Mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở phân tích quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mớicăn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, tiểu luận làm rõ sự vận dụng những quanđiểm đó ở Trường Ti
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục và đào tạo luôn được xem là quốc sách hàng đầu, đầu tư chogiáo dục chính là đầu tư cho sự phát triển Do vậy, bất kỳ một quốc gia nào trênthế giới dù lớn hay nhỏ, dù giàu hay nghèo, dù phát triển hay đang phát triểnbao giờ cũng quan tâm đến giáo dục và đào tạo Trong thời đại cách mạng khoahọc và công nghệ hiện đại với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, “thông tin”trở thành nguồn tài nguyên quan trọng của mọi quốc gia, việc “tin học hóa” tạonên những chuyển biến nhanh chóng về lượng cũng như về chất của nền kinh tếthế giới, con người được vũ trang bằng những tri thức hiện đại sẽ là động lực cơbản của sự phát triển Đây là hoạt động xã hội rộng lớn có liên quan trực tiếpđến lợi ích, nghĩa vụ và quyền lợi của mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế trong
xã hội đồng thời có tác động mạnh mẽ đến tiến trình phát triển nhanh hay chậmcủa một quốc gia Chính vì thế, quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo đóng vaitrò cực kỳ quan trọng hình thành nên hệ thống giáo dục của một quốc gia
Thời gian qua, giáo dục và đào tạo ở Việt Nam đã có nhiều bước pháttriển đáng tự hào Chất lượng nền giáo dục và trình độ dân trí được nâng lên,góp phần tích cực vào công cuộc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, cũng với những thànhtựu đạt được, nền giáo dục nước ta còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, yếukém Chất lượng và khâu quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo, việc đào tạonguồn nhân lực của hệ thống giáo dục chưa đáp ứng nhu cầu của đổi mới kinh
tế, xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế Đảng và Nhà nước ta cũng đã chủ trươngđổi mới và nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục – đàotạo, đẩy mạnh đổi mới nội dung chương trình và phương pháp giáo dục theohướng hiện đại cùng với đổi mới cơ chế quản lý
Vì thế, để đảm bảo cho sự nghiệp đổi mới tiếp tục đạt được những thànhtựu mong muốn, trước hết cần phải nắm vững và quán triệt các quan điểm củaĐảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
Trang 2Những quan điểm này đặt cơ sở cho việc định hướng để xác định và giải quyếtcác nhiệm vụ cấp bách và lâu dài trong lĩnh vực đổi mới giáo dục của các cấp từtrung ương đến địa phương Mặt khác, thông qua sự cụ thể hóa, hiện thực hóa,
cá biệt hóa các vấn đề về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ởnhững địa phương khác nhau để làm cho nội dung những quan điểm trên đượcphong phú hơn và sinh động hơn
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, học viên quyết định chọn đề tài “Quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của nhà nước về phát triển giáo dục tại trường tiểu học Mỹ Xuân” làm hướng nghiên
cứu tiểu luận
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mớicăn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, tiểu luận làm rõ sự vận dụng những quanđiểm đó ở Trường Tiểu học Mỹ Xuân, đồng thời nêu ra một số định hướng vàgiải pháp cơ bản nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả vận dụng quan điểm củaĐảng về đổi mới giáo dục và đào tạo tại trường Tiểu học Mỹ Xuân trong giaiđoạn hiện nay
3 Giới hạn nghiên cứu
Về nội dung:
- Quan điểm quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và chính sáchpháp luật của nhà nước về phát triển giáo dục tại trường tiểu học Mỹ Xuân, đápứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
- Tập trung vào Nghị quyết 29/NQ - TW “Về đổi mới căn bản, toàn diệngiáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điềukiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”
Về không gian:
Trang 3Nghiên cứu sự vận dụng quan điểm, đường lối, chủ trương của ĐảngCộng sản Việt Nam về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tại trườngTiểu học Mỹ Xuân
Về thời gian:
