Có thể thấy rằng các tác giả một mặt khẳng định việc sử dụng quy trình học tập HT một cách phù hợp đã khắc phục được các nhược điểm của HS trong quá trình tự học hoặc hoạt động nhóm nhưn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Mã số: 9140111
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN THANH HẢI
TS QUÁCH NGUYỄN BẢO NGUYÊN
Thừa Thiên Huế, Năm 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu là khách quan, trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Thừa Thiên Huế, ngày … tháng … năm 2020
Tác giả luận án
Trần Quỳnh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cố NGƯT PGS.TS Lê Công Triêm - Người đã giúp đỡ tôi tận tình trong việc xây dựng ý tưởng, đặt những nền móng khoa học đầu tiên cho toàn bộ luận án, cũng như đã tận tình dạy bảo, hướng dẫn trong gần suốt thời gian tôi thực hiện luận án
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS Nguyễn Thanh Hải và TS Quách Nguyễn Bảo Nguyên đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và triển khai thực hiện luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Đào tạo Sau đại học – Đại học Huế, Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế, Phòng Đào tạo Sau đại học, Ban chủ nhiệm Khoa Vật lí đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận án này
Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu, giáo viên và học sinh các trường THPT Nguyễn Đình Chiểu, THPT A Lưới, THPT Đặng Huy Trứ - Tỉnh Thừa Thiên Huế đã nhiệt tình phối hợp, giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra và thực nghiệm sư phạm
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, các bạn bè đồng nghiệp - những người đã luôn động viên, giúp đỡ về mọi mặt để tôi hoàn thành công trình nghiên cứu của mình
Thừa Thiên Huế, ngày … tháng … năm 2020
Tác giả luận án
Trần Quỳnh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, SƠ ĐỒ, BẢNG, ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 6
3 Giả thuyết khoa học 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Đối tượng nghiên cứu 7
6 Phạm vi nghiên cứu 7
7 Phương pháp nghiên cứu đề tài 7
8 Đóng góp mới của luận án 8
9 Cấu trúc của luận án 9
NỘI DUNG 10
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 10
1.1 Những nghiên cứu về việc phát triển năng lực và phát triển năng lực hợp tác cho học sinh 10
1.1.1 Các kết quả nghiên cứu ở nước ngoài 10
1.1.2 Các kết quả nghiên cứu ở trong nước 16
1.2 Những nghiên cứu về việc tổ chức dạy học với sự hỗ trợ của máy vi tính theo hướng phát triển năng lực hợp tác 22
1.2.1 Các kết quả nghiên cứu ở nước ngoài 22
1.2.2 Các kết quả nghiên cứu ở trong nước 28
1.3 Kết luận chương 1 31
Chương 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 33
2.1 Năng lực hợp tác 33
2.1.1 Năng lực 33
2.1.2 Hợp tác 34
Trang 52.1.3 Năng lực hợp tác 34
2.1.4 Cấu trúc năng lực hợp tác 35
2.2 Phát triển năng lực hợp tác cho học sinh 39
2.2.1 Phát triển năng lực hợp tác 39
2.2.2 Dạy học gắn với phát triển năng lực hợp tác 39
2.3 Thực trạng về việc phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học Vật lí có sự hỗ trợ của máy vi tính 44
2.3.1 Chọn mẫu điều tra 44
2.3.2 Nội dung điều tra 44
2.3.3 Kết quả điều tra 45
2.3.4 Đánh giá thực trạng 53
2.4 Bồi dưỡng năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học Vật lí với sự hỗ trợ của máy vi tính 54
2.4.1 Sự hỗ trợ của máy vi tính trong dạy học Vật lí theo hướng phát triển năng lực hợp tác cho học sinh 54
2.4.2 Một số biện pháp bồi dưỡng năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học Vật lí với sự hỗ trợ của máy vi tính 61
2.5 Quy trình tổ chức dạy học nhằm góp phần phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học vật lí với sự hỗ trợ của máy vi tính 87
2.5.1 Nguyên tắc xây dựng quy trình 87
2.5.2 Quy trình tổ chức dạy học nhằm góp phần phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học vật lí với sự hỗ trợ của máy vi tính 88
2.6 Kết luận chương 2 94
Chương 3 TỔ CHỨC DẠY HỌC CHƯƠNG “ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM” VẬT LÍ LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA MÁY VI TÍNH 96
3.1 Đặc điểm chương “Động lực học chất điểm” vật lí lớp 10 trung học phổ thông 96
3.1.1 Khái quát nội dung chương “Động lực học chất điểm” 96
3.1.2 Mục tiêu dạy học chương “Động lực học chất điểm” 97
3.1.3 Một số thuận lợi và khó khăn khi bồi dưỡng năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học chương “Động lực học chất điểm” 99
Trang 63.2 Định hướng sử dụng các biện pháp bồi dưỡng năng lực hợp tác cho học sinh
trong dạy học chương “Động lực học chất điểm” với sự hỗ trợ của máy vi tính 100
3.2.1 Bài 10: Ba định luật Niu-tơn 101
3.2.2 Bài 11: Lực hấp dẫn Định luật vạn vật hấp dẫn 102
3.2.3 Bài 12: Lực đàn hồi của lò xo Định luật Húc 103
3.2.4 Bài 13: Lực ma sát 103
3.2.5 Bài 14: Lực hướng tâm 104
3.2.6 Bài 15: Bài toán về chuyển động ném ngang 105
3.2.7 Bài 16: Thực hành: Xác định hệ số ma sát 105
3.3 Thiết kế tiến trình dạy học cụ thể chương “Động lực học chất điểm” vật lí lớp 10 theo hướng phát triển năng lực hợp tác cho học sinh với sự hỗ trợ của máy vi tính 106
3.4 Kết luận chương 3 120
Chương 4 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 122
4.1 Thực nghiệm sư phạm lần 1 122
4.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm lần 1 122
4.1.2 Phạm vi, đối tượng thực nghiệm sư phạm lần 1 122
4.1.3 Phương pháp tiến hành thực nghiệm sư phạm lần 1 123
4.1.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm lần 1 125
4.2 Thực nghiệm sư phạm lần 2 129
4.2.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm lần 2 129
4.2.2 Phạm vi, đối tượng thực nghiệm sư phạm lần 2 129
4.2.3 Phương pháp tiến hành thực nghiệm sư phạm lần 2 130
4.2.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm lần 2 135
4.3 Kết luận chương 4 169
KẾT LUẬN 171
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 174
TÀI LIỆU THAM KHẢO 175 PHỤ LỤC
Trang 7Hệ thống kĩ năng Học sinh
Học tập hợp tác Hợp tác
Kĩ năng Máy vi tính Nghiên cứu Năng lực Năng lực hợp tác Năng lực thành tố Nhà xuất bản Phương tiện dạy học Phương pháp
Phương pháp dạy học Quá trình dạy học Sách giáo khoa Trung học phổ thông Thí nghiệm
Thực nghiệm Thực nghiệm sư phạm Vật lí
CNTT
DH
ĐC
ĐG ĐGNL
GV HTKN
HS HTHT
HT
KN MVT
NC
NL NLHT NLTT NXB PTDH
PP PPDH QTDH SGK THPT TNg
TN TNSP
VL
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, SƠ ĐỒ, BẢNG, ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ
Hình ảnh
Hình 2.1 Sơ đồ xây dựng cấu trúc năng lực 35
Hình 2.2 Các thành tố của NL hợp tác 37
Hình 2.3 Các mô hình tương tác trong DH 40
Hình 2.4 Mô phỏng chuyển động của vệ tinh bay xung quanh Trái đất 55
Hình 2.5 Mô phỏng chuyển động của con lắc lò xo 55
Hình 2.6 Giao diện của ứng dụng Classdojo 58
Hình 2.7 Học sinh dùng biểu đồ Gantt lập kế hoạch hợp tác 64
Hình 2.8 Giao diện của website Kahoot 73
Hình 2.9 Một số nguồn khai thác TNg trên MVT 78
Hình 2.10 Giao diện của website PhET.colorado.edu 78
Sơ đồ Sơ đồ 2.1 Quy trình tổ chức DH nhằm góp phần phát triển NLHT cho HS 89
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ cấu trúc nội dung của chương “Động lực học chất điểm” 97
Bảng Bảng 2.1 Các chỉ số hành vi và tiêu chí chất lượng của các thành tố NLHT 38
Bảng 2.2 Tiêu chí đánh giá NLHT của HS 42
Bảng 2.3 Kết quả điều tra về việc sử dụng PPDH, PTDH của GV trong DH Vật lí 46 Bảng 2.4 Kết quả điều tra về việc bồi dưỡng NLHT cho HS trong DH Vật lí 47
Bảng 2.5 Kết quả điều tra GV về việc bồi dưỡng NLHT cho HS với sự hỗ trợ của MVT 49
Bảng 2.6 Kết quả điều tra HS về việc hình thành và phát triển NLHT với sự hỗ trợ của MVT 51
Bảng 2.7 Phiếu tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau 82
Bảng 2.8 Phiếu báo cáo quá trình hoạt động của nhóm 84
Bảng 2.9 Phiếu đánh giá kết quả chung của cả nhóm 86
Bảng 2.10 Bảng quy ước xếp loại NLHT của HS 87
Bảng 4.1 Các mẫu TNSP được chọn trong TNSP lần 1 123
Bảng 4.2 Kết quả tổng hợp phiếu quan sát giờ học TNSP lần 1 125
Bảng 4.3 Các mẫu TNSP được chọn trong TNSP lần 2 131
Trang 9Bảng 4.4 Kết quả tổng hợp phiếu quan sát giờ học 135
Bảng 4.5 Tổng điểm tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau 143
Bảng 4.6 Kết quả điểm hệ số góp c của mỗi học sinh 147
Bảng 4.7 Tổng điểm GV đánh giá nhóm 149
Bảng 4.8 Kết quả đánh giá NLHT của mỗi cá nhân 150
Bảng 4.9 Thống kê số HS đạt điểm X i của bài kiểm tra đầu vào 162
Bảng 4.10 Bảng phân phối tần suất điểm đầu vào 162
Bảng 4.11 Bảng phân phối tần suất tích lũy điểm đầu vào 163
Bảng 4.12 Bảng phân phối tần suất tích lũy theo phần trăm điểm đầu vào 163
Bảng 4.13 Bảng các tham số thống kê điểm đầu vào 164
Bảng 4.14 Bảng thống kê các điểm số X i của bài kiểm tra chất lượng đầu ra 165
Bảng 4.15 Bảng phân phối tần suất điểm đầu ra 165
Bảng 4.16 Bảng phân phối tần suất tích lũy điểm đầu ra 166
Bảng 4.17 Bảng phân phối tần suất tích lũy theo phần trăm điểm đầu ra 167
Bảng 4.18 Bảng các tham số thống kê điểm đầu ra 167
Đồ thị Đồ thị 4.1 Đồ thị phân bố điểm bài kiểm tra đầu vào của hai nhóm 162
Đồ thị 4.2 Đồ thị phân phối tần suất tích lũy điểm đầu vào 163
Đồ thị 4.3 Đồ thị phân bố điểm đầu ra của hai nhóm 165
Đồ thị 4.4 Đồ thị phân phối tần suất tích lũy điểm đầu ra 166
Biểu đồ Biểu đồ 4.1 Điểm NLHT của HS nhóm 1 - lớp TN 1 qua ba giai đoạn đánh giá 152
Biểu đồ 4.2 Điểm NLHT của HS nhóm 1 - lớp TN 2 qua ba giai đoạn đánh giá 153
Biểu đồ 4.3 Điểm NLHT của HS nhóm 1 - lớp TN 3 qua ba giai đoạn đánh giá 155
Biểu đồ 4.4 Điểm NLHT của HS nhóm 1 - lớp TN 4 qua ba giai đoạn đánh giá 157
Biểu đồ 4.5 Điểm NLHT của HS nhóm 1 - lớp TN 5 qua ba giai đoạn đánh giá 158
Biểu đồ 4.6 Điểm NLHT của HS nhóm 1 - lớp TN 6 qua ba giai đoạn đánh giá 160
