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam TT
2.4. Mô hình nghiên cứu (Trang 14)
3.3. Mô hình hồi quy và đo lường biến trong mô hình - Nghiên cứu tác động của quản trị công ty tới chất lượng thông tin kế toán của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam TT
3.3. Mô hình hồi quy và đo lường biến trong mô hình (Trang 16)
thường, ước lượng từ mô hình của Dechow và c ộng sự (1995)  - Nghiên cứu tác động của quản trị công ty tới chất lượng thông tin kế toán của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam TT
th ường, ước lượng từ mô hình của Dechow và c ộng sự (1995) (Trang 17)
Bảng 4.1. Thống kê các biến chính của mô hình - Nghiên cứu tác động của quản trị công ty tới chất lượng thông tin kế toán của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam TT
Bảng 4.1. Thống kê các biến chính của mô hình (Trang 21)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w