- Tiểu luận nghiên cứu quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng vàchính sách pháp luật của nhà nước về phát triển giáo dục tại trường tiểu học MỹXuân và sự vận dụng quan điểm đó
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích, tổng hợp,
Phương pháp sưu tầm tài liệu
5 Cấu trúc tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung bài tiểu luậngồm có 3 chương:
Chương 1 …
Chương 2: …
Chương 3: ……
Trang 4- Khái niệm phát triển
Phát triển là sự vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp củamột sự vật, hiện tượng nào đó trong Triết học Mác – Lenin
Quá trình phát triển có thể diễn ra từ từ hoặc diễn ra nhanh chóng (haycòn gọi là nhảy vọt) để sinh ra những sự vật, hiện tượng mới thay thế cho những
sự vật, hiện tượng cũ
Sự phát triển là quá trình vận động, thay đổi về lượng dẫn đến những thayđổi về chất Chu kỳ này diễn ra theo hình xoắn ốc, nghĩa là đi hết một chu kỳ thìquá trình phát triển sẽ quay lại mức ban đầu và tiếp tục vấn động để có sự thayđổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất (nhưng ở một cấp độ cao hơn chu kỳ banđầu)
-Khái niệm giáo dục
Trong tiếng Anh, từ “giáo dục” được biết đến với từ “education”, đây làmột từ gốc Latin được ghép bởi hai từ là “Ex” và “Ducere” – “Ex-Ducere” Cónghĩa là dẫn (“Ducere”) con người vượt ra khỏi (“Ex”) hiện tại của họ để vươntới những gì hoàn thiện, tốt lành hơn và hạnh phúc hơn
Về cơ bản, các giáo trình về giáo dục học ở Việt Nam đều trình bày
“Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnhhội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người” Định nghĩa nàynhấn mạnh về sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnh đến yếu tốdạy học, nhưng không đề cập đến mục đích sâu xa hơn, mục đích cuối cùng củaviệc đó
Trang 5Theo ông John Dewey (1859 – 1952), nhà triết học, nhà tâm lí học và nhàcải cách giáo dục người Mỹ, ông cho rằng cá nhân con người không bao giờvượt qua được quy luật của sự chết và cùng với sự chết thì những kiến thức,kinh nghiệm mà cá nhân mang theo cũng sẽ biến mất Tuy nhiên, tồn tại xã hộilại đòi hỏi phải những kiến thức, kinh nghiệm của con người phải vượt quađược sự khống chế của sự chết để duy trì tính liên tục của sự sống xã hội Giáodục là “khả năng” của loài người để đảm bảo tồn tại xã hội Ngoài ra, ông JohnDewey cũng cho rằng, xã hội không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy, nhưng còn tồntại chính trong quá trình truyền dạy ấy Như vậy, theo quan điểm của ông JohnDewey, ông cũng đề cập đến việc truyền đạt, nhưng ông nói rõ hơn về mục tiêucuối cùng của việc giáo dục, là dạy dỗ.
Như vậy, có thể kết luận rằng, “giáo dục” là sự hoàn thiện của mỗi cánhân, đây cũng là mục tiêu sâu xa của giáo dục; người giáo dục, hay có thể gọi
là thế hệ trước, có nghĩa vụ phải dẫn dắt, chỉ hướng, phải truyền tải lại cho thế
hệ sau tất cả những gì có thể để làm cho thế hệ sau trở nên phát triển hơn, hoànthiện hơn.Với ý nghĩa đó, giáo dục đã ra đời từ khi xã hội loài người mới hìnhthành, do nhu cầu của xã hội và trở thành một yếu tố cơ bản để làm phát triểnloài người, phát triển xã hội Giáo dục là một hoạt động có ý thức của con ngườinhằm vào mục đích phát triển con người và phát triển xã hội
Giáo dục ban đầu được thực hiện một cách đơn giản, trực tiếp ngay tronglao động và trong cuộc sống, ở mọi lúc, mọi nơi Khi xã hội ngày càng pháttriển lên, kinh nghiệm xã hội được đúc kết nhiều hơn, yêu cầu của xã hội đốivới con người ngày càng cao hơn, các loại hình hoạt động xã hội ngày càng mởrộng hơn thì giáo dục theo phương hướng trực tiếp không còn phù hợp mà đòihỏi phải có một phương thức giáo dục khác có hiệu quả hơn Giáo dục gián tiếptheo phương thức nhà trường, được thực hiện một cách chuyên biệt ra đời vàngày càng phát triển đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu của xã hội Do đó, xã hộingày càng phát triển, giáo dục ngày càng trở nên phức tạp hơn và mang tínhchuyên biệt hơn Sự phát triển đó là do yêu cầu tất yếu của xã hội và do những
Trang 6sức mạnh to lớn của giáo dục tạo ra sự phát triển của xã hội Vai trò của giáodục đối với sự phát triển về mọi mặt của xã hội thì không ai có thể phủ nhận vềnó.