Biểu đồ 4.7 Biểu đồ phân phối tần suất điểm đầu vào 162
Biểu đồ 4.8 Biểu đồ phân phối tần suất tích lũy theo phần trăm điểm đầu vào 163
Biểu đồ 4.9 Biểu đồ phân phối tần suất điểm đầu ra 166
Biểu đồ 4.10 Biểu đồ phân phối tần suất tích lũy theo phần trăm điểm đầu ra 167
Trang 10Thế giới ngày nay, với các cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đang diễn ra rộng khắp, đã thúc đẩy nhiều lĩnh vực phát triển mạnh mẽ, trong đó có Giáo dục và Đào tạo Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực có đủ phẩm chất và NL, thích ứng tốt với sự phát triển không ngừng của xã hội đang trở thành tối quan trọng và cấp bách hơn bao giờ hết Điều đó gắn liền với sự thay đổi về quan điểm trong việc đào tạo nguồn nhân lực của các quốc gia; gắn liền với sự thay đổi quan điểm về mục tiêu trong việc học của con người Ngay từ khi chuẩn bị bước vào thế kỷ XXI, UNESCO
đã thành lập Nhóm chuyên trách NC về Giáo dục cho thế kỷ XXI Năm 1996, Chủ tịch Ủy ban UNESCO về Giáo dục cho thế kỷ XXI Jacques Delors đã công bố bản
báo cáo có tiêu đề “Learning: The Treasure Within” (Giáo dục: Kho tàng tiềm ẩn),
trong đó đã khẳng định vai trò cơ bản của giáo dục trong sự phát triển của xã hội và của mỗi cá nhân; nhấn mạnh học tập suốt đời như là một chìa khóa để mỗi cá nhân thích ứng với những thách thức của thế kỷ XXI, đồng thời đưa ra “Bốn trụ cột của giáo dục”: Học để biết; Học để làm; Học để tồn tại; Học để chung sống [8], [31], [58] Giáo dục nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; sự phát triển nhanh chóng của khoa học – công nghệ, khoa học giáo dục và sự cạnh tranh quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia đòi hỏi giáo dục phải đổi mới Thực chất cạnh tranh giữa các quốc gia hiện nay là cạnh tranh về nguồn nhân lực cũng như
về khoa học và công nghệ Xu thế chung của thế giới khi bước vào thế kỉ XXI là tiến hành đổi mới mạnh mẽ hay cải cách giáo dục Bối cảnh trong nước và quốc tế vừa tạo
ra thời cơ lớn, vừa đặt ra những thách thức không nhỏ cho nền giáo dục nước nhà Để
Trang 11bảo đảm cho sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Ngành giáo dục cần phải đổi mới đồng bộ cả mục đích, nội dung, phương tiện và hình thức DH Đổi mới DH ở trường phổ thông là một trong những vấn đề đã và đang được Đảng, Nhà nước và ngành Giáo dục hết sức quan tâm, được thể chế hóa thông qua nhiều văn bản luật, nghị quyết, chỉ thị về đổi mới giáo dục
Luật Giáo dục (2019) quy định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc trưng từng môn học, lớp học và đặc điểm đối tượng học sinh; bồi dưỡng PP tự học, hứng thú học tập,
KN HT, khả năng tư duy độc lập; phát triển toàn diện phẩm chất và NL của người học; tăng cường ứng dụng CNTT và truyền thông vào quá trình giáo dục” [40]
Xác định tầm quan trọng đặc biệt của đổi mới giáo dục trong giai đoạn mới của đất nước, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 29-NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, trong đó nêu rõ:
“Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, NL công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho
HS Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, NL và KN thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn,…” [1] Có thể nói đây là vấn đề mang tính thời sự và cấp bách của giáo
Trang 12Ngày 26/12/2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chính thức ban hành Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và Chương trình Giáo dục phổ thông các môn học (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) Theo đó, Chương trình giáo dục phổ thông quy định việc triển khai thực hiện phải hình thành và phát triển cho HS 5 phẩm chất chủ yếu là yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực; những NL chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học
và hoạt động giáo dục là NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và HT, NL giải quyết vấn
đề và sáng tạo; những NL đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một
số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL khoa học, NL công nghệ, NL tin học, NL thẩm mĩ, NL thể chất [6]
Theo quan điểm của nhiều nhà NC giáo dục, tất cả các NL cốt lõi nêu trên đều rất quan trọng, mỗi NL đều có tác dụng riêng của nó, trong đó, NLHT cũng không ngoại lệ Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, HT không chỉ là nhu cầu tăng thêm sức lực hoặc trí lực để hoàn thành những mục tiêu chung, mà quan trọng hơn là do mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đang ngày càng có mối quan hệ khá chặt chẽ và không kém phần phức tạp, quan hệ “phụ thuộc” lẫn nhau càng rõ nét hơn bao giờ hết Nếu NLHT của mỗi cá nhân còn hạn chế thì không chỉ cá nhân mà cả tập thể sẽ trở nên trì trệ, kém phát triển Đời sống xã hội trong bối cảnh mới đòi hỏi mỗi cá nhân phải nhận thức đúng vai trò của NLHT như một giải pháp chủ yếu để con người chung sống và phát triển
Để thực hiện đổi mới giáo dục, việc đổi mới chương trình mới chỉ là bước khởi đầu, vấn đề quan trọng góp phần quyết định vào sự thành công của đổi mới nằm ở chỗ triển khai thực hiện Suy cho cùng, việc tổ chức DH thực tế của GV gắn với sự linh hoạt trong đổi mới PP, hình thức DH, ứng dụng tốt CNTT và sử dụng hợp lý các PTDH hiện đại, phù hợp trong DH là một trong những yếu tố mang tính quyết định Xác định
rõ tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong DH, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chỉ thị số 29/2001/CT-BGDĐT về việc tăng cường ứng dụng CNTT trong DH
và Chỉ thị 55/2008 CT – BGDĐT về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng
CNTT vào trong ngành giáo dục giai đoạn 2008 -2012, trong đó nêu rõ: “Đẩy mạnh ứng
dụng CNTT ở tất cả các cấp học, ngành học theo hướng sử dụng CNTT như công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho việc đổi mới PP giảng dạy, học tập ở tất cả các môn học” [5]
Trang 13Thực tế DH cho thấy, MVT là phương tiện DH hiện đại, trong giai đoạn hiện nay có thể xem đó một công cụ không thể thiếu trong việc hỗ trợ giúp GV thực hiện mục tiêu bài dạy Với nhiều chức năng như trình diễn hình ảnh, video, tìm kiếm thông tin hoặc sử dụng như một công cụ kiểm tra đánh giá, MVT còn có một ưu điểm nổi trội mà các PTDH khác không có được là hỗ trợ quá trình tương tác giữa HS và GV, giữa HS với nhau thông qua mạng Internet Nó có thể giúp người học tham gia các diễn đàn học tập trên mạng như WebQuest, email hoặc mạng xã hội (Facebook, Zalo, ), trên cơ sở đó tăng cường HT, hỗ trợ nhau giải quyết tốt các nhiệm vụ học tập được giao, qua đấy góp phần phát triển NLHT cho người học Có thể nói, việc sử dụng MVT
hỗ trợ cho QTDH là một hướng đi tất yếu trong quá trình đổi mới PPDH ở trường phổ thông, việc khai thác các chức năng của MVT nhằm góp phần phát triển NLHT cho
HS là một hướng đi tốt
Theo đánh giá của nhiều nhà khoa học, sau hơn 30 năm đổi mới, mặc dầu đã có những chuyển biến tích cực, song Giáo dục - Đào tạo nước ta vẫn đang bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập Một trong những hạn chế đó là chất lượng và hiệu quả giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát triển đất nước, chưa tiếp cận nhanh với trình độ và kết quả giáo dục của các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới Nội dung chương trình (trước năm 2018) còn thiên về lí thuyết, ít nhiều còn mang tính hàn lâm, nặng về thi
cử, PP dạy và học ở nhiều địa phương còn nặng về truyền thụ một chiều, ít phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS, chưa thực sự chú trọng đến việc phát triển phẩm chất,
NL cho HS Vấn đề sử dụng MVT trong DH nhiều khi còn mang tính hình thức, chưa thực sự mang lại hiệu quả như mong đợi Điều đó thể hiện thông qua đánh giá ghi trong Chiến lược giáo dục 2011 – 2020 ban hành kèm theo quyết định số 711/QĐ/TTg ngày
13/06/2012 của Thủ tướng Chính phủ: “Nội dung chương trình, PP dạy và học, công
tác thi, kiểm tra, đánh giá chậm được đổi mới Nội dung chương trình còn nặng về lý thuyết, PPDH lạc hậu, chưa phù hợp với đặc thù khác nhau của các loại hình cơ sở giáo dục, vùng miền và các đối tượng người học; nhà trường chưa gắn chặt với đời sống kinh tế, xã hội; chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu xã hội; chưa chú trọng giáo dục KN sống, phát huy tính sáng tạo, NL thực hành của HS, sinh viên” [44]
Trang 14Vật lí là môn khoa học thực nghiệm Sự phong phú về kiến thức, sự đa dạng
về các hình thức TNg và mối liên hệ chặt chẽ giữa kiến thức vật lí với tự nhiên, với thực tế đời sống và kỹ thuật là những lợi thế không nhỏ đối với tiến trình đổi mới PPDH bộ môn, để thực hiện tốt những yêu cầu về nội dung và PP giáo dục, phát triển phẩm chất, NL cho HS như Luật Giáo dục và Chương trình Giáo dục phổ thông đã quy định Những lợi thế về mối liên hệ chặt chẽ giữa kiến thức VL với tự nhiên, với thực tế đời sống và kỹ thuật nêu trên cũng là những ưu thế lớn trong việc có thể sử dụng MVT như một phương tiện hỗ trợ DH một cách hiệu quả, nhằm phát triển NL cho HS, đặc biệt là NLHT
Tuy vậy, qua nhiều kênh thông tin khác nhau, có thể thấy việc dạy và học VL
ở một số trường THPT còn nhiều hạn chế, đó là việc đổi mới PPDH còn chậm, các PPDH tích cực chưa được vận dụng một cách có hiệu quả như mong muốn, vấn đề ứng dụng MVT vào DH đã triển khai trên diện rộng, song vẫn còn thiếu hiệu quả PP học tập của HS còn thụ động, việc phát triển phẩm chất, NL thông qua DH VL còn chưa được đặt ra một cách đúng mực và việc thực hiện vẫn còn nhiều bất cập
Nguyên nhân của thực trạng trên là việc đổi mới PP chưa có tính đồng bộ, đối với một bộ phận GV việc tiếp cận với các PPDH tích cực còn là vấn đề chưa được giải quyết thỏa đáng Chương trình Giáo dục phổ thông trước 2018 chưa đề cập mạnh
về vấn đề phát triển phẩm chất, NL, vẫn còn nặng theo hướng tiếp cận nội dung, do
đó chưa có nhiều biện pháp cụ thể để phát triển phẩm chất, NL cho HS, hình thức và nội dung trong kiểm tra đánh giá còn chưa gắn kết tốt với thực tiễn, chưa tạo được động lực đủ mạnh để HS phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của cá nhân người học Các biện pháp để phát triển NL nói chung và NLHT nói riêng chưa đủ mạnh, nên hiệu quả của quá trình hình thành và phát triển NL của HS thông qua DH vật lí còn rất hạn chế
Những hạn chế nêu trên chưa đáp ứng được những quy định của Luật Giáo dục và mục tiêu của Chương trình Giáo dục phổ thông (2018) đã đề ra Với sự phát triển chung của toàn xã hội, tình trạng này không thể kéo dài thêm nữa, mà cần phải
có những động thái tích cực hơn, NC những biện pháp cụ thể hơn để GV và HS có thể điều chỉnh PP dạy và học của mình theo đúng định hướng
Trang 15Căn cứ vào những chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước và của Ngành, nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi mới PPDH và ý nghĩa của phát triển NL nói chung và NLHT nói riêng của HS thông qua QTDH, nhằm góp phần nâng cao hơn
nữa chất lượng DH VL ở trường THPT, chúng tôi NC đề tài: “Phát triển NLHT cho
học sinh trong DH chương “Động lực học chất điểm” Vật lí lớp 10 trung học phổ thông với sự hỗ trợ của máy vi tính”
2 Mục tiêu của đề tài
Đề xuất được quy trình tổ chức DH theo định hướng phát triển NLHT cho
HS với sự hỗ trợ của MVT, sử dụng quy trình này để thiết kế các tiến trình DH và vận dụng vào DH các bài học thuộc chương “Động lực học chất điểm” Vật lí lớp
10 THPT
3 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được quy trình tổ chức DH có sự hỗ trợ của MVT theo hướng phát triển NLHT cho HS và vận dụng quy trình này vào DH chương “Động lực học chất điểm” vật lí lớp 10 THPT thì sẽ góp phần phát triển được NLHT cho HS, qua
đó, nâng cao hiệu quả DH môn Vật lí ở trường phổ thông
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đặt ra, chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về việc tổ chức DH nhằm góp phần phát triển NLHT cho HS với sự hỗ trợ của MVT
- Xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá NLHT của HS
- Nghiên cứu thực trạng về việc tổ chức DH theo hướng phát triển NLHT cho
HS THPT hiện nay
- Xây dựng các biện pháp tổ chức DH nhằm góp phần phát triển NLHT cho
HS với sự hỗ trợ của MVT
- Xây dựng được quy trình tổ chức DH nhằm góp phần phát triển NLHT cho
hs trong DH vật lí, thiết kế một số bài học thuộc chương “Động lực học chất điểm” theo hướng phát triển NLHT cho HS với sự hỗ trợ của MVT và vận dụng quy trình
đã đề xuất vào DH
- Tiến hành TNSP nhằm kiểm nghiệm giả thuyết, đánh giá tính khả thi của đề tài
Trang 165 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động DH chương “Động lực học chất điểm” Vật lí lớp 10 THPT theo hướng phát triển NLHT cho HS THPT với sự hỗ trợ của MVT
6 Phạm vi nghiên cứu
Về kiến thức: Tập trung NC hoạt động DH trong chương “Động lực học chất điểm” Vật lí lớp 10 THPT theo định hướng phát triển NLHT cho HS với sự hỗ trợ của MVT
Về địa bàn: TNSP ở một số trường THPT tỉnh Thừa Thiên Huế
- Về thời gian: Quá trình NC và TNSP được thực hiện từ năm học 2017 đến năm học 2020
Đây là giai đoạn có nhiều thay đổi trong giáo dục:
+ Từ năm 2017 đến cuối năm 2018: Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, xây dựng dự thảo Chương trình Giáo dục phổ thông mới
+ Tháng 12/2018: Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình Giáo dục phổ thông mới và chưa có SGK phổ thông mới Chương trình Giáo dục phổ thông và SGK phổ thông hiện hành (2006) vẫn tiếp tục được áp dụng
+ Từ 2018 đến 2020: Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai công tác bồi dưỡng
GV theo Chương trình mới Chương trình Giáo dục phổ thông mới và Chương trình Giáo dục phổ thông hiện hành (2006) vẫn song song tồn tại
Những thay đổi về Chương trình giáo dục phổ thông diễn ra trong thời gian NC
đề tài đã có tác động không nhỏ đến quá trình NC cả về những thuận lợi và khó khăn
7 Phương pháp nghiên cứu đề tài
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- NC văn kiện của Đảng, Nhà nước và của ngành Giáo dục về vấn đề đổi mới PPDH hiện nay ở các cấp, các bậc học
- NC cơ sở tâm lí học và cơ sở lí luận việc tổ chức DH theo hướng phát triển NLHT cho HS trong DH Vật lí với sự hỗ trợ của MVT
- NC vấn đề ứng dụng CNTT nói chung và sử dụng MVT nói riêng trong hỗ trợ DH vật lí
Trang 17- NC nội dung các công trình NC, sách, báo, tạp chí chuyên ngành về vấn đề phát triển NLHT, chương trình, sách giáo khoa, sách bài tập, tài liệu tham khảo “Động lực học chất điểm” Vật lí lớp 10, chương trình sách giáo khoa Vật lí 10 trung học phổ thông và các tài liệu liên quan
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Thu thập ý kiến đánh giá của GV và HS để biết thực trạng các vấn đề sau:
Điều tra GV
Vấn đề 1 Việc sử dụng PPDH và PTDH của GV trong QTDH Vật lí ở trường phổ thông
Vấn đề 2 Việc bồi dưỡng NLHT cho HS trong DH Vật lí
Vấn đề 3 Việc bồi dưỡng NLHT cho HS trong DH Vật lí với sự hỗ trợ của MVT
Điều tra HS
Hệ thống câu hỏi của phiếu điều tra HS xoay quanh các vấn đề: Nhận thức của
HS về việc phát triển NLHT trong DH Vật lí, tình hình sử dụng MVT của HS trong việc hỗ trợ học tập môn Vật lí
7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
TNSP có đối chứng tại một số trường THPT để đánh giá hiệu quả và tính khả thi của đề tài
7.4 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng thống kê mô tả và thống kê kiểm định để đánh giá kết quả TNSP Với
số lượng HS tham gia thực nghiệm lớn thì với PP này sẽ cho các kết quả chính xác
có độ tin cậy cao
8 Đóng góp mới của luận án
8.1 Về lí luận
- Bổ sung và làm rõ thêm về cơ sở lí luận của việc tổ chức DH với sự hỗ trợ của MVT nhằm góp phần phát triển NLHT trong DH
- Xây dựng các biện pháp nhằm góp phần phát triển NLHT cho HS
- Xây dựng được quy trình tổ chức DH với sự hỗ trợ của MVT nhằm phát triển NLHT cho HS trong DH vật lí
Trang 18- Thiết kế được một số tiến trình DH chương “Động lực học chất điểm” Vật lí
10 trung học phổ thông theo hướng phát triển NLHT cho HS với sự hỗ trợ của MVT
và tiến hành áp dụng tại các trường trung học phổ thông
9 Cấu trúc của luận án
Cấu trúc của luận án bao gồm những phần chính như sau:
Phần I Mở đầu (9 trang)
Phần II Nội dung (162 trang)
Chương 1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu (23 trang)
Chương 2 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học vật lí ở trường trung học phổ thông (66 trang)
Chương 3 Tổ chức dạy học chương “động lực học chất điểm” vật lí lớp 10 trung học phổ thông theo hướng phát triển năng lực hợp tác cho học sinh với sự hỗ trợ của máy vi tính (27 trang)
Chương 4 Thực nghiệm sư phạm (48 trang)
Phần III Kết luận (3 trang)
Ngoài ra, trong luận án còn có các phần: Tài liệu tham khảo (7 trang) và phụ
lục (104 trang)
Trang 19NỘI DUNG
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Phát triển NL và phát triển NLHT cho HS đã và đang được nhiều nhà NC, nhà
lí luận DH quan tâm Mỗi một công trình NC đều đóng vai trò quan trọng đối với người đọc, người học và là nguồn tư liệu tham khảo quý giá dành cho học viên cao học, nghiên cứu sinh cũng như những nhà NC khoa học giáo dục
1.1 Những nghiên cứu về việc phát triển năng lực và phát triển năng lực hợp tác cho học sinh
Việc phát triển NL và phát triển NLHT cho HS đã được nhiều nhà NC nước ngoài đề cập đến Luận án này chỉ tập trung phần lớn vào kết quả của những NC trong khoảng thời gian từ thế kỷ XX cho đến nay
1.1.1 Các kết quả nghiên cứu ở nước ngoài
Những công trình NC về NL được quan tâm và trình bày trong nhiều báo cáo của các nhà khoa học nước ngoài
1.1.1.1 Những nghiên cứu về việc phát triển năng lực
Có nhiều định nghĩa khác nhau về NL, theo đó, trong đề tài NC Các khái niệm
về NL (Concepts of Competence), tác giả Franz E Weinert (1999) đã xác định NL
dựa trên nền tảng kiến thức, KN, nhận thức và chiến lược học tập của HS, trong đó, tập trung chủ yếu vào việc đánh giá kiến thức HS Việc hiểu NL theo hướng này sẽ
có ít nhất bốn ưu điểm như sau: 1) Đối với các cá nhân có NL khác nhau thì sẽ giải quyết được những bài kiểm tra ở các mức độ khác nhau, điều đó dẫn tới việc không cần thiết phải sử dụng những PP phức tạp để đánh giá sự khác biệt về NL tiếp thu kiến thức của HS; 2) Có thể xem các bài kiểm tra được phân thành các mức độ từ dễ đến khó giống như là các tiêu chí đánh giá NL của HS; 3) Trái ngược với quan niệm lấy khả năng làm trung tâm của NL, việc định nghĩa NL tập trung vào kiến thức giúp người dạy có thể ngay lập tức đánh giá được NL của HS thông qua việc đánh giá kết quả giải quyết các nhiệm vụ học tập; 4) Định nghĩa NL theo hướng tập trung vào kiến thức có thể được áp dụng cho số lượng lớn các loại nhiệm vụ được giao trong cuộc
Trang 20sống hàng ngày, trường học và các hoạt động cụ thể Tuy nhiên, ngoài bốn ưu điểm này, định nghĩa NL tập trung vào kiến thức còn có một nhược điểm cần phải giải quyết, đó là khả năng về mặt trí tuệ của HS sẽ quyết định mức độ và lượng kiến thức
mà HS đó đạt được, điều này dẫn tới việc đánh giá theo NL chỉ cung cấp một thước
đo rất chung về kiến thức của HS [71]
Công bố kết quả NC của Serik Praliyev và các cộng sự (2013) về sự hình thành
NL của HS đã cho thấy: Về mặt bản chất NL là sản phẩm của quá trình học tập, rèn luyện và là kết quả của quá trình tự phát triển, tự cải thiện của cá nhân mỗi HS, không chỉ tiến bộ về mặt kiến thức mà còn về KN được thể hiện qua hành động và kinh nghiệm của bản thân các em Tác giả còn cho rằng, NL là sự tổng hợp của kiến thức,