Từ khi ra đời, giáo dục đã trở thành một yếu tố cơ bản thúc đẩy sự pháttriển thông qua việc thực hiện các chức năng xã hội của nó Đó chính là nhữngtác động tích cực của giáo dục đến các mặt hay các quá trình xã hội và tạo ra sựphát triển cho xã hội Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “giáo dục”:
– Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách dướiảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bên ngoài, được thực hiện một cách có ýthức của con người trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội Ví dụ: Ảnhhưởng của các hoạt động đa dạng nội khóa, ngoại khóa của nhà trường; ảnhhưởng của lối dạy bảo, nếp sống trong gia đình; ảnh hưởng của sách vở, tạp chí;ảnh hưởng của những tấm lòng nhân từ của người khác;…
– Giáo dục còn được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích xácđịnh được tổ chức một cách khoa học (có kế hoạch, có phương pháp, có hệthống) của các cơ quan giáo dục chuyên biệt (nhà trường) nhằm phát triển toàndiện nhân cách Qua những môn học trên trường, lớp cũng như qua những hoạtđộng như báo cáo thời sự, biểu diễn văn nghệ, cắm trại, thăm quan,… được tổchức ngoài giờ lên lớp, sẽ tạo ra những ảnh hưởng tích cực đến sự hình thành vàphát triển nhân cách của người được giáo dục, dưới tác động của giáo viên, củanhà giáo dục
– Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cáchngười giáo dục dưới quan hệ của những tác động sư phạm của nhà trường, chỉliên quan đến các mặt giáo dục như: trí học, đức học, mĩ dục, thể dục, giáo dụclao động
– Ngoài ra, giáo dục còn được hiểu là quá trình hình thành và phát triểnnhân cách người được giáo dục chỉ liên quan đến giáo dục đạo đức Sự ra đời vàphát triển của giáo dục gắn liền với cự ra đời và phát triển của xã hội Một mặt,giáo dục phục vụ cho sự phát triển xã hội, bởi lẽ, xã hội sẽ không phát triển
Trang 7thêm một bước nào nếu như không có những điều kiện cần thiết cho giáo dụctạo ra Mặt khác, sự phát triển của giáo dục luôn chịu sự quy định của xã hộithông qua những yêu cầu ngày càng cao và những điều kiện ngày càng thuận lợi
do sự phát triển xã hội mang lại Chính vì vậy, trình độ phát triển của giáo dụcphản ánh những đặc điểm phát triển của xã hội
Trong thời đại ngày nay, nền giáo dục thế giới và của mỗi quốc gia đangkhông ngừng cái cách đổi mới nhằm thích ứng tốt hơn với những xu thế pháttriển mới mẻ, năng động của toàn nhân loại và có khả năng tạo ra được nhữngnguồn lực mới để phát triển nhanh, bền vững
-Khái niệm giáo dục bậc tiểu học
Giáo dục học tiểu học (Primaiy Pedalogy) là một chuyên ngành của giáodục học nghiên cứu về tính quy luật tâm lý - giáo dục của quá trình đào tạo nhâncách học sinh cấp tiểu học theo mục tiêu giáo dục
Hệ thống lý luận giáo dục học tiểu học bao gồm lý luận giáo dục học tiểuhọc đại cương và lý luận giáo dục học tiểu học của từng môn học cụ thể nhưgiáo dục học tiểu học môn Toán, giáo dục học tiểu học môn Tiếng việt, giáo dụchọc tiểu học môn Mỹ thuật, còn gọi là giáo học pháp bộ môn
Giáo dục học tiểu học có tác dụng chi đạo về mặt lý luận cho việc thựcthi các tác động giáo dục và đào tạo trong nhà trường tiểu học Lý luận và thựchành về giáo dục học tiểu học có vai trò quan trọng trong công tác huấn nghiệpcho sinh viên khoa tâm lý giáo dục và sinh viên khoa giáo dục tiểu học ở trường
sư phạm
1.2.Vai trò của giáo dục bậc tiểu học
Theo Điều lệ Trường tiểu học: Trường tiểu học là cơ sở giáo dục của bậctiểu học, bậc học tiểu hoc, bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân Vìthế, bậc học Giáo dục tiểu học cần phải đáp ứng yêu cầu về nội dung, phươngpháp giáo dục tiểu học Cụ thể:
Trang 8Giáo dục tiểu học phải đảm bảo cho học sinh có hiểu biết đơn giản và cầnthiết về tự nhiên, xã hội và con người Học sinh cần có kỹ năng cơ bản về nghe,nói, đọc, viết và tính toán, có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh, cóhiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật.