KN, thái độ của người học, theo đó, NL được chia làm ba loại: 1) Các NL cơ bản được hình thành trên cơ sở kiến thức, KN và được thể hiện qua các hoạt động nhất định; 2) Các NL cốt lõi được thể hiện trong tất cả các loại hoạt động, các khía cạnh của mỗi cá nhân, phản ánh bản chất bên trong và ý nghĩa hoạt động của nó; 3) Các
NL đặc thù phản ánh chi tiết, cụ thể về một lĩnh vực hoặc chủ đề nhất định thông qua hoạt động mang tính chuyên biệt Cả ba loại NL này có mối liên quan chặt chẽ đến nhau và phát triển cùng một lúc trong quá trình học tập của HS, đồng thời, người học cần phải biết được PP tự kiểm tra, đánh giá và cải thiện các hành động thông qua việc
sử dụng bộ tiêu chí đánh giá được xây dựng sẵn nhằm phân chia rõ được các mức độ
NL Có thể thấy, nhóm NC đã đưa ra được định nghĩa về NL cũng như xây dựng được thang đo các tiêu chí đánh giá NL, từ đó, giúp đưa ra các biện pháp phù hợp nhằm góp phần phát triển NL cho HS [65]
Trong đề tài NC Phương pháp đánh giá NL của HS (Students’competence
assessment methods), tác giả Olga Berestneva và các cộng sự (2015) đưa ra nhận định
rằng NL là một đặc tính tích hợp (có nghĩa là phẩm chất mới đạt được bằng việc kết hợp kiến thức và khả năng thông qua quá trình rèn luyện), đây chính là kết quả của quá trình DH mà ở đó HS đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập liên quan đến việc phát triển NL Qua những NC, phân tích và đánh giá cụ thể về mặt
lý thuyết lẫn thực tiễn đối với vấn đề đánh giá NL, tác giả cho rằng hiện tại có những khó khăn nhất định về việc xác định cơ chế hình thành và phát triển NL, chưa có ý
Trang 21kiến chung về cấu trúc của NL Do đó, cần phải đưa ra phương án tiếp cận một cách
có hệ thống đối với vấn đề NL của HS, cũng như các cơ chế hình thành và phát triển của NL [54]
1.1.1.2 Những nghiên cứu về việc phát triển năng lực hợp tác cho học sinh
Vấn đề NLHT cũng được các nhà khoa học nước ngoài quan tâm NC và tìm hiểu từ khá sớm:
Đầu thế kỉ XX, tác giả John Dewey đã chỉ ra rằng muốn cùng chung sống trong
xã hội thì người học phải trải nghiệm thực tế cuộc sống bằng việc học cách HT với các thành viên trong lớp ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường Theo ông, sự HT của người học cần phải tuân theo hai nguyên tắc: Đảm bảo nhiệm vụ của các thành viên luôn được thực hiện liên tục và có sự tác động qua lại lẫn nhau [9]
Những công trình NC về học tập HT và nhất là NLHT bắt đầu có sự phát triển mạnh mẽ vào những năm cuối của thế kỉ XX và thật sự bùng nổ vào những năm đầu của thế kỉ XXI với nhiều kết quả đáng chú ý Trong đó, phải kể đến David W Johnson cùng anh trai Roger T Johnson và các cộng sự đã có rất nhiều những công trình NC
chuyên sâu về học tập HT như: Cùng nhau học tập và học một mình: Tổng quan
(Learning together and alone: An Overview), Cùng nhau học tập và học một mình: Tổng quan và phân tích tổng hợp (Learning Together and Alone: Overview and Meta- analysis) Các tác giả không ủng hộ cho việc học tập theo tư tưởng cạnh tranh lẫn
nhau và chủ nghĩa cá nhân trong trường học, ngược lại, đề cao việc học tập theo nhóm, theo đó các công trình NC của ông và các cộng sự tập trung vào những vấn đề sau: Tổng hợp những hiểu biết về mối liên hệ giữa học tập HT, cạnh tranh và hoạt động cá nhân thông qua việc tìm tòi đánh giá toàn diện các tài liệu hiện có Xây dựng
mô hình lý thuyết liên quan đến bản chất của sự HT và các thành phần cần thiết để điều chỉnh và mở rộng lý thuyết về các mối ràng buộc xã hội Các tác giả đã tiến hành một chương trình NC có hệ thống để kiểm tra những lý thuyết mà mình đã đưa ra Chuyển đổi lý thuyết đã được kiểm chứng thành một bộ các chương trình hành động
và PP cụ thể để đưa mô hình HT vào sử dụng trong trường học Kết quả NC của Johnson và các cộng sự khẳng định rằng HS đạt năng suất làm việc cao hơn khi HT cùng nhau để giải quyết các vấn đề học tập, từ đó thành tích học tập cũng tăng lên
Trang 22Ngoài ra, việc học tập HT cũng giúp giải quyết tốt hơn các xung đột giữa HS với nhau và một trong những khía cạnh hữu ích nhất học tập HT là việc nâng cao tính chính xác trong việc đánh giá chất lượng học tập của HS [61] Để sử dụng học tập
HT có hiệu quả, GV phải hiểu bản chất của việc HT tích cực, trách nhiệm cá nhân, khuyến khích HS trao đổi lẫn nhau, từ đó góp phần hình thành và phát triển NL xã hội trong hoạt động nhóm Điều này giúp GV thích ứng với học tập HT trong những hoàn cảnh khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của HS trong học tập, cũng như có những điều chỉnh trong việc sử dụng PP học tập HT để giải quyết vấn đề nảy sinh trong quá trình HS làm việc cùng nhau Có thể thấy việc sử dụng các PP học tập HT có ảnh hưởng không nhỏ tới việc hình thành và phát triển NLHT, mặc dù không trực tiếp nhắc đến NLHT, tuy nhiên, những công trình đã công bố của các nhà khoa học về học tập HT là nguồn tư liệu quý giá giúp những nhà NC về NLHT có thêm những cơ
sở, nhận định quan trọng của việc DH nhằm góp phần phát triển NLHT cho HS [62)
Trong giai đoạn từ năm 1978 đến năm 2015, Robert E Slavin và các cộng sự
đã có rất nhiều những NC về học tập HT Theo Slavin, học tập HT là việc GV sử dụng các PP giảng dạy để tổ chức cho HS làm việc trong một nhóm nhỏ, qua đó, HS
hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau tìm hiểu nội dung bài học Phương pháp học tập HT được NC rộng rãi và trong một số những điều kiện nhất định, đây là PP cải thiện đáng kể thành tích HS trong hầu hết các môn học và lớp học khác nhau [69]
Có bốn PP học tập HT được thể hiện thông qua các quy tắc giao tiếp, đã được các nhà khoa học tiến hành NC tại các trường học Các PP này có những đặc điểm sau đây: Không tốn nhiều chi phí, dễ thực hiện trong lớp học, có thể áp dụng rộng rãi với các môn học và các lớp học khác nhau, dễ dàng đưa vào các trường học hiện nay và
đã được kiểm chứng là có khả năng cải thiện thành tích nhiều hơn so với cách dạy truyền thống Hai trong số những PP này đã được phát triển, đánh giá tại trường Đại học Johns Hopkins và được sử dụng rộng rãi trong các trường học ở Hoa Kỳ Phương pháp thứ ba là PP giảng dạy Jigsaw (Jigsaw teaching, Aronson, 1978) đã được sử dụng rộng rãi trong một số trường học và được sửa đổi bởi Slavin Phương pháp cuối cùng được phát triển và đánh giá tại Đại học Minnesota, được gọi là PP “học cùng nhau” (learning together, D.W Johnson & R T Johnson, 1975), PP này đã được đưa
Trang 23vào NC tại nhiều trường học Như vậy, mặc dù không đề cập đến việc phát triển NLHT cho HS, tuy nhiên, kết quả NC của các tác giả đã giúp khẳng định được các PPDH HT theo nhóm có thể góp phần cải thiện thành tích học tập của HS, nhờ đó mà chất lượng học tập được nâng lên [68]
Simon Veenman và các cộng sự (2002) đã có công trình NC về vấn đề Học
tập HT và việc giảng dạy của GV (Cooperative learning and teacher education), NC
được tiến hành tại hai trường đại học khác nhau ở Hà Lan Mặc dù tại thời điểm đó, trên thế giới đã có nhiều NC chứng minh những ảnh hưởng tích cực của học tập HT, tuy nhiên tại Hà Lan, các nhà làm giáo dục chưa chú ý tới việc phát triển NLHT cho
HS Tư tưởng cạnh tranh lẫn nhau đã ăn sâu vào tiềm thức của đại đa số GV và HS Mặc dù HS ngồi trong một nhóm, tuy nhiên các em không thực sự HT với nhau và nhóm hiếm khi có dịp làm việc cùng nhau Nói cách khác, các HS làm việc cùng nhưng không phải là nhóm Nhóm NC của Johnson & Johnson đưa ra năm thành phần thiết yếu trong hoạt động giảng dạy bao gồm: Sự phụ thuộc lẫn nhau, trách nhiệm cá nhân, tương tác mặt đối mặt, KN xã hội và xử lý Kế thừa kết quả NC của Johnson & Johnson, Simon Veenman cùng các cộng sự đã NC tổ chức một khóa học HT dành cho HS, đồng thời hướng dẫn GV thực hiện quy trình và đã nhận được sự hưởng ứng tích cực từ phía GV cũng như HS Sau khi hoàn thành khóa học, kết quả mang lại những dấu hiệu khả quan, điểm số của HS được tăng lên đáng kể, các thành viên của nhóm dành nhiều thời gian cho nhiệm vụ chung hơn là dành thời gian cho công việc
cá nhân, tính cạnh tranh không còn bộc lộ trong NC này Có thể thấy rằng các tác giả một mặt khẳng định việc sử dụng quy trình học tập HT một cách phù hợp đã khắc phục được các nhược điểm của HS trong quá trình tự học hoặc hoạt động nhóm nhưng không hiệu quả, mặt khác kết quả học tập được cải thiện đáng kể thông qua các hoạt động nhóm mà ở đó HS giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau hoàn thành nhiệm vụ được giao [70]
Trong năm 2011, Dave Sims đã công bố kết quả NC về việc xác định các NL cần thiết cho sự HT thành công và phát triển NLHT thông qua giáo dục chuyên nghiệp Kết quả đó được rút ra sau khi đánh giá chương trình đào tạo theo hướng HT
và tăng cường công tác xã hội ở nước Anh, đồng thời thảo luận về những kinh nghiệm
và quan điểm của HS đã tốt nghiệp NC cũng chỉ ra những bài học cho việc phát triển
Trang 24NLHT cho HS được đào tạo công tác xã hội Dave Sims cho rằng cơ hội học tập chuyên nghiệp là một trong những thành phần quan trọng góp phần phát triển các NL của HS và việc nâng cao NLHT cho HS đóng vai trò quan trọng trong công tác giáo dục hiện nay Tuy nhiên, cách xác định này chưa thể hiện rõ được các NLTT của NLHT
và chưa đưa ra được quy trình cụ thể nhằm góp phần phát triển NLHT cho HS [67]
Đối với tác giả Douglas J Gilbert (2013) thông qua đề tài NC Năng lực hợp
tác: Xác định lại vấn đề về quản lý giáo dục thông qua việc xây dựng xã hội (Collaborative Competence: Redefining Management Education Through Social Construction), đã định nghĩa NLHT như sau: NLHT là khả năng (NL) của các cá