Về phương pháp giáp dục, phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồidưỡng khả năng tự học và khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năn vậndụng kiến thức vào thực tiễn, đồng thời đem lại hứng thú học tập cho học sinh
Theo đó, nhà trường tiểu học có nhiệm vụ tổ chức giảng dạy, học tập vàcác hoạt động giáo dục khác theo chương trình tiểu học do Bộ Giáo dục và đàotạo ban hành
1.3.Quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của nhà nước về phát triển giáo dục tiểu học
1.3.1.Quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về phát triển giáo dục tiểu học
Giáo dục, đào tạo có vai trò quan trọng đối với quốc gia dân tộc, nhậnthức rõ vai trò của giáo dục, đào tạo đối với sự nghiệp xây dựng đất nước, theomục tiêu “ Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, Đảng ta luônquan tâm chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo lĩnh vực quan trọng này
Đại hội XII của Đảng đã xác định đổi mới căn bản toàn diện giáo dục,đào tạo; phát triển nguồn nhân lực là một trong những định hướng lớn đề hiệnthực hóa mục tiêu phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệptheo hướng hiện đại Quan điểm về giáo dục đào tạo trong văn kiện Đại hội XIIcủa Đảng là bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng, được thể hiện ởmột số nội dung như sau:
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Đại hội XI của Đảng đề ra 12 nhiệm vụ tổng quát trong đó có nhiệm vụ
“Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực” Đây
Trang 9là quan điểm tổng quát, bao trùm của Đảng về giáo dục, đào tạo Đổi mới cănbản toàn diện giáo dục, đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết,
từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chínhsách, điều kiện bảo đảm thực hiện và sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý nhànước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục đào tạo; đổi mới ở tất cả cácbậc học, ngành học nhằm hướng đến phát triển phẩm chất, năng lực của ngườihọc
Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao
Nội dung quan điểm về phát triển nguồn nhân lực được thể hiện xuyênsuốt trong văn kiện đại hội XII của Đảng và được xác định là một trong sáunhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ đại hội
Lần đầu tiên Đảng đưa ra quan điểm đổi mới căn bản toàn diện giáo dục,đào tạo gắn với chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Nguồnnhân lực chất lượng cao là bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực quốc gia, lànguồn nhân lực đáp ứng các tiêu chí về chất lượng cao và trình độ cao; đồngthời là nguồn lực con người được đào tạo và sử dụng có chất lượng, hiệu quảcao với tổng hợp các phẩm chất và nhân cách, năng lực và thể lực con người
Đại hội XII xác định: “ Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lựccho đất nước, cho từng ngành, từng lĩnh vực, với những giải pháp đồng bộ”, “Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lựcchất lượng cao đáp ứng yêu cầu kinh tế- xã hội” Trong đó tập trung cho giảipháp đào tạo lại nguồn nhân lực trong nhà trường, trong sản xuất kinh doanh,chú trọng nâng cao tính chuyên nghiệp và kỹ năng thực hành Phát triển hợp lý,hiệu qủa trường công lập đối với giáo dục nghề nghiệp, và giáo dục đại học
Giáo dục là quốc sách hàng đầu
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Đảng ta luôn khẳng định giáo dụcđào tạo là quốc sách hàng đầu, là những chính sách trọng tâm, có vai trò chínhyếu, được quan tâm, ưu tiên đi trước một bước so với các chính sách phát triểnkinh tế- xã hội khác
Trang 10Kế thừa tư tưởng của các Đại hội Đảng và các nghị quyết về giáo dục đàotạo trước Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định :“Giáo dục đào tạo là quốcsách hàng đầu” Giáo dục đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân.Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, được ưu tiên đi trước trong cácchương trình, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội Phát triển giáo dục đào tạo làphát triển nguồn nhân lực là một bộ phận quan trọng của phát triển kinh tế- xãhội phải được ưu tiên và quan tâm thật sự.
Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục đào tạo theo hướng coi trọng phẩm chất, năng lực của người học
Đại hội XII của Đảng đã khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng
bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục đào tạo theo hướng coi trọng phẩm chất, nănglực của người học” Đây là sự tiếp tục khẳng định quan điểm của Nghị quyếtTrung ương 8 khóa XI Mục tiêu này thể hiện sự chuyển biến căn bản về chấtlượng, hiệu quả về giáo dục đào tạo, hướng đến xây dựng một nền giáo dục hiệnđại, nhân văn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo về tổ quốc thời kỳ mởcửa hội nhập quốc tế
Đổi mới những vấn đề cốt lõi, cấp thiết Đổi mới chương trình, nội dunggiáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, ngànhnghề Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học,hình thức phương pháp thi, kiểmtra và đánh giá kết quả giáo dục đào tạo bảo đảm trung thực, khách quan
Quan điểm này của Đảng thể hiện mục tiêu giáo dục theo tinh thần đổimới: Chuyển quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triểntoàn diện năng lực và phẩm chất người học, chú trọng dạy chữ, dạy người, dạynghề Tập trung dạy cách học khuyến khích tự học, tạo cơ sở đề người học tựcập nhật tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Giáo dục đào tạo phải thấmnhuần phương châm học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn
Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục
mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập
Trang 11Đây là một chủ trương lớn của Đảng, có vai trò quan trọng nhằm pháthuy nguồn lực con người Bản chất xã hội học tập là môi trường giáo dục trong
đó mọi người đều có điều kiện, cơ hội học tập, với thiết chế giáo dục mở, mềmdẻo, linh hoạt, thích ứng với điều kiện học của từng người, từng tổ chức Xã hộihọc tập là một môi trường trong đó mọi lực lượng xã hội, mọi tầng lớp xã hộiđều tự giác học tập, cả xã hội trở thành một trường học lớn
Học tập suốt đời là quá trình học tập diễn ra trong suốt cuộc đời, dựa trên
4 trụ cột: học để biết, học để làm việc, học để làm người, học để cùng nhauchung sống
Yêu cầu này đòi hỏi quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp,giáo dục đại học gắn với quy hoach phát triển kinh tế- xã hội, quy hoạch pháttriển nguồn nhân lực Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho đấtnước, cho từng ngành, từng lĩnh vực phát triển hợp lý, hiệu quả các loại hìnhtrường ngoài công lập đối với giáo dục nghề nghiệp và đại học
Đổi mới căn bản công tác giáo dục, đào tạo
Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Đổi mới căn bản công tácgiáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng cường quyền tự chủ vàtrách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chấtlượng”
Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, đào tạo trên tinh thần tăngcường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục, đào tạo; phát huyvai trò của hội đồng nhà trường Thực hiện giám sát của các chủ thể trong nhàtrường và xã hội; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lýcác cấp; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch
Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo
Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Phát triển đội ngũ nhà giáo
và cán bộp quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo Thực hiệnchuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo cấp học và trình độ đào tạo”
Trang 12Có cơ chế tuyển sinh để tuyển chọn những người thực sự có phẩm chất,năng lực vào ngành sư phạm Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từngcấp học và trình độ đào tạo Khuyến khích đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lýnâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục, đào tạo