nhân nằm trong nhóm tương tác (HT) cùng nhau thực hiện nhiệm vụ mà một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân rời rạc không thể thực hiện được Gilbert khẳng định rằng nền tảng của việc quản lý giáo dục trong xây dựng xã hội thông qua mô hình phát triển NLHT là một sự thay thế đầy hứa hẹn cho một mô hình cũ của chương trình đào tạo và giảng dạy Có thể thấy NLHT được nhà NC rất coi trọng trong mô hình giáo dục hiện nay, điều đó càng khẳng định mức độ quan trọng của việc hình thành và phát triển NLHT cho HS [60]
Về vấn đề phát triển NLHT của HS, tại hội thảo quốc tế về Nghiên cứu ngôn
ngữ và văn hóa: Truyền thống và đổi mới (Linguistic and Cultural Studies: Traditions and Innovations), tổ chức tại liên bang Nga, tác giả Svetlana Pozdeeva (2015) đã đưa
ra nhận định rằng PP tiếp cận về NL trong giáo dục là một xu hướng toàn cầu liên quan tới mọi cấp học: Từ bậc học mẫu giáo cho đến trung học phổ thông Điều này
có nghĩa là giáo dục cần được xây dựng dựa trên việc phát triển NL cho HS và những
NL đó phải được hình thành từ các lứa tuổi khác nhau Ví dụ, khi tổ chức DH, GV có thể phân chia lớp học thành các nhóm và hoạt động học tập được diễn ra với sự hỗ trợ của GV, từ đó, chính HS sẽ là người trực tiếp giải quyết vấn đề và rút ra được kiến thức cho riêng mình, điều này làm góp phần hình thành và phát triển NLHT Pozdeeva cũng nhấn mạnh rằng NLHT là một trong những NL quan trọng phản ánh sự thay đổi của xã hội nói chung và giữa các cá nhân nói riêng HT trở thành một hoạt động thường xuyên trong cuộc sống hiện đại, nó liên quan đến mọi hoạt động của con người
và là điều kiện cốt lõi cho sự thành công của các cá nhân Như vậy, NLHT của HS
Trang 25được quan tâm và tìm hiểu một cách nghiêm túc, tuy nhiên, PP tiếp cận vẫn còn chung chung và chưa làm rõ các biện pháp nhằm góp phần phát triển NLHT cho HS [64]
Từ những dẫn chứng trên có thể nhận thấy các nhà NC khoa học giáo dục ở nước ngoài đã tập trung vào việc tìm hiểu về NL cũng như NLHT từ cách đây khá lâu và đã thu được những kết quả đáng quan tâm Mặc dù các nhà NC đưa ra những quan niệm khác nhau về NL nhưng hầu hết đều có chung nhận định rằng cần phải có phương án tiếp cận một cách có hệ thống đối với vấn đề NL, cũng như các cơ chế hình thành và phát triển NL cho HS Bên cạnh đó, các tác giả đều đánh giá cao vai trò của sự HT trong việc nâng cao chất lượng DH, từ đó, khẳng định tầm quan trọng của NLHT và phát triển NLHT cho HS Tuy nhiên, những NC này được tiến hành áp dụng với các nước có điều kiện kinh tế, nền văn hóa, cách thức kiểm tra đánh giá trong giáo dục khác nhiều so với nước ta Do đó, để có thể đưa những lý luận về NL
và NLHT vào áp dụng một cách hiệu quả tại Việt Nam thì cần phát triển hoặc tiến hành những NC mới, có sự quan tâm đến đặc thù về điều kiện kinh tế xã hội cũng như đặc điểm tâm sinh lý của HS trong nước
1.1.2 Các kết quả nghiên cứu ở trong nước
Vấn đề về NL được các tác giả trong nước để tâm và đề cập đến trong nhiều
đề tài Tiêu biểu như:
1.1.2.1 Những nghiên cứu về việc phát triển năng lực
Trong NC về NL làm việc với SGK, tác giả Đỗ Văn Năng (2015) đã đưa ra khái niệm NL và xây dựng được quy trình phát triển NL làm việc với SGK Vật lí trong DH ở trường THPT Qua đó khẳng định: Muốn phát triển NL nào đó phải thông qua rèn luyện các KN cần thiết tương ứng với loại NL đó Việc phát triển NL làm việc với SGK Vật lí cho HS được thực hiện thông qua việc rèn luyện có chủ đích, có
PP cho HS hệ thống các KN làm việc với SGK Vật lí Cụ thể, muốn phát triển NL làm việc với SGK Vật lí phải thông qua rèn luyện các KN làm việc với kênh hình, kênh chữ, kênh hình kết hợp với kênh chữ HS có KN làm việc với SGK Vật lí thành thạo và vận dụng tốt vào các tình huống mới thì HS đã có NL làm việc với SGK Vật
lí Như vậy, NC này đã có sự liên hệ đến thực tiễn của Việt Nam, đồng thời, đưa ra khái niệm về NL, hệ thống KN và bộ tiêu chí đánh giá NL làm việc với sách giáo
Trang 26khoa của HS, từ đó, đề xuất các biện pháp, mức độ sử dụng quy trình và PP để rèn luyện được các KN làm việc với SGK Vật lí [34]
Đối với vấn đề về NL, tác giả Hoàng Hòa Bình (2015) nhận định rằng “NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể Hai đặc trưng cơ bản của NL là: 1) Được bộc lộ, thể hiện qua hoạt động; 2) Đảm bảo hoạt động có hiệu quả, đạt kết quả mong muốn” Theo đó, NL có 2 đặc trưng cơ bản: 1) Được bộc lộ qua hoạt động; 2) Đảm bảo hoạt động có hiệu quả Ở đầu vào (cấu trúc bề mặt), NL được tạo thành từ tri thức, KN và thái độ, ở đầu ra (cấu trúc bề sâu), các thành tố đó trở thành
NL hiểu, NL làm và NL ứng xử Mỗi NL ứng với một loại hoạt động, có thể phân chia thành nhiều NL bộ phận; bộ phận nhỏ nhất, gắn với hoạt động cụ thể là KN (hành vi) Các NL bộ phận có thể đồng cấp với nhau, bổ sung cho nhau, nhưng cũng có thể
là những mức độ phát triển khác nhau Cách hiểu về NL là cơ sở để đổi mới PPDH
và đánh giá kết quả giáo dục Theo cách phân giải cấu trúc NL nói trên có thể thấy cần phải hình dung được đầy đủ các NL bộ phận và hành vi biểu hiện của chúng thì mới có thể xác định được các yếu tố đầu vào (nguồn lực), đồng thời, nội dung đánh giá kết quả giáo dục sẽ dựa trên bộ tiêu chí đánh giá NL bộ phận cũng như tiêu chí đánh giá NL hiểu, NL làm và NL ứng xử Ví dụ, GV có thể đưa ra các nhiệm vụ học tập, yêu cầu HS hoạt động nhóm nhằm giải quyết những nhiệm vụ đó, từ đây, người dạy có thể đánh giá NL hiểu, NL làm và NL ứng xử của HS qua mỗi hành vi: Nhận biết tình huống có vấn đề; thiết lập tiến trình thực hiện nhiệm vụ; thu thập, sắp xếp, đánh giá thông tin; xác định chiến lược giải quyết vấn đề; đánh giá giải pháp đã thực hiện; khái quát hóa cho những vấn đề tương tự,… Tùy theo mức độ quan trọng của các thành tố hiểu, làm và ứng xử đối với việc giải quyết câu hỏi này mà GV xác định biểu điểm cho mỗi thành tố ấy Có thể thấy, đề tài này đã đưa ra những bàn luận chuyên sâu về khái niệm NL và cấu trúc của NL, từ quan niệm về NL như trên sẽ giúp những nhà NC hình dung việc DH theo định hướng phát triển NL cho người học cần phải chú trọng vào khâu tổ chức hoạt động cho HS, qua đó, HS bộc lộ được tiềm năng, góp phần hình thành và phát triển NL [4] Ngoài ra, để rèn luyện ngày càng
Trang 27hoàn thiện hơn những hành động nhận thức VL, các thao tác phổ biến, cần dùng trong hoạt động nhận thức VL, tác giả Nguyễn Thanh Hải đã sử dụng bài tập định tính và câu hỏi thực tế trong DH VL ở trường THPT Theo đó, việc sử dụng bài tập định tính
và câu hỏi thực tế trong QTDH VL chắc chắn sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động trong hoạt động nhận thức, nâng cao khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn của HS, góp phần nâng cao chất lượng DH VL ở trường THPT [12], [13], [15]
Còn trong luận án tiến sĩ Xác định và rèn luyện hệ thống KN học tập cho HS
trong DH phần “Điện học”, vật lí 11, tác giả Quách Nguyễn Bảo Nguyên (2016) đã
định nghĩa về KN học tập và hệ thống KN học tập, xác định được hệ thống KN học tập, xây dựng được thang đo gồm 5 mức độ thành thạo KN của HS thông qua các hành vi cá nhân sau quá trình rèn luyện, xây dựng được sáu biện pháp rèn luyện hệ thống KN học tập cho HS, xây dựng được quy trình thiết kế bài DH theo hướng tổ chức rèn luyện hệ thống KN học tập cho HS và quy trình phối hợp giữa các biện pháp rèn luyện và các PPDH Ở khía cạnh này, tác giả nhận định rằng trong QTDH không thể tiến hành rèn luyện từng KN cụ thể cho HS mà phải tiến hành rèn luyện hệ thống
KN một cách tổng hợp dựa trên cơ sở xác định những KN hay nhóm KN chính yếu được tổ chức rèn luyện và những KN hay nhóm KN phụ trợ được tổ chức rèn luyện đồng thời ở mức độ thấp hơn [35]
1.1.2.2 Những nghiên cứu về việc phát triển năng lực hợp tác cho học sinh
Bên cạnh việc tìm hiểu về NL thì những NC về NLHT cũng được các nhà khoa học trong nước đặc biệt quan tâm trong giai đoạn gần đây:
Trong đó có tác giả Đặng Thành Hưng với các bài: Dạy học hiện đại - lí luận,
biện pháp, kĩ thuật [23], Hệ thống KN học tập hiện đại [24], Nhận diện và đánh giá
KN [25], Cơ sở tâm lý học giáo dục [26] đã bàn luận khá sâu sắc về vấn đề nhóm HT,
NLHT và DH HT Tác giả cho rằng: Quan hệ giữa người học với nhau trong quá trình
DH hiện đại nói chung mang tính HT và tính cạnh tranh tương đối, tính chất này của
DH làm cho nó năng động hơn, có động lực công khai và có chiều hướng hiệu quả hơn Trên cơ sở khái quát các công trình NC của Johnson & Johnson, Davison N và Slavin R., Đặng Thành Hưng đưa ra khái niệm nhóm HT so sánh với kiểu học tranh đua và học cá nhân, chỉ ra tầm quan trọng KN HT và các nguyên tắc đảm bảo cho
Trang 28DH HT thành công Ngoài ra, ông còn chỉ ra hệ thống các KN học tập trong môi trường hiện đại Thông qua hệ thống KN học tập đó có thể thấy, học tập là việc thiết lập các mối quan hệ tích cực, cùng nhau chia sẻ và giải quyết các vấn đề đặt ra, đây chính là những KN HT được nhận diện trong môi trường học tập hiện đại
Trong cuốn sách Phương pháp DH truyền thống và đổi mới, tác giả Thái Duy
Tuyên (2008) đã nêu ra những vấn đề như: HT là gì? Tầm quan trọng của HT, bồi dưỡng KN HT Sự HT là một yếu tố không thể thiếu trong cuộc sống Sự HT diễn ra trong suốt cuộc đời mỗi con người, diễn ra trong mọi gia đình, trong mọi cộng đồng khi các thành viên cùng hoạt động để đạt mục đích chung Trong các tình huống HT, các cá nhân nhận thấy họ có thể đạt đến mục tiêu của mình, khi và chỉ khi các thành viên khác cũng đạt được điều đó HT đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống con người Nó quyết định sự thành bại của mỗi cá nhân trong xã hội Ông cũng khẳng định rằng KN HT là một loại KN quan trọng đối với con người cũng như đối với HS, bởi vì hầu hết các mối quan hệ của con người đều là HT Mọi KN có liên quan tới cá nhân, nhóm và tổ chức đều được coi là KN HT Qua đó có thể thấy, việc rèn luyện các KN HT ngay từ khi trẻ còn ngồi trên ghế nhà trường là rất quan trọng Đồng thời, việc dạy các KN HT cho HS cần được coi trọng như việc dạy kiến thức và các KN
cơ bản khác [49]
Đối với Nguyễn Thị Quỳnh Phương (2012) thì những quan điểm về HT được thể hiện như sau: Học HT là một vấn đề được quan tâm NC từ rất lâu trong lịch sử giáo dục, KN HT là một dạng hành động/hoạt động học tập được người học thực hiện một cách tự giác dựa trên những tri thức, kinh nghiệm đã có của họ vào việc giải quyết các nhiệm vụ học tập chung của nhóm trên cơ sở có sự phụ thuộc tích cực, sự tương tác trực diện và trách nhiệm cá nhân cao của mỗi thành viên Tác giả cho rằng,
sự phát triển của các KN HT cũng như các nhóm KN HT của sinh viên sư phạm không đồng đều Song, nhìn một cách khái quát thì mức độ phát triển của các nhóm
KN HT theo thứ tự giảm dần từ nhóm KN hình thành nhóm HT đến nhóm KN giao tiếp học tập trong nhóm, nhóm KN xây dựng và duy trì sự tin tưởng lẫn nhau và cuối cùng là nhóm KN giải quyết bất đồng trên tinh thần xây dựng Trong quá trình hoạt động nhóm nhiều KN học HT của sinh viên được rèn luyện và phát triển, đặc biệt là
Trang 29các KN trình bày, diễn đạt vấn đề, KN lắng nghe, tiếp nhận thông tin, KN chia sẻ những ý kiến, cảm nhận cá nhân, Sự hình thành và phát triển KN HT của sinh viên
sư phạm trong hoạt động nhóm chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, trong đó các yếu tố chủ quan đóng vai trò quan trọng hơn Mặc dù khẳng định hoạt động nhóm có tác động tích cực đến việc rèn luyện các KN HT, đồng thời, đưa
ra các biện pháp rèn luyện KN HT, tuy nhiên, những kết quả được trình bày trong đề tài này chỉ tập trung vào đối tượng sinh viên đại học sư phạm chứ chưa đề cập đến những đặc điểm của HS THPT [38]
Các tác giả Phạm Thị Phú và Nguyễn Lâm Đức (2015) khẳng định rằng DH theo hướng phát triển NL cho HS thực chất là việc mở rộng các hoạt động giảng dạy bằng cách tạo ra một môi trường và các tình huống cụ thể giúp HS có cơ hội sử dụng kiến thức và KN để thể hiện ý tưởng của mình, từ đó, kiến thức và KN được hình thành và phát triển Nhóm NC cũng đã đưa ra bốn nhóm NLTT cần thiết cho HS trong việc giảng dạy Vật lí tại trường THPT, bao gồm: Nhóm NL liên quan đến việc sử dụng kiến thức Vật lí, nhóm NL liên quan đến PP luận, nhóm NL liên quan đến trao
đổi thông tin, nhóm NL cá nhân Đặc biệt, trong đó có nhóm NL liên quan đến trao
đổi thông tin: Trong quá trình học Vật lí, HS có thể trao đổi kiến thức Vật lí, đánh giá
các nguồn thông tin khác nhau, mô tả cấu trúc và các nguyên tắc hoạt động của thiết
bị kĩ thuật cũng như thảo luận và tham gia vào các hoạt động nhóm; GV đưa ra các bài tập tình huống và tổ chức, khuyến khích cho HS tham gia vào các hoạt động nhóm
để thảo luận về các kết quả Từ đó, giúp rèn luyện các KN HT nhằm góp phần phát triển NLHT Tuy nhiên, vì những mục tiêu riêng nên đề tài cũng chưa quan tâm đến những biểu hiện của NLHT, chưa đưa ra các biện pháp cụ thể nhằm góp phần hình thành và phát triển NLHT cho HS [63]
Trong luận án tiến sĩ Phát triển NLHT cho HS trung học cơ sở qua hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp, tác giả Lê Thị Minh Hoa (2015) đã xây dựng được mô
hình lý thuyết về khung NLHT và phát triển NLHT, từ đó, làm cơ sở lý luận cho việc xây dựng các biện pháp bồi dưỡng NLHT cho HS trung học cơ sở qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Đồng thời, vận dụng lý thuyết học HT, lý thuyết giáo dục giá trị đưa HS vào các hình thức hoạt động khác nhau nhằm tạo cơ hội cho HS được trải
Trang 30nghiệm thực tiễn qua đó góp phần phát triển NLHT Cụ thể là: Trang bị kiến thức, khuyến khích nhu cầu và giáo dục thái độ HT cho HS; Tổ chức các trò chơi đòi hỏi
HS phải có sự HT với nhau; Sử dụng các tình huống giả định trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhằm tạo ra môi trường giải quyết vấn đề theo hướng HT; Tạo môi trường trải nghiệm thực tế cho HS qua các hoạt động xã hội theo nhóm; Tổ chức các câu lạc bộ theo hướng tăng cường sự HT Đóng góp chính của đề tài là tác giả đã đưa ra được cấu trúc khung NLHT được xác định bao gồm hệ thống tri thức về HT,
KN HT, thái độ và giá trị HT Trên cơ sở cấu trúc của NLHT, nội dung phát triển NLHT cho HS trung học cơ sở được xác định là: Bồi dưỡng và phát triển hệ thống tri thức về hoạt động HT; Phát triển hệ thống KN HT cho HS; Phát triển ở HS giá trị, thái độ, tình cảm, động cơ đối với việc HT, giúp các em thấy được sự cần thiết phải
HT với nhau, nâng cao trách nhiệm cá nhân trong quá trình thực hiện hoạt động làm
cơ sở giúp HS tích cực, tự nguyện HT với nhau cùng thực hiện công việc chung và trong cuộc sống Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn, luận án đã xây dựng năm biện pháp giáo dục nhằm góp phần phát triển NLHT cho HS trung học cơ sở qua hoạt động ngoài giờ lên lớp theo hướng vận dụng lý thuyết học HT và lý thuyết giáo dục giá trị đưa HS vào các hình thức hoạt động khác nhau nhằm tạo cơ hội cho HS được trải nghiệm thực tiễn qua đó góp phần phát triển NLHT Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa
đề cập đến quy trình DH cụ thể nhằm góp phần hình thành và phát triển NLHT cho
HS, chưa đưa ra được các tiêu chí đánh giá một cách rõ ràng để có thể đánh giá được NLHT đối với đối tượng là HS THPT [19]
Còn theo Lê Thị Diễm My (2017), NLHT được hiểu là khả năng tương tác của
cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể, trong đó mỗi cá nhân thể hiện sự tích cực,
tự giác và trách nhiệm cao trên cơ sở huy động những tri thức, KN của bản thân nhằm giải quyết có hiệu quả nhiệm vụ chung NLHT cho thấy khả năng làm việc hiệu quả của cá nhân trong mối quan hệ với tập thể, trong mối quan hệ tương trợ lẫn nhau để cùng hướng tới mục đích chung Theo tác giả, NLHT được hình thành và phát triển thông qua việc rèn luyện những KN HT bao gồm: KN tổ chức nhóm HT, KN đánh giá và tự đánh giá, KN cộng tác, KN xây dựng và duy trì bầu không khí thân thiện tin tưởng lẫn nhau, KN giải quyết mâu thuẫn Từ việc xác định hệ thống KN HT thì các
Trang 31biện pháp bồi dưỡng NLHT cho HS thông qua việc sử dụng TNg được xây dựng như: Cung cấp cho HS kiến thức về NLHT và tăng cường rèn luyện các KN HT, tổ chức cho HS làm TNg theo nhóm góp phần tạo môi trường làm việc HT, xây dựng môi trường học tập lành mạnh để tạo hứng thú HT cho HS Bên cạnh đó, để có thể đánh giá được NLHT của HS, bộ tiêu chí đánh giá NLHT đã được xây dựng nhằm giúp
GV có cơ sở trong quá trình kiểm tra đánh giá Tuy nhiên, đề tài chỉ tập trung vào việc phát triển NLHT cho HS thông qua việc sử dụng TNg, đồng thời, các kết quả định lượng chỉ đánh giá về mặt kiến thức của HS, còn việc kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển NLHT chỉ chủ yếu dựa vào định tính, thậm chí có phần chủ quan của tác giả [33]
Qua một số NC kể trên có thể nhận thấy rằng ở trong nước hiện nay đã có rất nhiều NC liên quan đến vấn đề NL, trong đó có NLHT Tất cả đều nhấn mạnh vai trò của việc phát triển NL cho HS và trong số đó cũng có không ít nhà NC đề cao tầm quan trọng của NLHT Mặc dù vậy, đa số các NC này đều tập trung vào một nhóm
HS hoặc một số ứng dụng riêng biệt mà chưa xây dựng được các biện pháp nhằm bồi dưỡng NLHT cho HS THPT trong DH Vật lí với sự hỗ trợ của MVT Bên cạnh đó, MVT là công cụ hỗ trợ đắc lực trong quá trình DH nói chung và DH theo hướng phát triển NLHT nói riêng, tuy nhiên, các nhà NC vẫn chưa đi sâu tìm hiểu và ứng dụng các chức năng cụ thể của MVT vào việc DH theo hướng phát triển NLHT Vì vậy, việc tổ chức DH theo hướng phát triển NLHT cho HS với sự hỗ trợ của MVT vẫn là một vấn đề mang tính thời sự và cần có thêm nhiều hơn nữa những NC về vấn đề này
1.2 Những nghiên cứu về việc tổ chức dạy học với sự hỗ trợ của máy vi tính theo hướng phát triển năng lực hợp tác
Các NC về việc tổ chức DH với sự hỗ trợ của MVT theo định hướng phát triển NLHT được các nhà NC giáo dục nước ngoài đặc biệt quan tâm trong thời gian gần đây
1.2.1 Các kết quả nghiên cứu ở nước ngoài
Trong đề tài NC Đồng bộ hóa NLHT trong môi trường học tập trên web - ảnh
hưởng của chúng đến quá trình học tập (Synchronous collaboration competencies in web‐conferencing environments – their impact on the learning process), tác giả Matt
Bower (2011) tập trung vào việc làm thế nào để có thể đưa MVT vào sử dụng có hiệu
Trang 32quả trong việc giảng dạy, cũng như đánh giá mức độ ảnh hưởng của nó trong quá trình học tập Bower sử dụng trình duyệt web nhằm tổ chức các buổi họp, trao đổi trực tuyến,… giữa HS – HS và giữa HS – GV, đồng thời, thu thập dữ liệu và các kết quả đạt được của NC để đánh giá việc phát triển NLHT trong DH với sự hỗ trợ của MVT Bower khẳng định rằng NLHT là một trong những NL quan trọng, việc sử dụng các PPDH ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển NLHT Tác giả nhấn mạnh rằng các PPDH lấy GV làm trung tâm, GV chỉ thể hiện được các NL quản lý cấp thấp và HS ít có cơ hội thể hiện NL của bản thân Với các PPDH lấy HS làm trung tâm đòi hỏi GV phải thể hiện khả năng quản lý và xây dựng bài học cấp cao, qua đó, HS có nhiều cơ hội để thể hiện NL Khi sự tự tin của HS tăng lên nhờ việc sử dụng CNTT, các em cũng có thể trở thành người xây dựng nên môi trường học tập cho chính mình Nếu muốn phát triển NLHT cho HS cần phải liên tục rèn luyện những