Giáo dục, đào tạo có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế- xã hội, anninh, quốc phòng, là nguồn lực trí tuệ trong nguồn lực phát tiển của đất nước.Phát triển giáo dục, đào tạo góp phần quan trọng vào việc nâng cao dân trí, đàotạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc,hội nhập quốc tế, những nội dung, quan điểm, mục tiêu, phương hướng, nhiệm
vụ, giải pháp phát triển giáo dục, đào tạo cần được tuyên truyền, tổ chức thựchiện để nhanh chóng đưa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đi vào cuộc sống
1.3.2.Chính sách pháp luật của nhà nước về phát triển giáo dục tiểu học
Nhà nước ta luôn bảo đảm cho mọi trẻ em được đối xử bình đẳng, có điềukiện thuận lợi nhất để phát triển và được hưởng các quyền cơ bản của trẻ em.Trong số các quyền của trẻ, quyền giáo dục là một trong những quyền nhậnđược nhiều sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, đây cũng là mộtquyền còn nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu và đề xuất Bài viết trên cơ sởnghiên cứu các quy định hiện hành về quyền giáo dục của trẻ em, từ đó đưa ramột số kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa quyền được giáo dục và đào tạo củatrẻ em ở Việt Nam
Giáo dục là một lĩnh vực rộng lớn, bao quát từ những nội dung về mụctiêu, tính chất, nguyên lý giáo dục, hệ thống giáo dục quốc dân, nội dung vàphương pháp giáo dục, chương trình giáo dục đến quyền và nghĩa vụ học tậpcủa công dân, nhiệm vụ và quyền của người học, quản lý nhà nước về giáo dục,trách nhiệm của nhà trường, gia đình và xã hội… Quyền giáo dục, học tập là
Trang 13quyền tối quan trọng thuộc nhóm quyền văn hóa trong các nhóm quyền kinh tế,
xã hội và văn hóa
Quyền được giáo dục (học tập) được ghi nhận từ rất sớm trong các côngước quốc tế về quyền con người Đầu tiên được đề cập trong khoản 1 Điều 26Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1984, trong đó nêu rõ: “Mọingười đều có quyền được học tập Giáo dục phải được miễn phí, ít nhất là ở cácbậc tiểu học và trung học cơ sở Giáo dục tiểu học phải là bắt buộc” Tiếp đó,Điều 11 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế – xã hội và văn hóa năm 1966quy định: “Các quốc gia hội viên ký kết Công ước này thừa nhận cho mọi ngườiquyền được hưởng giáo dục Giáo dục phải nhằm phát huy đầy đủ nhân cách vànhân phẩm, tăng cường sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do cănbản…” Cụ thể hóa quyền giáo dục của trẻ em, Công ước quyền trẻ em quy địnhnhư sau: “Các quốc gia thành viên thừa nhận quyền của trẻ em được học hành,
và để từng bước thực hiện quyền này trên cơ sở bình đẳng về cơ hội, phải: a.Thực hiện chính sách giáo dục tiểu học bắt buộc, sẵn có và miễn phí cho tất cảmọi người;…” (Điều 28 – 29 Công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em)
Việt Nam, với tư cách là một nước thành viên tích cực tham gia và thựchiện Công ước quyền trẻ em với phương châm, coi “giáo dục, đào tạo là quốcsách hàng đầu”, từ đó, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, văn bản phápluật trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến quyền được giáo dục của trẻ em, nhưbản Hiến pháp đầu tiên: “Trẻ em được quyền săn sóc, giáo dưỡng” (Điều 14Hiến pháp năm 1946), thực hiện “… nền sơ học cưỡng bách và không họcphí… Học sinh nghèo được Chính phủ giúp…” (Điều 15) Những nguyên tắchiến định mang đậm tinh thần vì trẻ em, tiếp tục được khẳng định và phát triểntrong các bản Hiến pháp sau này (năm 1959, 1980, 1992, 2013)
Từ quy định của Hiến pháp, pháp luật Việt Nam đã thể chế hóa quyền củatrẻ em trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, tạo thành một hệthống các văn bản pháp luật về quyền trẻ em nói chung và quyền học tập của trẻ
em nói riêng Hiện nay, các quy định điều chỉnh quyền học tập của trẻ em được
Trang 14quy định cụ thể tại Hiến pháp năm 2013, Luật Trẻ em năm 2016, Luật Giáo dụcnăm 2019.
Để bảo đảm quyền bình đẳng và cơ hội tiếp cận giáo dục cho trẻ khuyếttật, chúng ta đã tham gia Công ước Liên hiệp quốc về quyền của người khuyếttật (UNCRPD), đồng thời, Luật Người khuyết tật năm 2010 và Luật Trẻ emnăm 2016 đều có những quy định nhằm bảo đảm sự chăm sóc và phúc lợi chongười khuyết tật, bảo đảm quyền bình đẳng và cơ hội giáo dục đầy đủ cho mọicông dân
Pháp luật ở nước ta cũng quy định rõ nghiêm cấm hành vi cản trở việchọc tập của trẻ em Các văn bản pháp luật luôn chú ý đến việc quy định cácchính sách để bảo vệ quyền đó, nhất là trách nhiệm, nghĩa vụ của gia đình, nhàtrường, các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội Điều 69 Luật Hôn nhân vàgia đình năm 2014 nêu nghĩa vụ cha mẹ với con cái Điều 99 Luật Trẻ em năm
2016 quy định: “2 Cha, mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em có trách nhiệmbảo đảm cho trẻ em thực hiện quyền học tập, hoàn thành chương trình giáo dụcphổ cập theo quy định của pháp luật, tạo điều kiện cho trẻ em theo học ở trình
độ cao hơn” Ngoài ra, còn có các chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dụcđào tạo, như tại Quyết định số 1210/QĐ-TTg ngày 05/9/2012 của Thủ tướngChính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo giaiđoạn 2012 – 2015
Như vậy, các văn bản pháp luật hiện hành đã tập trung vào nguyên tắcbảo đảm quyền và phúc lợi của trẻ em với quan điểm ưu tiên, bình đẳng, khôngphân biệt đối xử, chú trọng đến giáo dục, học tập Bên cạnh pháp luật, một hệthống các thiết chế được thành lập để huy động các lực lượng, các cơ quan nhànước, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp, các cá nhân để bảo đảm quyền giáodục của trẻ em
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC MỸ XUÂN, GIAI ĐOẠN 2016-2021
2.1.Khái quát về trường tiểu học Mỹ Xuân
Trang 15Trường tiểu học Mỹ Xuân được xây dựng và hoạt động vào năm 2009.năm học 2008 - 2009 Trường TH Mỹ Xuân có 30 lớp với 1037 HS Ngay từ đầunăm học, BGH Nhà trường đã xác định thế mạnh riêng của mình để thực hiệncác trọng tâm năm học của ngành, tổ chức phân công CB-GV công tác, dạy họcphù hợp với chuyên môn, sở trường Nhờ vậy, đội ngũ GV của Trường có điềukiện tiếp cận những đổi mới của ngành; theo thống kê, hiện Trường có 46 CB-
GV trong đó 22 GV có trình độ đạt chuẩn, 15 GV trên chuẩn Nhà trường luônxác định xây dựng đào tạo bồi dưỡng CBGV là nhiệm vụ trọng yếu, chủ trươngnâng cao từng bước chất lượng đội ngũ bằng các biện pháp bồi dưỡng chuyênmôn, nghiệp vụ… thông qua các hoạt động nghiên cứu khoa học theo cácchuyên đề với các nhóm, tổ chuyên môn, tổ chức hội giảng vào các ngày hoạtđộng cao điểm như: 20/11, 26/3, 30/4… tạo điều kiện cho giáo viên tham gia dựcác hội nghị chuyên đề của ngành để nâng cao trình độ tay nghề
Bên cạnh đó, Nhà trường phối hợp với cha mẹ HS, các đoàn thể trong vàngoài trường để lập hồ sơ theo dõi, tổ chức huy động HS trong độ tuổi ra lớp