KN HT nhằm tránh việc HS bị lãng quên Cho tới nay, GV luôn là người chịu trách nhiệm cuối cùng về việc quản lý, thiết kế và xây dựng chiến lược DH ứng dụng CNTT, chúng có tầm ảnh hưởng quan trọng đến sự thành công trong học tập dựa trên web Tuy nhiên Bower cũng khẳng định đó là trách nhiệm của các cơ sở giáo dục để chuẩn bị cho HS những KN HT, để các em tham gia vào xã hội và lực lượng lao động toàn cầu đang ngày càng trở nên cạnh tranh Qua NC của Matt Bower có thể thấy tầm quan trọng của MVT trong việc hỗ trợ QTDH theo hướng phát triển NLHT, đồng thời, khẳng định NLHT không thể hình thành ngay lập tức mà cần có sự rèn luyện và phát triển trong một thời gian dài Mặc dù vậy, vì mục tiêu NC riêng nên đề tài vẫn chưa đề cập đến bộ tiêu chí đánh giá NLHT của HS cũng như chưa đưa ra được quy trình tổ chức DH nhằm góp phần phát triển NLHT cho HS với sự hỗ trợ của MVT [56]
Carmenado (2011) với đề tài Phát triển NL thông qua mô hình e-learning: Kinh
nghiệm ở bậc Đại học tại trường Aula a Distancia Abierta (ADA) Madrid (Behavior competence development through e-learning: Experience at the undergraduate level in the context of Aula a Distancia Abierta (ADA) Madrid) đã đưa ra khái niệm NL như
sau: NL là sự kết hợp của những thuộc tính liên quan đến kiến thức, KN, thái độ và trách nhiệm Tác giả cũng nhấn mạnh vai trò hỗ trợ của e-learning trong việc phát triển
NL, đồng thời chỉ ra rằng e-learning là sự kết hợp giữa thư điện tử, MVT và kĩ thuật
Trang 33học tập để phát triển kiến thức mới và/hoặc KN của cá nhân hay nhóm HT Các tính năng chính của nó có thể được tóm tắt trong ba yếu tố như sau: 1) tính linh hoạt về thời gian và không gian, 2) sự tương tác giữa GV và HS hoặc giữa HS với nhau, 3) sử dụng CNTT nhằm hỗ trợ đắc lực cho quá trình học tập Khi so sánh đặc điểm giữa đào tạo thông qua e-learning và lớp học thông thường, Cabrero (2006) nêu bật tính linh hoạt của quá trình học tập, xây dựng kiến thức và sự sẵn có của các công cụ sư phạm trong môi trường ảo Carmenado cũng khẳng định làm việc theo nhóm ảo là một trong những yếu tố thiết thực sáng tạo nhất nhằm góp phần phát triển NLHT của HS Nó cho phép
HS học tập, NC và giao tiếp với nhau hoàn toàn trên môi trường ảo được tạo ra trên MVT có kết nối mạng Internet Một khía cạnh quan trọng khác của cách tiếp cận theo
PP luận này là hệ thống đánh giá Trong NC, Carmenado đưa ra hai yếu tố được xem
là có liên quan đến sự phát triển NL: Đánh giá liên tục giữa GV – HS và tự đánh giá Đánh giá liên tục, được hiểu là quá trình đánh giá thực hiện bởi các GV dành cho HS, đây được coi là việc giám sát tất cả các hoạt động của HS (bảng điểm, trả lời các câu hỏi, báo cáo bài tập về nhà, việc hoạt động nhóm: Xem xét chất lượng và tính liên tục của sự đóng góp) Quá trình tự đánh giá dựa trên kinh nghiệm cá nhân và kiến thức liên quan, đánh giá như vậy diễn ra thường xuyên giữa các thành viên trong nhóm HT Cuối cùng, qua NC này có thể kết luận rằng việc học tập, thiết kế và thực hiện các chủ đề với sự hỗ trợ của e-learning sẽ mở ra một không gian mới cho sự phát triển NLHT và một chiến lược học tập mới, trong đó, HS đóng vai trò tích cực, cho phép các kiến thức được tiếp nhận theo hai cách: Thông qua trí tuệ và các kinh nghiệm bản thân Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa quan tâm đến các tiêu chí cũng như công cụ đánh giá NLHT và vẫn chưa có quy trình tổ chức DH cụ thể nhằm góp phần phát triển NLHT cho HS với
web mở ra cơ hội để HS làm việc nhóm và cùng nhau tạo ra các sản phẩm, từ đó góp
Trang 34phần phát triển NLHT Học tập HT dựa trên web là một hình thức giáo dục sử dụng CNTT và truyền thông trực tuyến nhằm tạo ra mối liên hệ giữa HS - HS, HS - GV, nền tảng giáo dục và tài nguyên giáo dục Nguyên tắc trong học tập HT dựa trên web
là việc cho phép sự tương tác giữa các cá nhân thông qua công cụ trình duyệt web trở nên thuận tiện hơn GV đưa ra các nhiệm vụ học tập hoặc những vấn đề liên quan đến kiến thức bài học cho HS và yêu cầu HS làm việc nhóm nhằm giải quyết những vấn
đề đó, điều này giúp tăng hiệu suất làm việc của HS Các cá nhân có thể thực hiện nhiệm vụ thông qua giao tiếp bằng văn bản, âm thanh và video bằng cách sử dụng phương tiện Internet Trong môi trường học tập này HS và GV có điều kiện thể hiện bản thân tốt hơn khi so sánh với việc học tập thông thường Có thể thấy, nhóm NC đánh giá cao vai trò của việc sử dụng MVT, đặc biệt là công cụ trình duyệt web trong việc tổ chức DH theo hướng phát triển NLHT, tuy nhiên, vẫn chưa đề cập tới những biện pháp cụ thể nhằm góp phần hình thành và phát triển NLHT cho HS với sự hỗ trợ của MVT [55]
Tác giả Ali Farhan AbuSeileek (2012) với công trình NC Hiệu quả của PP
học tập HT với sự hỗ trợ của MVT và quy mô nhóm đối với thành tích học tập ngoại ngữ trong kĩ năng giao tiếp (The effect of computer-assisted cooperative learning methods and group size on the EFL learners’ achievement in communications kills)
đã phân chia cách thức tổ chức lớp học thành các loại khác nhau: Cả lớp, nhóm và cá nhân Ông khẳng định rằng học tập theo nhóm hoặc học tập HT là PPDH được sử dụng rộng rãi nhất và đạt được nhiều thành công Nghiên cứu của Ali Farhan AbuSeileek dựa trên nhóm nhỏ từ 2 đến 7 thành viên Ưu điểm của học tập theo nhóm nhỏ là nó khuyến khích HS cởi mở bản thân hơn để có những trải nghiệm mới, thúc đẩy HS tham gia thảo luận, cung cấp nguồn ý tưởng và đóng góp cho sự phát triển của chung của nhóm Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra một số khó khăn cho việc học tập theo nhóm, như: Một số thành viên trong nhóm đôi khi không làm gì, vì vậy, sản phẩm cuối cùng của cả nhóm không đại diện cho sự đóng góp của tất cả các thành viên, hoặc một vài thành viên trong nhóm làm tất cả mọi thứ, điều đó có thể ngăn cản những người khác tham gia Học tập theo nhóm nhỏ đôi khi có thể thúc đẩy chủ nghĩa
cá nhân và sự cạnh tranh lẫn nhau chứ không phải HT Một số HS có thể miễn cưỡng
Trang 35chia sẻ ý kiến hoặc ngại viết ra suy nghĩ của mình vì họ sợ làm lỗi hoặc gây ra tranh luận NC này của AbuSeileek giới thiệu PP học tập HT theo nhóm nhỏ và kĩ thuật để tránh những vấn đề này Trong NC, MVT được sử dụng để hỗ trợ cho quá trình HS trao đổi lẫn nhau, đồng thời, toàn bộ HS đều không biết danh tính người mình đang trao đổi, mặc dù thực tế là họ ngồi trong cùng một lớp học, họ không thể nhận ra nhau khi trò chuyện Như vậy, việc áp dụng điều này vào DH nhóm có thể làm giảm lo âu của HS bắt nguồn từ những cuộc tranh luận Môi trường trên MVT cũng khuyến khích các HS nhút nhát tự ý thức được bản thân và quan tâm hơn đến công việc trong một môi trường không bị đe dọa khi danh tính của các em không được tiết lộ Sau những bài kiểm tra, có thể rút ra kết luận rằng hoạt động nhóm nhỏ khi không tiết lộ danh tính thì HS đạt kết quả học tập tốt hơn so với khi tiết lộ; các em trở nên cởi mở hơn, tham gia tích cực hơn trong hoạt động chung của cả nhóm, nhất là đối với một số em
có xu hướng nhút nhát, ít thể hiện Tuy không trực tiếp nhắc đến NLHT nhưng NC này đã cho thấy mức độ hiểu quả của việc sử dụng MVT trong DH theo nhóm thông qua việc cải thiện được chất lượng học tập của HS, điều đó góp phần khẳng định vai trò của MVT trong việc DH theo định hướng phát triển NLHT cho HS [52]
Tại hội nghị quốc tế về NC giáo dục (CY-ICER), năm 2013, tác giả Ilona Semradova và Sarka Hubackova đưa ra những điều kiện tiên quyết cần phải có cho việc phát triển NL giao tiếp và rèn luyện những KN giao tiếp (communication skills) nhằm góp phần phát triển NL giao tiếp (communicative competences) Nhóm NC đã ứng dụng CNTT và truyền thông vào các bài tập và nhiệm vụ không chỉ nhằm vào hoạt động của bán cầu não trái (ảnh hưởng tới khả năng phân tích, mô tả, tư duy logic,…) mà còn kích thích bán cầu phải (cho phép khả năng tổng hợp, hiểu được tổng thể một vấn đề nhất định, khám phá ý nghĩa của vấn đề đó, chịu trách nhiệm cho các quá trình cảm xúc và trực giác,…) thông thường bị lãng quên hay bỏ qua hoàn toàn Qua quá trình NC, Semradova khẳng định rằng: Việc DH không thể bỏ qua những kinh nghiệm, nhận thức của con người; trường hợp sử dụng CNTT và truyền thông trong học tập, KN giao tiếp có liên quan đến sự phát triển nhân cách của con người, điều này không chỉ giúp phát triển NLHT mà còn nâng cao KN sử dụng các thiết bị điện tử, nâng cao NL ứng dụng CNTT và truyền thông Đóng góp chính của
Trang 36đề tài là tác giả đã đưa ra những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng CNTT và truyền thông trong DH các môn học để rèn luyện KN giao tiếp và HT cho HS Tuy nhiên, tác giả chỉ chú trọng đến việc khai thác các chức năng của MVT trong DH nói chung với mục đích rèn luyện những KN giao tiếp nhằm góp phần phát triển NL giao tiếp,
mà chưa thấy đề cập đến các biện pháp cụ thể nhằm bồi dưỡng NLHT cho HS với sự
hỗ trợ của MVT trong DH bộ môn Vật lí [66]
Cũng với ý tưởng đưa hệ thống công nghệ DH hiện đại vào trường học, nhằm đào tạo ra nguồn nhân lực với đầy đủ kiến thức, KN, thái độ, phẩm chất xã hội, đảm bảo sự thành công của HS sau khi tốt nghiệp trong điều kiện kinh tế xã hội mới,
Agadilov Asset và các cộng sự (2015) đã tiến hành NC mối liên hệ giữa Công nghệ
DH hiện đại trong việc phát triển NL giao tiếp (Modern pedagogical technologies in communicative competence formation) Agadilov Asset nhân xét rằng: Làm việc
trong hệ thống giáo dục mới với nguồn GV giỏi về chuyên môn, có NL sáng tạo và khả năng áp dụng khoa học công nghệ trong DH chính là chìa khóa mấu chốt cho sự thành công của nền giáo dục hiện đại Đề tài này đã chỉ ra việc khai thác và sử dụng các chức năng của MVT là một xu hướng tích cực, mang lại hiệu quả đáng kể trong
DH và phù hợp với xu thế đổi mới giáo dục hiện nay, tuy nhiên, chưa đi vào phân tích cụ thể sự ảnh hưởng của MVT đối với việc phát triển NLHT cho HS [53]
Như vậy, qua tìm hiểu về việc tổ chức DH theo định hướng phát triển NLHT