Do đó, Nhà trường đã duy trì sĩ số đạt tỉ lệ 100%, 100% HS được huy động vàolớp 1, đạt phổ cập TH với tỉ lệ cao… Thầy Phan Ngọc Lụa - Hiệu trưởng Nhàtrường, phấn khởi cho biết: “Năm học 2008 - 2009, nhờ xác định được hướng điđúng, kết hợp với nâng cao giáo dục toàn diện đã tạo ra những chuyển biến lớn
về chất lượng đào tạo Theo thống kê, HS đạt hạnh kiểm chiếm 98,6%, HS khágiỏi đạt 55,8%, đạt nhiều giải thưởng về VSCĐ, thi kể chuyện tấm gương đạođức Hồ Chí Minh… Đây là thành tích đáng biểu dương để Trường giữ vữngthành quả, phấn đấu đạt chuẩn quốc gia mức độ II, đóng góp một phần công sứccủa mình vào sự nghiệp giáo dục chung của địa phương, của đất nước trong thời
kỳ mới”
2.2 Thực trạng phát triển giáo dục tại trường tiểu học Mỹ Xuân
2.2.1.Về công tác lãnh đạo thực hiện chương trình, kế hoạch giáo dục
Phong cách lãnh đạo của một cá nhân là dạng hành vi của người đó thểhiện các nỗ lực ảnh hưởng tới hoạt động của những người khác Phong cách
Trang 16lãnh đạo là cách thức làm việc của nhà lãnh đạo, là hệ thống các đấu hiệu đặctrưng của hoạt và động quản lý của nhà lãnh đạo, được quy định bởi các đặcđiểm nhân cách của họ.
Trên cơ sở 3 loại phong cách lãnh đạo cơ bản: phong cách lãnh đạo độcđoán, phong cách lãnh đạo dân chủ và phong cách lãnh đạo tự do, căn cứ vàocách Hiệu trưởng làm việc với cấp dưới trong quản lý chúng tôi có thể nhậnthấy rằng phong cách lãnh đạo của Hiệu trưởng Trường TH Mỹ Xuân trong thờigian qua có phong cách lãnh đạo thuần dân chủ với mọi người, mọi tình huốngquản lý và mọi giai đoan phát triển của tập thể Cụ thể như:
Hiệu trưởng có lối sống giản dị, hòa đồng, gần gũi với mọi người và biếtquan tâm đúng mức tới hoàn cảnh, nguyện vọng của mỗi giáo viên, nhất là giáoviên nữ có con nhỏ, những giáo viên có tuổi cao, giáo viên có sức khỏe yếu vàtạo điều kiện cho những giáo viên đang theo học các lớp nâng cao trình độ
Trong công việc, Hiệu trưởng luôn đề cao và phát huy vai trò của các tổtrưởng chuyên môn, giáo viên nòng cốt, phát huy được khả năng sáng tạo củagiáo viên và nhân viên, sẵn sàng giao việc và tin tưởng ở sự thành công của mỗingười
Trong công tác, Hiệu trưởng quản lý “theo kế hoạch và phân định rõ tráchnhiệm từng bộ phận quản lý và báo cáo”
Với phong cách lãnh đạo này, Hiệu trưởng đã khai thác tối đa các nguồnlực của tập thể và tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người thực hiện tốt nhiệm vụđược phân công
Tuy nhiên, do trình độ phát triển của tập thể sư phạm ở mức độ thấp, cácthành viên chưa tự giác cao trong thực hiện nhiệm vụ và chưa có sự đoàn kết,
hỗ trợ lẫn nhau trong việc thực hiện nhiệm vụ chung giữa các thành viên
Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, giám sát, nhắc nhở, đôn đốc việc thựchiện nhiệm vụ của các bộ phận mà mình phân công của Hiệu trưởng thực hiệnchưa sâu sát do lực lượng kiểm tra chưa đồng bộ, và do bản thân Hiệu trưởng đi