có sự hỗ trợ của MVT đã cho thấy các tác giả đều đánh giá cao vai trò của việc sử dụng MVT trong việc tổ chức DH nhằm góp phần hình thành và phát triển NLHT Tuy nhiên, các chức năng của MVT chỉ được áp dụng vào việc DH nói chung mà chưa đề cập một cách rõ ràng đến việc hỗ trợ trong DH bộ môn Vật lí nhằm bồi dưỡng NLHT cho HS, chưa có một quy trình cụ thể, rõ rệt cho việc tổ chức DH nhằm góp phần phát triển NLHT cho HS với sự hỗ trợ của MVT trong DH Vật lí Ngoài ra, các biện pháp tổ chức rèn luyện KN HT có sự hỗ trợ của MVT được xây dựng dựa trên đặc điểm tâm sinh lý của HS của các nước phát triển, có điều kiện cơ sở vật chất đầy
đủ, khác biệt với đặc điểm tâm sinh lý của HS cũng như điều kiện kinh tế xã hội tại Việt Nam Do đó, nếu muốn áp dụng, phát triển các NC này tại Việt Nam hoặc tiến
Trang 37hành những NC mới thì đặc điểm tâm sinh lý của HS và điều kiện kinh tế xã hội của đất nước cần được quan tâm, tìm hiểu và vận dụng một cách hợp lý
1.2.2 Các kết quả nghiên cứu ở trong nước
Hiện nay, giáo dục HT được NC và ứng dụng rộng rãi trên nhiều quốc gia Ở Việt Nam, các NC về việc tổ chức DH theo định hướng phát triển NLHT có sự hỗ trợ của MVT được nhiều nhà NC giáo dục quan tâm tìm hiểu
Trong luận án tiến sĩ Dạy học theo hướng phát triển kĩ năng học tập HT cho
sinh viên đại học sư phạm, tác giả Nguyễn Thị Thanh (2013) đưa ra khái niệm HT và
phát triển KN học tập HT như sau: Phát triển KN học tập HT là quá trình biến đổi, tăng tiến các KN học tập HT của HS, sinh viên từ mức độ thấp đến mức độ cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện làm cho việc học tập trở nên có hiệu quả Phát triển
KN học tập HT biểu hiện sự tiến bộ trong nhận thức, thái độ, hành động và kĩ thuật học tập của HS, sinh viên trong nhóm, làm cho việc học tập ngày càng hoàn thiện có kết quả tốt hơn Phát triển KN học tập HT là kết quả của quá trình sinh viên thường xuyên học tập với nhau, có ý thức về nhiệm vụ của mình, của nhóm để hỗ trợ nhau, cộng tác với nhau, tương tác lẫn nhau, tạo ra tính tích cực, hứng thú học tập đưa đến kết quả học tập ngày càng cao Quá trình DH có mục tiêu hình thành NL hoạt động cho HS, sinh viên, trong đó phát triển KN học tập HT là một hướng đi tích cực, hoàn toàn phù hợp với xu thế DH hiện đại Bên cạnh đó, kế thừa các công trình NC của các tác giả trong và ngoài nước, cùng với việc phân tích đặc điểm học tập của sinh viên đại học sư phạm, Nguyễn Thị Thanh đề xuất 4 nhóm KN học tập HT cần phát triển cho sinh viên như sau: “Nhóm KN xác lập vị trí của cá nhân trong hoạt động nhóm, nhóm KN biểu đạt và tiếp nhận thông tin học tập, nhóm KN xây dựng và duy trì bầu không khí thân thiện tin tưởng lẫn nhau, Nhóm KN giải quyết những bất đồng” Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất quy trình và 4 nhóm biện pháp DH nhằm góp phần phát triển KN học tập HT, đồng thời cũng nhấn mạnh rằng việc ứng dụng những tiến
bộ của CNTT vào DH giúp GV và sinh viên thiết lập hệ thống, khai thác, trao đổi thông tin qua mạng Internet bằng cách GV xây dựng website chứa đựng các trang phục vụ cho giảng dạy, trao đổi, khai thác như: Tài liệu, giáo trình; hướng dẫn học tập; diễn đàn trao đổi,… nhằm rèn luyện, phát triển cho sinh viên KN học tập HT qua
Trang 38mạng Internet và KN khai thác các trang web phục vụ cho học tập Tuy nhiên, NC
chỉ tập trung vào nhóm sinh viên đại học sư phạm mà chưa quan tâm đến đối tượng
là HS THPT [42]
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Linh (2014) cũng đã đưa ra khái niệm NLHT, phát triển NLHT, đồng thời, xây dựng được hệ thống các KN HT và xây dựng quy trình
DH theo hướng phát triển NLHT cho HS Theo đó, phát triển NLHT là biểu hiện của
sự tiến bộ trong nhận thức, thái độ, hành động và kĩ thuật học tập của HS trong nhóm, làm cho việc học tập ngày càng hoàn thiện có kết quả tốt hơn DH theo hướng phát triển NLHT cho HS là quá trình DH, trong đó dưới sự chỉ đạo của người dạy (tổ chức,
cố vấn, tham gia, kiểm tra, đánh giá, ), người học được chia thành những nhóm nhỏ tích cực cùng nhau tiến hành các hành động HT học tập để hoàn thành nhiệm vụ học tập, qua đó vừa nhận ra được kiến thức, vừa hình thành các KN học tập HT và hình thành thái độ nghiêm túc, biết phối hợp, chia sẻ hỗ trợ nhau trong nhóm DH theo hướng phát triển NLHT phải thực hiện các yêu cầu cơ bản sau: Tạo dựng được sự phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực; đảm bảo sự tương tác, hỗ trợ giữa các cá nhân trong nhóm; HS có trách nhiệm cá nhân cao; quan tâm đến sự phát triển các KN học tập HT; có phản hồi và điều chỉnh trong DH Qua đó có thể thấy điểm nổi bật của đề tài này, đó là tác giả đã xây dựng được hệ thống các KN HT và xây dựng quy trình
DH theo hướng phát triển NLHT cho HS, đồng thời giúp HS HT với sự hỗ trợ CNTT bằng cách hướng dẫn các em khai thác và trao đổi các thông tin qua các trang web giáo dục như thư viện điện tử, email, blog, facebook,… Hướng dẫn sử dụng các phần mềm trong thiết kế các bài tập hoạt động nhóm, tổ chức cho HS trao đổi thông tin, học tập HT qua mạng Internet và sử dụng các phần mềm trong việc thiết kế nội dung bài tập của nhóm mình Tuy nhiên, NC chỉ tập trung vào việc phát triển NLHT cho
HS trong DH bộ môn Toán mà chưa đề cập đến việc DH theo hướng phát triển NLHT cho HS trong DH bộ môn Vật lí [32]
Đối với tác giả Nguyễn Huy Cường (2017) việc sử dụng CNTT và truyền thông trong DH sẽ góp phần phát triển NL giao tiếp, hòa nhập và HT thông qua những hoạt động nhóm của HS Nhờ các công cụ đa phương tiện (multimedia) của MVT,
GV sẽ xây dựng được bài giảng sinh động thu hút sự tập trung người học, dễ dàng
Trang 39thể hiện được các PP sư phạm: PPDH tình huống, PPDH nêu vấn đề,… Bên cạnh đó, thông qua các phần mềm thông dụng của MVT, HS cũng có thể tìm kiếm thông tin khổng lồ trên mạng Internet, tìm hiểu, xây dựng sản phẩm bài giảng về nội dung kiến thức và trình bày với sự hỗ trợ của các phương tiện, công cụ của CNTT và truyền thông Quá trình nhóm HS chuẩn bị tài liệu sẽ phải tìm hiểu nhiều nguồn thông tin đa dạng trên sách và trên Internet như tranh ảnh hay video, lưu trữ và khai thác các thông tin này để xây dựng bài báo cáo Nhóm HS có thể sử dụng các phần mềm trình chiếu như Powerpoint và một số phần mềm chuyên dụng để làm cho bài báo cáo trở nên sinh động, trực quan và thu hút sự tập trung của người nghe Ngoài ra, nhóm HS có thể sử dụng các trang mạng xã hội, email để trao đổi thông tin với các thành viên khác một cách nhanh chóng, hiệu quả trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Như vậy, sau khi thực hiện những vấn đề trên thì việc tổ chức hoạt động DH sẽ giúp rèn luyện các
KN của NL CNTT và truyền thông, đồng thời, góp phần hình thành và phát triển NL giao tiếp, HT của HS trong học tập [7]
Ứng dụng CNTT vào DH là một yêu cầu cấp bách trong bối cảnh bùng nổ công nghệ như hiện nay, vì vậy, đã có nhiều công trình NC về vấn đề này Các nhà
NC đều cho rằng, việc ứng dụng CNTT vào DH là một biện pháp hữu ích nhằm nâng cao hiệu quả DH, gia tăng hứng thú học tập cho HS, hỗ trợ tích cực trong công tác giảng dạy Thông qua việc ứng dụng CNTT, HS sẽ hình thành và phát triển NLHT,
NL tự học, NL CNTT và truyền thông,… Xây dựng được những quy trình, tiến trình trong việc sử dụng MVT, sử dụng những phương tiện hiện đại trong QTDH nhằm góp phần phát triển NL cho HS Những kết quả NC nêu trên đã được trình bày trong các đề tài NC của các tác giả Lê Công Triêm, Nguyễn Thanh Hải, Trần Huy Hoàng,
Lê Đình Hiếu, Lê Thành Tâm [14], [18], [20], [41], [48]
Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy các NC đều nhấn mạnh vai trò việc
HT tạo ra những thành công trong học tập, tăng cường khả năng tư duy phê phán, tăng cường thái độ tích cực với các môn học, nâng cao NLHT của HS, tạo tâm lí lành mạnh, phát triển và hòa nhập xã hội, Như vậy, việc bồi dưỡng NLHT trong trường học là rất quan trọng và mỗi môn học sẽ phải góp phần phát triển NL cho người học thông qua quá trình tổ chức DH bộ môn
Trang 40Tóm lại, trong những NC nêu trên, đa số các tác giả đều cho rằng MVT giúp nâng cao hiệu quả DH, gia tăng hứng thú học tập cho HS, hỗ trợ tích cực trong việc trao đổi, HT giữa GV với HS và giữa HS với nhau, từ đó, góp phần phát triển NLHT cho HS Tuy nhiên cho đến nay, các công trình NC về DH phát triển NLHT có sự hỗ trợ của MVT vẫn còn rất ít, nhìn một cách tổng thể các NC chỉ dừng lại ở lý luận chung về phát triển NLHT mà chưa NC một cách chuyên sâu đến từng chức năng hỗ trợ của MVT nhằm hình thành và phát triển NLHT cho HS
1.3 Kết luận chương 1
Chương 1 đã trình bày tổng quan về vấn đề NC, những NC về việc phát triển NLHT cho HS với sự hỗ trợ của MVT, những vấn đề cần NC của luận án Từ đó có thể rút ra những kết luận sau:
1 Các NC về việc phát triển NL và phát triển NLHT cho HS được ứng dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia Tuy nhiên, một số kết quả NC chưa phù hợp với điều kiện
cơ sở vật chất, chương trình giáo dục, nhiệm vụ học tập và đặc điểm tâm sinh lý của
HS Việt Nam Cần có nhiều hơn nữa những NC gắn liền với thực tiễn tại Việt Nam nhằm đưa những vấn đề liên quan ở trên áp dụng vào giảng dạy và học tập
2 Các công trình trong và ngoài nước về việc tổ chức DH theo định hướng phát triển NLHT có sự hỗ trợ của MVT đã đạt được những kết quả nhất định Đa số đều cho rằng MVT giúp nâng cao hiệu quả DH, gia tăng hứng thú học tập cho HS,
hỗ trợ tích cực trong việc trao đổi, HT giữa GV với HS và giữa HS với nhau, từ đó, góp phần bồi dưỡng NLHT cho HS Tuy nhiên cho đến nay, các công trình NC về
DH phát triển NLHT có sự hỗ trợ của MVT trong DH Vật lí vẫn còn rất ít, nhìn một cách tổng thể các NC chỉ dừng lại ở lý luận chung về phát triển NLHT mà chưa NC một cách chuyên sâu đến từng chức năng hỗ trợ của MVT nhằm góp phần hình thành